1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(LUẬN VĂN THẠC SĨ) Tạo động lực lao động cho công chức tại Văn phòng Tổng cục Thuế Việt Nam

106 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tạo Động Lực Lao Động Cho Công Chức Tại Văn Phòng Tổng Cục Thuế Việt Nam
Tác giả Lê Đình Hưng
Người hướng dẫn TS. Tạ Đức Khánh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà quản trị đã từng nói “Sự thành bại của công ty thường phụ thuộc vào việc sử dụng hợp lý nhân viên trong doanh nghiệp như thế nào” Khi người lao động có động lực làm việc sẽ tự gi

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CHO CÔNG CHỨC 4

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG CHỨC 4

1.1.1 Khái niệm và phân loại công chức 4

1.1.2 Vai trò của đội ngũ công chức 5

1.2 TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG 8

1.2.1 Khái niệm động lực và tạo động lực lao động 8

1.2.2 Các yếu tố tác động tới động lực lao động 9

1.2.3 Các công cụ tạo động lực lao động 17

1.3 CÁC HỌC THUYẾT TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG 17

1.3.1 Các học thuyết nội dung 17

1.3.2 Các học thuyết quá trình 20

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC CHO CÔNG CHỨC TẠI VĂN PHÒNG TỔNG CỤC THUẾ 25

2.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN PHÒNG TỔNG CỤC THUẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG 25

2.1.1 Vị trí và chức năng 25

2.1.2 Cơ cấu tổ chức 26

2.1.3 Chính sách nhân sự 27

Trang 4

2.2.1 Cơ cấu đội ngũ công chức 33

2.2.2 Điều tra chọn mẫu đối với công chức tại văn phòng Tổng cục Thuế 36 2.3 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA CÔNG CHỨC ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC 42

2.4 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG 50

2.4.1 Những yếu tố làm tăng động lực lao động 50

2.4.2 Những yếu tố làm hạn chế động lực lao động 52

2.5 ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG 59

2.5.1 Những điểm tích cực 52

2.5.2 Hạn chế và nguyên nhân 61

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP TẠO ĐỘNG LỰC CHO CÔNG CHỨC TẠI VĂN PHÒNG TỔNG CỤC THUẾ 65

3.1 ĐỀ XUẤT VỚI TỔNG CỤC THUẾ 65

3.1.1 Thực hiện phân tích công việc làm cơ sở để triển khai các chính sách nhân sự khác 65

3.1.2 Đánh giá thực hiện công việc khoa học làm cơ sở để thực hiện nguyên tắc “đối xử công bằng” 69

3.1.3 Tuyển chọn và bố trí làm việc phù hợp với khả năng, sở trường và đáp ứng tốt yêu cầu công việc 72

3.1.4 Đào tạo và phát triển công chức để giúp họ tiếp cận những kiến thức tiên tiến và phát triển toàn diện 73

3.1.5 Tạo điều kiện làm việc thuận lợi cho công chức để họ có thể tiến hành công việc theo cách tốt nhất 75

3.1.6 Thực hiện kết hợp các biện pháp kích thích nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của người công chức 77

Trang 5

CHO BẢN THÂN 80

3.3 KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC 85

3.3.1 Đổi mới và hoàn thiện chính sách đối với công chức 85

3.3.2 Cải cách công vụ, công chức 86

3.3.3 Đẩy mạnh cải cách tiền lương 87

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 91

Trang 6

Đất nước ta đang đẩy nhanh cải cách hành chính, kiện toàn các cơ quan nhà nước để đáp ứng kịp thời yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

là một trong bốn nội dung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 Đội ngũ công chức có trình độ chuyên môn cao, có tâm huyết cống hiến được coi là điều kiện quyết định thành công của cải cách hành chính nói riêng và sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung

Chặng đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở nước ta đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức phải có tài có đức, có động lực làm việc cao, sáng suốt đưa ra những phương án quản lí xã hội khoa học, hiệu quả Nhưng lực lượng công chức Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại một số hạn chế là: Trình độ công chức tuy có được nâng lên, nhưng chưa theo kịp yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập Một bộ phận không nhỏ công chức không chuyên tâm phục

vụ, gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân Đặc biệt, gia tăng làn sóng rời bỏ nhiệm sở của công chức ở các thành phố lớn với sự không hài lòng về thu nhập, môi trường làm việc, bố trí công việc, đánh giá, đề bạt cán bộ Nguyên nhân cơ bản của thực trạng trên là những nhu cầu chính đáng của công chức chưa được đáp ứng, công tác tạo động lực làm việc cho công chức chưa được quan tâm thích đáng

Những tồn tại trong đội ngũ công chức làm việc tại các cơ quan nhà nước nêu trên cũng là vấn đề có tính thời sự cần tìm hướng khắc phục trong công tác quản lí nhân sự tại cơ quan Tổng cục Thuế Việt Nam Là một công chức công tác tại Tổng cục Thuế, tôi mong muốn làm được nhiều việc có ích cho đất nước, tuy nhiên để có thể cống hiến hết mình vì công việc thì tôi cần

Trang 7

phải có động lực thúc đẩy Đó không chỉ là sự mong mỏi của riêng cá nhân tôi

mà đó cũng là nguyện vọng của hầu hết những đồng nghiệp trong cơ quan Chính vì vậy, lựa chọn hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài "Tạo động lực lao động cho công chức tại văn phòng Tổng cục Thuế Việt Nam" nhằm trước hết tự nâng cao động lực làm việc cho bản thân và mong muốn đóng góp ý kiến với lãnh đạo cơ quan về công tác tạo động lực cho nhân viên

Mục đích nghiên cứu của luận văn

Làm rõ cơ sở khoa học của việc tạo động lực lao động cho người lao động là công chức nhà nước Phân tích, đánh giá mức độ hài lòng với công việc và nghề nghiệp hiện tại của người lao động của văn phòng Tổng cục Thuế Chỉ rõ những yếu tố khiến người công chức hài lòng và những yếu tố làm người công chức chưa hài lòng Đánh giá khái quát những điều làm được, những mặt còn hạn chế trong công tác tạo động lực lao động Từ đó, đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao động lực lao động cho công chức tại Tổng cục Thuế đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới

Đối tượng nghiên cứu là mối tương quan giữa nhu cầu của công chức với các biện pháp khuyến khích người lao động tại văn phòng Tổng cục Thuế

Từ đó đánh giá mức độ thoả mãn của người lao động Đối tượng khảo sát là cán bộ, công chức công tác tại văn phòng cơ quan Tổng cục Thuế Việt Nam Phạm vi khảo sát là văn phòng Tổng cục Thuế

Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp tổng hợp, thống kê, điều tra mẫu bằng bảng hỏi và phỏng vấn, phân tích

so sánh định tính và định lượng; sử dụng số liệu thứ cấp và sơ cấp Số liệu thứ

cấp: Các số liệu thống kê được thu thập thông qua các tài liệu thống kê tại

Trang 8

đơn vị, báo cáo đã được xuất bản, các báo, tạp chí, internet, các kết quả của

một số công trình nghiên cứu liên quan đã được công bố Số liệu sơ cấp: Các

số liệu khảo sát được thu thập thông qua điều tra chọn mẫu bằng phương pháp

bảng hỏi với hai nhóm chủ thể là công chức lãnh đạo và công chức thừa hành

Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm có phần mở đầu, nội dung và kết luận, trong đó nội dung được bố cục thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận về tạo động lực lao động cho công chức Chương 2: Phân tích thực trạng tạo động lực cho công chức tại văn phòng Tổng cục Thuế

Chương 3: Các giải pháp nhằm tạo động lực lao động

Trang 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG

CHO CÔNG CHỨC

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG CHỨC

1.1.1 Khái niệm và phân loại công chức

1.1.1.1 Khái niệm

Khái niệm công chức gắn liền với sự ra đời công chức ở các nước tư

bản phương Tây vào nửa cuối thế kỷ XIX Trên thực tế, mỗi quốc gia cũng có quan niệm và định nghĩa khác nhau về công chức:

Cộng hoà Pháp, định nghĩa: “Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức, bao gồm

cả trung ương và địa phương nhưng không kể đến các công chức địa phương thuộc các hội đồng thuộc địa phương quản lí”

Trung Quốc, khái niệm công chức được hiểu là: "Công chức nhà nước

là những người công tác trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp, trừ nhân viên phục vụ Công chức gồm hai loại:

- Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực nhà nước Các công chức này bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều hành của Hiến pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp

- Công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm,

do cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lí căn cứ vào Điều lệ công chức Họ chiếm tuyệt đại đa số trong công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính sách và pháp luật”

Ở Việt Nam, ngày 20-5-1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh số 76/SL về Quy chế công chức, tại Điều I, mục 1 công chức được định nghĩa

là:" Những công dân Việt Nam, được chính quyền nhân dân tuyển dụng để

Trang 10

giữ một vị trí thường xuyên trong các cơ quan của Chính phủ ở trong hay ngoài nước” Ngày 26-12-1998, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức, gồm 7 chương, 48 điều Trước yêu cầu củng cố

và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức nhằm đáp ứng yêu cầu thời kì mới, cho đến nay Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã 2 lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức

Pháp lệnh cán bộ, công chức (được sửa đổi, bổ sung năm 2003) là sự điều chỉnh chung đối với cả cán bộ, công chức làm trong các cơ quan Đảng, đoàn thể; công chức trong các cơ quan nhà nước; công chức xã, phường, thị trấn; viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước Sở dĩ như vậy là do

hệ thống chính trị nước ta dựa trên nguyên tắc cơ bản: “Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”; Hệ thống chính trị của nước ta là hệ thống các tổ chức

mà qua đó nhân dân lao động thực hiện quyền lực chính trị của mình Hệ thống đó bao gồm: Đảng cộng sản Việt Nam; Nhà nước Việt Nam; Mặt trận

Tổ quốc; Đoàn thanh niên; Hội phụ nữ

Như vậy, mỗi một quốc gia có những quan niệm và định nghĩa khác nhau về công chức Mặc dù có sự khác nhau, song nhìn chung các quan niệm, định nghĩa đều cho rằng một người lao động tại một quốc gia nào đó nếu có

đủ các đặc trưng sau đây đều là công chức:

- Là công dân của quốc gia đó

- Được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan nhà nước

- Được xếp vào ngạch

- Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước

- Được quản lí thống nhất và được điều chỉnh bằng Luật riêng

- Thừa hành các quyền lực nhà nước giao cho, chấp hành các công vụ của nhà nước

Trang 11

Đội ngũ công chức là bộ phận quan trọng trong nền hành chính của một quốc gia Sự ra đời, phát triển của công chức là sự phát triển và hoàn thiện của nhà nước pháp quyền Xã hội càng phát triển bao nhiêu thì càng cần một đội ngũ công chức có năng lực, trình độ chuyên môn cao bấy nhiêu để đảm bảo quản lí và thúc đẩy xã hội phát triển

1.1.1.2 Phân loại công chức

Việc phân loại công chức là yêu cầu tất yếu của công tác quản lí nguồn nhân lực Phân loại công chức giúp cho việc xây dựng quy hoạch đào tạo công chức đúng đối tượng theo yêu cầu công việc, đưa ra những căn cứ cho việc xác định biên chế một cách hợp lí và là tiền đề cho việc đề ra những tiêu chuẩn khách quan trong việc tuyển dụng công chức, xác định cơ cấu tiền lương hợp lí Phân loại công chức còn giúp cho việc tiêu chuẩn hoá, cụ thể hoá việc sát hạch, đánh giá thực hiện công việc của công chức

Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức, đội ngũ cán bộ, công chức được phân thành 3 loại lớn

Theo Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 của Chính phủ

về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lí cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, tại Điều 4 của Nghị định này, đội ngũ công chức được phân loại như sau:

1 Phân loại theo trình độ đào tạo:

a) Công chức loại A là người được bổ nhiệm vào ngạch, yêu cầu trình

CÔNG CHỨC

Trang 12

b) Công chức loại B là người được bổ nhiệm vào ngạch, yêu cầu trình

độ đào tạo chuyên môn hệ cao đẳng;

c) Công chức loại C là người được bổ nhiệm vào ngạch, yêu cầu trình

độ đào tạo chuyên môn hệ trung cấp, sơ cấp

2 Phân loại theo ngạch công chức:

a) Công chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương trở lên; b) Công chức ngạch chuyên viên chính và tương đương;

c) Công chức ngạch chuyên viên và tương đương;

d) Công chức ngạch cán sự và tương đương;

đ) Công chức ngạch nhân viên và tương đương

3 Phân loại theo vị trí công tác:

a) Công chức lãnh đạo, chỉ huy;

b) Công chức chuyên môn, nghiệp vụ

1.1.2 Vai trò của đội ngũ công chức

Hoạt động quản lí nhà nước là hoạt động tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra

và điều hành mọi hoạt động trong xã hội Đó chính là hoạt động điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người bằng quyền lực nhà nước Hiệu lực của bộ máy nhà nước nói chung và của hệ thống chính trị nói riêng, xét cho cùng, được quyết định bởi phẩm chất chính trị, đạo đức, trình

độ, năng lực của đội ngũ công chức

Thực tiễn cho thấy, đội ngũ công chức có vai trò sau:

- Công chức đóng vai trò chủ đạo trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước Một đất nước có đội ngũ công chức đầy đủ phẩm chất chính trị, có trình độ chuyên môn và năng lực, có tinh thần trách nhiệm cao, sẵn sàng cống hiến cho sự nghiệp xây dựng đất nước là một đất nước mạnh

- Công chức là lực lượng nòng cốt trong hệ thống chính trị, có nhiệm

vụ hoạch định các chính sách, đưa các chính sách và thực hiện đường lối,

Trang 13

chính sách của Đảng, Nhà nước trở thành thực tiễn và tiếp thu nguyện vọng của nhân dân, nắm bắt những yêu cầu thực tiễn của cuộc sống để phản ảnh kịp thời với cấp trên Giúp cho Đảng và Nhà nước đề ra được những chủ trương, chính sách sát với thực tiễn

- Đội ngũ công chức là nguồn nhân lực quan trọng có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, là một trong những nguồn nhân lực quan trọng trong việc thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1.2 TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG

1.2.1 Khái niệm động lực và tạo động lực lao động

Maier và Lawler (1973) đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau:

Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực Động lực = Khao khát x Tự nguyện

Như vậy, động lực có tác động rất lớn đến thực hiện công việc của mỗi cá nhân Điều đó có thể lí giải tại sao một người bắt đầu làm việc trong

tổ chức có trình độ cao nhưng kết quả thực hiện công việc lại thấp hơn kì vọng của tổ chức là do người đó đã không có động lực làm việc Cùng với quá trình phát triển của tổ chức đòi hỏi chính mỗi thành viên trong đó phải

nỗ lực không ngừng để nâng cao trình độ đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của tổ chức Quá trình đào tạo có tác động rất lớn đến việc nâng cao khả năng của cá nhân, khi người đó có động lực càng cao thì càng muốn học tập để phát triển bản thân, và khi khả năng tăng cũng đồng nghĩa với việc tăng động lực làm việc

Theo quan điểm của tác giả: động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu

Trang 14

của cá nhân và mục tiêu của tổ chức

Động lực lao động: Là sự khao khát và tự nguyện nhằm tăng cường mọi sự

nỗ lực của con người để đạt tới một mục đích và kết quả cụ thể nào đó của tổ chức

Động lực: Là nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực lao động trong những điều kiện có thuận lợi nó tạo ra kết quả cao (Từ điển kinh tế xã hội Việt Nam)

Động lực: Là sự thôi thúc từ bên trong mỗi con người lao động, thúc đẩy con người hoạt động

Như vậy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực nhưng đều nói lên bản chất của động lực là những gì kích thích con người hành động để đạt tới mục tiêu nào đó Mục tiêu của người lao động đặt ra một cách có ý thức được phản ánh bởi động cơ của người lao động và quyết định hành động của họ Vậy động cơ lao động là gì và được thể hiện như thế nào?

Động cơ lao động:

Động cơ lao động được thể hiện ở:

Mục tiêu thu nhập: Đây là mục tiêu hàng đầu của người lao động khi họ tham gia vào quá trình lao động Vì thu nhập là nguồn vật chất chủ yếu đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người

Mục tiêu phát triển cá nhân: Là mục tiêu hoàn thiện nhân cách cá nhân con người thông qua hoạt động xã hội Khi thu nhập đã đảm bảo cuộc sống hàng ngày về mặt vật chất ở một mức nào đó thì người lao động luôn có xu hướng học tập để nâng cao sự hiểu biết cũng như nâng cao trình độ chuyên môn của mình

Mục tiêu về thỏa mãn hoạt động xã hội: Con người muốn được thể hiện mình thông qua tập thể Khi các mục tiêu về thu nhập và mục tiêu phát triển cá nhân đã được đáp ứng thì người lao động luôn có xu hướng tìm cách để khẳng định vị trí của mình trong xã hội thông qua các hoạt động xã hội

Qua đó, để đạt được hiệu quả sản xuất cao thì các nhà quản lý phải xác định được động cơ của người lao động, hay nói cách khác là phải xác định được nhu cầu của người lao động ở từng giai đoạn phát triển của họ mức độ nào, từ

Trang 15

đó có thể đưa ra những phương án để thỏa mãn những nhu cầu đó một cách hợp lý Qua đó tạo động lực cho người lao động một cách hợp lý nhất

2 Tạo động lực lao động:

Đây là vấn đề thuộc lĩnh vực quản trị của mỗi cơ quan Các nhà quản trị trong

tổ chức muốn xây dựng công ty, xí nghiệp mình vững mạnh thì phải dùng các biện pháp kích thích người lao động làm cho họ hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc Đây là vấn đề về tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp

Vậy tạo động lực cho người lao động được hiểu là tất cả các biện pháp của nhà quản trị áp dụng vào người lao động nhằm tạo ra động cơ cho người lao động, ví dụ như: thiết lập nên những mục tiêu thiết thực vừa phù hợp với mục tiêu của người lao động vừa thoả mãn được mục đích của doanh nghiệp, sử dụng các biện pháp kích thích về vật chất lẫn tinh thần

