Hoạch định chiến lược 1.1 Khái niệm: Hoạch định là tiến trình trong đó nhà quản trị xác định và lựa chọn mục tiêu của tổ chức và vạch ra những hành động cần thiết nhằm đạt được mục tiêu
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN HỌC: QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
Lớp học phần: 2111101006502
Giảng viên giảng dạy:
Chủ đề: Hoạch định chiến lược công ty Vinamilk
giai đoạn 2022-2023
Thành viên của nhóm gồm:
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 21 tháng 11 năm 2021
Trang 3Danh mục bàng, hình
Trang 4Mục lục
Trang 5Chương I: Giới thiệu lý thuyết hoạch định chiến lược
1 Hoạch định chiến lược 1.1 Khái niệm:
Hoạch định là tiến trình trong đó nhà quản trị xác định và lựa chọn mục tiêu của
tổ chức và vạch ra những hành động cần thiết nhằm đạt được mục tiêu
Hoạch định chiến lược là một chức năng quản trị của một tổ chức, bao gồm
việc: xác định các ưu tiên, tập trung các nguồn lực, và củng cố các hoạt động vận
hành, nhằm bảo đảm cho các nhân viên của tổ chức và các bên có liên quan khác
cùng hướng đến những mục tiêu chung, đạt được sự thống nhất về các kết quả dự kiến, đánh giá và điều chỉnh phương hướng hoạt động của tổ chức để đáp ứng môi trường kinh doanh luôn biến động.
Hoạch định chiến lược là nỗ lực của tổ chức nhằm đưa ra những quyết định và những hành động cơ bản có vai trò định hình và hướng dẫn cho tổ chức đó muốn trở thành cái gì, phục vụ cho ai, làm gì, lý do tại sao làm việc đó, và chú trọng đến tầm nhìn tương lai Việc hoạch định chiến lược có hiệu quả không chỉ vạch ra đích đến mà tổ chức muốn đạt được và những gì cần phải làm để đi đến đó, mà còn nêu rõ cách thức
đo lường mức độ thành công (1) 1.2 Vai trò của Hoạch định chiến lược.
Hoạch định chiến lược giúp:
- Tập trung mọi nỗ lực
- Cải thiện hiệu quả công việc
- Phát triển tầm nhìn
- Thể hiện rõ giá trị thu được
- Giảm thiểu rủi ro
- Giải quyết các mâu thuẫn
1.3 Quy trình hoạch định chiến lược.
Trang 6Giai đoạn hoạch định chiến lược của quản trị chiến lược còn được gọi là lập kế hoạch chiến lược (Lê Văn Tâm, Ngô Kim Thanh, 2009) Sự thay đổi thuật ngữ từ hoạch định chiến lược sang quản trị chiến lược đã dẫn đến việc mở rộng cách nhìn Hoạch định chiến lược được bổ sung thêm hai khía cạnh, triển khai và kiểm soát Điều này đồng nghĩa với quản trị chiến lược bao gồm: (1) hoạch định chiến lược; (2) triển khai chiến lược; và (3) kiểm soát chiến lược (Lê Văn Tâm, Ngô Kim Thanh, 2009; Rudolf Grung, 2007) Ba nhiệm vụ này có thể được hiểu là ba giai đoạn của một quả trình duy nhất Giai đoạn hoạch định chiến lược xây dựng mục tiêu dài hạn, đưa ra một định hướng rõ rằng và làm cơ sở cho hai giai đoạn là triển khai và kiểm soát chiến lược, Trong quá trình hoạch định chiến lược, việc định ra một cách rõ ràng nhiệm vụ của doanh nghiệp được sự quan tâm chú ý của không chỉ các nhà hoạch định cấp cao mà còn là sự quan tâm của những người thực hiện Một mục tiêu rõ ràng
là rất có ích cho việc để ra những mục tiêu cũng như hoạch định chiến lược Giai đoạn hoạch định chiến lược được tiến hành qua các bước sau (Thanh, 2013):
Hình 1.1 Các giai đoạn và hoạt động trong quản trị chiến lược
Nguồn: ( Thanh, 2013)
2 Chiến lược cấp doanh nghiệp
