1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng văn bản pháp lý quốc tế để giải quyết tranh chấp phát sinh trong thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ,

92 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận Dụng Văn Bản Pháp Lý Quốc Tế Để Giải Quyết Tranh Chấp Phát Sinh Trong Thanh Toán Quốc Tế Bằng Phương Thức Tín Dụng Chứng Từ
Tác giả Đoàn Khánh Linh
Người hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Văn Tiến
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Ngân hàng
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Danh mục bảng biểu Bảng 1.2 Các điều khoản mới, điều khoản sửa đổi và bổ sung, điều khoản lược bỏ của ISBP 745 so với ISBP 681 22 Bảng 2.1 Các rủi ro và mức độ xảy ra rủi ro xảy ra tại V

Trang 1

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, được thực hiện trên cơ sở

lý thuyết, nghiên cứu của cá nhân và dưới sự hướng dẫn của GS TS Nguyễn Văn Tiến Các kết quả, số liệu được sử dụng trong khóa luận là hoàn toàn trung thực

Hà Nội, tháng 5 năm 2016

Ký tên

Trang 4

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Ngân hàng nói riêng và cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Học viện Ngân hàng nói chung, là những thầy cô tận tâm, nhiệt huyết với nghề, luôn quan tâm, động viên

và tạo điều kiện tốt nhất cho sinh viên học tập đồng thời đã trang bị những bài học quý báu, hành trang vững chắc cho em trong suốt bốn năm đại học

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2016

Trang 5

DANH MỤC KÍ TỰ VIẾT TẮT

Tên chữ cái Tên đầy đủ bằng tiếng việt Tên đầy đủ bằng tiếng anh

VCB Ngân hàng Thương mại cổ phần

Ngoại thương Việt Nam

Joint stock commercial bank for foreign trade of Viet Nam

BIDV Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu

tư và phát triển Việt Nam

Joint Stock Commercial Bank for Investment and Development of Vietnam

MB Ngân hàng Thương mại cổ phần

SCB Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài

VIB Ngân hàng Thương mại cổ phần

ISBP

Tập quán Ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng

từ

International Standard Banking Practice for the Examination of Documents Under Documentary Credits

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ

1 Danh mục bảng biểu

Bảng 1.2 Các điều khoản mới, điều khoản sửa đổi và bổ sung, điều

khoản lược bỏ của ISBP 745 so với ISBP 681 22 Bảng 2.1 Các rủi ro và mức độ xảy ra rủi ro xảy ra tại Vietcombank 38

Bảng 3.1 Số vụ tranh chấp liên quan đến phương thức thanh toán

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ hợp đồng của ba chủ thể trong quy trình

Sơ đồ 3.1 Quy trình xử lý nghiệp vụ có phát sinh quan hệ tín dụng

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ, UCP 600, ISBP 745 6

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 6

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 6

1.1.2 Quy trình nghiệp vụ TTQT bằng L/C 11

1.1.3 Các văn bản pháp lý điều chỉnh 13

1.1.4 Bộ chứng từ theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 14

1.1.5 Các loại thư tín dụng chủ yếu 14

1.2 CÁC VĂN BẢN PHÁP LÝ QUỐC TẾ ÁP DỤNG TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ 16

1.2.1 Sự ra đời và quá trình phát triển của UCP600, ISBP 745 16

1.2.2 Tính chất pháp lý tùy ý của các văn bản pháp lý quốc tế 17

1.2.3 Những thay đổi cơ bản của các văn bản pháp lý quốc tế so với những phiên bản trước 18

1.3 NHỮNG TRANH CHẤP THƯỜNG PHÁT SINH TRONG TTQT BẰNG L/C VÀ VIỆC ÁP DỤNG CÁC VĂN BẢN PHÁP LÝ QUỐC TẾ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP 23

1.3.1 Sự cần thiết áp dụng các văn bản pháp lý quốc tế để giải quyết tranh chấp phát sinh TTQT bằng L/C 23

1.3.2 Những tranh chấp thường phát sinh trong thanh toán quốc tế bằng L/C và việc vận dụng các văn bản pháp lý quốc tế để giải quyết tranh chấp 24

1.3.3 Tính hiệu quả của việc áp dụng các văn bản pháp lý quốc tế để giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32

Trang 8

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC VĂN BẢN PHÁP LÝ QUỐC TẾ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG

TỪ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 33

2.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG L/C TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 33 2.1.1 Các văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động TTQT bằng L/C tại các NHTM Việt Nam 33

2.1.2 Tình hình hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại các NHTM Việt Nam 35 2.2 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC VĂN BẢN PHÁP LÝ QUỐC TẾ VÀO GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG TTQT BẰNG L/C TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 39

2.2.1 Tranh chấp giữa nhà NK và nhà XK 39

2.2.2 Tranh chấp giữa nhà NK với NHPH 43

2.2.3 Tranh chấp giữa nhà XK và NHPH 51

2.2.4 Tranh chấp giữa các NH 55

2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC VĂN BẢN PHÁP LÝ QUỐC TẾ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG TTQT BẰNG L/C TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 57

2.3.1 Những kết quả đạt được 57

2.3.2 Những hạn chế cần khắc phục 59

2.3.3 Nguyên nhân của những tranh chấp trên 60

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 62

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VẬN DỤNG HIỆU QUẢ CÁC VĂN BẢN PHÁP LÝ QUỐC TẾ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 63

Trang 9

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TTQT TẠI CÁC

NHTM VIỆT NAM 63

3.1.1 Định hướng phát triển hoạt động TTQT nói chung 63

3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động TTQT bằng L/C tại các NHTM Việt Nam 64 3.2 GIẢI PHÁP ĐỂ VẬN DỤNG HIỆU QUẢ CÁC VĂN BẢN PHÁP LÝ QUỐC TẾ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 64

3.2.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ 64

3.2.2 Giải pháp đối với các NHTM Việt Nam 65

3.2.3 Giải pháp đối với các bên tham gia giao dịch tín dụng chứng từ 68

3.3 GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 71

3.4 CÁC KIẾN NGHỊ TỚI CÁC BÊN CÓ LIÊN QUAN 74

3.4.1 Kiến nghị tới ICC 74

3.4.2 Kiến nghị đối với nhà nước 75

3.4.3 Kiến nghị đối với NH nhà nước 76

3.4.4 Kiến nghị đối với các DN XNK 77

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 79

KẾT LUẬN 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

NHẬN XÉT CỦA CƠ SỞ THỰC TẬP 83

Trang 10

1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau 70 năm thành lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong đó có 30 năm đổi mới,

từ một đất nước đói nghèo và lạc hậu, đến nay Việt Nam đã vươn lên thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình Từ một nền kinh tế khép kín, tập trung quan liêu bao cấp, Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế năng động, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình tăng trưởng mạnh mẽ mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội cũng như thách thức Sau gần một thập niên duy trì nền kinh tế bao cấp, Việt Nam đang nỗ lực để bắt kịp trình độ phát triển chung của thế giới và đạt nhiều thành tựu đáng khích lệ trong lĩnh vực kinh tế Trong xu hướng hội nhập quốc

tế, nền kinh tế Việt Nam luôn thể hiện sự chủ động, linh hoạt trong hoạt động giao lưu thương mại với nước ngoài Sau khi gia nhập ASEAN vào năm 1995 và AFTA vào năm 1996, Việt Nam đã trở thành thành viên của APEC năm 1998 Ngày 7 tháng 11 năm 2006, sau quá trình đàm phán kéo dài và căng thẳng, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Đến tháng 2/2016 Việt Nam đã chính thức ký kết TPP – Trans Pacific Parnership Agreement – Hiệp hội xuyên Thái Bình Dương cùng với 12 quốc gia trên thế giới Đó là những dấu mốc quan trọng đối với nền kinh tế mở cửa ra thế giới của Việt Nam Hàng hóa XK của Việt Nam đã có mặt trên thị trường 220 nước và vùng lãnh thổ, hầu hết các châu lục Nước

ta có vị thế ngày càng lớn trong XK hàng hóa toàn cầu và được xếp vào nhóm 30 nền kinh tế XK hàng hóa hàng đầu thế giới Từ chỗ thường xuyên nhập siêu, Việt Nam đã chuyển sang cân bằng xuất, nhập khẩu, thậm chí là có xuất siêu

Đồng hành cùng xu thế mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới, hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng ngày càng được mở rộng

Sự giao lưu buôn bán hàng hóa giữa các quốc gia khác nhau với khối lượng ngày một lớn đòi hỏi thị trường hàng hóa XNK phải nhanh chóng thuận tiện nhất cho các bên Góp phần vào sự phát triển đó là sự đóng góp không nhỏ của ngành NH Các Ngân hàng thương mại (NHTM) đóng vai trò cầu nối quan trọng trong thanh toán XNK, trong việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho các đối tác nước ngoài góp phần thúc đẩy kinh tế đối ngoại Đứng trên khía cạnh

Trang 11

2

của NH việc tài trợ thương mại quốc tế cũng chiếm một vị trí quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển các hoạt động kinh doanh của NH Bởi lẽ việc tài trợ thương mại không chỉ đơn thuần là cung cấp các dịch vụ vừa đáp ứng nguồn vốn cho hoạt động XNK mà nó còn liên quan đến nhiều nghiệp vụ quan trọng khác của NH như: TTQT, kinh doanh ngoại tệ, huy động vốn, sử dụng vốn,…

Trong TTQT, phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến nhất là phương thức tín dụng chứng từ - Letter of credit – L/C L/C là phương thức thanh toán mang lại hiệu quả cao, đảm bảo quyền lợi cho các bên khi sử dụng Mặc dù vậy, phương thức thanh toán này vẫn thường xảy ra tranh chấp do kỹ thuật áp dụng tương đối phức tạp, nguồn luật điều chỉnh đa dạng, các bên tham gia lại thiếu sự am hiểu rõ ràng các thông lệ, tập quán, luật pháp quốc tế cũng như một số quy định trong L/C

Trước thực tế đó, ICC đã ban hành “Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” bản sửa đổi số 600 và “Tập quán Ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế” (ISBP 745)

để nhằm hướng dẫn các bên thực hiện một cách chính xác các quy định để qua đó nhằm giảm thiểu tình trạng tranh chấp, nâng cao hiệu quả TTQT trong thanh toán bằng L/C Khi mới xuất bản UCP 600 và ISBP 745 được xem là sự mong đợi, kỳ vọng sẽ tạo những thay đổi theo hướng tích cực trong quá trình áp dụng phương thức tín dụng chứng từ Các DN cũng như các NH đã vận dụng một cách rất linh hoạt, thông suốt nhằm góp phần giải quyết và hạn chế tranh chấp phát sinh trong thanh toán tín dụng chứng từ Tuy nhiên, việc vận dụng hai văn bản này vào giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thanh toán tín dụng chứng từ vẫn còn nhiều vấn đề, chưa hiệu quả

và khả năng vận dụng còn hạn chế

Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của việc áp dụng các văn bản quốc tế