Vậy vấn đề quan trọng của động lực đó là mục tiêu Nhưng để đề ra được những mục tiêu phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của người lao động, tạo cho người lao động sự hăng say, nỗ lực trong quá trình làm việc thì nhà quản

lý phải biết được mục đích hướng tới của người lao động sẽ là gì Việc dự đoán và kiểm soát hành động của người lao động hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua việc nhận biết động cơ và nhu cầu của họ Nhà quản trị muốn nhân viên trong doanh nghiệp của mình nỗ lực hết sức vì doanh nghiệp thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với người lao động đồng thời tạo mọi điều kiện cho người lao động hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất Khuyến khích bằng vật chất lẫn tinh thần, tạo ra bầu không khí thi đua trong nhân viên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp Các nhà quản trị đã từng nói “Sự thành bại của công ty thường phụ thuộc vào việc sử dụng hợp lý nhân viên trong doanh nghiệp như thế nào”

Khi người lao động có động lực làm việc sẽ tự giác dồn hết khả năng

để thực hiện công việc được giao sao cho hiệu quả, góp phần giúp tổ chức sử dụng lao động đạt được mục tiêu hoạt động Thực tế lợi ích có quan hệ rất

Trang 16

chặt với động lực làm việc, nhưng lợi ích của cá nhân và lợi ích của tập thể lại luôn mâu thuẫn Ứng dụng vào cơ quan Tổng cục Thuế, để người công chức

có thể tự nguyện theo các định hướng của văn phòng Tổng cục Thuế thì cần cho họ thấy rõ lợi ích của bản thân họ chỉ đạt được khi lợi ích của văn phòng Tổng cục Thuế đạt được tức phải hướng mục tiêu của cá nhân theo mục tiêu của tổ chức Làm được điều đó chính là tạo ra động lực làm việc cho người lao động, và đó chính là khả năng tiềm tàng để tăng chất lượng các quyết định quản lí của văn phòng Tổng cục Thuế

1.2.2 Các yếu tố tác động tới động lực lao động

Động lực của người lao động gắn liền với công việc và tổ chức họ làm việc Động lực cá nhân không tự nhiên xuất hiện mà do sự vận động đồng thời của các nguồn lực thuộc chính bản thân và trong môi trường sống và làm việc của họ tạo ra Bởi vậy, hành vi có động lực trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp nhiều yếu tố tác động bao gồm các yếu tố thuộc chính bản thân người lao động và các yếu tố thuộc môi trường nơi họ tiến hành công việc

1.2.2.1 Các yếu tố thuộc bản thân người lao động

Mục tiêu cá nhân: Mục tiêu chính là cái đích muốn đạt tới, nó định

hướng cho mỗi người cần làm gì và như thế nào để đạt được các mong đợi đặt

ra Tuy nhiên, không phải lúc nào mục tiêu của người lao động cũng cùng hướng với mục tiêu của tổ chức, nhiều khi những cái người lao động cho rằng

có giá trị đối với họ thì có thể làm hại đến lợi ích của tổ chức Hai bên lại luôn mong muốn đạt được mục tiêu của chính mình Nếu không có sự dung hòa thì

có thể cả hai bên đều không đạt được mong đợi

Hệ thống nhu cầu cá nhân: Mỗi người khi tham gia vào một tổ chức

đều có những mong muốn thỏa mãn những nhu cầu riêng của mình để có thể tồn tại và phát triển Về cơ bản hệ thống nhu cầu của con người có thể chia

Trang 17

làm hai loại đó là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Nhu cầu vật chất là đòi hỏi về điều kiện vật chất cần thiết để con người có thể tồn tại và phát triển

về thể lực Nhu cầu tinh thần là những đòi hỏi về điều kiện để cá nhân tồn tại

và phát triển về mặt trí lực Hai loại nhu cầu này gắn bó mật thiết và có quan

hệ biện chứng Thỏa mãn nhu cầu vật chất cũng làm cho con người thoải mái tinh thần và thúc đẩy họ hăng say làm việc Mức độ thỏa mãn nhu cầu thể hiện ra là lợi ích của họ được đảm bảo Lợi ích mà cá nhân nhìn nhận đầu tiên

đó là lợi ích kinh tế giữa các cá nhân trong tập thể và giữa người lao động với người sử dụng lao động Nếu lợi ích kinh tế không được đảm bảo thì sẽ triệt tiêu động lực làm việc của họ và khi lợi ích kinh tế được đảm bảo thì lợi ích tinh thần cũng được đáp ứng

Khả năng và kinh nghiệm làm việc: Theo Maier & Lawler (1973), khả

năng mỗi người được tạo thành từ ba yếu tố là bẩm sinh, đào tạo và các nguồn lực để vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế Khả năng bẩm sinh có tính

di truyền, liên quan trực tiếp đến khía cạnh thể lực và trí lực của mỗi người Một người càng được thừa hưởng các gien tốt từ gia đình thì càng có tố chất tốt để học tập, lĩnh hội những vấn đề xung quanh, nhưng mới chỉ ở dạng tiềm

ẩn Khả năng cá nhân có được chủ yếu là thông qua quá trình giáo dục - đào tạo Một người càng trẻ càng tham gia học tập nhiều, có nhiều bằng cấp thì càng tiếp thu, lĩnh hội được nhiều kiến thức để nâng cao khả năng làm việc Tuy nhiên, khi có đủ kiến thức nhưng không có điều kiện, tức không được bố trí công việc phù hợp với khả năng và không được cung cấp các điều kiện vật chất để thực hiện thì khả năng đó cũng không thể phát huy hoặc chỉ được khai thác rất ít trên thực tế

Khi quá trình làm việc càng lâu thì kinh nghiệm của người lao động cũng tăng Kinh nghiệm lao động biểu hiện số lần lao động lặp lại ở những

Trang 18

công việc được giao theo thời gian, độ lớn của kinh nghiệm tỉ lệ thuận với mức độ lặp lại các hoạt động trong công việc mà họ đã trải qua Những người càng có nhiều kinh nghiệm thì sự chín chắn trong công việc càng lớn và năng suất lao động cũng cao hơn

Đặc điểm nhân cách: Nhân cách là tổng thể các thuộc tính tâm lí cá

nhân, vừa có ý nghĩa xã hội, vừa đặc trưng cho tính cá nhân trong giao tiếp Nhân cách cho thấy rõ biểu hiện về hình thức, suy nghĩ, cảm nhận và hành động của mỗi người Hiểu rõ nhân cách cá nhân giúp người quản lí có thể đoán biết được nhân viên có thể làm được gì và mong muốn làm gì trong tổ

chức Nhân cách thể hiện qua bốn khía cạnh: xu hướng là mục đích sống của mỗi người; tính cách biểu hiện qua cách cư xử với người xung quanh; tính khí

là thuộc tính tâm lí cá nhân gắn liền với kiểu hoạt động thần kinh tương đối

bền vững của con người được thể hiện thông qua các hành vi hàng ngày; năng lực là tổng thể các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với nhu cầu đặc

trưng của một hoạt động nhất định, giúp họ có thể hoàn thành tốt công việc được giao

Tình trạng kinh tế của người lao động: Tình trạng kinh tế khác nhau

cũng tác động rất lớn đến nhu cầu của người lao động trong công việc Nhìn chung, cuộc sống càng khó khăn về kinh tế thì người lao động càng tập trung vào đòi hỏi vật chất nhằm duy trì cuộc sống Từ những năm 1990 trở lại đây, khi mức sống của người dân tăng lên cùng với xu hướng phát triển kinh tế trên thế giới, thì “lương cao” không còn là yếu tố tạo động lực chính ở những nước giàu, “công việc thú vị” ngày càng đóng vai trò quan trọng Ở những nước nghèo, lương cao vẫn được coi trọng Ở Việt Nam hiện nay khi GDP bình quân đầu người vẫn còn ở mức thấp, thì việc đi làm để có lương cao nhằm đáp ứng nhu cầu sinh lí còn được coi trọng, do đó người lao động thích làm việc trong các tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài với hi vọng nhận được

Trang 19

lương cao

1.2.2.2 Các yếu tố thuộc về tổ chức sử dụng lao động

Nhóm yếu tố này thể hiện sự ủng hộ và tạo điều kiện của tổ chức để người lao động có thể đem những khả năng của bản thân cống hiến cho mục tiêu chung và cũng chính là giúp họ đạt được mục tiêu của chính mình Để nhìn thấy rõ sự tác động của chúng, có thể xem xét một số yếu tố căn bản dưới đây

Công việc cá nhân đảm nhận: Công việc chính là tập hợp các nhiệm

vụ được thực hiện bởi một người lao động, hay những nhiệm vụ tương tự nhau được thực hiện bởi một số người lao động để hoàn thành mục tiêu của tổ chức Mục tiêu của tổ chức chỉ đạt được khi mỗi cá nhân hoàn thành công việc của mình vì đó chính là một tế bào công việc của tổ chức Tuy nhiên, người lao động có hoàn thành công việc hay không phụ thuộc rất lớn vào sự hứng thú trong lao động của họ Sự hứng thú chỉ đạt được khi họ cảm nhận công việc phù hợp với khả năng sở trường, được hưởng những quyền lợi xứng đáng khi hoàn thành nhiệm vụ được giao Khi người lao động càng quen với nhiệm vụ thì tính nhàm chán trong công việc cũng xuất hiện, đó là nguyên nhân làm triệt tiêu động lực làm việc Bởi vậy, để công việc luôn tạo sự lôi cuốn cho cấp dưới thì người lãnh đạo cấp trên nên quan tâm tới phân tích và thiết kế lại công việc phù hợp với khả năng sở trường, xác định những nhiệm

vụ mang tính thách thức, trách nhiệm phân định rõ ràng Điều đó giúp người lao động luôn thấy rõ quan hệ giữa quyền lợi được hưởng với việc hoàn thành các công việc được giao và sự hứng thú trong công việc sẽ được duy trì