Trang 7Chiến lược giống như một cái khung, nó được các nhà quản trị cấp cao phác thảo để gọi ý, giúp cấp dưới triển khai thành các chính sách và chương trình hành động nhằm đạt được những mục tiêu trong từng thời kỳ Đối với các công ty kinh doanh đa ngành, đa quốc gia, chiến lược được hình thành ở nhiều cấp bậc như: cấp công ty, cấp khu vực, cấp chi nhánh ở các quốc gia, cấp đơn vị kinh doanh, cấp bộ phận chức năng Đối với các doanh nghiệp kinh doanh đơn ngành, chiến lược được hình thành ở cấp công ty và cấp các bộ phận chức năng (Phạm, 2014)
2.1 Khái niệm:
Chiến lược cấp doanh nghiệp (công ty) là hệ thống những chiến lược tổng quát,
có thể áp dụng cho các công ty đa ngành hoặc đơn ngành sản xuất những sản phẩm hoặc dịch vụ trên thị trường trong nước hoặc thị trường đa quốc gia (Phạm, 2014) Chiến lược cấp này xác định các hành động mà công ty thực hiện nhằm giành lại lợi thế cạnh tranh bằng cách lựa chọn, quản trị một nhóm các hoạt động kinh doanh khác nhau cạnh tranh trong một số ngành và thị trường (Lê Thế Giới, 2014.) Loại chiến lược này trả lời các câu hỏi: doanh nghiệp chúng ta chọn lựa ngành hàng hay lĩnh vực kinh doanh nào? Chọn sản phẩm và thị trường mục tiêu nào? Phân bổ và sử dụng nguồn tài nguyên ra sao? Tái cấu trúc doanh nghiệp như thế nào?
Hình 1.2 Các chiến lược trong một doanh nghiệp đa ngành
2.2 Vai trò của chiến lược cấp doanh nghiệp
Trang 8Chiến lược cấp doanh nghiệp đưa ra cách tiếp cận giải quyết vấn đề trên cả hai khía cạnh: Thứ nhất, nó giúp doanh nghiệp tìm ra được những cách thức hiệu quả nhất để vượt qua được những khó khăn và đối mặt với những thách thức: Thứ hai, nó giúp doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các nguồn lực hạn chế Chiến lược cấp doanh nghiệp tập trung vào sự thay đổi cơ cấu tổ chức ở cấp độ toàn doanh nghiệp, quản trị các quá trình có ảnh hưởng lên hành vi của người lao động và phát triển khả năng lãnh đạo hiệu quả Chiến lược cấp doanh nghiệp cũng chỉ ra những biện pháp nhằm quản trị sự thay đổi Hoạt động quản trị hoàn toàn sẵn sản để lường trước, phản ứng lại và quyết định đến cách nhìn nhận về những thay đổi Chiến lược cấp doanh nghiệp cũng đưa ra các cách nhìn nhận và lối tư duy khác nhau.
Chiến lược cấp doanh nghiệp đưa ra cái nhìn toàn cảnh và đánh giá một các công bằng về các cơ hội hiện tại và trong tương của doanh nghiệp Chiến lược cấp doanh nghiệp cung cấp cho hoạt động quản trị trong doanh nghiệp một cơ chế đương đầu với môi trường kinh doanh phức tạp và đầy biến động do sự đa dạng về văn hóa, chính trị, xã hội và các lực lượng cạnh tranh.
2.3 Các chiến lược cấp doanh nghiệp.
2.3.1 Theo Fred David.
Theo Fred R.David mục tiêu dải hạn của doanh nghiệp thể hiện kết quả mà doanh nghiệp kỳ vọng khi theo đuổi một mục tiêu nhất định nào đó Hay có thể nói chiến lược là những hành động mà doanh nghiệp sẽ thực hiện nhằm đạt được mục tiêu trong dài hạn thường từ 3 đến 5 năm Do đó, nếu căn cứ vào mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp, Fred R.David phân chia chiến lược cấp doanh nghiệp ra thành 11 loại, thuộc 2 nhóm: Chiến lược tăng trưởng và chiến lược phòng thủ Cách phân loại trong Bảng 1.1 có bổ sung thêm một số chiến lược ngoài 11 chiến lược mà Fred R.David đã đưa ra nhưng về cơ bản vẫn tuân theo cách phân loại của Fred R.David như đã trình bày ở trên Tác giả có chủ thích cụ thể nhằm giúp người đọc dễ theo dõi.