để giải quyết tranh chấp phát sinh trong L/C cũng như mong muốn vận dụng hiểu quả

hơn UCP 600 và ISBP 745, em đã lựa chọn đề tài: “VẬN DỤNG VĂN BẢN PHÁP

LÝ QUỐC TẾ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ” làm đề tài

khóa luận

Trang 12

3

2 Tổng quan nghiên cứu

Liên quan đến nội dung “Vận dụng văn bản pháp lý quốc tế để giải quyết tranh chấp phát sinh trong Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ” là một

chủ đề nghiên cứu thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước

PGS.TS Nguyễn Thị Quy – Đại học Ngoại thương; Trọng tài viên VIAC: “Tranh chấp trong TTQT bằng L/C và một số gợi ý cho các DN khi tham gia giao dịch”, Tạp chí ngân hàng số 3-2014 Bài nghiên cứu đã đưa ra những dạng tranh chấp thường xuyên xảy ra với những ví dụ cụ thể Từ đó đưa ra một số biện pháp với các DN để các

DN có ý thức phòng ngừa cũng như hạn chế được những tranh chấp có thể xảy ra

TS Nguyễn Thị Hồng Hải: “Hạn chế rủi ro trong TTQT đối với các NHTM Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án tiến sĩ kinh tế 2008 Những rủi

ro trong TTQT với những phương thức như tín dụng chứng từ, nhờ thu được ra trong Luận án Từ những rủi ro đó, bài nghiên cứu đã đưa ra những giải pháp để hạn chế tối

đa những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hội nhập quốc tế

Nguyễn Thị Nghĩa: “Vận dụng UCP 600 và ISBP 745 vào giải quyết tranh chấp trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ”, khóa luận tốt nghiệp kinh tế 2014 Khóa luận đã đưa ra được thực trạng tranh chấp ở một số các NHTM Việt Nam, từ đó đưa ra nhận định, đánh giá việc vận dụng UCP 600 và ISBP 745 vào giải quyết các tranh chấp trên Đưa ra những giải pháp để vận dụng một cách hiệu quả hơn trong giải quyết tranh chấp thanh toán tín dụng chứng từ

GS TS Nguyễn Văn Tiến – TS Nguyễn Thị Hồng Hải: “Những lưu ý trong lập

và kiểm tra vận đơn đường biển theo tinh thần ISBP 745” Bài viết đã nêu ra những nhận định rõ ràng về những điểm cần lưu ý trong khâu lập và kiểm tra vận đơn đường biển dựa trên văn bản ISBP 745

Đào Thị Thảo: “Vận dụng UCP600 vào giải quyết tranh chấp trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại các NHTM Việt Nam”, khóa luận tốt nghiệp 2015 Tác giả đã đưa ra được quan điểm cá nhân để nhận định, đánh giá thực trạng vận dụng UCP 600 để giải quyết tranh chấp trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ

Trang 13

4

Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã cung cấp một hệ thống cơ sở lý luận, thông tin cũng như phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng khá chuẩn mực về việc vận dụng các văn bản pháp lý quốc tế trong giải quyết tranh chấp thanh toán bằng thư tín dụng chứng từ cũng như đưa ra những rủi ro khi áp dụng phương thức thanh toán này và cũng đã có các bài viết nghiên cứu về việc vận dụng văn bản UCP 600 và ISBP

745 nhưng bài viết chưa được đầy đủ và sâu; khi quyết định văn bản UCP 600 và ISBP

745 được ban hành thì cho tới nay cũng đã có rất nhiều bài nghiên cứu đưa ra những

ưu nhược điểm của hau văn bản cũng như đưa ra việc áp dụng các văn bản trên để giải quyết tranh chấp

3 Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và đặc

điểm hai văn bản UCP 600 và ISBP 745

Khái quát những văn bản pháp lý áp dụng trong phương thức tín dụng chứng từ được sử dụng tại Việt Nam, đưa ra những tình huống cụ thể và cách giải quyết tranh chấp tình huống bằng những điều khoản, luật áp dụng trong UCP 600 và ISBP 745 Từ

đó đánh giá tính hiệu quả việc vận dụng hai văn bản trên tại các NHTM Việt Nam

Đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị góp phần thúc đẩy và nâng cao tiến trình

vận dụng một cách hiệu quả hai văn bản trên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: hai văn bản UCP 600 và ISBP 745 và thực trạng giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ

Phạm vi nghiên cứu: hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại các NHTM Việt Nam và một số tình huống tranh chấp điển hình từ năm 2011 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài phương pháp triết học biện chứng và duy vật lịch sử thường được sử dụng trong nghiên cứu nói chung, khóa luận vận dụng các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích - tổng hợp, diễn dịch, quy nạp Bên cạnh đó, khóa luận sử dụng các sơ đồ, bảng biểu, đồ thị để làm tăng thêm tính trực quan và sự thuyết phục

Trang 14

5

6 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, UCP 600, ISBP 745

Chương 2: Thực trạng vận dụng các văn bản pháp lý quốc tế để giải quyết tranh chấp phát sinh trong Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương 3: Giải pháp vận dụng hiệu quả các văn bản pháp lý quốc tế để giải quyết tranh chấp trong thanh toán tín dụng chứng từ tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam

Trang 15

6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG

CHỨNG TỪ, UCP 600, ISBP 745 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN

sử dụng phương thức tín dụng chứng từ, với tổng trị giá hàng năm là một nghìn tỷ đô

la Mỹ

Theo giáo sư Dominique Legeais, khoa Luật, trường Đại học René Descartes (Paris V), phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận mà trong đó, một NH (Ngân hàng phát hành - NHPH) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu

mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người thụ hưởng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người thứ ba này xuất trình tại NH một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều khoản trong thư tín dụng

Điều 2 trong UCP 600 của Phòng Thương Mại Quốc Tế đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh hơn, theo đó, tín dụng chứng từ là: Tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hoặc mô tả như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của NHPH về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp

So với các phương thức thanh toán khác, thanh toán bằng L/C có những ưu điểm hơn đó là:

Đối với nhà XK: Được NHPH (không phải nhà NK) bảo đảm thanh toán chắc chắn nếu xuất trình được bộ chứng từ XK phù hợp

Đối với nhà NK: Được NHPH bảo đảm không phải trả tiền chừng nào chưa nhận được bộ chứng từ NK phù hợp

Nhà NK có cơ sở tin chắc rằng, NHPH sẽ không trả tiền trước khi nhà XK giao hàng, bởi vì điều này đòi hỏi nhà XK phải xuất trình bộ chứng từ giao hàng; còn nhà

XK tin chắc rằng sẽ nhận được tiền hàng XK nếu trao cho NHPH bộ chứng từ phù hợp với quy định của L/C Như vậy, phương thức L/C đã dung hòa được lợi ích và rủi ro giữa nhà XK và nhà NK, đây là ưu điểm vượt trội của phương thức này

Trang 16

7

Application for L/C HĐ 2 HĐ 3 L/C

Sale contrac

ý chọn phương thức thanh toán L/C thì nó cũng phải được thể hiện thành điều khoản trong hợp đồng mua bán

Hợp đồng 2: bao gồm quan hệ hợp đồng giữa nhà NK (người làm đơn mở L/C)

và NHPH

Hợp đồng 3: bao gồm quan hệ hợp đồng giữa NHPH và nhà XK Mối quan hệ này là hệ quả của hai mối quan hệ trên, nhưng lại là một nghĩa vụ độc lập của NHPH, thể hiện cam kết của NHPH đối với nhà XK và là cơ sở để thanh toán khi nhà XK xuất trình được bộ chứng từ phù hợp

Giao dịch thanh toán L/C có những đặc điểm cơ bản sau:

Là hợp đồng kinh tế hai bên và mang tính độc lập với hợp đồng cơ sở, hàng hóa

Là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của hai bên là NHPH và nhà XK, đã có nhiều sự hiểu lầm cho rằng đây là hợp đồng kinh tế ba bên là của nhà NK, NHPH và nhà XK nhưng trên thực tế mọi yêu cầu và chỉ thị của nhà NK là do NHPH đại diện, do đó

tiếng nói chính thức của nhà NK không được thể hiện trong L/C

NHPH

Trang 17

8

Về bản chất thì L/C là một giao dịch hoàn toàn độc lập với hợp đồng ngoại thương hoặc hợp đồng khác mà hợp đồng này là cơ sở để hình thành giao dịch L/C Trong mọi trường hợp thì NH không liên quan đến hoặc bị ràng buộc vào hợp đồng như vậy, ngay cả khi L/C có bất cứ dẫn chiếu nào đến hợp đồng L/C có tính chất rất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương, nhưng sau khi được thiết lập nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng này Một khi L/C đã được mở và đã được các bên chấp nhận, thì cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không, cũng không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến L/C

Một số nhà NK có thể sử dụng L/C như là công cụ dự phòng để cụ thể hóa, chi tiết hóa hoặc bổ sung những điều khoản mà hợp đồng thương mại đã được ký còn bỏ sót hoặc khi ký bị hớ, ngoài ra nó còn được coi như là công cụ để đính chính, sửa chữa những nội dung bất lợi trong hợp đồng ngoại thương đã ký kết

Thực hiện giao dịch chỉ thông qua chứng từ không căn cứ vào hàng hóa trong phương thức tín dụng chứng từ

Các NH khi làm việc chỉ trên cơ sở chứng từ, kiểm tra việc xuất trình để quyết định xem trên bề mặt của chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp hay không Như thế, các chứng từ trong giao dịch L/C có tầm quan trọng đặc biệt, nó là bằng chứng về việc giao hàng của người bán, là đại diện cho giá trị hàng hóa đã được giao,

vì vậy, chúng trở thành căn cứ để NH trả tiền, là căn cứ để nhà NK trả tiền cho NH, là chứng từ đi nhận hàng của nhà NK…Việc nhà XK có thu được tiền hay không, phụ thuộc vào việc xuất trình bộ chứng từ là có phù hợp hay không; đồng thời, NH cũng chỉ trả tiền khi bộ chứng từ xuất trình phù hợp, NH không chịu trách nhiệm về thực tế

hàng hóa

Khi chứng từ xuất trình là phù hợp, thì NHPH phải thanh toán vô điều kiện cho nhà XK, mặc dù có thể trên thực tế hàng hóa có thể không được giao hoặc được giao không hoàn toàn đúng như ghi trên chứng từ Chính vì vậy, việc thanh toán L/C không căn cứ vào tình hình thực tế hàng hóa, nếu hàng hóa không khớp với chứng từ, thì hai bên mua bán trực tiếp giải quyết với nhau trên cơ sở hợp đồng mua bán, không liên quan đến NH Chỉ trong trường hợp chứng từ không phù hợp, mà NH vẫn thanh toán