Điều kiện lao động: Điều kiện lao động tại nơi làm việc là tập hợp các

yếu tố của môi trường lao động bao gồm các yếu tố vệ sinh, tâm sinh lí, tâm lí

xã hội và thẩm mĩ có tác động tới trạng thái chức năng cơ thể con người, khả năng làm việc, thái độ lao động, sức khỏe, quá trình tái sản xuất sức lao động

Trang 20

và hiệu quả lao động của họ trong hiện tại và tương lai Các nhà khoa học đã chia nội dung điều kiện lao động thành bốn nhóm yếu tố: vệ sinh môi trường (các yếu tố vật lí, hóa học và sinh học, được tạo ra dưới tác động chủ yếu của công cụ lao động, đối tượng lao động và quy trình công nghệ); tâm sinh lí (yếu tố về tải trọng thể lực, thần kinh, tâm lí, được hình thành trong quá trình lao động); thẩm mĩ (kiến trúc không gian nơi làm việc, màu sắc và không gian nơi sản xuất, âm thanh và sự bố trí quy trình sản xuất phù hợp, bầu không khí tâm lí của tập thể lao động); kinh tế - xã hội (tạo ra do tác động của các mối quan hệ kinh tế - xã hội như định mức và tổ chức lao động, khả năng làm việc trong ca, tình trạng sức khỏe, tai nạn lao động, tiền lương, mức sống)

Điều kiện lao động đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo công việc diễn ra suôn sẻ, đảm bảo duy trì khả năng làm việc và sức khỏe của người lao động Thực tiễn ở Việt Nam thời gian qua cho thấy, điều kiện lao động trong lĩnh vực sản xuất chưa được quan tâm thích đáng Các điều kiện như thiếu ánh sáng, tiếng ồn, độ rung chuyển, nồng độ bụi, hơi khí độc và phóng xạ trong sản xuất rất phổ biến gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người lao động Theo đánh giá của các chuyên gia, Việt Nam là nước có tỉ lệ bệnh nghề nghiệp và tai nạn lao động vào loại cao trên thế giới

Văn hóa Tổ chức: Văn hóa tổ chức là một hệ thống các niềm tin, các

giá trị được chia sẻ và phát triển trong phạm vi nội bộ một tổ chức và hướng dẫn hành vi của những thành viên trong tổ chức Văn hóa tổ chức được tạo thành từ tổng thể các mục tiêu, các chính sách quản lí, bầu không khí tâm lí của tập thể lao động, lề lối làm việc và các mối quan hệ nhân sự

Văn hóa tổ chức có tác động rất lớn đến các thành viên trong tổ chức

Nó chỉ cho thành viên thấy bằng cách nào để thỏa mãn các nhu cầu cá nhân Thông qua việc chia sẻ kinh nghiệm, các thành viên có thể phát triển các quan điểm chung nhằm chỉ dẫn cho các hoạt động hàng ngày của họ Người

Trang 21

cũ có thể giúp người mới hội nhập vào tập thể, cùng hiểu mục tiêu của tổ chức, xác lập trách nhiệm và phương pháp hành động thích hợp nhằm thể hiện mình với những người xung quanh Văn hóa mạnh còn giúp người lãnh đạo và nhân viên xít lại gần nhau hơn Người lãnh đạo sẽ hiểu nhân viên nghĩ gì, những định hướng chính sách của tổ chức đã hợp lí chưa để điều chỉnh kip thời, làm cho cấp dưới tự giác tuân thủ và giảm sự giám sát trong công việc Từ đó sẽ tạo được sự nhất trí cao giữa các thành viên, tăng sự hợp tác, sự trung thành và cam kết của các thành viên với tổ chức

Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức là hệ thống các nhiệm vụ, mối quan hệ

báo cáo và quyền lực nhằm duy trì sự hoạt động của tổ chức Mỗi tổ chức có mục tiêu riêng nên cần phải có một cơ cấu phù hợp thể hiện sự bố trí, phối hợp các hoạt động của cá nhân nhằm đạt được mục tiêu đó Có một số loại cơ cấu tổ chức cơ bản là: quản lí theo chức năng, trực tuyến, hỗn hợp trực tuyến - chức năng và quản lí theo dự án

Cơ cấu tổ chức làm rõ mức độ tập quyền hay phân quyền trong quản lí, quyền ra quyết định thuộc về ai và mức độ gắn kết nhân viên vào quá trình ra quyết định Khi có một cơ cấu quản lí phù hợp với trách nhiệm rõ ràng, linh hoạt, gọn nhẹ, không chồng chéo thì chi phí quản lí giảm, thông tin phản hồi giữa cấp trên và cấp dưới sẽ nhanh chóng giúp giải quyết tốt các vấn đề phát sinh Người lao động sẽ thấy rõ địa vị trong tổ chức và họ sẽ chủ động và cam kết trong công việc

Chính sách nhân sự và sự thực hiện: Các chính sách nhân sự rất đa

dạng bao quát các khía cạnh từ tuyển dụng, bố trí, đào tạo, đánh giá thực hiện công việc, thù lao lao động đến vấn đề bảo vệ lao động Các chính sách này đưa ra các chỉ dẫn cho người quản lí cần làm gì đề phù hợp với mục tiêu của

tổ chức và sự mong đợi của người lao động, chứ không phải là các luật lệ cứng nhắc Các chính sách cần được sửa đổi cùng với quá trình phát triển của

Trang 22

tổ chức Bởi chúng có ảnh hưởng quan trọng tới việc thực thi của các cấp lãnh đạo và tác động lớn đến người lao động như: cung cấp nơi làm việc an toàn; trả lương cao với người có kết quả cao; đảm bảo sự thăng tiến cho những người có năng lực và thành tích tốt; khuyến khích nhân viên làm việc hết khả năng và trung thành khi họ thấy rõ sự công bằng

1.2.2.3 Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài

Các yếu tố môi trường bên ngoài rất đa dạng có tác động gián tiếp tới động lực làm việc của người lao động Sự ảnh hưởng của chúng có thể xem xét qua một số yếu tố điển hình sau

Văn hóa dân tộc: Văn hóa dân tộc là tất cả các giả định có tính

truyền thống mà các thành viên trong xã hội nhìn nhận và chia sẻ Những giả định bao gồm các giá trị, niềm tin về thế giới quan và cách thức nó vận động cũng như các lí tưởng mà mọi người cố gắng đạt tới Văn hóa dân tộc luôn hiện hữu trong mỗi người và tác động tới hành vi của họ Hofstede (1984) đã đưa ra mô hình phân biệt văn hóa giữa các quốc gia dựa trên bốn khía cạnh cơ bản

Chủ nghĩa cá nhân hay tập thể thể hiện việc coi trọng hay không coi trọng mối quan hệ giữa các thành viên trong xã hội, các cá nhân thích tham gia vào tập thể hay thích một mình Ở các nước có định hướng cá nhân như ở

Mỹ, Anh các thành viên có xu hướng tìm kiếm lợi ích của chính bản thân, tiếp tới là lợi ích của những người có quan hệ gần gũi với họ, và các cá nhân coi trọng sự tự lập bằng chính khả năng Trái lại, tại các quốc gia có định hướng tập thể, mọi người lại thích trở thành thành viên của nhóm và mong muốn sự che chở, bảo vệ của tập thể khi gặp khó khăn như ở Đài Loan, Nhật Bản và người Việt Nam thường theo định hướng này

Khoảng cách quyền lực cho thấy cách thể hiện nấc thang quyền lực trong xã hội Những nước có khoảng cách quyền lực thấp như Đan Mạch,

Trang 23

Israel muốn hạn chế sự bất công bằng về quyền lực và lợi ích càng nhiều càng tốt Những quốc gia có khoảng cách quyền lực cao thì mọi người luôn duy trì khoảng cách quyền lực giữa cấp trên với cấp dưới và cấp dưới phải luôn phục tùng mệnh lệnh của cấp trên như tại Malaixia

Luật pháp: Luật pháp chính là cơ sở pháp lí đảm bảo quyền lợi và

nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động và lợi ích của nhà nước Luật pháp đảm bảo cho sự bình đẳng của mọi cá nhân trên thị trường lao động, ngăn cấm sự phân biệt đối xử trong sử dụng lao động Hệ thống luật pháp càng tốt thể hiện sự vững mạnh của nền hành chính quốc gia, sự ổn định về chính trị và người dân được sống trong yên bình Chẳng hạn, các quy định về lương tối thiểu, số giờ làm việc, lương ngoài giờ, điều kiện lao động, các quy định về xử lí tranh chấp lao động để các bên trong quan hệ lao động có cơ sở đưa ra các đòi hỏi lẫn nhau Cùng với xu hướng phát triển thì hệ thống pháp luật ở Việt Nam ngày càng được kiện toàn, góp phần làm cho môi trường làm việc trở lên hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư, tạo thêm cơ hội việc làm cho người lao động, kèm theo đó là các quyền lợi của người lao động cũng ngày càng được đảm bảo hơn