Trang 9Bảng 1.1 Phân lợi chiến lược căn cứ theo mục tiêu chiến lược cảu doanh nghiệp
Nguồn: (Fred R David, 2013)
2.3.2 Theo Mc Kinsey
Thông thường chiến lược của doanh nghiệp được xây dựng ở cả 3 cấp: Chiến lược ở cấp công ty; chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và chiến lược chức năng Ở đây chúng ta xem xét các chiến lược tổng quát căn cứ vào quá trình, khả năng tăng trưởng
và phát triển của doanh nghiệp theo quan điểm của MC.Kinsey (Hình 1.3) Doanh nghiệp nằm ở vùng tăng trưởng thì dùng chiến lược tăng trưởng, nếu doanh nghiệp
Trang 10rơi vào vùng đến vùng thì nên ổn định và chẳng may ở vào vùng rút lui thì cũng có chiến lược rút lui phủ hợp (Thanh, 2013).
Hình 1.3 Ma trận của Mc Kinsey Theo Mc Kinsey các chiến lược bao gồm
Chiến lược doanh nghiệp ở vùng tăng trưởng.
- Chiến lược tăng trưởng tập trung + Chiến lược thâm nhập thị trường + Chiến lược phát triển sản phẩm
- Chiến lược tăng trưởng bằng hội nhập + Chiến lược tăng trưởng bằng sáp nhập + Chiến lược tăng trưởng bằng thôn tính + Chiến lược tăng trưởng bằng liên doanh + Chiến lược liên minh và hợp tác
- Chiến lược tăng trưởng bằng đa dạng hóa hoạt động của doanh nghiệp
Chiến lược ở vùng ổn định
Chiến lược ở vùng rút lui
2.3.3 Chiến lược đại dương xanh
Không gian thị trường được tạo thành gồm hai loại đại dương: Đại dương đã và đại dương xanh Đại dương đó tượng trưng cho tất cả các ngành hiện dụng tồn tại
Trang 11ngành hiện chưa tồn tại Đó là khoảng trống của thị trường chưa được biết đến (Kim
& Mauborgne, 2007) Trong đại dương đó, các ranh giới ngành được xác định và được chấp nhận, những quy luật cạnh tranh trong cuộc chơi đều rõ ràng (White, 1981) Tại đây, các công ty tìm cách vượt trội hơn so với đối thủ của mình để nắm được thị phần lớn hơn Khi ngày càng có đông người tham gia vào khoảng thị trường này, khả năng thu lợi nhuận cũng như triển vọng tăng trưởng càng giảm xuống Sản phẩm đó trở thành hàng hóa thông thường và sự cạnh tranh gay gắt khiến cho việc tồn tại trong đại dương đã trở nên khó khăn Trái lại, đại dương xanh được xác lập bởi những khoảng thị trường chưa được khai thác, bởi những nhu cầu mới được tạo ra và
cơ hội cho sự tăng trưởng mang lại lợi nhuận cao Một số đại dương xanh được tạo ra bên ngoài ranh giới ngành, nhưng hầu hết được tạo ra từ bên trong những đại dương
đó bằng cách mở rộng ranh giới hiện tại của ngành Trong đại dương xanh, sự cạnh tranh là không cần thiết bởi vì luật chơi chưa được thiết lap ( Kim & Mauborgne, 2007) Tồn tại trong đại dương đó bằng cách cạnh tranh vượt qua đối thủ là hoàn toàn cần thiết Đại dương đỏ sẽ luôn đóng vai trò quan trọng và là một điều hiển nhiên trong kinh doanh Nhưng với tình trạng cung vượt cầu trong nhiều ngành kinh doanh, việc cạnh tranh để chiếm lĩnh một phần thị trường đang thu hẹp dù là rất cần thiết nhưng chưa đủ để duy trì kết quả kinh doanh cao (Prahalad & Harel, 1994) Các công
ty cần tiến xa hơn chứ không chỉ cạnh tranh với đối thủ Để nằm bắt những cơ hội mang lại lợi nhuận và tăng trưởng, họ cũng cần tạo ra những đại dương xanh.
Trang 12Bảng 1.2 Chiến lược Đại dương xanh và chiến lược Đại dương đỏ
Nguồn: (Kim & Mauborgne, 2007)
Chương II: Hoạch định chiến lược
2.1 Giới thiệu chung về công ty Vinamilk
Công ty cổ phần sữa việt Nam (Vinamilk) được thành lập ngày 20 tháng 8 năm
1976, là công ty chuyên sản xuất và kinh doanh các sản phẩm từ sữa hàng đầu trên thị trường Việt Nam và một số nước trong khu vực Với vị thế đứng đầu thị trường và 45 năm kinh nghiệm trong ngành sữa Vinamilk tự tin cung cấp những sản phẩm tốt nhất cũng như bổ dưỡng nhất cho cơ thể người tiêu dùng Các sản phẩm chủ yếu của Vinamilk bao gồm: Sữa nước, sữa bột, sữa dinh dưỡng oganic, sữa chua… Thậm chí một vài năm trở lại đây Vinamilk còn lấn sân sang thị trường nước giải khát và sữa đậu nành.
Trong 45 năm hình thành và phát triển của mình Vinamilk đã xây dựng cho mình một hệ thống phân phối sản phẩm rộng khắp Việt Nam làm cho bất kỳ cửa hàng tạp hóa, siêu thị, cửa hàng nào tại nước ta cũng có sản phẩm của họ Cùng với đó việc đặt tên tất cả sản phẩm của mình theo tên thương hiệu “vinamilk” khiến họ được đặt vào nhóm 100 thương hiệu mạnh nhất do Bộ Công Thương bình chọn năm 2006 Với mức tăng trưởng của ngành sữa Việt Nam trong giai đoạn sắp tới Vinamilk
có thể sẽ tiếp tục đầu tư mở rộng hệ thống sản xuất để đáp ứng hoàn toàn các yêu cầu của người tiêu dùng Việt Nam cũng như các nước trong khu vực.
2.2 Phân tích môi trường bên ngoài 2.2.1 Môi trường kinh tế
Tốc độ tăng trưởng GDP trong 10 năm vừa qua của Việt Nam được thể hiện thông qua đồ thị dưới đây:
Trang 13Hình 2.1: tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam trong 10 năm gần đây
Nhìn vào biểu đồ trên ta dễ dàng nhận thấy mức tăng trưởng GDP của nước ta
từ năm 2011-2019 là khá tốt và lạc quan cho tới năm 2020 Các năm trước đó đều giữ mức tăng trưởng cao và khá ổn định mặc dù có một số năm như 2016 và 2012 có sự sụt giảm nhưng nhìn vào biểu đồ ta thấy sự sụ giảm của những năm này là không đáng kể so với năm 2020.
Tốc độ tăng trưởng GDP giảm phần nào sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của người tiêu dùng khiến họ khắt khe hơn đối với việc lựa chọn thực phẩm mỗi ngày mà sữa lại
là mặt hàng không quá thiết yếu đối với con người nên doanh thu của công ty sẽ bị ảnh hưởng khá lớn từ tốc độ tăng trưởng thấp năm 2020.
2.2.1.1 Chính sách thuế
Các chính sách thuế của nước ta đối với ngành sữa của nước ta gần như không thay đổi trong những năm gần đây Sự thay đổi lớn nhất về thế có thể kể đến là vào năm 2007 khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO và đạt được những cam kết thuế quan với mặt hàng nhập khẩu điều này mở ra cánh cửa cho rất nhiều thương hiệu sữa tràn vào Việt Nam Tuy nhiên Vinamilk với lợi thế dẫn đầu đã giữ nguyên phong độ
và thích nghi với môi trường mới.
Đến năm 2020 dưới sự ảnh hưởng của dịch covid 19 nhà nước đã áp dụng chính sách ưu đãi thuế để giảm gánh nặng cho doanh nghiệp Với một doanh nghiệp đầu ngành như Vinamilk thì đây là một trợ lực rất lớn đến từ phía nhà nước.
Trang 14Mặc dù chịu ảnh hưởng rất lớn từ đại dịch covid 19 nhưng dường như thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam lại có mức tăng trưởng ấn tượng, tăng gần 35,6 USD so với năm 2019 trong khi tại một số nước mức tăng trưởng này là một con số âm.
Tuy nhiên, nếu so với mức tăng 144 USD của năm 2019 so với năm 2018 thì đây là một sự thụt lùi đáng buồn của cả nền kinh tế Mức thu nhập của người dân tăng
có thể kích thích họ tiêu dùng nhiều hơn cho hàng hóa dịch vụ và ngược lại, vì thế mức tăng trưởng thấp sẽ ảnh hưởng tương đối lớn đến tốc dộ mở rộng quy mô sản xuất cũng như thị trường của toàn ngành sữa nói chung và Vinamilk nói riêng.
2.2.1.3Lãi suất
Nhìn chung mức lãi huy động vốn trung bình có xu hướng giảm liên tục trong giai đoạn 2019-2020 Đà giảm của lãi suất ngân hàng tạo điều kiện cực kỳ thuận lợi đối với các doanh nghiệp có mong muốn mở rộng quy mô sản xuất hoặc tái cơ cấu doanh nghiệp các Doanh nghiệp có quy mô lớn như Vinamilk cũng phần nào yên tâm khi gia hạn các khoản vay trước đó của mình khi lãi suất giảm.
Hình 2.3: mức lãi liên ngân hàng trung bình Mức lãi giảm cũng kích thích các đối thủ cạnh tranh đầu tư mở rộng quy mô sản xuất nên mặc dù đây là một lợi thế rất lớn nhưng bản thân nó lại đi kèm với một thách thức tiềm ẩn mà doanh nghiệp phải đối mặt.
Trang 152.2.2 Môi trường chính trị pháp luật
Mặc dù vẫn chưa hoàn toàn giải quyết hết các tranh chấp về mặt lãnh thổ với một số nước có chung đường biên giới (trên biển) nhưng nhìn chung tình hình chính trị, pháp luật ở Việt Nam là tương đối ổn định khi só sánh với các quốc gia khác trên thế giới Điều này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể yên tâm sản xuất mà không lo ngại chiến tranh hay sự hiện diện của các thế lực khủng bố làm hư hại tài sản doanh nghiệp.
Sự thuận lợi về chính trị, pháp luật là không có sự khác biệt giữa các ngành nên mức tác động của yếu tố này đến doanh nghiệp sẽ tương đối thấp với các ngành khác Tuy nhiên yếu tố chính trị pháp luật ổn định là nền tảng để nước ta đưa ra các quyết sách quan trọng hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khắc phục hậu quả doa covid 19 mang lại cũng như phát triển năng lực sản xuất sau đại dịch.
2.2.3 Môi trường văn hóa xã hội
Dân số nước ta hiện tại là 98,4 triệu người và việc người dân có xu hướng thích sống ở thành phố hơn nông thôn khiến họ dần có ý thức sâu sắc về bảo vệ sức khỏe bản thân Vấn đề dinh dưỡng không chỉ đáng quan tâm ở trẻ em đang trong giai đoạn phát triển mà cần phải quan tâm ở tất cả độ tuổi.
Theo Euromonitor, sản lượng tiêu thụ sữa và các sản phẩm từ sữa của Việt Nam đạt 1.76 triệu tấn (+8.6% ) trong năm 2020 Mặc dù vẫn nằm trong nhóm nước có lượng tiêu thụ sữa thấp nhưng với tốc độ tăng trưởng ngành khá tốt Việc mở rộng quy
mô thị trường ở Việt Nam trong tương lai là khá lạc quan.
Ngoài ra với việc thường xuyên phải hứng chịu những trận bão khiến người Việt Nam có thiện cảm rất tốt với các doanh nghiệp nỗ lực thực hiện trách nhiệm xã hội Các hoạt động hướng về sự phát triển chung của cộng đồng của doanh nghiệp càng nhiều thì doanh nghiệp lại càng có được niềm tin của khách hàng Các chương trình hỗ trợ trẻ em nghèo, tiếp sức đến trường của Vinamilk đã tận dụng rất tốt điểm này để thu hút người dùng.
2.2.4 Dân số