Trang 18

9

cho người XK thì NH phải chịu hoàn toàn trách nhiệm, bởi vì người NK có quyền từ

chối thanh toán tiền cho NH

Là công cụ thanh toán hạn chế rủi ro và đôi khi còn là công cụ từ chối thanh toán và lừa đảo

Xét trên khía cạnh là công cụ phòng ngừa rủi ro cho nhà XK và nhà NK, L/C có nhiều ưu điểm vượt trội so với các phương thức thanh toán khác Chính vì thế mà phương thức này đã tồn tại và phát triển như ngày nay Trong thực tiễn thương mại quốc tế, do sự biến động thường xuyên của giá cả, tỷ giá, thị trường hàng hóa…nên L/C có thể bị lợi dụng trở thành công cụ để từ chối nhận hàng, từ chối thanh toán, và

nó có thể bị lợi dụng để trở thành công cụ để lừa đảo, gian lận

1.1.1.3 Vai trò

Phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ được sử dụng rất rộng rãi trong lĩnh vực NH Đó là hình thức thanh toán linh hoạt, bảo đảm tính an toàn cho các giao dịch thương mại quốc tế Trên thực tế, tín dụng chứng từ bắt đầu phát triển từ thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) Các nhà XK ở Bắc Mỹ, do khoảng cách địa lý xa xôi, đã yêu cầu đối tác ở châu Âu mở thư tín dụng để bảo đảm khả năng thanh toán Tín dụng chứng từ được nhiều công ty, NH ưu tiên lựa chọn vì nó đáp ứng được những yêu cầu chủ yếu của thương mại quốc tế Các NH với khả năng tài chính dồi dào, uy tín cao được ủy thác với vai trò trung gian nói trên, cam kết có điều kiện với người XK là sẽ trả tiền nếu người XK xuất trình chứng từ và tuân thủ đúng theo mọi quy định mà người NK đề ra Như vậy, sự tham gia của NH vào phương thức tín dụng chứng từ đã đảm bảo cho lợi ích của nhà XK và nhà NK

Thứ nhất, đối với người XK: phương thức tín dụng chứng từ độc lập với hợp

đồng mua bán và các hợp đồng làm cơ sở cho thư tín dụng khác Vì thế, khi nhà XK

đã giao hàng và tập hợp được bộ chứng từ phù hợp L/C, việc được thanh toán là chắc chắn Dù bất cứ trường hợp phát sinh, ví dụ như hàng hóa bị tổn thất trên đường vận chuyển thì việc hai bên giải quyết đền bù cũng không thể cản trở việc NHPH thanh toán tiền cho nhà XK Rất có thể xảy ra trường hợp người NK gặp rủi ro dẫn đến mất khả năng thanh toán hoặc là diễn biến giá cả thị trường không có lợi, người NK muốn trì hoãn thậm chí muốn từ chối nhận hàng và thanh toán tiền, gây bất lợi cho người XK nhưng với phương thức tín dụng chứng từ thì người XK vẫn chắc chắn nhận được tiền của NH Nếu như vậy, tất cả chỉ còn phụ thuộc vào việc nhà XK có thể xuất trình được

Trang 19

10

bộ chứng từ hoàn hảo hay không NH phục vụ người XK sẽ tư vấn làm sao người XK xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với thư tín dụng

Thứ hai, đối với nhà NK: Khi người XK và người NK chưa có sự tín nhiệm lẫn

nhau, chắc chắn một điều là người XK không muốn giao hàng trước khi nhận được tiền Tất nhiên, người NK cũng không hề muốn trả tiền khi chưa nhận được hàng, như thế sẽ nắm đằng chuôi nếu bên XK không giao hàng, mặt khác nếu là loại hàng hóa nhà XK phải sản xuất xong mới có thể giao hàng được thì người NK sẽ bị chiếm dụng vốn trong một thời gian dài Một lần nữa phương thức TTQT tín dụng chứng từ lại chứng tỏ tính ưu việt nổi trội, ngoài việc đứng ra cam kết thanh toán tiền cho người

XK, NH cũng sẽ tư vấn cho nhà NK về những điều khoản trong hợp đồng để xây dựng một thư tín dụng chặt chẽ, có lợi, đảm bảo nhận được hàng đúng thời hạn được đề ra

NH sẽ kiểm tra bộ chứng từ đó có phù hợp với thông lệ quốc tế và luật pháp của từng nước hay không, đồng thời người NK cũng kiểm soát được chất lượng cũng như xuất

xứ hàng hóa thông qua chứng từ do nhà XK xuất trình do cơ quan kiểm định độc lập cấp Nói chung, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán sòng phẳng, đảm bảo quyền lợi một cách hợp lý cho cả hai bên XK và NK, mà lợi ích lớn nhất là lợi ích đối kháng của cả hai bên thông qua việc làm cho thời gian trả tiền phù hợp với thời hạn giao hàng

Thứ ba, đối với NH: Độc lập với hợp đồng mua bán ngoại thương được ký kết

giữa các bên, các NH tham gia phương thức thanh toán tín dụng chứng từ với tư cách

là bên cung cấp dịch vụ TTQT, vì vậy, NH hoàn toàn không bị ràng buộc bởi các tranh chấp liên quan tới tình trạng hàng hoá cũng như các tranh chấp phát sinh xảy ra giữa người XK và người NK sau khi người NK đã thanh toán tiền cho NH

Thông qua nghiệp vụ thanh toán bằng L/C nên NH sẽ có một nguồn thu ổn định

từ việc mở, sửa đổi, điều chỉnh L/C, phí thông báo, xác nhận L/C Đồng thời NH có thể triển khai các gói sản phẩm dịch vụ tín dụng và phi tín dụng kèm theo đối với khách hàng Tuy nhiên, điều lớn nhất mà phương thức thanh toán L/C mang lại cho ngành NH là tham gia phương thức này sẽ làm cơ sở để NH củng cố mối quan hệ với các NH nước ngoài, từ đó có cơ hội phát triển, quảng bá, mở rộng mạng lưới mang tính toàn cầu Đồng thời, giúp NH đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ NH thông qua các mối quan hệ, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm và đặc biệt thông qua cạnh tranh để hệ thống NH trên toàn thế giới không ngừng hoàn thiện để theo kịp sự phát triển chung, nâng cao uy tín và tầm quan trọng trên thị trường tài chính Tín dụng quốc tế

Trang 20

Người thụ hưởng (Beneficiary): còn được gọi là người hưởng hay người hưởng lợi L/C

NHPH (Issuing Bank): là NH mà theo yêu cầu của người mua đã phát hành một L/C cho người bán hưởng NHPH thường được hai bên mua bán thỏa thuận và quyết định trong hợp đồng ngoại thương, nếu có sự thỏa thuận từ trước thì nhà NK hoặc nhà

XK còn được phép tự chọn NHPH

NH thông báo (Advising Bank): là NH được NHPH yêu cầu thông báo L/C cho người hưởng, NHTB thường là NH đại lý hay một chi nhánh của NHPH ở nước của nhà XK

Ngoài ra, trong phương thức thanh toán L/C còn có thể có thêm một số chủ thể tham gia tùy từng trường hợp

NH xác nhận (Confirming Bank): là NH bổ sung sự xác nhận của mình vào L/C theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của NHPH

NH được chỉ định (Nominated Bank): là NHXN hay bất cứ NH nào khác được NHPH ủy nhiệm để khi nhận bộ chứng từ xuất trình phù hợp với những quy định của L/C thì họ sẽ thanh toán cho người thụ hưởng, chấp nhận hối phiếu kỳ hạn hoặc chiết khấu hối phiếu hay bộ chứng từ nhận được Trách nhiệm kiểm tra chứng từ của NHđCĐ là giống như NHPH khi nhận được bộ chứng từ của nhà XK gửi đến

Trong thực tế, trong phương thức thanh toán L/C không nhất thiết phải có đầy đủ tất cả những NH trên cùng tham gia mà tùy từng trường hợp cụ thể có thể xác định các bên tham gia

Trang 21

12

(3) (8) (9)

(10) (11) (2) (7)

(5) (1)

(4) (6)

Sơ đồ 1.2: Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C Bước 1: Hai bên mua bán ký kết hợp đồng ngoại thương với điều khoản thanh toán theo phương thức L/C

Bước 2: Căn cứ các điều khoản và điều kiện của hợp đồng ngoại thương, nhà NK làm đơn gửi đến NH phục vụ của mình, yêu cầu NH phát hành một L/C cho nhà XK hưởng

Bước 3: Căn cứ vào đơn mở L/C, nếu đồng ý, NHPH lập L/C và thông qua NH đại lý hoặc chi nhánh của mình ở nước nhà XK để thông báo L/C cho nhà XK

Bước 4: Khi nhận được L/C, NHTB kiểm tra, nếu L/C là chân thật, thì thông báo L/C cho nhà XK, nếu không chân thật thì trả lại NHPH

Bước 5: Nhà XK kiểm tra L/C, nếu phù hợp với hợp đồng đã ký thì tiến hành giao hàng, nếu không phù hợp thì đề nghị sửa đổi, bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng ngoại thương

Bước 6: Sau khi giao hàng, nhà XK lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C và xuất trình cho NHđCĐ để thanh toán

Bước 7: NHđCĐ sau khi kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến hành thanh toán; nếu thấy không phù hợp, thì từ chối thanh toán và gửi trả lại nguyên vẹn

bộ chứng từ cho nhà XK

NHTB và NHđCĐ

Người XK Người NK

NHPH

Trang 22

13

Bước 8: NHđCĐ gửi bộ chứng từ cho NHPH để được hoàn trả

Bước 9: NHPH kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến hành thanh toán cho NHđCĐ, nếu thấy không phù hợp, thì từ chối thanh toán và gửi trả lại nguyên vẹn bộ chứng từ cho NHđCĐ

Bước 10: NHPH đòi tiền nhà NK và chuyển bộ chứng từ cho nhà NK sau khi đã nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán

Bước 11: Nhà NK kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu, nếu không thấy phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền

1.1.3 Các văn bản pháp lý điều chỉnh

Hoạt động thanh toán qua tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán nói chung và thanh toán bằng thư tín dụng nói riêng làm phát sinh nhiều mối quan hệ tương đối phức tạp, có liên quan đến lợi ích của nhiều chủ thể, có thể dễ nảy sinh tiêu cực, rủi ro trong quan hệ thanh toán cho tất cả các bên Do đó, đòi hỏi hoạt động TTQT bằng L/C chịu sự điều chỉnh đồng thời bởi các nguồn luật, công ước quốc tế liên quan và các nguồn luật quốc gia, đồng thời nó chịu sự điều chỉnh trực tiếp bởi các thông lệ và tập quán quốc tế để bảo vệ quyền lợi cho các bên