Hệ thống phúc lợi xã hội: Hệ thống phúc lợi xã hội càng được quan

tâm thì đời sống của người lao động càng được đảm bảo Ở Việt Nam bảo hiểm xã hội gồm 5 chế độ (trợ cấp ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí và trợ cấp tử tuất) mang tính bắt buộc với người lao động và người sử dụng lao động Nguồn hình thành của quỹ từ các nguồn: người sử dụng lao động đóng 15% tổng quỹ tiền lương; người lao động đóng 5% tiền lương, hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước; tiền sinh lời từ quỹ; các nguồn khác (tiền phạt cá nhân và tổ chức vi phạm quy chế bảo hiểm xã hội, tiền tài trợ cho quỹ) Bảo hiểm xã hội đáp ứng nhu cầu an toàn của người lao động Đảm bảo được chữa bệnh khi ốm đau, về già có trợ cấp hưu trí giúp người lao

Trang 24

động phục hồi sức khỏe và an tâm trong công việc từ đó giúp họ chú tâm hơn tới công việc tức có động lực lao động hơn

1.2.3 Các công cụ tạo động lực lao động

Bản thân công việc

Công việc ảnh hưởng đến động lực thông qua vai trò và ý nghĩa của công việc, tính phức tạp, khả năng tiêu chuẩn hoá, tính độc lập, tính lặp lại Do đó để tạo động lực cho người lao động thì tổ chức sử dụng lao động

và người quản lý trực tiếp cần quan tâm tới thiết kế công việc, thường xuyên làm mới, làm giàu thêm những phần việc của từng nhân viên Cần làm cho công việc giảm tính nhàm chán, tăng dần số lượng và độ phức tạp, tăng dần tính độc lập và sáng tạo Niềm yêu thích công việc và sự say mê khi được làm việc chính là động lực mạnh mẽ nhất giúp mỗi người luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ và đạt được những thành công trong sự nghiệp

Chính sách đãi ngộ về vật chất Đảm bảo các chế độ tiền lương, phụ

cấp, điều kiện và phương tiện làm việc, nhà ở, đối với người lao động Tiền lương phải thật sự trở thành bộ phận cơ bản trong thu nhập Tiền lương phải

đủ đảm bảo tái sản xuất mở rộng sức lao động Tiền lương là đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ nhất để kích thích người lao động ở một nước đang phát triển như

Việt Nam làm việc với năng suất và hiệu quả

Chính sách đãi ngộ về tinh thần Ngoài những vấn đề nêu trên còn

phải kể đến việc tạo động lực cho người lao động về mặt tinh thần Đây là một việc làm có ý nghĩa to lớn trong việc tạo động lực cho người lao động

Đó là việc trọng dụng nhân tài, tạo điều kiện để người có đức, có tài phát triển

và phát huy hết khả năng để đạt được mục tiêu cả nhân và góp phần để tổ chức hoàn hành mục tiêu chung Cần có biện pháp để khuyến khích người lao động nâng cao nhiệt tình, yêu nghề, say mê công tác, tự rèn luyện nâng cao

Trang 25

trình độ các mặt, giữ gìn phẩm chất đạo đức Khen thưởng kịp thời những nhân viên có thành tích xuất sắc trong công tác, trong nghiên cứu khoa học Hoàn thiện công tác tổ chức ở đơn vị, tạo bầu không khí dân chủ, tôn trọng, tin tưởng, tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau trong tập thể Từ đó, tạo môi trường thoải mái trong công việc, giảm mức độ căng thẳng trong công việc

hàng ngày

1.3 CÁC HỌC THUYẾT TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG

1.3.1 Các học thuyết nội dung

Con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau, các nhà nghiên cứu đã chỉ

ra các cách tiếp cận với các nhu cầu đó Điều đó giúp cho các nhà quản trị tìm cách đảm bảo cho người lao động luôn ở trong tình trạng được thỏa mãn các nhu cầu nhằm đạt được kết quả làm việc ở mức độ cao nhất

Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow (1943) Theo Maslow, con

người có năm thứ bậc nhu cầu được chia thành nhóm nhu cầu ở bậc thấp và bậc cao, phát triển theo hình bậc thang Nhóm nhu cầu bậc thấp bao gồm nhu cầu sinh lí, an toàn và nhu cầu xã hội, còn các nhu cầu bậc cao gồm nhu cầu

được tôn trọng và nhu cầu tự hoàn thiện (sơ đồ 1.4, phụ lục 1)

Nhu cầu sinh lí là nhu cầu thấp nhất, mang tính căn bản giúp con người

có thể tồn tại như thức ăn, nước uống, chỗ ở, nghỉ ngơi Tại nơi làm việc người lao động cần nhận được tiền lương/tiền công để thỏa mãn những nhu cầu sống của bản thân và nuôi dưỡng thành viên trong gia đình, cần những khoảng thời gian nghỉ giữa ca để thư giãn và phục hồi sức khỏe

Nhu cầu an toàn là việc con người muốn được đảm bảo an toàn đối với bản thân Người lao động muốn làm việc trong môi trường an toàn, có người lãnh đạo quan tâm đến an toàn và bảo hộ lao động, bảo vệ họ khỏi những điều bất chắc, muốn có sự ổn định về việc làm, không muốn bị sa thải vì lí do không chính đáng Như vậy, tổ chức cần cung cấp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm

Trang 26

y tế cho nhân viên của mình

Nhu cầu xã hội thể hiện ở mong muốn được quan hệ để thể hiện hay chấp nhận tình cảm, sự hợp tác với người xung quanh Bởi bản chất tự nhiên của con người là sống thành tập thể, họ luôn là thành viên của một nhóm người nào đó và có những mối quan hệ ràng buộc Hơn nữa, để hoàn thành công việc của cá nhân thì cần có sự hợp tác của các đồng nghiệp Để hợp tác tốt thì mọi người cần hiểu nhau và chia sẻ thông tin Việc cùng ăn trưa trong bếp tập thể, cùng thăm quan, giao lưu văn hóa, chơi thể thao sẽ là những hoạt động giúp người lao động có cơ hội tiếp xúc, giao lưu một cách cởi mở để thân thiện với nhau trong cuộc sống và hợp tác trong công việc, phát triển tinh thần làm việc theo nhóm Bởi vậy, văn phòng Tổng cục Thuế cần khuyến khích sự giao lưu, thành lập các câu lạc bộ ngoài giờ ngay trong tổ chức

Nhu cầu được tôn trọng là mong muốn có địa vị, được người khác công nhận, tôn trọng cũng như tự tôn trọng bản thân Tại nơi làm việc, người lao động được thăng tiến, được trao tặng vật có giá trị, có phòng làm việc tiện nghi, phần thưởng xứng đáng cho thành tích có thể đáp ứng được nhu cầu này

vì nó thể hiện sự thừa nhận thành tích đối với những đóng góp của họ theo thời gian

Nhu cầu tự hoàn thiện là cấp độ cao nhất thể hiện qua việc vận dụng và phát triển các khả năng cá nhân trong công việc Họ muốn được đảm nhận các công việc đòi hỏi sự sáng tạo có tính thách thức, vươn lên để đạt được các thành tích mới nhằm khẳng định bản thân Do vậy, tổ chức cần tạo môi trường thuận lợi, tăng tính tự quản để người lao động có thể phát huy sáng kiến để đạt được thành tích, kỉ lục mới

Maslow cho rằng mỗi người có nhu cầu khác nhau và cần được thỏa mãn bằng các cách khác nhau Nhu cầu ở bậc thấp được thỏa mãn thì một nhu cầu ở cấp độ cao hơn sẽ trở thành lực thúc đẩy con người thực hiện những

Trang 27

việc nào đó để thỏa mãn chúng Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho rằng, thứ bậc nhu cầu không chỉ khác nhau theo cá nhân mà còn khác nhau theo một số khía cạnh khác Nhóm nhu cầu ở bậc cao lại quan trọng hơn nhóm nhu cầu ở bậc thấp do cá nhân phấn đấu để đạt được địa vị trên nấc thang quản lí Nhu cầu cá nhân còn khác nhau theo các giai đoạn nghề nghiệp, quy mô tổ chức, khu vực địa lí của tổ chức, văn hóa của mỗi nước Ở các nước đang phát triển thì nhu cầu bậc thấp chiếm đa số thời gian làm việc của họ Nhưng ở những nước phát triển, có thu nhập cao thì yếu tố văn hóa ảnh hưởng rất lớn tới việc lựa chọn công việc của họ Theo Maslow, khi xây dựng và thực hiện các chính sách nhân sự nhằm tạo động lực làm việc cho người lao động, cần phải tìm hiểu rõ người lao động đang có nhu cầu gì để hướng vào thỏa mãn các nhu cầu đó nhằm thúc đẩy người lao động làm việc hết khả năng của mình

1.3.2 Các học thuyết quá trình

Khác với các học thuyết nội dung, các học thuyết quá trình đi vào tìm hiểu lí do tại sao mỗi cá nhân thể hiện hành động cụ thể trong công việc

Học thuyết tăng cường tích cực của B.F.Skinner (1953) Theo học

thuyết này có những hành vi của cá nhân nên được thúc đẩy, có hành vi nên bị hạn chế bằng các công cụ là phần thưởng, hình phạt hoặc làm lơ

Những hành vi được thưởng có xu hướng được nhắc lại, không được thưởng (làm lơ) hoặc bị phạt có xu hướng bị loại bỏ dần Phần thưởng có thể

là những lời khen ngợi, quyết định thăng tiến hay khoản tiền nhất định Hình phạt có thể là những lời quở trách, hay cắt giảm quyền lợi Làm lơ, coi như không biết đến việc làm sai của nhân viên, cách này chỉ phù hợp khi người quản lí nghĩ rằng hành vi sai lầm đó chỉ tạm thời hay không nghiêm trọng đến mức phải áp dụng hình phạt Khoảng thời gian giữa thời điểm xảy ra hành vi

và thời điểm tiến hành thưởng/ phạt càng ngắn thì càng có tác dụng làm thay đổi hành vi Hình phạt có tác dụng hạn chế các hành vi mang lại kết quả

Trang 28

không kì vọng, nhưng có thể gây ra phản kháng từ phía người lao động Để giảm những biến cố này cần gắn hành vi phạt đi liền với hành vi thưởng cho thành tích tốt hay “khen trước - chê sau”

Để quản lí có hiệu quả, các nhà quản lí cần phải xác định một số hành

vi cụ thể mà họ muốn người lao động thể hiện trong công việc Việc thực hiện thưởng hay phạt cần chú ý đến thời điểm gần với khi xảy ra hành vi để nâng cao tác dụng trong quản lí và đảm bảo công bằng với mọi nhân viên Tuy nhiên, không nên quá nhấn mạnh các hành vi phạt mà cần gắn với các hành vi được thưởng để hạn chế sự phản kháng từ phía người lao động

Học thuyết công bằng của Stacy Adams (1965) Học thuyết này

đưa ra quan niệm, con người muốn được “đối xử công bằng” Mọi người thường mong muốn nhận được những quyền lợi (tiền lương, phúc lợi, sự ổn định và an toàn trong công viêc, sự thăng tiến) tương xứng với những đóng góp hay công sức (thời gian, nỗ lực, giáo dục, kinh nghiệm) mà họ bỏ ra Nếu một cá nhân nhận thấy tổ chức trả cho họ dưới mức họ đáng được hưởng thì ngay lập tức sẽ giảm nỗ lực làm việc xuống để xác lập “sự công bằng” mới Ngược lại, nếu thấy được trả cao thì sẽ cố gắng làm việc chăm chỉ hơn Để nhìn nhận về sự đối xử, người lao động thường có xu hướng so sánh sự đóng góp của họ và các quyền lợi mà họ nhận được với sự đóng góp và quyền lợi của người khác

Các quyền lợi cá nhân Các quyền lợi của người khác Đóng góp của cá nhân Đóng góp của người khác Nếu người lao động nhận thấy tỉ số trên của cá nhân lớn hơn hay nhỏ hơn của những người khác thì đều có thể tác động tới hành vi lao động của cá nhân để xác định lại sự cân bằng như: thay đổi đầu vào cho công việc như giảm nỗ lực làm việc; thay đổi phần thưởng nhận được như đòi tăng lương

>=<

Trang 29

thưởng; rời bỏ tình trạng hiện tại như bỏ việc; tác động tới thay đổi đầu vào hoặc đầu ra của người họ so sánh với như đòi tăng thêm nhiệm vụ cho đồng nghiệp Sự công bằng được thiết lập khi cá nhân cảm thấy tỉ số giữa quyền lợi/đóng góp của họ ngang bằng với tỉ số đó của người khác

Quyền lợi được cảm nhận là công bằng có tác dụng thúc đẩy sự thỏa mãn và làm tăng kết quả thực hiện công việc và ngược lại Tuy nhiên, cũng rất khó xác lập được sự nhìn nhận công bằng giữa mọi người trong tập thể lao động do một số người có xu hướng “cường điệu hóa” thành tích của bản thân Điều khó khăn đối với người quản lí là phải kiểm soát được tình hình, loại bỏ hoặc hạn chế tối đa sự bất công xảy ra khi phân chia quyền lợi trong nhóm lao động

Để tạo động lực người lao động cần phải tạo ra và duy trì sự công bằng trong tổ chức thông qua lưu ý một số vấn đề sau: phải biết rằng mọi cá nhân

sẽ so sánh sự công bằng bất cứ khi nào những quyền lợi mà họ thấy rõ (tiền lương, phúc lợi, sự thăng tiến) được phân chia; phải loại bỏ sự bất công thông qua trả lương thưởng dựa trên đóng góp; tạo cơ hội thăng tiến ngang nhau cho những người có năng lực và thành tích ngang nhau; cần loại bỏ sự phân biệt đối xử về tuổi, giới tính, chủng tộc, tôn giáo; cần thông báo cho người lao động rõ về cách đánh giá thành tích và cách nhìn nhận về quyền lợi hợp lí để

họ xác lập đúng điểm so sánh, tránh hiểu sai hoặc có suy nghĩ “cường điệu hóa” đóng góp của bản thân

Các học thuyết về quá trình nhận thức có những tiếp cận khác nhau về các khía cạnh cá nhân và tình huống công việc khi xem xét các yếu tố tạo nên động lực Học thuyết của Skinner nhấn mạnh việc củng cố hành vi tốt bằng công cụ thưởng Học thuyết của Adams cho rằng cá nhân có động lực phụ thuộc vào việc so sánh tình trạng về sự đối xử của tổ chức với họ với tình trạng đó của người khác Học thuyết của Vroom lại mang tính xu hướng cá

Trang 30

nhân nhiều hơn khi so sánh chính nhận thức của họ với quyền lợi thực tế nhận được từ tổ chức Cả ba học thuyết này đều nhấn mạnh đến vai trò của phần thưởng trong tương lai với động lực và hành vi làm việc

Mỗi học thuyết được đề cập đều có những ý nghĩa vận dụng nhất định trong tạo động lực cho người lao động tuy nhiên chúng chỉ nhìn nhận một khía cạnh nhất định Trên thực tế, khía cạnh tạo động lực lại rất đa dạng do tổ chức được cấu thành bởi những người khác nhau, có những nhu cầu và mong đợi khác nhau từ sự đối xử của tổ chức với những cống hiến của họ Bởi vậy,

xu hướng chung trong tạo động lực là sự ưa chuộng mô hình tổng thể trong tạo động lực được đưa ra bởi Lyman W.Porter và Edward E Lawler

Mô hình tổng thể trong tạo động lực

Nguồn: Business Edge (2004), Tạo động lực làm việc phải chăng chỉ có thể bằng tiền, Nxb Trẻ Tp Hồ Chí Minh

Theo mô hình của Porter và Lawler, có ba nhóm yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện công việc của người lao động: đặc tính cá nhân chính là khả năng thực hiện công việc, nỗ lực làm việc tạo ra sự sẵn lòng thực hiện công việc, ủng hộ của tổ chức và sự ủy quyền tạo cơ hội để thực hiện công việc Nếu một trong ba yếu tố trên không được đảm bảo thì kết quả thực hiện công việc của cá nhân không đạt được mong đợi Hơn nữa, cá nhân có động lực thì sẽ tạo

ra nỗ lực làm việc và sự nhìn nhận về phần thưởng cho kết quả làm việc chính

Động lực

Đặc tính cá nhân

Nỗ lực làm việc

Ủng hộ của tổ chức và

ủy quyền

Kết quả thực hiện công việc

Phần thưởng bên ngoài

Phần thưởng bên trong

So sánh tính

Trang 31

là cơ sở tạo ra sự thỏa mãn trong lao động giúp người lao động có động lực làm việc Do đó, các yếu tố thuộc mô hình tổng thể chính là các yếu tố cần được xem xét để vận dụng trong tạo động lực cho công chức trong văn phòng Tổng cục Thuế hiện nay trên cơ sở phù hợp với hoàn cảnh cụ thể và văn hóa của người Việt Nam, mục tiêu và văn hóa tổ chức của văn phòng Tổng cục Thuế

Các bước cơ bản khi tiến hành công việc

Ý thức, năng lực làm việc tốt phải kết hợp với có một phương pháp làm việc khoa học mới mong đạt kết quả tốt Để có động lực cao nhờ được đánh giá cao về kết quả lao động, người công chức nên tham khảo các bước thực

hiện công việc theo sơ đồ phía dưới (sơ đồ 3.2)

Sơ đồ 3.2 Các bước cơ bản khi tiến hành công việc

Kim chỉ nam trong hoạt động của cá nhân trong cơ quan quản lí nhà

Kế hoạch (PLAN)

Thực hiện (DO)

Kiểm tra (CHECK)

Xử lí (ACTION)

- Lãm rõ mục đích, mục tiêu của công việc

- Đưa ra phương pháp, trình tự để đạt mục tiêu

- Thực hiện từng bước đúng kế hoạch

- Liên hệ, điều chỉnh với các bộ phận có liên quan, chú ý thời hạn hoàn thành công việc

- Kiểm tra xem có thực hiện đúng kế hoạch không

- Đánh giá kết quả

- Sửa đổi khi vượt ngoài kế hoạch, q.định, tiêu chuẩn

- Trường hợp công việc tiến triển không tốt, tìm nguyên nhân và các giải pháp phòng ngừa tái phát

- Xem xét lại để cải tiến cơ chế, phương pháp làm việc cho tốt hơn, ứng dụng vào các kế hoạch tiếp theo

Nguồn: Carnegie, D (1994), Đắc nhân tâm - Bí quyết của thành công

Trang 32

nước nói chung và công chức trong văn phòng Tổng cục Thuế nói riêng chính

là “chị thị” của cấp trên Nguyên nhân thường gặp dẫn đến 1 người công chức không làm đúng theo kì vọng của cấp trên là do cấp dưới không tiếp nhận đúng mệnh lệnh của cấp trên Do đó, nguyên tắc vàng khi nhận chỉ thị là ghi chép lại chỉ thị theo 6 nội dung “5W1H”

5W1H là gì?