(i) Các quy tắc thực hành thống nhất về TDCT (Uniform Customs And Practice For Documentary Credit – viết tắc UCP)

(ii) Tập quán NH tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo tín dụng chứng từ (International Standard Banking Practice Under Documentary Credit – Viết tắt là ISBP)

(iii) Bản phụ trương UCP về việc xuất trình điện tử (Supplement To The Uniform Customs And Practice For Documentary Credit For Electronic Presentation – viết tắt là eUCP)

(iv) Bản quy tắc thống nhất hoàn trả tiền theo L/C (Uniform Rules For Bank

To Bank Reimbursements Under Documentary Credit – viết tắt là URR)

Trong số những văn bản trên, UCP là văn bản chính, các văn bản còn lại có tính chất bổ sung và làm rõ việc áp dụng và thực hiện UCP

Trang 23

14

1.1.4 Bộ chứng từ theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

Chứng từ trong thương mại quốc tế là những văn bản chứa đựng các thông tin về hàng hóa, vận tải, bảo hiểm và thanh toán để chứng minh một sự việc, để nhận hàng,

để thanh toán, để khiếu nại đòi bồi thường… Các chứng từ này là những bằng chứng

có giá trị pháp lý, làm cơ sở cho việc giải quyết mọi vấn đề liên quan tới quan hệ thương mại cũng như quan hệ TTQT tín dụng chứng từ

Sơ đồ 1.3: Bộ chứng từ trong thanh toán L/C

1.1.5 Các loại thư tín dụng chủ yếu

Thư tín dụng là một cam kết thanh toán có điều kiện bằng văn bản của một tổ chức tài chính (thông thường là NH) đối với người thụ hưởng L/C (thông thường là người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ) với điều kiện người thụ hưởng phải xuất trình bộ chứng từ phù hợp với “Quy tắc thực hành và thống nhất về tín dụng chứng từ” (UCP) được dẫn chiếu trong thư tín dụng và phù hợp với “Tập quán Ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế” (ISBP) dùng để kiểm tra chứng từ trong phương thức TTQT bằng L/C Căn cứ vào tính chất thông dụng của L/C có thể chia thành hai loại là L/C cơ bản

và L/C đặc biệt

Các loại L/C cơ bản:

L/C có thể hủy ngang (Revocable): là L/C mà người mở (nhà NK) có quyền đề

nghị NHPH sửa đổi, bổ sung, hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào mà không cần có sự chấp thuận và thông báo trước của người thụ hưởng (nhà XK)

Bộ chứng từ trong thanh toán L/C

Chứng từ thương mại Chứng từ vận

Bảo hiểm đơn Giấy chứng nhận bảo hiểm Hợp đồng bảo hiểm bao Phiếu bảo hiểm

Chứng từ hàng hóa

HĐTM Giấy chứng nhận xuất

xứ Phiếu đóng gói Giấy kiểm định Giấy chứng nhận chất lượng, số lượng Các chứng từ khác

Chứng từ tài chính Hối phiếu

Kỳ phiếu Séc Thẻ thanh toán

Trang 24

15

L/C không thể hủy ngang (Irrevocable): là L/C mà sau khi đã mở, thì NHPH

không được sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ trong thời hạn hiệu lực của L/C nếu không có

sự đồng thuận của người thụ hưởng và NHXN (nếu có) Đây là loại L/C đang được sử dụng phổ biến

Các loại L/C đặc biệt:

L/C chuyển nhƣợng (Transferable L/C): là L/C không hủy ngang, theo đó,

người hưởng lợi thứ nhất chuyển nhượng một phần hay toàn bộ nghĩa vụ thực hiện L/C cũng như quyền đòi tiền mà mình có được cho những người hưởng lợi thứ hai, mỗi người hưởng lợi thứ hai nhận cho mình một phần của thương vụ Chuyển nhượng

ở đây bao gồm chuyển nhượng quyền thực hiện L/C và chuyển nhượng quyền được đòi trả tiền, tức quyền được ký phát hối phiếu đòi tiền theo L/C

L/C giáp lƣng (Back to Back L/C): sau khi nhận được L/C do người NK mở

cho mình hưởng, nhà XK căn cứ vào nội dung L/C này và dùng chính L/C này để thế chấp mở một L/C khác cho người khác hưởng với nội dung gần giống như L/C ban đầu

L/C tuần hoàn (Revolving L/C): là L/C không thể hủy ngang mà sau khi đã sử

dụng hết giá trị của nó hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại (tự động) có giá trị như

cũ và tiếp tục được sử dụng một cách tuần hoàn trong một thời gian nhất định cho đến khi tổng trị giá hợp đồng được thực hiện

L/C dự phòng (Standby L/C): Để bảo vệ quyền lợi của nhà NK trong trường

hợp nhà XK đã nhận được L/C, tiền đặc cọc và tiền ứng trước, nhưng không có khả năng giao hàng, hoặc không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng như đã quy định trong L/C, đòi hỏi NH phục vụ nhà XK phát hành một L/C trong đó cam kết với người NK

là sẽ hoàn trả lại số tiền đã đặt cọc, tiền ứng trước và chi phí mở L/C cho nhà NK Một L/C như vậy gọi là L/C dự phòng

L/C đối ứng (Reciprocal L/C): L/C chỉ bắt đầu có hiệu lực khi L/C kia đối ứng

với nó được mở

L/C điều khoản đỏ (Red Clause L/C): là L/C mà NHPH cho phép NHTB ứng

trước cho người thụ hưởng để mua hàng hóa, nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng hóa theo L/C đã mở Tiền ứng trước được lấy từ tài khoản của người mở, nghĩa là tín dụng thương mại, mà không phải là tín dụng của NHTB hay NHPH

Trang 25

16

1.2 CÁC VĂN BẢN PHÁP LÝ QUỐC TẾ ÁP DỤNG TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ

1.2.1 Sự ra đời và quá trình phát triển của UCP600, ISBP 745

Các tập quán và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (The Uniform Customs and Practice for the Documentary Credits – viết tắt là UCP) do Phòng thương mại quốc tế (ICC) tại Paris ban hành năm 1933 và sửa đổi lần đầu tiên vào năm 1951 Nhìn chung, cứ 10 năm UCP lại được sửa đổi một lần cho phù hợp với sự phát triển và thay đổi hoạt động của các ngành thương mại, ngân hàng, tài chính, vận tải, giao nhận

và bảo hiểm UCP được ban hành nhằm thống nhất các quy định trong hoạt động TTQT bằng thư tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia hoạt động này Các tập quán và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ là một bộ các quy tắc (rules) áp dụng cho bất cứ loại L/C nào (bao gồm cả Tín dụng dự phòng trong chứng mực có thể áp dụng) Các quy tắc của UCP được quy định trong các Điều khoản (Articles) của UCP, trong đó bao gồm các quyền và nghĩa vụ của các NH có liên quan

và người thụ hưởng L/C trong thanh toán bằng tín dụng chứng từ UCP - “The Uniform Customs and Practice for Documentary Credits”, tiếng Việt là “Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ”, phiên bản mới nhất là phiên bản UCP 600 (sửa đổi lần thứ 6) do ICC ban hành ngày 25/10/2006, có hiệu lực vào ngày 01/07/2007 UCP là văn bản pháp lý quốc tế điều chỉnh các quan hệ trong phương thức tín dụng chứng từ, là cở sở để ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham UCP600 có

39 điều khoản, điều chỉnh tất cả các mối quan hệ của các bên tham gia nghiệp vụ thanh toán L/C, quy định cách thức lập và kiểm tra chứng từ xuất trình, giải quyết tranh chấp trong TTQT bằng L/C

Do UCP chỉ bao gồm những điều khoản rất cơ bản, ngắn gọn chứa đựng các quy tắc điều chỉnh L/C, cho nên trong ứng dụng đã phát sinh các cách hiểu khác nhau làm nảy sinh các tranh chấp không cần thiết Trước khi ISBP ra đời, có tới 60-70% lần xuất trình chứng từ đầu tiên đòi tiền theo L/C bị từ chối thanh toán, vì vậy ICC thấy cần thiết ban hành một tập quán quốc tế để diễn giải và hướng dẫn áp dụng các điều khoản của UCP Đó chính là bản quy tắc Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ (International Standard Banking Practice for the examination of documents under documentary credits – gọi tắt là ISBP) ISBP đầu tiên ra đời năm 2002 mang số hiệu 645 áp dụng cho việc kiểm tra chứng từ theo tín dụng chứng từ đã tạo ra một hành lang pháp lý cho các NH kiểm tra chứng từ theo L/C, nhờ đó đã giảm thiểu rất nhiều các tranh chấp

Trang 26

17

Sau khi ban hành bản sửa đổi UCP600, ICC đã xuất bản ấn phẩm ISBP681 2007 thay cho ấn phẩm cũ ISBP 645 2002 ISBP 681 đưa ra các quy tắc kiểm tra chứng từ nhằm giúp đỡ các NH trong việc quyết định bộ chứng từ có phù hợp hay không Từ đó ISBP 681 được áp dụng đương nhiên cùng với phiên bản UCP 600 Tuy nhiên, sau gần

7 năm áp dụng, trong chứng mực nào đó ISBP681 đã bộc lộ nhiều thiếu sót và chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế về kiểm tra chứng từ theo L/C Do vậy, mới đây vào tháng 4 năm 2013 Ủy ban NH của ICC đã thông qua bản ISBP sửa đổi với tên gọi mới

là ISBP 745 (International Standard Banking Practice for the Examination of Documents under UCP600 - ISBP 2013 ICC Publication No 745) ISBP -

“International Standard Banking Practice for the Examination of Documents Under Documentary Credits”, tiếng Việt gọi là “Tập quán Ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng

để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ” dùng để kiểm tra chứng từ theo thư tín dụng phiên bản số 745 Văn kiện này ra đời nhằm cụ thể hóa những quy định của UCP 600, thể hiện sự nhất quán với UCP cũng như các quan điểm và các quyết định của ủy Ban Ngân hàng của ICC Văn bản này không sửa đổi UCP, mà chỉ giải thích rõ ràng cách thực hiện UCP đối với những người làm thực tế liên quan đến tín dụng chứng từ

1.2.2 Tính chất pháp lý tùy ý của các văn bản pháp lý quốc tế

UCP và ISBP là các văn bản do ICC phát hành, mà ICC là một tổ chức phi chính phủ mang tính xã hội, chính vì vậy, hai văn bản trên không mang tính chất pháp lý bắt buộc mà chỉ mang tính chất pháp lý tùy ý Điều này được thể hiện ở các điểm chính sau:

Thứ nhất, tất cả các phiên bản UCP và ISBP đều còn nguyên giá trị, điều này có nghĩa là phiên bản sau không phủ nhật phiên bản trước Do đó, khi dẫn chiếu UCP, ISBP phải nói rõ áp dụng UCP, ISBP nào

Thứ hai, chỉ khi trong L/C có dẫn chiếu áp dụng UCP và ISBP, thì nó mới trở nên có hiệu lực pháp lý bắt buộc điều chỉnh các bên tham gia

Thứ ba, các bên có thể thỏa thuận trong L/C: (i) Không thực hiện, hoặc thực hiện khác đi một hoặc một số điều khoản quy định của UCP (ii) Bổ sung những điều khoản vào L/C mà UCP không đề cập

Thứ tư, nếu nội dung UCP, ISBP có xung đột với luật quốc gia, thì luật quốc gia được vượt lên trên về mặt pháp lý Điều này hàm ý, phán quyết của toàn án địa phương có thể phủ nhận nội dung giao dịch bằng L/C

Trang 27

18

Thứ năm, trong giao dịch L/C, các bên trước hết phải tuân thủ các điều khoản của L/C, sau đó mới đến các điều khoản của UCP, ISBP áp dụng

Mối quan hệ pháp lý giữa UCP600 và ISBP745 được quy định trong phạm vi

áp dụng ISBP745 ISBP 745 được hiểu là gắn liền và không tách rời UCP 600: “This

publication is to be read in conjunction with UCP 600 and not inisolation” Nội dung này khẳng định rằng ISBP 745 2013 đã tạo ra một “hành lang pháp lý” để các NH kiểm tra chứng từ xuất trình theo L/C tuân thủ UCP 600 2007 Nếu như ISBP 681

2007 thể hiện đã không gắn liền với UCP 600 2007, thì ngược lại ISBP 745 2013 đã gắn kết không thể tách rời với UCP 600 2007 thể hiện qua tên gọi (Tập quán Ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo UCP 600) và phạm vi áp dụng của

nó (Ấn phẩm này được hiểu là gắn liền và không thể tách rời với UCP 600) Với hàm

ý này, một khi L/C đã dẫn chiếu áp dụng ISBP 745 thì đương nhiên cũng nên hiểu là việc áp dụng ISBP 745 phải tuân thủ UCP 600 2007 Tuy nhiên với chiều ngược lại, nếu một L/C đã dẫn chiếu áp dụng UCP 600 thì có đương nhiên được hiểu là áp dụng

cả ISBP 745 hay không? Để xem xét vấn đề này, nên đọc điều 2 của UCP 600 xem đã xác định rõ ràng được mối quan hệ giữa UCP 600 và ISBP 745: “Xuất trình phù hợp

có nghĩa là việc xuất trình phù hợp với các điều kiện và điều khoản của tín dụng, với các điều khoản có thể áp dụng của quy tắc này (UCP 600) và tập quán Ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế” Hiện có tới 3 “Tập quán Ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế ISBP” mang số hiệu khác nhau là 645, 681 và 745 Vậy thì quy định ISBP trong điều 2 nói trên chưa

rõ mang số hiệu nào? Quy định như thế là mơ hồ, cho nên không nên hiểu là một khi

đã dẫn chiếu áp dụng UCP 600 thì đương nhiên cũng áp dụng cả ISBP 745 Trong điều kiện chưa sửa đổi được điều 2 của UCP 600 hoặc là chỉ rõ số hiệu của ISBP hoặc là ghi thêm cụm từ “đang có hiệu lực thi hành” vào cuối câu “tập quán Ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế”, thì khi phát hành một L/C, NHPH nên tham chiếu áp dụng UCP 600

và cả ISBP 745 nhằm tránh những tranh chấp không cần thiết có thể phát sinh

1.2.3 Những thay đổi cơ bản của các văn bản pháp lý quốc tế so với những phiên bản trước

1.2.3.1 Những thay đổi cơ bản của UCP600 so với UCP500

Ngay khi UCP500 được đưa vào ứng dụng đã có nhiều điều khoản áp dụng gây lúng túng cho nhân viên NH khi phục vụ thanh toán L/C, gây tranh cãi giữa NH và DN

XK, NK Theo thống kê của ICC có 7 điều khoản sau đây gây tranh cãi và thắc mắc

Trang 28

19

nhiều nhất Cụ thể thứ tự các điều khoản UCP500 bị thắc mắc nhiều nhất được Ban soạn thảo của Phòng Thương Mại Quốc Tế thống kê thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1.1: Các điều khoản được khiếu nại

14 Chứng từ có bất hợp lệ và thông

23 Vận đơn đường biển 47 10.49

13 Tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ 43 9.60

48 Thư tín dụng có thể chuyển nhượng 31 6.92

21 Người phát hành hay nội dung

Nguồn: Thống kê của Phòng thương mại quốc tế

Về mặt hình thức: UCP600 được bố cục lại với 39 điều (so với 49 điều khoản trong UCP500), trong đó bổ sung nhiều định nghĩa và giải thích thuật ngữ mới để làm

rõ nghĩa của thuật ngữ còn gây tranh cãi trong UCP500 UCP 600 đã loại bỏ một số điều khoản đồng thời kết hợp nhiều điều khoản với nhau, ngoài ra có thêm một số điều khoản mới hoàn toàn Trong đó có những điều khoản bắt buộc (Mandatory) và những điều khoản mang tính chất tùy ý (Optional)

Về mặt nội dung:

Thứ nhất, Quy định tại điều 7 và điều 12 UCP600 đã xác lập rõ những quyền độc lập của NHđCĐ: NH có quyền trả trước hoặc mua các chứng từ/ hối phiếu Những quy định mới góp phần tạo điều kiện cho các NH mạnh dạn thực hiện việc chiết khấu đối với các L/C trả chậm; vừa giúp các NH thu được một khoản phí, vừa giúp người thụ hưởng không bị ứ đọng vốn kinh doanh

Thứ hai, cụm từ “thời gian hợp lý” (resonable time) và “không chậm trễ” (without delay) trong UCP500 được loại bỏ, thay vào đó là điều 14 và 16 UCP600 quy định rõ thời gian để kiểm tra chứng từ và thông báo chứng từ hợp lệ là “5 ngày làm

Trang 29

Thứ năm, đối với HĐTM, đã quy định rõ loại tiền tệ trong hóa đơn phải là loại tiền tệ trong thư tín dụng để tránh trường hợp tranh chấp phát sinh

Thứ sáu, UCP 600 đưa quy định mới về địa chỉ của người yêu cầu mở và người hưởng lợi L/C thể hiện trên chứng từ xuất trình Theo đó UCP600 cho phép địa chỉ người bán hoặc người mua trên hóa đơn không cần giống như địa chỉ trong L/C có thể

là địa chỉ khác trong cùng quốc gia Trên thực tế đã có nhiều trường hợp NH từ chối

bộ chứng từ vì người thụ hưởng và người yêu cầu trong bộ chứng từ xuất trình không giống hoàn toàn với điều khoản trong thư tín dụng Việc quy định như trên sẽ giúp giảm thiểu các bộ chứng từ bị từ chối một cách không hợp lý Điều này sẽ tạo thuận lợi cho các bên tham gia khi sử dụng L/C giáp lưng hoặc L/C chuyển nhượng

Thứ bảy, quy định về chứng từ vận tải: Điều 19 UCP 600: điều chỉnh về chứng từ vận tải đa phương thức Thay vì gọi là vận tải đa phương thức như trong UCP 500 thì trong của điều 19UCP 600 lại gọi 1 cách rõ ràng là “chứng từ vận tải dùng cho ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau” Cách gọi này rõ ràng và dễ hiểu hơn, hơn nữa nhấn mạnh được tầm quan trọng của loại chứng từ này Quy định về “chứng từ vận tải sạch” trong điều 27 UCP 600 cũng có nhiều điểm tiến bộ Theo điều này, từ “ sạch” không cần phải được thể hiện trên bề mặt của chứng từ vận tải, ngay cả khi L/C yêu cầu xuất trình một vận đơn sạch Quy định này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn khi trên thực tế một vận đơn chỉ cần không có phê chú xấu thì được coi là vận đơn sạch chứ không cần có chữ “clean” trên bề mặt Việc quy định như trên sẽ làm giảm bớt các rắc rối không đáng có trong quá trình thu thập bộ chứng từ của bên XK

Trang 30

21

Ngoài những thay đổi nổi bật trên, UCP600 còn có rất nhiều thay đổi hữu ích so với phiên bản trước đây Như vậy, so sánh UCP500 và UCP600 để thấy được sự thay đổi, từ đó có thể rút ra được những ưu điểm của UCP600 so với 500 Các từ ngữ trong TTQT được ghi ngắn gọn và rõ ràng hơn, các điều kiện giao dịch được cụ thể hóa hơn

và không còn mơ hồ để có thể tạo ra tranh chấp giữa các bên Về cơ bản, UCP600 đã

có nhiều điểm mới nhằm xác định rõ và giải quyết những xung đột trong thanh toán XNK bằng phương thức tín dụng chứng từ mà UCP500 chưa thực hiện được

Tuy nhiên, UCP600 trong quá trình đưa vào áp dụng vẫn còn tồn tại một số hạn chế cơ bản như:

(i) Theo điều 2 UCP600 quy định “Ngày NH làm việc là một ngày mà vào ngày đó NH thường xuyên mở cửa tại nơi mà ở đó hoạt động có liên quan tới các quy tắc này được thực hiện” Như vậy, UCP600 chỉ coi những ngày làm việc là ngày mà có hoạt động liên quan đến những quy định trong UCP600 Vậy những hoạt động nằm ngoài quy tắc của UCP600, chỉ liên quan tới L/C có được coi là ngày làm việc của NH hay không? Nếu không làm rõ thì có thể xảy ra tranh chấp khi có liên quan đến tình huống có thuật ngữ này

(ii) Điều 3 UCP600 quy định “Các chi nhánh của một NH ở các nước khác nhau được coi là các NH độc lập” Vậy các chi nhánh của một NH ở trong cùng một nước có được coi là các NH độc lập hay không? Điều này dễ gây tranh chấp xảy ra, ví dụ: người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ tới một chi nhánh khác với quy định trong L/C có được coi là xuất trình đúng địa điểm hay không?

(iii) UCP 600 chưa phân biệt “one copy of” và “in one copy” Điều 17 (d): Nếu thư tín dụng yêu cầu xuất trình chứng từ là “copies of” thì việc xuất trình bản gốc hay bản sao đều được chấp nhận Điều 17 (e): Nếu thư tín dụng yêu cầu xuất trình nhiều bản chứng từ bằng cách sử dụng các cụm từ như “in duplicate”, “in two fold”,

“in two copies” thì sẽ được thỏa mãn khi xuất trình ít nhất một bản gốc và những bản còn lại là bản sao, trừ khi bản thân chứng từ thể hiện khác Theo ISBP : “one copy of”

có nghĩa là “một bản sao” trong khi đó, “in one copy” có nghĩa là một bản gốc Như vậy trong UCP cũng như ISBP vẫn chưa có sự phân biệt một cách rõ ràng về cụm từ

“ one copy of” và “ in one copy”

1.2.3.2 Những thay đổi cơ bản của ISBP 745 so với ISBP 681

ISBP 745 đã viết lại phần lớn các phần hướng dẫn của ISBP 681, bổ sung thêm nhiều diễn giải và hướng dẫn áp dụng một cách rõ ràng và minh bạch hơn các quy tắc của ISBP 681 2007

Trang 31

22

Bảng 1.2: Các điều khoản mới, điều khoản sửa đổi và bổ sung, điều khoản lược

bỏ của ISBP 745 so với ISBP 681

A A3, A4, A10, A13, A17,

A26, A27, A41

A2, A6, A7, A18, A19, A21, A29, A31, A35, A36 33, 37

(ii) Về chứng từ vận tải hàng không, các dữ liệu không có yêu cầu phải điền vào trong ô có tên “Accounting Information” hoặc “Handling Information” thường tìm thấy trong AWB Cũng có thể tìm đọc trong mục A37 liên quan đến các yêu cầu đối với chữ ký thể hiện trong bất cứ trong ô, khu vực hay nơi nào

(iii) Về xác định bản gốc và bản sao chứng từ, ISBP745 loại bỏ quy tắc 33 ISBP681 quy định về bản gốc và bản sao dẫn chiếu đến tài liệu 470/871 của ICC bằng

Trang 32

23

cách đưa trực tiếp một số nội dung của tài liệu 470/871 thành hướng dẫn trong ISBP sửa đổi lần này

(iv) Về áp dụng các điều khoản 19, 20 UCP 600, ISBP 745 diễn giải rõ hơn

về khái niệm vận tải đơn (B/L) để lựa chọn áp dụng phù hợp với các điều khoản 19, 20 của UCP 600

Có thể nói ISBP745 là phiên bản được sửa đổi cẩn thận hơn nhiều so với ISBP

681 cả về nội dung lẫn hình thức Tuy nhiên có một số vấn đề về mặt pháp lý trong mối quan hệ giữa ISBP 745 với UCP600 và một số bất cập cần lưu ý khi áp dụng ISBP

745 2013 dù mới được ban hành Nếu như ISBP 745 đã thành công trong việc khắc phục sai sót lớn của ISBP 681 2007 là không gắn với UCP 600, thì sửa đổi ISBP 745 lần này lại phạm phải một sai sót không nên mắc phải, đó là một phần lớn nội dung của ISBP 745 2013 đã vượt quá phạm vi áp dụng mà ấn phẩm này đã quy định, ngoài

ra cũng đã phạm phải một sai lầm pháp lý cơ bản, đó là ban hành một văn bản pháp lý phụ để diễn giải và hướng dẫn áp dụng các điều khoản của một văn bản pháp lý chính

mà văn bản pháp lý chính này không bao gồm các điều khoản đó Vì vậy, để khắc phục khiếm khuyết này của ISBP 745, các DN XNK khi ký kết hợp đồng thương mại quốc tế và các NH thương mại khi phát hành L/C hoặc khi kiểm tra L/C, ngoài việc dẫn chiếu áp dụng UCP 600, cần dẫn chiếu thêm cả ISBP 745 2013 ICC Việc dẫn chiếu thêm ISBP 745 2013 trong một L/C, một mặt không những khắc phục các sai sót nêu trên, còn một mặt khác cũng là sự thể hiện sự quán triệt đầy đủ Điều khoản 1 áp dụng UCP 600 2007 “…các quy tắc này (UCP 600) ràng buộc tất cả các bên, trừ khi tín dụng chứng từ loại trừ hoặc sửa đổi nó một cách rõ ràng”

1.3 NHỮNG TRANH CHẤP THƯỜNG PHÁT SINH TRONG TTQT BẰNG L/C VÀ VIỆC ÁP DỤNG CÁC VĂN BẢN PHÁP LÝ QUỐC TẾ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

1.3.1 Sự cần thiết áp dụng các văn bản pháp lý quốc tế để giải quyết tranh chấp phát sinh TTQT bằng L/C

Trước khi UCP ra đời, các NH thuộc các nước khác nhau phải áp dụng luật thương mại của nước mình để điều chỉnh các quan hệ trong TTQT nói chung và TTQT nói riêng Điều này đã dẫn đến các mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột xảy ra trong thực tiễn sử dụng phương thức tín dụng chứng từ mang tính quốc tế Điều này dễ hiểu vì mỗi nước có các nguồn pháp lý khác nhau theo cơ chế chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi nước Hơn nữa, phương thức tín dụng chứng từ là một quy trình phức tạp đòi hỏi

Trang 33

24

phải tiến hành một cách chặt chẽ Vì vậy, chỉ trừ khi UCP ra đời thì các vấn đề nêu trên mới được giải quyết Sự ra đời của UCP đã đánh dấu một bước đột phá mới trong nghiệp vụ TTQT, bởi UCP là cơ sở pháp lý duy nhất quy định một cách cụ thể trách nhiệm của các bên tham gia phương thức tín dụng chứng từ, mà chú trọng nhất là trách nhiệm của NH UCP ra đời với mục đích chính là tinh lược thực tiễn NH quốc tế nhằm tiêu chuẩn hoá các thực tiễn chung đang áp dụng Hiện nay, tất cả các NH kiểm tra chứng từ xuất trình dựa trên các nguyên tắc của UCP600, và đương nhiên mọi tranh chấp phát sinh cũng được điều chỉnh theo UCP600 Hơn nữa, là ấn bản mới nhất được sửa đổi dựa trên sự đồng thuận của các chuyên gia tài chính – Ngân hàng nên UCP600 giúp cho hoạt động NH được thuân tiện hơn, giúp cho hoạt động TTQT nhanh gọn và chuyên nghiệp Một khi áp dụng UCP600 vào giao dịch L/C thì ISBP 745 được tự động áp dụng ISBP 745 được biên soạn lại, sửa đổi và bổ sung làm rõ một số điều khoản của ISBP 681 góp phần giúp các bên hiểu và áp dụng đúng UCP600 vào thanh toán tín dụng chứng từ Dưới sự điều chỉnh của UCP600 và ISBP 745, hoạt động NH được thống nhất trên phạm vi thế giới, cùng với sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật tiên tiến, tốc độ xử lý giao dịch được đẩy nhanh, đáp ứng nhu cầu về đẩy nhanh hoạt động thương mại (trong đó có TTQT) Ngoài ra, chính UCP600 và ISBP 745 cũng hỗ trợ cho các DN, tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong việc lập các chứng từ thương mại, góp phần thúc đẩy tốc độ hoạt động thương mại, tốc độ hội nhập toàn cầu của bản thân từng DN và qua đó thúc đẩy hoạt động thương mại phát triển thịnh vượng

1.3.2 Những tranh chấp thường phát sinh trong thanh toán quốc tế bằng L/C và việc vận dụng các văn bản pháp lý quốc tế để giải quyết tranh chấp

Trước hết, có thể khẳng định, tranh chấp bắt nguồn từ rủi ro Trong thương mại quốc tế nói chung và hoạt động TTQT nói riêng, các bên trong hợp đồng thường ở các quốc gia có vị trí địa lý cách xa nhau, thiếu các thông tin cần thiết khi tìm hiểu về đối tác, việc am hiểu luật lệ, tập quán buôn bán của mỗi nước lại hạn chế Do vậy, các rủi

ro xảy ra là điều khó tránh khỏi Rủi ro trong TTQT theo phương thức tín dụng chứng

từ (TDCT) được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn có thể gây thiệt hại đối với các bên tham gia giao dịch bằng L/C như: Người yêu cầu mở L/C, người hưởng lợi L/C và các NH tham gia Các rủi ro, một khi không giải quyết được thường ảnh hưởng đến quyền lợi, gây tổn thất đối với các bên và kết cục là tranh chấp phát sinh, buộc các bên phải giải quyết hoặc bằng thương lượng hoặc đưa ra trung tâm trọng tài quốc tế, tòa án

Trang 34

25

để giải quyết Các tranh chấp xảy ra trong TTQT bằng L/C thường rất đa dạng và bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau

1.3.2.1 Những tranh chấp thường phát sinh từ phía nhà NK

(i) Mở L/C không đúng hợp đồng thương mại

Khi các bên thỏa thuận hình thức thanh toán bằng L/C thì trong điều khoản thanh toán của hợp đồng sẽ có các quy định cụ thể, chi tiết về các vấn đề liên quan đến thời hạn mở L/C, ngày hết hạn, các chứng từ cần xuất trình, thời hạn trả tiền, các NH tham gia và các yêu cầu khác của người yêu cầu Các chi tiết này sẽ được ghi rõ trong Đơn yêu cầu phát hành L/C Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều trường hợp người NK lại mở L/C với những điều khoản trái với quy định trong hợp đồng hoặc thêm vào các điều kiện không được thỏa thuận trong hợp đồng Nếu người NK đưa vào L/C các điều khoản trái với hợp đồng thì người NK đã vi phạm hợp đồng và người XK có quyền khiếu nại

Ví dụ như trong hợp đồng cho phép chuyển tải nhưng L/C lại quy định không được chuyển tải Tranh chấp thường xảy ra khi người XK nhận thấy L/C có những điều khoản không phù hợp với hợp đồng đã yêu cầu sửa đổi L/C nhưng người NK không đồng ý, khi đó người NK cố tình vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và người XK có quyền không giao hàng và khiếu nại Nếu người NK đưa vào L/C những điều kiện không có trong hợp đồng thì không coi đó là một sự vi phạm hợp đồng Ví dụ hợp đồng yêu cầu xuất trình C/O nhưng L/C yêu cầu phải xuất trình C/O do Phòng thương mại quốc gia cấp Cả 2 trường hợp trên, nếu người XK không yêu cầu sửa đổi L/C mà

cứ giao hàng thì buộc phải tuân thủ L/C nếu không sẽ bị từ chối trả tiền và mất quyền khiếu nại về việc người NK mở L/C không phù hợp Ngoài ra, việc người XK chấp nhận một L/C không phù hợp với hợp đồng không được coi là L/C này đã sửa đổi bổ sung hợp đồng vì tính độc lập của L/C với hợp đồng gốc, do đó rủi ro thuộc về người

XK

(ii) Yêu cầu NHPH ngừng thanh toán

Nguyên tắc độc lập trong phương thức tín dụng chứng từ là nghĩa vụ thanh toán của NHPH đối với người thụ hưởng; không phụ thuộc vào các khiếu nại của người yêu cầu phát hành thư tín dụng phát sinh từ quan hệ của họ với NHPH hoặc người thụ hưởng mà phụ thuộc vào khả năng xuất trình bộ chứng từ phù hợp với thư tín dụng của

Trang 35

26

người thụ hưởng Nhiều trường hợp người XK giao hành thiếu hoặc kém chất lượng nhưng vẫn lập được bộ chứng từ hợp lệ thì NHPH vẫn phải có nghĩa vụ trả tiền theo Điều 5 UCP 600 (Các NH giao dịch bằng các chứng từ và không giao dịch bằng hàng hóa, dịch vụ hoặc các thực hiện khác mà các chứng từ có liên quan) Để đảm bảo quyền lợi cho mình, người NK thường yêu cầu NH ngừng thanh toán cho người XK và nếu NH làm theo thì rất dễ xảy ra tranh chấp vì người XK có quyền khiếu nại NH đã

vi phạm UCP 600 khi không thanh toán cho bộ chứng từ hợp lệ theo Điều 7 UCP 600 cam kết của NHPH là không thể hủy bỏ Nhưng nếu vì quyền lợi của mình, người NK làm đơn yêu cầu tòa án ra lệnh cho NH ngừng trả tiền hoặc kiện NH để ngăn cản việc trả tiền thì NH sẽ buộc phải chấp hành lệnh của tòa án do UCP là một văn bản pháp lý mang tính tùy ý áp dụng dưới luật quốc gia và luật quốc tế

(iii) Người NK không thanh toán

Một đặc điểm của phương thức tín dụng chứng từ là muốn được thanh toán người

XK không chỉ hoàn thành nghĩa vụ giao hàng mà còn phải lập được bộ chứng từ phù hợp với các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng Chính vì vậy, khi thấy giá cả hàng hóa nhập về giảm đột ngột khiến việc nhập hàng có nguy cơ bị lỗ, người NK vì không muốn nhập hàng nên đã cố tình bắt lỗi bộ chứng từ để từ chối thanh toán bộ chứng từ Nếu việc bắt lỗi bộ chứng từ không đúng với quy định của UCP 600 thì sẽ dẫn đến tranh chấp và người NK sẽ phải gánh chịu thiệt hại lớn do vừa bị lỗ, vừa bị phạt chậm thanh toán…

1.3.2.2 Những tranh chấp thường phát sinh từ phía nhà XK

(i) Xuất trình bộ chứng từ không phù hợp

Theo quy định tại điều 2 UCP600: “Xuất trình phù hợp là việc xuất trình chứng

từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản của tín dụng, với các điều khoản được áp dụng của quy tắc này và với tập quán Ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế” Do đó, các tranh chấp có thể phát sinh từ việc các chứng từ xuất trình không đáp ứng được các điều kiện trên Mặt khác, đôi khi do các NH không thống nhất trong các cách hiểu thế nào

là bộ chứng từ phù hợp nên tranh chấp xảy ra khi NHPH hoặc người yêu cầu cho rằng chứng từ không hợp lệ và từ chối thanh toán còn người thụ hưởng và NHCK… lại cho rằng nó hoàn toàn phù hợp

Tranh chấp liên quan tới HĐTM: HĐTM được coi là trung tâm của bộ chứng từ xuất trình đòi tiền theo quy định của L/C Các tranh chấp liên quan tới HĐTM thường

Trang 36

27

liên quan đến một số vấn đề sau: tên người phát hành không đúng với tên người thụ hưởng và tên người trả không đúng với tên người mở theo quy định của L/C; Việc mô

tả hàng hóa trên HĐTM và trên L/C không nhất thiết phải giống nhau; Trị giá HĐTM

và số tiền trên L/C phải giống nhau về đơn giá và loại tiền Để giải quyết vấn đề này, nên vận dụng điều 18 UCP600 về HĐTM quy định rõ yêu cầu của HĐTM khi xuất trình đồng thời kết hợp với điều 14 UCP về tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ Bên cạnh đó cũng nên áp dụng điều 16 UCP600, điều C1 tới C14 ISBP745 để giải quyết các tranh chấp phát sinh

Tranh chấp liên quan tới Chứng từ vận tải: Vận đơn đường biển cũng như các chứng từ vận tải khác có liên quan là một trong những chứng từ quan trọng để đánh giá độ phù hợp khi kiểm tra Các tranh chấp thường phát sinh liên quan tới loại chứng

từ này: chức năng, tư cách người kí phát chứng từ; tranh chấp liên quan tới con tàu dự định chở hàng hóa, người bán cần phải ghi rõ hàng hóa đã được bốc lên con tàu đích danh; tranh chấp liên quan tới chuyển tải hàng hóa, giao hàng từng phần với các chứng

từ vận tải đa phương thức, vận tải liên hợp,…; tranh chấp liên quan tới tàu bốc hàng có đúng như quy định như L/C Để giải quyết các tranh chấp, nên vận dụng điều 20 UCP600, đồng thời kết hợp điều 14, điều 27 UCP600 quy định về vận đơn đường biển, điều 31 về giao hàng từng phần Ngoài ra, vận dụng thêm các điều khoản E1 đến E28 của ISBP745 để hiểu rõ hơn quy định về chứng từ vận tải để giải quyết tranh chấp

Tranh chấp liên quan tới chứng từ bảo hiểm: trong phương thức TTQT bằng L/C, yêu cầu xuất trình chứng từ bảo hiểm khi nhà XK chịu trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hóa XK, thường là trong trường hợp mua bán theo điều kiện CIF, CIP… Trên thực tế, bộ chứng từ xuất trình bị từ chối do chứng từ bảo hiểm mắc những lỗi: người bán xuất trình chứng từ bảo hiểm không đúng loại của L/C hoặc là không đủ chức năng phát hành chứng từ bảo hiểm; bảo hiểm có hiệu lực sau ngày giao hàng; loại tiền ghi trên chứng từ khác với loại tiền ghi trên L/C và số tiền bảo hiểm nhỏ hơn 110% giá trị CIF hay CIP; chứng từ bảo hiểm không bao gồm những rủi ro được bảo hiểm như quy định trong thư tín dụng hay không gian bảo hiểm không như quy định trong L/C Ngoài những vấn đề trên còn rất nhiều vấn đề phát sinh liên quan tới chứng từ bảo hiểm mà không thể lường trước được Vì vậy, cần tìm hiểu kĩ và vận dụng các điều 28 UCP 600, các điều K1 đến K23 ISBP 745 về chứng từ bảo hiểm và mức bảo hiểm để giải quyết tranh chấp

Trang 37

28

Tranh chấp do có sự mâu thuẫn giữa các loại chứng từ: các loại chứng từ được lập phải phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C và giữa các chứng từ đó không được có mâu thuẫn với nhau Tuy nhiên, trên thực tế, các nhà XK thường mắc lỗi khi lập chứng từ theo tiêu chuẩn này Mô tả hàng hóa không thống nhất với phiếu đóng gói hàng hóa, HĐTM và L/C, cơ quan cấp C/O không giống như trong L/C yêu cầu,… Với những quy định trong điều 14 UCP 600 đã thể hiện rất rõ về tính thống nhất của các chứng từ

(ii) Đơn phương hủy hợp đồng

Thời điểm ký kết hợp đồng thương mại, mở L/C và thời điểm thực hiện hợp đồng, thanh toán L/C thường có một thời gian trễ nhất định trong khi đó giá cả hàng hóa thì không ngừng thay đổi Khi giá hàng hóa trên thị trường thế giới đang tăng thì các nhà XK thường có ý muốn dừng hợp đồng đã ký trước đó với mức giá thấp để đem bán trên thị trường với mức giá cao hơn Tranh chấp xảy ra khi người XK đơn phương muốn hủy bỏ hợp đồng bằng cách viện cớ vào các lý do vi phạm L/C Thực tế trong UCP 600 chưa có câu trả lời thống nhất cho vấn đề thời điểm phát hành thư tín dụng bởi vì chưa có điều khoản nào định nghĩa phát hành thư tín dụng là gì Đây cũng là một bất cập của UCP 600 cần được sửa đổi Như vậy, khi tranh chấp này xảy ra tùy theo tính chất của từng vụ việc mà rủi ro có thể thuộc về người NK hay người XK thậm chí cả NH do thực tế là có những vấn đề mà chính bản thân UCP 600 vẫn chưa giải quyết được

(iii) Làm giả bộ chứng từ

Tranh chấp này thường xảy ra khi người XK xuất trình chứng từ phù hợp với L/C nhưng lại là chứng từ giả mạo Thực tế đã xảy ra trường hợp người NK không nắm rõ được đối tác nên đã gặp phải công ty ma hoặc công ty lừa đảo Khi chứng từ phù hợp với L/C NH vẫn phải thanh toán và không chịu trách nhiệm gì theo UCP 600 do thư tín dụng là cam kết chắc chắn trả tiền của NH cho người xuất trình bộ chứng từ hợp lệ,

NH được miễn trách về tính chân thực, nguồn gốc của bộ chứng từ, vì vậy lúc này người NK chỉ còn cách chờ sự can thiệp của tòa án để xin lệnh đình chỉ thanh toán khi

NH chưa thanh toán Còn nếu NH đã thanh toán rồi thì phải nhờ đến tòa án của nước người XK phối hợp cùng tòa án nước mình để giải quyết

Trang 38

29

1.3.2.3 Những tranh chấp thường phát sinh từ phía NH

Trong phương thức tín dụng chứng từ, NHPH bị ràng buộc bởi hai quan hệ hợp đồng: một là hợp đồng với người yêu cầu L/C, hai là với người thụ hưởng L/C Khi Đơn yêu cầu phát hành L/C của người NK được chấp nhận, NH tự ràng buộc mình với nghĩa vụ mở một L/C có những điều khoản và điều kiện đúng với những quy định trong Đơn yêu cầu phát hành L/C cho người XK hưởng lợi Còn khi đã phát hành L/C thì NH bị ràng buộc bởi cam kết chắc chắn thanh toán cho người thụ hưởng Ngoài ra, trong trường hợp NHPH ủy thác cho một NH chỉ định thực hiện việc thanh toán hoặc thương lượng thanh toán cho người thụ hưởng thì NHPH bị ràng buộc bởi quan hệ hợp đồng ủy quyền với NHđCĐ Tuy nhiên, cần lưu ý một điều là nếu như UCP 500 có điều khoản điều chỉnh cả Đơn yêu cầu phát hành L/C hay Đơn yêu cầu sửa đổi thư tín dụng (điều 5 UCP 500), thì điều 1 của UCP 600 quy định rõ ràng đối tượng điều chỉnh của nó là thư tín dụng và thư tín dụng dự phòng Do đó chủ thể mà UCP 600 điều chỉnh chỉ có: NHPH, người thụ hưởng và các NHđCĐ hay NHXN Cũng theo UCP 600 nghĩa vụ của NHPH trong phương thức tín dụng chứng từ là các cam kết trả tiền ngay, trả tiền sau và cam kết chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn Nếu vi phạm nghĩa vụ của mình thì NHPH phải chịu trách nhiệm Các trường hợp tranh chấp liên quan đến NHPH có thể do sự vi phạm nghĩa vụ của NH với một số trường hợp điển hình sau:

(i) NHPH không phát hiện hết sai sót trong bộ chứng từ

Điều 14 UCP 600 Tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ: “NH chỉ định hành động theo

sự chỉ định, nếu có và NHPH phải kiểm tra việc xuất trình, chỉ trên cơ sở của chứng từ

để quyết định chứng từ thể hiện trên bề mặt của chúng có tạo thành một xuất trình phù hợp hay không” nhưng UCP 600 không nêu cụ thể thế nào là sự phù hợp trên bề mặt của chứng từ vì thế NHPH sẽ căn cứ vào L/C, các tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ trong ISBP 745 để kiểm tra Theo đó, sau khi kiểm tra chứng từ nếu không phát hiện có sai sót thì NH sẽ phải thanh toán hoặc thương lượng thanh toán cho người xuất trình, rồi sau đó sẽ gửi bộ chứng từ đến người yêu cầu để đòi tiền, ngược lại nếu có sai sót thì sẽ gửi Giấy báo sai biệt chứng từ cho người yêu cầu và yêu cầu người này trả lời chấp nhận hay từ chối thanh toán trong một khoảng thời gian nhất định Thực tế nếu người

NK đồng ý thanh toán thì sẽ gửi cho NH một giấy cam kết thanh toán bộ chứng từ để

NH thanh toán hoặc thương lượng thanh toán cho người xuất trình Tranh chấp thường phát sinh khi NHPH do không cẩn thận đã không phát hiện ra sai sót của bộ chứng từ

Trang 39

30

hoặc phát hiện không hết sai sót khiến người yêu cầu đưa ra các chỉ thị sai lầm Hậu quả là nếu sai sót bị bỏ qua là nghiêm trọng thì sau này, người NK có thể không nhận được hàng hoặc nhận phải hàng kém chất lượng sẽ có thể kiện NH vì sự thiếu sót đó (ii) NHPH không cầm giữ chứng từ chờ định đoạt của người xuất trình Điều 16 UCP 600 quy định rất rõ trách nhiệm của NHPH đối với bộ chứng từ có sai sót là phải thông báo rõ ràng tình trạng của bộ chứng từ không phù hợp hoặc là cầm giữ chứng từ chờ chỉ thị của người xuất trình, người yêu cầu, hoặc là sẽ gửi trả lại cho người xuất trình Trong trường hợp NH chỉ thông báo từ chối bộ chứng từ mà không thông báo mình sẽ cầm giữ bộ chứng từ chờ sự định đoạt của người xuất trình, giao lại cho người yêu cầu hay trả lại bộ chứng từ thì tranh chấp sẽ xảy ra khi người xuất trình lợi dụng sơ hở của NH, chờ tới khi hết thời hạn kiểm tra chứng từ khởi kiện

NH vì đã không thanh toán trong khi vẫn cầm giữ bộ chứng từ hoặc giao cho người

NK mà không thông báo cho người xuất trình là vi phạm điều 16f UCP 600 Tranh chấp cũng có thể xảy ra do có sự khác nhau trong quy định của UCP 600 và UCP 500

Về vấn đề này, UCP 500 không cho phép NHPH khi đã thông báo từ chối rồi chuyển

bộ chứng từ cho người yêu cầu nếu không có sự đồng ý của người thụ hưởng Còn UCP 600 lại cho phép nhưng với điều kiện người yêu cầu và NHPH đồng ý bỏ qua sai biệt Rõ ràng nếu không tìm hiểu kỹ của UCP 600 thì tranh chấp sẽ xảy ra

(iii) Tranh chấp khi NH thông báo vi phạm nghĩa vụ

Điều 9 UCP 600 quy định trách nhiệm của NH thông báo là phản ánh chính xác các điều kiện, điều khoản của L/C gốc Nhận được ủy thác của L/C, khi nhận thư tín dụng hoặc thư tín dụng sửa đổi, NH thông báo phải kiểm tra tính chân thật bề ngoài của thư tín dụng hoặc yêu cầu sửa đổi thư tín dụng Nếu thỏa mãn yêu cầu kiểm tra thì mới thông báo cho người thụ hưởng, ngược lại NH thông báo có quyền từ chối thông báo Khi từ chối phải thông báo không chậm trễ cho NHPH Nhưng một bất cập của UCP 600 và ISBP 745 là không có điều khoản nào giải thích khái niệm tính chân thật

bề ngoài của L/C khiến người ta có thể hiểu điều đó do NH thông báo tự quyết định theo yêu cầu của nghiệp vụ đại lý đã được quy định trong hợp đồng đại lý với NHPH Điều 9f UCP 600 còn quy định thêm về trách nhiệm của NHTB khi từ chối thông báo thư tín dụng Nếu NH thông báo không thận trọng trong vấn đề này thì rất dễ xảy ra tranh chấp Liên quan đến NHTB, loại tranh chấp thường do NH không làm đúng trách nhiệm của mình như thông báo một thư tín dụng thiếu tính chân thật bề ngoài hay

Trang 40

31

không thông báo cho người thụ hưởng về sự từ chối thông báo thư tín dụng của mình Sai sót cũng có thể xảy ra do trong quá trình truyền dữ liệu từ NHPH tới NHTB nhưng theo điều 35 UCP 600 thì cả hai NH đều được miễn trách với lỗi này nên tranh chấp tất yếu sẽ xảy ra

1.3.3 Tính hiệu quả của việc áp dụng các văn bản pháp lý quốc tế để giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ

So với phiên bản cũ, UCP 600 và ISBP 745 có nhiều điểm nổi bật hơn Các từ ngữ trong TTQT được ghi ngắn gọn và rõ ràng hơn, các điều kiện giao dịch được cụ thể hóa hơn và không còn mơ hồ để có thể tạo ra tranh chấp giữa các bên Về cơ bản, UCP 600, ISBP 745 đã có nhiều điểm mới nhằm xác định rõ và giải quyết những xung đột trong thanh toán XNK bằng phương thức tín dụng chứng từ mà các phiên bản trước chưa thực hiện được Do UCP và ISBP điều chỉnh không những các NH mà còn

có tất cả các bên liên quan đến giao dịch L/C như các nhà XK, các nhà NK, các bên liên quan khác như nhà chuyên chở, công ty bảo hiểm,… cùng với việc vận dụng UCP

600 và ISBP 745 vào việc vận dụng UCP 600 và ISBP 745 để giải quyết tranh chấp trong thanh toán tín dụng chứng từ đã giúp cho các bên phân định được rõ ràng quyền lợi và nghĩa vụ của mình, hiểu rõ được những sai biệt của mình trong quá trình thanh toán Qua đó tại cơ sở vững chắc cho các NHTM phát huy tốt vai trò trong phương thức này Đa số các cách giải quyết đã phân chia đúng trách nhiệm cũng như những tổn thất các bên phải chịu do việc vận dụng không đúng yêu cầu của L/C hoặc hiểu không chính xác các điều khoản quy định trong UCP 600 và ISBP 745 Từ đó hạn chế những xung đột không đáng có, ảnh hưởng tới quan hệ của các bên liên quan

Tất nhiên, bên cạnh những thành tựu, UCP 600 vẫn chưa giải quyết được tất cả các vấn đề thực tiễn đầy phong phú và phức tạp, đòi hỏi ICC sẽ vẫn tiếp tục nghiên cứu và sửa đổi để có thể đáp ứng được sự thay đổi liên tục trong thương mại quốc tế

Ngày đăng: 17/12/2023, 00:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS. TS. Nguyễn Văn Tiến: Giáo trình TTQT và tài trợ ngoại thương: Nhà xuất bản Thống kê, năm 2016 Khác
2. GS. TS. Nguyễn Văn Tiến: Hỏi – Đáp TTQT; Nhà xuất bản Thống kê, năm 2015 Khác
3. GS. TS. Nguyễn Văn Tiến: Cẩm nang TTQT bằng L/C; Nhà xuất bản Thống kê 2015 Khác
4. TS. Nguyễn Thị Hồng Hải: Hạn chế rủi ro trong TTQT đối với các NHTM Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án tiến sĩ, Học viện NH, năm 2008 Khác
5. Nguyễn Thị Nghĩa: Vận dụng UCP 600 và ISBP 745 vào giải quyết tranh chấp trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, khóa luận tốt nghiệp, Học viện NH, năm 2014 Khác
6. Bản quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ số 600, bản sửa đổi năm 2007, ICC Khác
7. Bản quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ số 500, bản sửa đổi năm 1993, ICC Khác
8. Tập quán NH tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo UCP600, ISBP 745, năm 2013, ICC Khác
9. Tập quán NH tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo UCP600, ISBP 681, năm 2007, ICC Khác
10. Nguyễn Hữu Đức – ISBP 745 có gì mới – Tạp chí NH số 8 tháng 4/2013 Khác
11. Nguyễn Hữu Đức – Chứng từ bảo hiểm trong giao dịch L/C – Tạp chí NH số 5 tháng 4/2014 Khác
12. PGS.TS. Nguyễn Thị Quy – Tranh chấp trong TTQT bằng L/C và một số gợi ý cho các DN khi tham gia giao dịch – Tạp chí NH số 3 tháng 2/2014 Khác
13. GS.TS. Nguyễn Văn Tiến, TS. Nguyễn Thị Hồng Hải – Những lưu ý trong lập và kiểm tra vận đơn đường biển theo tinh thần ISBP 745 – Tạp chí NH số 5 tháng 4/2014 Khác
14. GS. Đinh Xuân Trình, PGS.TS. Đặng Thị Nhàn – Một số vấn đề pháp lý vần lưu ý khi sử dụng tập quán NH tiêu chuẩn quốc tế và kiểm tra chứng từ theo UCP 600 (ISBP745 ICC 2013) – Tạp chí NH số 23 tháng 12/2013 Khác
15. Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam – 50 phán quyết trọng tài quốc tế chọn lọc Khác
16. Báo cáo thường niên các NH thương mại Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Agribank, MB, … các năm 2011, 2012, 2013, 2014, 2015 Khác
17. Luật tố tụng dân sự năm 2005 18. Luật thương mại năm 2005 19. Thống kê Hải quan Việt Nam Các website tham khảo Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w