Giải tỏa sự căng thẳng trong công việc

Công việc của người công chức là quá trình lao động trí óc cao, bởi vậy

sự căng thẳng trong công việc luôn là vấn đề thường trực hàng ngày nếu người công chức không biết cách giải tỏa nó Khi sự căng thẳng tăng cũng đồng nghĩa với động lực làm việc giảm Bởi vậy để giải tỏa sự căng thẳng người công chức có thể quan tâm tới một số khía cạnh sau

Xác định rõ nguyên nhân của sự căng thẳng Người công chức bắt đầu bằng việc xác định vấn đề hiện tại gây ra sự căng thẳng cho họ nằm ở đâu Căng thẳng của họ gây ra là do thời gian, do tình hình, do xung đột trong quá trình làm việc hay do các kì vọng đặt ra chưa phù hợp Từ đó xác định nguyên nhân gây ra căng thẳng theo bốn nhóm sau

Căng thẳng về thời gian

- quá nhiều việc

- kế hoạch chưa rõ ràng

- thiếu sự kiểm soát theo tiến trình

Căng thẳng do tình hình

- điều kiện không đảm bảo

- thay đổi quá nhanh chóng

Căng thẳng do xung đột Căng thẳng về các kì vọng đặt ra

1 Tới bao giờ (Thời gian hoàn thành: Mấy giờ, ngày nào) When

2 Ở đâu (Địa điểm: Nơi tiến hành công việc) Where

3 Ai làm (Người làm: Một mình hay có người hợp tác) Who

4 Làm gì (Việc: Làm rõ nội dung và đối tượng công việc) What

5 Tại sao (Lí do: Làm rõ mục đích và lí do công việc) Whi

6 Như thế nào (Phương thức làm: Phương pháp, trình tự làm) How

Trang 33

- vai trò đảm nhận

- vấn đề cụ thể

- hành vi thực hiện

- không hài lòng với kì vọng

- sợ hãi không đạt được

Lựa chọn biện pháp phù hợp để giải tỏa sự căng thẳng Khi biết được

sự căng thẳng phát sinh từ đâu người công chức có thể lựa chọn cho mình một giải pháp tương ứng để giải tỏa những khúc mắc của bản thân nhằm lấy lại trạng thái cân bằng về mặt tâm lí

Căng thẳng về thời gian

- lập kế hoạch thời gian rõ ràng, xác định rõ thời điểm kết thúc công việc

- trao đổi cởi mở với đồng nghiệp để tăng sự hiểu biết lẫn nhau và tăng cường sự hợp tác

Căng thẳng về các kì vọng đặt ra

- xác định lại các kì vọng, không được quá cao hoặc quá thấp, cần mang tính hơi thách thức để tăng sự hưng phấn trong công việc

- lập rõ kế hoạch hành động để đạt được các kì vọng đặt ra, nhằm chỉ ra con đường tiến tới mục tiêu là ngắn nhất

Lập các khẩu hiệu để thúc đẩy tinh thần Để thực hiện có hiệu quả, thì

người công chức cần đưa ra các khẩu hiệu riêng để tự thu hút sự tập trung tư tưởng và tạo cảm giác phấn khích trong thực hiện công việc Các khẩu hiệu cần được thiết kế ngắn gọn, dễ nhớ, thu hút sự chú ý, và có tính khơi dậy tinh

Trang 34

thần hăng say làm việc

Trau dồi đạo đức nghề nghiệp

Đạo đức nghề nghiệp được hiểu là toàn bộ các nghĩa vụ và nguyên tắc ứng xử của một cán bộ nhà nước đối với đồng nghiệp của mình cũng như đối với các cá nhân, tổ chức đang thực hiện nhiệm vụ công tác Trong chừng mực nào đó, đạo đức nghề nghiệp có thể được hiểu là một loạt các quy định về nghĩa vụ nghề nghiệp

Do tính chất công việc của cán bộ Thuế khá nhạy cảm, cùng với những thẩm quyền đặc biệt được nhà nước giao, nên một yêu cầu cơ bản đối với cán

bộ Thuế là phải tuân thủ đầy đủ các quy định về đạo đức nghề nghiệp

Trang 35

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC CHO CÔNG CHỨC TẠI VĂN PHÒNG TỔNG CỤC THUẾ

2.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN PHÒNG TỔNG CỤC THUẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG

2.1.1 Vị trí và chức năng

Cơ quan Thuế là một tổ chức của hệ thống bộ máy nhà nước, trực thuộc

Bộ Tài chính Cơ quan Thuế có tư cách pháp nhân thay mặt Nhà nước đảm nhận nhiệm vụ quản lí Thuế bằng các hình thức và phương pháp hoạt động nhất định Hoạt động của cơ quan Thuế mang tính quyền lực và được đảm bảo bằng quyền lực Nhà nước, hoạt động đó được tuân theo thủ tục do pháp luật quy định

Cơ quan Thuế là nơi tổ chức thực hiện các chính sách pháp luật về thuế, bao gồm: tuyên truyền pháp luật thuế; hỗ trợ người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế; tổ chức thu thuế theo pháp luật; thanh tra - kiểm tra, giải quyết các khiếu nại tố cáo liên quan đến việc thực thi pháp luật thuế;

tổ chức nghiên cứu dự báo, khai thác nguồn thu đảm bảo hoàn thành nhiệm

vụ thu ngân sách được Quốc hội và Chính phủ giao

Cơ quan Thuế bao gồm Tổng cục Thuế, Cục Thuế và Chi cục Thuế, được tổ chức theo địa giới hành chính và cơ cấu tổ chức phòng ban là tương đồng nhau ở cả 3 cấp Trong ngành Thuế, văn phòng Tổng cục Thuế là cơ quan Trung ương có chức năng quản lí nhà nước đối với các khoản thu nội địa, bao gồm: thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của Ngân sách nhà nước (sau đây gọi chung là thuế); tổ chức thực hiện quản lí thuế trên phạm

vi toàn quốc

Trang 36

2.1.2 Cơ cấu tổ chức

Mô hình tổ chức hiện nay của văn phòng Tổng cục Thuế là mô hình chức năng để thực hiện các chức năng quản lí thuế, bao gồm các đơn vị sau:

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức văn phòng Tổng cục Thuế

Các Ban thuộc Tổng cục Thuế có chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm tham mưu, giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế:

- Tổ chức chỉ đạo triển khai toàn diện lĩnh vực công tác được giao thống nhất trong toàn quốc; biên soạn tài liệu và tham gia đào tạo cán bộ, công chức thuế; thực hiện chế độ báo cáo theo quy định; quản lí cán bộ, công chức và tài sản của đơn vị theo quy định của Nhà nước

TỔNG CỤC TRƯỞNG

Vụ Chính

sách

Thuế

Vụ

QL thuế TN

CN

Bộ máy giúp việc

Bộ máy giúp việc

Đơn vị sự nghiệp trực thuộc

Vụ kiể

m tra Nội

bộ

Vụ

Dự toán thu thuế

Văn phòng

Vụ Tài

vụ

QT

Vụ Hợp tác

Vụ

QL

Nợ thuế

Vụ

Kê khai

kế toán

bộ

Cục ứng dụng CNTT

Trang 37

- Được quyền yêu cầu các đơn vị, cá nhân trong và ngoài ngành Thuế cung cấp đầy đủ thông tin có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ được giao

- Được kí các văn bản hướng dẫn, giải thích, trả lời các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của Ban theo phân công của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế

Các Ban làm việc theo chế độ chuyên viên (trừ các Ban được tổ chức phòng) Ban có 1 cấp trưởng và các cấp phó giúp việc, cấp trưởng chịu trách nhiệm trước Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế về toàn bộ hoạt động của Ban, cấp phó chịu trách nhiệm trước cấp trưởng về nhiệm vụ được phân công

Các Ban sau đây thuộc Tổng cục Thuế được tổ chức phòng là: Ban Tài

vụ - Quản trị gồm các phòng: Phòng Tài vụ; Phòng Quản trị; Phòng Quản lí

ấn chỉ Văn phòng Tổng cục Thuế gồm các phòng: Phòng Hành chính - Lưu trữ; Phòng Tổng hợp; Phòng Thi đua

2.1.3 Chính sách nhân sự

Tuyển dụng chủ yếu từ bên ngoài ngành thuế và được thực hiện theo chu kì 5 năm Các kì tuyển dụng đều được thông báo rộng rãi Tổng số cán bộ được tuyển dụng sẽ do Bộ Tài chính quyết định dựa trên cơ sở kết hợp giữa nhu cầu và cơ cấu tổ chức hiện trạng so với tổ chức đã được phê duyệt Nội dung kiểm tra nhìn chung liên quan đến quản lí nhà nước nói chung mà không kiểm tra kiến thức cụ thể về ngành thuế nói riêng

Việc sắp xếp cán bộ mới vào Tổng cục Thuế thường là vào vị trí thấp, việc này là phù hợp đối với các cơ quan nhà nước địa phương Tuy nhiên, đối với văn phòng Tổng cục Thuế là một cơ quan hoạch định chính sách cấp trung ương, các quyết sách và biện pháp điều hành có ảnh huởng đến hệ thống

Trang 38

những người có nhiều kinh nghiệm về tài chính, kế toán, pháp luật thuế quốc

tế từ trong và ngoài ngành vào những vị trí chuyên gia

Thứ hai, về bố trí cán bộ

Bố trí cán bộ là quá trình bổ nhiệm cán bộ vào các vị trí còn thiếu Tại Tổng cục Thuế, không có mối quan hệ có tính hệ thống giữa quy trình sắp xếp cán bộ và kĩ năng cần thiết của công việc Quyết định chọn cán bộ nào vào vị trí còn thiếu chủ yếu dựa vào ý kiến cá nhân của những người có thẩm quyền

và không mấy tập trung vào việc người được chọn có thể thực hiện công việc

đó tốt hay không Ban Tổ chức cán bộ đảm nhận vai trò chính trong việc bố trí cán bộ, ý kiến của người lãnh đạo bộ phận tiếp nhận cán bộ thường không được chú trọng Quy trình bố trí cán bộ như trên vẫn diễn ra ở hầu hết các cơ quan quản lí nhà nước ở Việt Nam

Thứ ba, về đánh giá cán bộ

Đánh giá cán bộ là quy trình định kì xem xét việc thực hiện công việc của cán bộ theo hệ thống tiêu chuẩn đánh giá được thiết lập trước nhằm duy trì và tăng cường sự đóng góp của cán bộ vào việc thực hiện mục tiêu của cơ quan, tổ chức

Tại tổng cục Thuế, công tác đánh giá thực hiện công việc được cho là công tác đánh giá cán bộ theo định kì mỗi quý và hàng năm Trong đó, đánh giá quý để làm cơ sở phân chia mức tiền thưởng của quý đó, đồng thời là căn

cứ để xếp loại cả năm cho từng công chức

Có duy nhất mẫu chung áp dụng cho tất cả cán bộ của Tổng cục Thuế

(bảng 2.1, phụ lục 2)

Bảng 2.2 Các tiêu chí đánh giá công chức hàng quý

Trang 39

STT Tiêu chí đánh giá Điểm tối đa

2 Chấp hành tốt kỷ cương kỉ luật, thực hành tiết

kiệm chống tham ô lãng phí

10

3 Học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ 10

5 Chủ động, tích cực tham gia các phong trào 10

Bảng 2.3 Danh hiệu thi đua quý

3 Hoàn thành nhiệm vụ 71=<; <81

4 Không hoàn thành nhiệm vụ >71

Câu hỏi đặt ra “Liệu đánh giá xếp loại xuất sắc thì có phải thực hiện công việc cũng xuất sắc không?” Câu trả lời là không Hệ thống đánh giá này không đánh giá việc thực hiện công việc hiệu quả của cán bộ mà chủ yếu tập trung vào ý thức chấp hành nội quy và kỉ luật lao động Nội dung đánh giá như trên chỉ để xét phân chia tiền thưởng và khẳng định không thể kỉ luật cán

bộ đó

Thứ tư, về phân loại công việc và chi trả lương cho công chức

Trang 40

Hiện tại, việc phân loại công việc và phân chia chức danh công chức tại văn phòng Tổng cục Thuế gồm 2 loại ngạch công chức là ngạch thanh tra thuế và ngạch hành chính

Bảng 2.4 Ngạch công chức tại văn phòng Tổng cục Thuế

Thanh tra viên chính thuế Chuyên viên Thanh tra viên cao cấp thuế Chuyên viên chính

Chuyên viên cao cấp

Mỗi chức danh trong bảng tương ứng với một mức lương (bảng 2.5,

phụ lục 1) Mỗi mức lương có các hệ số bậc lương Lương của một vị trí

được tính bằng cách nhân hệ số chức danh với lương cơ bản Các cán bộ được đánh giá tốt trong bảng đánh giá hàng năm sẽ được xem xét tăng lương lên bậc tiếp theo trong mức, nếu không sẽ được lên lương định kì theo quy định chung của nhà nước đối với công chức, viên chức Để được chuyển lên bậc chức danh cao hơn trong ngạch thì phải hội đủ một số điều kiện về bằng cấp, thâm niên công tác và phải trải qua một kì thi nâng ngạch theo quy định chung của nhà nước với công chức ngành hành chính công

Các mức lương này sau đó được “nâng lên” trong Tổng cục Thuế vì vậy chúng cao hơn mức lương tiêu chuẩn của Chính phủ khoảng 1,8 lần Việc này được thực hiện như là một biện pháp khuyến khích làm việc và giảm nguy cơ nhận hối lộ, tham nhũng theo cách được tư vấn bởi các tổ chức quốc tế

Mức tăng thêm so với mức tiền lương đối với cán bộ, công chức,

Ngày đăng: 17/12/2023, 01:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Business Edge (2004), Tạo động lực làm việc phải chăng chỉ có thể bằng tiền, Nxb Trẻ Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo động lực làm việc phải chăng chỉ có thể bằng tiền
Tác giả: Business Edge
Nhà XB: Nxb Trẻ Tp Hồ Chí Minh
Năm: 2004
2. Carnegie, D (1994), Đắc nhân tâm - Bí quyết của thành công, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đắc nhân tâm - Bí quyết của thành công
Tác giả: Carnegie, D
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Tháp
Năm: 1994
3. Chính phủ nước CHXHCN Việt nam (2003), Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lí cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lí cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt nam
Năm: 2003
4. Chính phủ nước CHXHCN Việt nam (2004), Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt nam
Năm: 2004
5. Christian Batal (2002), Quản lí nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước, Tập 1, 2, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước
Tác giả: Christian Batal
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2002
6. Trương Quang Dũng (2004), “Áp dụng hệ thống quản lí chất lượng ISO 9000 trong các mô hình hành chính công”, Quản lí nhà nước số (403) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng hệ thống quản lí chất lượng ISO 9000 trong các mô hình hành chính công”, "Quản lí nhà nước số
Tác giả: Trương Quang Dũng
Năm: 2004
7. Đoàn Thị Thu Hà - Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2002), Giáo trình Khoa học quản lí, tập 2, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Khoa học quản lí
Tác giả: Đoàn Thị Thu Hà - Nguyễn Thị Ngọc Huyền
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2002
8. Học viện Hành chính quốc gia (2004), Công vụ, công chức, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công vụ, công chức
Tác giả: Học viện Hành chính quốc gia
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
9. Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (2005), Cơ sở lí luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lí luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
Tác giả: Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2005
10. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002), Bộ luật lao động của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật lao động của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 2002
11. Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm (2004), Quản trị nhân lực, Nxb Lao động-xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nhân lực
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm
Nhà XB: Nxb Lao động-xã hội
Năm: 2004
12. Nguyễn Trọng Tuấn (2005), Hành vi tổ chức, Trường đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi tổ chức
Tác giả: Nguyễn Trọng Tuấn
Năm: 2005
13. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (1999), Giáo trình Lí thuyết quản trị kinh doanh, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lí thuyết quản trị kinh doanh
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 1999
14. Lương Văn Úc (2003), Tâm lí học lao động, Trường đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học lao động
Tác giả: Lương Văn Úc
Năm: 2003
15. Uỷ ban thường vụ quốc hội nước CH XHCNVN (2003), Pháp lệnh cán bộ, công chức (sửa đổi, bổ sung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh cán bộ, công chức (sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Uỷ ban thường vụ quốc hội nước CH XHCNVN
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
16. Thủ tưởng chính phủ (2007), Quyết định số 76/2007/QĐ-TTg ngày 28/5/ 2007 về chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 76/2007/QĐ-TTg ngày 28/5/ 2007 về chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế
Tác giả: Thủ tưởng chính phủ
Năm: 2007
17. Thủ tưởng chính phủ (2009), Quyết định số 64/2009/TTg về việc ban hành cơ chế quản lí tài chính và biên chế đối với ngành Thuế năm 2009 và năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 64/2009/TTg về việc ban hành cơ chế quản lí tài chính và biên chế đối với ngành Thuế năm 2009 và năm 2010
Tác giả: Thủ tưởng chính phủ
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm