1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tái cơ cấu đầu tư công ở việt nam thực trạng và giải pháp,đề tài nghiên cứu khoa học cấp học viện

100 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tái Cơ Cấu Doanh Nghiệp Nhà Nước Ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp
Tác giả TS. Nguyễn Thị Ngọc Loan, Ths. Phạm Thu Hằng, TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Ths. Đỗ Thị Thu, Ths. Đinh Thị Thanh Long
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học cấp học viện
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với kết quả đạt được thì quá trình sử dụng nguồn lực cũng như hiệu quả hoạt động của DNNN với hoạt động của các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có t

Trang 1

–––––––

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP HỌC VIỆN

TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Mã số: DTHV-15//2016 Chủ nhiệm đề tài: TS NGUYỄN THỊ NGỌC LOAN

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 2

–––––––

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP HỌC VIỆN

TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

Trang 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁI CƠ CẤU

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 14

1.1 KHÁI NIỆM CHUNG 14

1.1.1 Doanh nghiệp Nhà Nước 14

1.1.2 Tái cơ cấu Doanh nghiệp nhà nước 16

1.2 TÍNH CẤP THIẾT CỦA TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 17

1.2.1 Mục tiêu của quá trình tái cơ cấu DNNN 18

1.2.2 Nội dung của quá trình tái cơ cấu DNNN 19

1.3 MỘT SỐ NHÂN TỐ KINH TẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỐC ĐỘ TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 22

1.4 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 25

1.4.1 Kinh nghiệm tái cấu trúc khu vực DNNN tại các nước OECD 25

1.4.2 Kinh nghiệm ở Trung Quốc 26

1.4.3 Kinh nghiệm ở Malaysia 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2016 30

2.1 VAI TRÒ CỦA DNNN TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 30

2.1.1 DNNN đóng góp chủ yếu trong tăng trưởng kinh tế: 30

2.1.2 DNNN vẫn giữ vị trí quan trọng trong hệ thống kinh tế 32

2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DNNN 35

2.2.1 Thực trạng DNNN và kết quả sản xuất kinh doanh trong giai đoạn từ 2010 đến 2015 35

2.2.2 Thực trạng đầu tư vào một số lĩnh vực ngoài ngành kinh doanh chính của các DNNN 45

Trang 4

2.3.1 Những kết quả đạt được trong quá trình tái cơ cấu DNNN đến năm

2016 52

2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại trong quá trình tái cơ cấu DNNN đến năm 2016 58

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU DNNN Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 62

3.1 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ ĐỊNH HƯỚNG TÁI CƠ CẤU DNNN GIAI ĐOẠN 2016-2020 62

3.1.1 Mục tiêu và nhiệm vụ tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2016-2020 62

3.1.2 Định hướng tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2016-2020 63

3.1.3 Đổi mới cách tiếp cận trong tái cơ cấu DNNN 67

3.2 GIẢI PHÁP CHO QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU DNNN 72

3.2.1 Nhóm giải pháp về hoàn thiện các cơ chế, chính sách, khung pháp lý cho tái cơ cấu DNNN 72

3.2.2 Nhóm giải pháp về cổ phần hóa 79

3.2.3 Nhóm giải pháp về thoái vốn 84

3.2.4 Nhóm giải pháp về kiểm tra, giám sát thực hiện tái cơ cấu nhằm thực hiện đúng kế hoạch đề ra cho quá trình tái cơ cấu DNNN 86

3.2.6 Áp dụng tiêu chuẩn và thong lệ quốc tế trong quản trị tập đoàn và Doanh nghiệp nhà nước 89

KẾT LUẬN 92

Tài liệu tham khảo……… 93

Trang 5

VIẾT

TẮT

1 ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á

3 BPO Business Process Gia công một số công đoạn sản

xuất kinh doanh

4 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

5 IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế

9 ODA Official Development Assistance Viện trợ phát triển chính thức

vốn chủ sở hữu

lợi trên doanh thu

Trang 6

Bảng 1: Tóm tắt kết quả nghiên cứu của các tác giả 5Bảng 2.1: Tỷ trọng một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của doanh nghiệp nhà nước 31Bảng 2.2: Tỷ trọng DNNN và doanh nghiệp ngoài nhà nước trong tổng doanh nghiệp trong nước của một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản 33Hình 2.1: Thu nhập bình quân của người lao động theo loại hình doanh nghiệp từ 2007-2014 37Hình 2.2: Hiệu suất sử dụng lao động trong doanh nghiệp từ 2007-2014 38Hình 2.3: Chỉ số thanh toán hiện tại của Doanh nghiệp theo loại hình doanh nghiệp từ 2007 -2014 40Hình 2.4: Chỉ số khả năng trả lãi vay của doanh nghiệp theo loại hình doanh nghiệp giai đoạn 2007-2014 41Hình 2.5: Chỉ số nợ của doanh nghiệp từ 2007-2014 42Hình 2.6: Tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ theo loại hình doanh nghiệp

từ 2007-2014 43

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trước bối cảnh suy giảm và bất ổn vĩ mô trong các năm 2010-2011, Chính phủ đã hoàn thiện Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế Một trong những trọng tâm của Đề án này là tái cơ cấu khu vực doanh nghiệp nhà nước Sự cần thiết phải triển khai đề án tái cấu trúc khu vực DNNN xuất phát từ việc khu vực này nắm một một nguồn lực rất lớn trong nền kinh tế nhưng lại hoạt động kém hiệu quả Để triển khai chủ trương tái cơ cấu DNNN, Chính phủ đã ban hành các nhiều văn bản và đã phê duyệt 100/101 phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp của các Bộ, ngành, địa phương giai đoạn 2011-2015 Vì vậy, cần phải có một nghiên cứu qui mô tổng kết quá trình tái cơ cấu khu vực DNNN do Chính phủ đề xuất từ năm 2011 để tìm ra những mặt được và chưa được của chương trình này Từ đó đề xuất những giải pháp về thiết thực cho việc đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu khu vực DNNN Với lý do trên, nhóm tác

giả lựa chọn vấn đề “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam – Thực

trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu Nghiên cứu sẽ đặt mục tiêu tái cơ

cấu khu vực DNNN trong mục tiêu tổng thể tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam:

đó là phát triển nền kinh tế thị trường cạnh tranh lành mạnh và hiệu quả nhằm tạo động lực phát triển và đảm bảo an sinh xã hội Trên cơ sở đó, sẽ xác định những chức năng và nhiệm vụ cụ thể của khu vực DNNN sau khi quá trình tái

cơ cấu hoàn thành Nghiên cứu sẽ đánh giá việc thực hiện chương trình tái cấu trúc khu vực DNNN theo ba nội dung: (i) đẩy mạnh cổ phần hóa để thu hẹp khu vực DNNN, (ii) các DNNN thoái vốn khỏi các lĩnh vực kinh doanh mà DNNN không cần nắm giữ, và (iii) nâng cao năng lực quản trị tại các DNNN

2 Tổng quan nghiên cứu

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng và Nhà nước ta đã

đề ra công cuộc đổi mới đất nước, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành

Trang 8

phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần thì thành phần kinh

tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo luôn được Đảng và Nhà nước ta coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu.Với nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của thành phần kinh tế Nhà nước thì các doanh nghiệp Nhà Nước đã thực hiện nhiệm vụ chủ đạo này như thế nào Với kết quả đạt được thì quá trình sử dụng nguồn lực cũng như hiệu quả hoạt động của DNNN với hoạt động của các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thực sự vượt trội

để thực hiện nhiệm vụ dẫn đầu và định hướng cho các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế hay không Thực tế cho thấy, trong quá trình đổi mới, khu vực doanh nghiệp Nhà nước - bộ phận trọng yếu của kinh tế Nhà nước, đã bộc lộ rất nhiều bất cập như cơ sở vật chất lạc hậu, thiếu vốn, cơ chế quản lý cứng nhắc, trình độ quản lý thấp kém, hoạt động kém hiệu quả và nhất là không đáp ứng được với yêu cầu phát triển nhanh của lực lượng sản xuất, cản trở không nhỏ đến vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế Trước thực trạng trên, trong những năm qua chúng ta đã xác định phải có những chủ trương và biện pháp cụ thể nhằm tái cơ cấu lại các DNNN, hướng DNNN thực hiện đúng vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế nhiều thành phần

Về mặt lý luận và thực tiễn, đã có rất nhiều nghiên cứu khẳng định tính tất yếu của quá trình tái cơ cấu lại các DNNN Các nhà nghiên cứu cho rằng vào giữa những năm 1990, gần như tất cả các doanh nghiệp nhà nước thể hiện hoạt động kém hiệu quả Theo nghiên cứu do IMF thực hiện, vào cuối năm

1997 chỉ có 40% các doanh nghiệp nhà nước hoạt động có lợi nhuận, 44% thường xuyên lỗ, và 16% số doanh nghiệp này luôn bị lỗ (IMF, 1999)

Từ cuối những năm 1970 của thế kỷ trước một phần lớn tổng quan nghiên cứu về hoạt động của lĩnh vực công được thực hiện Mặc dầu khối lượng nghiên cứu trước kia là rất lớn và đa dạng nhưng có nhiều phát hiện

Trang 9

chung, đặc biệt là những phê phán về lĩnh vực công, bao gồm mục tiêu hoạt động không rõ ràng, quá trình thực thi các chính sách công kém hiệu quả và hiệu lực, lĩnh vực công cồng kềnh về mặt quy mô Các phê phán còn liên quan đến bộ máy quản lý cồng kềnh, quan liêu, không quan tâm tới người đóng thuế, cung cấp các dịch vụ công với số lượng ít và chất lượng kém (Ví

dụ, Osborne and Gaebler, 1992; Jones and Kettl, 2003; Carmen A L and Stittle J., 2014) Nhiều nghiên cứu khác cho rằng sự kém hiệu quả trong lĩnh vực công sẽ làm thâm hụt ngân sách xuất phát từ chi tiêu công quá nhiều Các học giả đã có cùng quan điểm cho rằng nếu không có đổi mới trong lĩnh vực công thì sự kém hiệu quả và kém hiệu lực trong lĩnh vực này sẽ không thể được loại bỏ (Osborne & Gaebler, 1992; Pollitt & Bouckaert, 2004)

Một số học giả nghiên cứu về đổi mới tại các nước đã tin rằng các quốc gia như Vương quốc Anh, New Zealand và Australia là những nước đi đầu thực hiện đổi mới và những quốc gia này đã đạt được nhiều thành tựu (Carlin, 2003; Carlin, 2006) Trong nhóm nghiên cứu này, nhiều học giả tin rằng những thay đổi về phương thức quản lý mới từ lĩnh vực tư nhân khi áp dụng vào lĩnh vực công như quản trị, kế toán, kiểm toán,… đã mang lại những thay đổi cho lĩnh vực công (Pilcher R., et al., 2013) Một số học giả khác khẳng định rằng các phương pháp đổi mới áp dụng như thuê ngoài (contracting out), thương mại hóa (commercialization), thành lập doanh nghiệp (corporatization), cổ phần hóa (privatization) là những giải pháp cải thiện tính hiệu quả và hiệu lực trong lĩnh vực công (Pham C., 2009)

Cổ phần hóa là một công cụ quan trọng khác của chương trình đổi mới trong lĩnh vực công được áp dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới, với nhiều thành tựu, đặc biệt tại Vương quốc Anh do chính phủ của Thủ tướng Thatcher

áp dụng vào những năm 1970 Cổ phần hóa làm tăng tính hiệu quả hoạt động của các đơn vị, loại bỏ việc trợ cấp, thu hút vốn đầu tư tư nhân,… Từ đầu

Trang 10

những năm 1980 của thế kỷ trước, chương trình cổ phần hóa đã lan rộng ra khắp thế giới và sâu rộng tới từng lĩnh vực của nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào áp dụng chương trình này (Megginson & Netter, 2001)

Cho tới nay có thể nói có nhiều nghiên cứu thực nghiệm tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của cổ phần hóa lên hiệu quả hoạt động của đơn vị công bằng cách xây dựng các bộ dữ liệu về các đơn vị tại một quốc gia, hoặc

bộ dữ liệu bao gồm các doanh nghiệp thuộc các ngành khác nhau từ các nước khác nhau Mặc dầu các nghiên cứu có khoảng thời gian khảo sát khác nhau,

dữ liệu khác nhau, phương pháp khác nhau nhưng nhiều kết quả nghiên cứu tương tự nhau Theo đó doanh nghiệp cổ phần hóa hoạt động hiệu quả hơn doanh nghiệp nhà nước, hơn doanh nghiệp hỗn hợp (ví dụ, Boardman and Vining (1992); Dewenter and Malatesta (2001); Wu and Parker (2007); Mathur and Banchuenvijit (2007))

Phương pháp phân tích thực nghiệm được đề cập và áp dụng nhiều cho đến hiện nay được thực hiện bởi Megginson, Nash và Randenborgh năm

1994 Các tác giả sử dụng thông tin kế toán trên các báo cáo tài chính của 61

DN cổ phần hóa từ 18 quốc gia và thuộc 32 ngành khác nhau và thực hiện việc so sánh tình hình tài chính trước và sau khi cổ phần hóa Các tác giả đã

đề xuất rằng sau khi cổ phần hóa các doanh nghiệp đã tăng doanh thu, tăng khả năng sinh lời (đo lường bởi tỷ suất ROS, ROA, ROE), tăng đầu tư vào tài sản cố định, tăng hiệu quả hoạt động (đo lường bởi tỷ suất doanh thu trên một lao động), giảm nợ, và tăng cổ tức phân chia

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm nêu trên đã được nhiều học giả tiếp tục áp dụng để xem xét tình hình tài chính của các DN tại các nước khác nhau theo các ngành nghề khác nhau, và kết quả nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu của Megginson và cộng sự Bảng 1 dưới đây tóm tắt các nghiên cứu của các học giả theo xu hướng này

Trang 11

Bảng 1: Tóm tắt kết quả nghiên cứu của các tác giả Stt Tác giả Mẫu

Tỷ suất sinh lợi tăng; Chi tiêu vốn tăng; Đầu ra không đổi; Đòn bẩy tài chính tăng; Chi trả cổ tức tăng

2

La porta &

Loper (1997)

218 DN ở Mexico

Tỷ suất sinh lợi tăng; Hiệu quả hoạt động tăng; Chi tiêu vốn không đổi; Đầu ra tăng; Đòn bẩy tài chính giảm; Chi trả cổ tức tăng

3 Bouraki

& Cosset

(1998)

79 DN ở 21 nước đang phát triển

Tỷ suất sinh lợi tăng; Hiệu quả hoạt động tăng; Chi tiêu vốn không đổi; Đầu ra tăng; Đòn bẩy tài chính giảm; Chi trả cổ tức tăng

Tỷ suất sinh lợi tăng; Hiệu quả hoạt động tăng; Chi tiêu vốn giảm; Đầu ra tăng; Đòn bẩy tài chính giảm; Chi trả cổ tức tăng

5

Aussen &

Jelic (2002)

154 DN ở 3 nước Ba Lan, Czech,

Hungary

Tỷ suất sinh lợi không tăng; Hiệu quả hoạt động giảm; Chi tiêu vốn không đổi; Đầu ra giảm; Đòn bẩy tài chính không đổi

Tỷ suất sinh lợi tăng; Chi tiêu vốn tăng; Đầu ra tăng; Chi trả cổ tức giảm

8

Wei và cộng

sự (2003)

208 DN ở Trung Quốc

Tỷ suất sinh lợi tăng; Hiệu quả hoạt động tăng; Chi tiêu vốn không đổi; Đầu ra tăng; Đòn bẩy tài chính giảm; Chi trả cổ tức tăng

9 Alipour

(2012) 35 DN ở Iran Tỷ suất sinh lợi tăng; Hiệu quả hoạt động

tăng; Chi tiêu vốn tăng; Đầu ra không đổi;

Trang 12

Đòn bẩy tài chính giảm; Chi trả cổ tức tăng

Nghiên cứu về đổi mới DNNN tại Việt Nam, các học giả cho rằng vào giữa những năm 1990, gần như tất cả các doanh nghiệp nhà nước thể hiện hoạt động kém hiệu quả Một ví dụ, theo nghiên cứu do IMF thực hiện, vào cuối năm

1997 chỉ có 40% các doanh nghiệp nhà nước hoạt động có lợi nhuận, 44% thường xuyên lỗ, và 16% số doanh nghiệp này luôn bị lỗ (IMF, 1999) Nhằm thay đổi tình trạng này, chính phủ Việt Nam đã quyết định tăng tốc cổ phần hóa, bắt đầu từ năm 1996, và kết quả là số lượng doanh nghiệp nhà nước chỉ còn 1,300 doanh nghiệp vào cuối năm 2012 (Thanh Lan, 2012)

Mặc dầu có nhiều học giả nghiên cứu nhưng không nhiều nghiên cứu thực nghiệm về kết quả tài chính của doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa Một

số học giả nhưWebster & Amin (1998) thông qua điều tra bằng bảng hỏi về

14 doanh nghiệp cổ phần hóa và phát hiện ra sự thay đổi theo hướng tích cực hơn về khả năng sinh lợi, giảm nợ, giảm số lượng lao động, nhiều khó khăn trong việc huy động vốn lưu động cho hoạt động (Webster & Amin, 1998) Hoặc Trần T.C và cộng sự (2006) đã thực hiện một cuộc điều tra 500 doanh nghiệp cổ phần hóa từ 15 tỉnh thành ở Việt Nam, và kết quả cũng cho rằng có sự cải thiện về doanh thu, lợi nhuận, số thuế phải nộp, hiệu quả sản xuất,… Một nghiên cứu có kết quả nổi bật là nghiên cứu do Truong và cộng sự (2006) thực hiện Tác giả đánh giá ảnh hưởng của cổ phần hóa lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam bằng việc sử dụng một mẫu nghiên cứu gồm 121 doanh nghiệp cổ phần hóa và sử dụng phương pháp nghiên cứu như Megginson và cộng sự (1994) Tác giả đã kết luận rằng sau khi cổ phần hóa, các doanh nghiệp cổ phần hóa Việt nam đã có sự cải thiện về khả năng sinh lợi, doanh thu, hiệu quả kinh doanh, và thu nhập của người lao động Các nghiên cứu này này đóng góp rất lớn và kiến thức tổng quan, tuy nhiên vẫn có những tồn tại về phương pháp nghiên cứu có thể ảnh hưởng tới

Trang 13

kết luận rút ra Cụ thể, một số nghiên cứu dựa vào mẫu nghiên cứu nhỏ (ví dụ Webster & Amin, 1998), hoặc dữ liệu thu thập bằng cách phỏng vấn từ những người quản lý cấp cao của doanh nghiệp cổ phần hóa nên vẫn có tính chủ quan cao (ví dụ, Truong và cộng sự, 2006) Không nghiên cứu nào trước kia

sử dụng dữ liệu là những báo cáo tài chính đã được kiểm toán Hơn nữa khoảng thời gian khảo sát của các nghiên cứu trước kia không dài nên không phản ánh được sự thay đổi rõ nét

Nghiên cứu của Viện Quản lý kinh tế TW (2012) đã chỉ ra rằng quá trình tái cơ cấu và cải cách DNNN là quá trình không thể bỏ qua của nền kinh tế Việt Nam đặc biệt trong giai đoạn hiện nay Để thực hiện thành công mục tiêu này, nghiên cứu đã chỉ ra một số vấn đề cốt lõi bao gồm: nhận thức đúng về chủ trương tái cơ cấu, kiên trì với mục tiêu đã đề ra, đào tạo đội ngũ lao động

để thích ứng với mô hình mới và với những vấn đề sau khi hoàn tất mục tiêu tái cơ cấu, xác định thời cơ hợp lý, phù hợp với chu kỳ hoạt động và kinh doanh của doanh nghiệp để tái cơ cấu đạt hiệu quả cao nhất

Một nghiên cứu khác của tác giả Đỗ Tiến Long (2013) nghiên cứu chung

về quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp đã minh chứng rằng quá trình tái cơ cấu DNNN đặc biệt quan trọng và tối cần thiết cho quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nói chung của toàn bộ nền kinh tế Một kết luận thú vị được đưa ra trong nghiên cứu là kinh nghiệm quốc tế cho thấy 70% các cuộc tái cơ cấu đã gặp thất bại và đặc biệt 85% nguyên nhân thất bại lại đến từ khả năng lãnh đạo và quản lý yếu kém Dựa trên kinh nghiệm quốc tế, tác giả cũng đã đưa ra những gợi ý cơ bản cho mô hình tái cơ cấu doanh nghiệp và DNNN cho Việt Nam

Tác giả Nguyễn Duy Nghĩa (2013) lại nghiên cứu vấn đề này dưới một góc nhìn khác biệt: từ thể chế và pháp luật Nghiên cứu đưa ra ba vấn đề cơ bản nhất cho quá trình tái cơ cấu DNNN bao gồm: vấn đề thoái vốn, vấn đề thống nhất quyền sở hữu vốn của Nhà Nước ở các doanh nghiệp và áp dụng quản trị công ty

Trang 14

hiện đại theo nguyên tắc và thông lệ quốc tế Trong các vấn đề được đưa ra thì tác giả nhấn mạnh vào vấn đề thoái vốn và cho rằng đây là tâm điểm quan trọng nhất của quá trình tái cấu trúc DNNN ở Việt Nam Tác giả cho rằng, việc chuyển dịch đáng kể một khối lượng vốn sang khu vực tư nhân sẽ có tác động tích cực tới lợi ích của quá trình phân bổ nguồn lực cho quốc gia và cần sự tham gia tích cực của toàn xã hội để tái cấu trúc DNNN thành công

Một nghiên cứu khá mới của Trung tâm Thông tin-Tư liệu (2014) về vấn

đề tái cấu trúc DNNN đã phân tích thực trạng của quá trình này trong khoảng thời gian từ sau năm 2011 Nghiên cứu cũng tổng kết những khó khăn và thuận lợi của quá trình tái cơ cấu DNNN và đưa ra những khuyến nghị cụ thể nhằm tăng hiệu quả và đẩy nhanh tốc độ của quá trình này Giải pháp đưa ra được nghiên cứu trên cơ sở tái cơ cấu DNNN theo ngành, theo lĩnh vực hoạt động của DNNN, theo vị trí chi phối độc quyền của DNNN và tái cơ cấu cả vai trò mang tính chính sách của DNNN đối với thị trường

Nhìn chung, những nghiên cứu về vấn đề tái cơ cấu DNNN đều khẳng định tính đúng đắn và cấp thiết của quá trình này và dù tiếp cận theo cách này hay cách khác thì mọi giải pháp đều hướng tới mục tiêu đẩy nhanh tốc độ tái

cơ cấu và gia tăng hiệu quả của quá trình tái cơ cấu các DNNN để thúc đẩy các hoạt động kinh tế Những nghiên cứu về cổ phần hóa trong thời điểm hiện nay tuy không phải là hoàn toàn mới mẻ nhưng rất cần thiết Đi sâu vào từng vấn đề của cổ phần hóa DNNN thì nhiều nghiên cứu cũng đã được thực hiện

và thu được những kết quả đáng chú ý

Đi sâu vào vấn đề cổ phần hóa nhằm thu hẹp khu vực doanh nghiệp Nhà Nước, PGS.TS Ngô Quang Minh (2001) đã chủ nhiệm một đề tài nghiên cứu cấp Bộ phân tích kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về vấn đề CPH DNNN và phân tích tính khả thi của việc áp dụng kinh nghiệm đó vào điều kiện Việt Nam Đánh giá tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, khảo

Trang 15

sát tình hình và kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước đã

cổ phần hóa, trên cơ sở đó đề tài đưa ra một số quan điểm định hướng và giải pháp chung nhất mang tính chiến lược cho sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước trong thời gian tiếp theo

Trong khoảng 10 năm gần đây, tại các nước Đông Âu và Trung Quốc có khá nhiều công trình bàn về DNNN và tư nhân hóa, cổ phần hóa DNNN Các công trình của Đông Âu chủ yếu bàn về quá trình thay đổi vị trí, vai trò, tỷ trọng khu vực DNNN gắn với quá trình cải cách chuyển đổi kinh tế Có thể kể

ra những công trình tiêu biểu như: D Sachs (tác phẩm "Tư nhân hóa ở Đông Âu"), A Rađưgin (Quá trình tư nhân hóa ở Nga) và trên các tạp chí chuyên ngành của Nga có hàng loạt các bài nghiên cứu về diễn biến quá trình tư nhân hóa, ảnh hưởng của tư nhân hóa, các hình thức tư nhân hóa Tài liệu Trung Quốc có công trình tiêu biểu là “Bàn về cải cách toàn diện DNNN" do Trương Văn Bân chủ biên (đã dịch ra tiếng Việt: NXB CTQG H 1996) Bức tranh nghiên cứu về DNNN, cổ phần hóa, tư nhân hóa ở các nước là một bức tranh đa màu sắc với nhũng quan điểm rất khác nhau và thường gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể Do vậy, mỗi nghiên cứu sẽ đều mang tính chất tham khảo và như một mảnh ghép cho chúng ta cái nhìn toàn diện về quá trình tái cấu trúc DNNN ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua

Ngoài ra, vấn đề DNNN thoái vốn khỏi các lĩnh vực kinh doanh mà DNNN không cần nắm giữ và vấn đề nâng cao năng lực quản trị tại các DNNN cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.Bài viết của Phạm Thị Phương Anh trên tạp chí Tài Chính (2015) với nội dung “Thoái vốn Nhà Nước tại doanh nghiệp: Cần giải pháp mạnh” đã khẳng định tầm quan trọng của vấn đề thoái vốn và khẳng định rằng nhiệm vụ đến hết năm 2015 để đạt được mục tiêu thoái vốn thì vẫn còn gian nan trong quá trình thực hiện Tác giả đã chỉ ra kết quả thoái vốn có thành công hay không còn phụ thuộc vào tính thanh khoản của cổ phiếu Nhiều cổ phiếu

Trang 16

không có giao dịch hoặc giao dịch rất ít, chỉ khoảng 2000 cổ phiếu/phiên giao dịch Đặc biệt là cổ phiếu OTC chưa lên sàn thì việc thoái vốn lại càng khó khăn Một số tổng công ty đã không thoái vốn thành công Ba giải pháp được nhấn mạnh nhằm thúc đẩy quá trình thoái vốn bao gồm :

Cách thức thứ nhất: DNNN có thể tự tìm cách bán phần vốn ấy, thậm

chí thoái vốn đầu tư dưới mệnh giá hoặc dưới giá trị sổ sách kế toán của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi khoản dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính theo quy định và trên cơ sở phương án thoái vốn đã được chủ sở hữu xem xét, quyết định;

Cách thức thứ hai: Việc thoái vốn tại các Công ty đầu tư tài chính, các

ngân hàng thương mại của các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, có thể giao các ngân hàng thương mại Nhà nước mua lại hoặc chuyển Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam làm đại diện chủ sở hữu

Cách thức thứ ba: Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước

(SCIC) xem xét, mua lại các khoản đầu tư ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, công ty 100% vốn nhà nước vào lĩnh vực bảo hiểm, ngân hàng sau khi đã thực hiện các biện pháp nêu tại Nghị quyết này mà thoái vốn không thành công và các lĩnh vực khác theo chức năng, nhiệm vụ được giao

Về vấn đề thoái vốn đầu tư ngoài ngành, tác giả Nguyễn Đình Cung ( 2013) trên tạp chí Công Thương cũng đã nêu lên quan điểm: Thể chế tạo sức

ép và đòn bẩy để doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chế thị trường sẽ tạo động lực thúc đẩy hoạt động thoái vốn ngoài ngành, mở cơ hội cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư ngoài nhà nước Tác giả đã nhấn mạnh vào vấn đề thay đổi một cách căn bản quan niệm hiện hành về bảo toàn và phát triển vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp Bên cạnh đó, ban hành mới các quy định

về thoái vốn, gồm thẩm quyền quyết định việc thoái vốn, cách thức định giá,

Trang 17

cách thức tìm kiếm và lựa chọn người đầu tư, trình tự và thủ tục quyết định trong việc thoái vốn, cơ chế kiểm tra, giám sát, công bố và công khai hóa thông tin… thay thế toàn bộ các quy định hiện hành liên quan đến thoái vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước

Quản trị chiến lược, tài chính và nhân lực là những yếu tố quan trọng tạo nên hiệu quả, thành công, phát triển bền vững của doanh nghiệp nhà nước nhất là trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam hiện nay Hiện nay, các DNNN vẫn chiếm giữ những vị trí

vô cùng quan trọng trong những ngành, lĩnh vực then chốt hay các lĩnh vực đòi hỏi công nghệ cao, an ninh, quốc phòng hoặc tại các địa bàn trọng yếu mà Nhà Nước cần nắm giữ Mặc dù vậy, hiệu quả hoạt động của các DNNN còn quá nhiều yếu kém mà xuất phát từ năng lực quản trị chưa tốt, chưa tương xứng với các nguồn lực mà Nhà Nước dành cho

Nghiên cứu của Hoàng Anh Duy và Lê Việt Anh (2013) trên Tạp chí Kinh tế đối ngoại, có đưa ra vấn đề quản trị DNNN sau cổ phần hóa Số liệu của nghiên cứu đưa ra cho thấy rằng cổ phần hóa tạo ra cơ hội để nâng cao chất lượng của hoạt động quản trị chiến lược đặc biệt cho các DNNN.Tuy nhiên, trên thực tế, các DNNN chưa thực hiện tốt điều này và chưa nhận thức cũng như tranh thủ được cơ hội để nâng cao chất lượng quản trị của mình Nghiên cứu cho thấy 62,5% các DNNN sau khi được cổ phần hóa vẫn giữ nguyên chiến lược của mình, đa số các doanh nghiệp mới chỉ tập trung vào việc hoạch định chiến lược ngắn hạn và trung hạn ( dưới 5 năm) và chỉ có 37,5% doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh dài hạn (trên 5 năm) Quá trình đầu tư sau tái cơ cấu cũng là khó khăn đối với nhiều DNNN Đa phần các doanh nghiệp này khó huy động được vốn đầu tư và khoảng 50% số doanh nghiệp cho biết lĩnh vực đầu tư của họ giữ nguyên, 50% còn lại có

xu hướng tăng với danh mục đầu tư khoảng từ 1-30 danh mục

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 18

+ Tổng kết quá trình tái cơ cấu khu vực DNNN do Chính phủ đề xuất từ năm 2011 để tìm ra những mặt được và chưa được của chương trình này + Nghiên cứu sẽ đặt mục tiêu tái cơ cấu khu vực DNNN trong mục tiêu tổng thể tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam: đó là phát triển nền kinh tế thị trường cạnh tranh lành mạnh và hiệu quả nhằm tạo động lực phát triển và đảm bảo an sinh xã hội Trên cơ sở đó, xác định những chức năng và nhiệm vụ cụ thể của khu vực DNNN sau khi quá trình tái cơ cấu hoàn thành

+ Đánh giá hiệu quả của các DNNN trước và sau tái cơ cấu thông qua một số chỉ tiêu cụ thể

+ Đề xuất những giải pháp thiết thực cho việc đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu khu vực DNNN

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đề tài sẽ đánh giá việc thực hiện chương trình tái cấu trúc khu vực DNNN ở Việt Nam từ năm 2011 đến 2015 theo ba nội dung: (i) đẩy mạnh cổ phần hóa để thu hẹp khu vực DNNN, (ii) các DNNN thoái vốn khỏi các lĩnh vực kinh doanh mà DNNN không cần nắm giữ, và (iii) nâng cao năng lực

quản trị tại các DNNN

5 Phương pháp nghiên cứu

+ Sử dụng những phương pháp chủ yếu trong khoa học xã hội gồm phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp thống kê mô

tả, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp

+ Sử dụng phương pháp chuyên gia và phỏng vấn sâu một số chuyên gia, một số nhà quản lý có vai trò quan trọng và trực tiếp tham gia vào quá trình tái cơ cấu DNNN

+ Bên cạnh đó, đề tài sẽ sử dụng các công cụ thống kê, biểu đồ, mô hình hoá phổ biến để phân tích và chứng minh cho các nhận định và quan điểm học thuật Cụ thể, để đánh giá về hiệu quả hoạt động của các DNNN trước và sau

Trang 19

tái cơ cấu , chúng tôi sẽ sử dụng mẫu nghiên cứu từ các DNNN đã cổ phần hóa Để đánh giá về hiệu quả, chúng tôi sử dụng các nhóm tiêu chí như sau: (1) Khả năng sinh lợi và quản lý chi phí, (2) Hiệu quả sử dụng vốn lưu động, (3) Khả năng thanh toán, (4) Hiệu quả hoạt động, (5) Tốc độ thoái vốn Các nhóm chỉ tiêu cơ bản này sẽ được cụ thể hóa thành những chỉ tiêu nhỏ hơn để

đo lường chính xác và toàn diện hơn Phần mềm SPSS sẽ được sử dụng cho các kiểm định thống kê Nếu mẫu nghiên cứu thu thập được lớn hơn 50 thì chúng tôi sẽ sử dụng kiểm định Kolmogorov-Smirnov, nếu mẫu khá nhỏ (nhỏ hơn 50 mẫu quan sát) thì chúng tôi áp dụng kiểm định Shapiro-Wilk để kiểm định sự phân bố chuẩn của các biến mẫu nghiên cứu Nếu kết quả cho thấy các biến không tuân thủ quy luật phân phối chuẩn, để đánh giá sự thay đổi của các biến nghiên cứu, chúng tôi phải áp dụng phương pháp kiểm định phi tham

số (non-paramtric testing) cho kết quả phân tích (Field, 2005) Kiểm định phi tham số thứ nhất được áp dụng là kiểm định Friedman Nếu kiểm định Friedman khẳng định có sự thay đổi giá trị trung bình của biến nghiên cứu qua các điểm thời gian, tác giả sẽ áp dụng kiểm định Wilcoxon Signed Rank (Field, 2005; Pallant, 2007) để xác định chính xác kết quả khác biệt

6 Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu của đề tài được

chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tái cơ cấu Doanh nghiệp nhà nước

Chương 2: Thực trạng tái cơ cấu Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam Chương 3: Giải pháp cho quá trình tái cơ cấu Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

Trang 20

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁI CƠ CẤU

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1.1 KHÁI NIỆM CHUNG

1.1.1 Doanh nghiệp Nhà Nước

Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) luôn giữ vai trò quan trọng trong điều tiết nền kinh tế ở hầu hết các quốc gia Mỗi quốc gia cũng đưa ra khái niệm,

vị trí, vai trò khác nhau của DNNN Tuy nhiên, có một điểm chung đó là DNNN là các doanh nghiệp do Nhà nước thành lập và kiểm soát

Ở Việt Nam, khái niệm về DNNN có sự thay đổi trong các giai đoạn khác nhau Theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003, Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công

ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Theo đó, các DNNN bao gồm:

Công ty nhà nước là DN do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành

lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp Nhà nước Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước

Công ty cổ phần nhà nước là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các

công ty nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp

Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là công ty

trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp

Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên là

công ty trách nhiệm hữu hạn trong đó tất cả các thành viên đều là công ty nhà

Trang 21

nước hoặc có thành viên là công ty nhà nước và thành viên khác là tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp

Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước là doanh

nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó

Doanh nghiệp có một phần vốn của Nhà nước là doanh nghiệp mà

phần vốn góp của Nhà nước trong vốn điều lệ chiếm từ 50% trở xuống

Công ty nhà nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác là công ty sở

hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chiếm trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp khác, giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó

Công ty nhà nước độc lập là công ty nhà nước không thuộc cơ cấu tổ

chức của tổng công ty nhà nước

Theo Nghị định 99/2012/NĐ-CP về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước (SOE): SOE là doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, bao gồm doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; và doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 (có hiệu lực từ 01/7/2015), Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Quy

định này làm thay đổi số lượng DNNN và tác động tích cực tới quá trình cổ phần hóa và thoái vốn tại các DN đang có vốn góp của Nhà nước

Ở Việt Nam, các DNNN cũng đã khẳng định được vai trò then chốt, điều tiết nền kinh tế trong thời gian qua Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do nảy sinh nhiều tiêu cực trong quá trình hoạt động khiến cho các DNNN hoạt động

Trang 22

không thực sự hiệu quả Đồng thời, cùng với yêu cầu tất yếu là đổi mới mô hình tăng trưởng từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, chú trọng vào việc gia tăng năng suất các yếu tố đầu vào, việc cơ cấu lại khu vực DNNN theo hướng giảm bớt sự tham gia theo chiều rộng của khu vực công vào nền kinh tế là một nhiệm vụ tất yếu

1.1.2 Tái cơ cấu Doanh nghiệp nhà nước

Theo Đề án Tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 - 2020, được ban hành theo Quyết định 339/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19 tháng 2 năm 2013, trọng tâm tái cơ cấu kinh tế gồm

3 trụ cột:

Thứ nhất, tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm là đầu tư công

Thứ hai, tái cơ cấu hệ thống tài chính – ngân hàng, trọng tâm là các tổ

chức tín dụng

Thứ ba, tái cơ cấu doanh nghiệp, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công

ty nhà nước

Như vậy, tái cơ cấu DNNN chính là một trong 3 vấn đề trụ cột trong tái

cơ cấu toàn bộ nền kinh tế Tái cơ cấu DNNN mang ý nghĩa quan trọng chiến lược để thực hiện thành công mục tiêu tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế

Cũng theo Đề án “339”, tái cơ cấu DNNN được hiểu là quá trình phân loại, sắp xếp lại các DNNN để tập trung vào một số lĩnh vực chính như quốc phòng, các ngành độc quyền tự nhiên hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ thiết yếu và một

số ngành công nghệ cao có sức lan tỏa lớn; đẩy mạnh cổ phần hóa và đa dạng hóa hình thức sở hữu doanh nghiệp, cơ cấu lại danh mục đầu tư, ngành nghề kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, thoái vốn nhà nước tại những ngành kinh doanh không phải ngành chính nhằm tập trung vốn nhà nước

Trang 23

vào những ngành then chốt, giảm tình trạng đầu tư dàn trải ngoài ngành

Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở việc sắp xếp lại các DNNN, tái cơ cấu DNNN còn là quá trình cải tiến khung quản trị cho DNNN theo hướng hiện đại, theo đúng cơ chế thị trường, đảm bảo cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác Đồng thời, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân có sức cạnh tranh tốt trên thị trường trong nước và quốc tế

1.2 TÍNH CẤP THIẾT CỦA TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Về mặt lý luận và thực tiễn, đã có rất nhiều nghiên cứu khẳng định tính tất yếu của quá trình tái cơ cấu lại các DNNN Các nhà nghiên cứu cho rằng vào giữa những năm 1990, gần như tất cả các doanh nghiệp nhà nước thể hiện hoạt động kém hiệu quả Theo nghiên cứu do IMF thực hiện, vào cuối năm

1997 chỉ có 40% các doanh nghiệp nhà nước hoạt động có lợi nhuận, 44% thường xuyên lỗ, và 16% số doanh nghiệp này luôn bị lỗ (IMF, 1999)

Nghiên cứu của Viện Quản lý kinh tế TW (2012) đã chỉ ra rằng quá trình tái cơ cấu và cải cách DNNN là quá trình không thể bỏ qua của nền kinh tế Việt Nam đặc biệt trong giai đoạn hiện nay Để thực hiện thành công mục tiêu này, nghiên cứu đã chỉ ra một số vấn đề cốt lõi bao gồm: nhận thức đúng về chủ trương tái cơ cấu, kiên trì với mục tiêu đã đề ra, đào tạo đội ngũ lao động

để thích ứng với mô hình mới và với những vấn đề sau khi hoàn tất mục tiêu tái cơ cấu, xác định thời cơ hợp lý, phù hợp với chu kỳ hoạt động và kinh doanh của doanh nghiệp để tái cơ cấu đạt hiệu quả cao nhất

Một nghiên cứu khác của tác giả Đỗ Tiến Long (2013) nghiên cứu chung

về quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp đã minh chứng rằng quá trình tái cơ cấu DNNN đặc biệt quan trọng và tối cần thiết cho quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nói chung của toàn bộ nền kinh tế Một kết luận thú vị được đưa ra trong nghiên cứu là kinh nghiệm quốc tế cho thấy 70% các cuộc tái cơ cấu đã gặp thất bại và

Trang 24

đặc biệt 85% nguyên nhân thất bại lại đến từ khả năng lãnh đạo và quản lý yếu kém Dựa trên kinh nghiệm quốc tế, tác giả cũng đã đưa ra những gợi ý cơ bản cho mô hình tái cơ cấu doanh nghiệp và DNNN cho Việt Nam

Tác giả Nguyễn Duy Nghĩa (2013) lại nghiên cứu vấn đề này dưới một góc nhìn khác biệt: từ thể chế và pháp luật Nghiên cứu đưa ra ba vấn đề cơ bản nhất cho quá trình tái cơ cấu DNNN bao gồm: vấn đề thoái vốn, vấn đề thống nhất quyền sở hữu vốn của Nhà Nước ở các doanh nghiệp và áp dụng quản trị công ty hiện đại theo nguyên tắc và thông lệ quốc tế Trong các vấn đề được đưa ra thì tác giả nhấn mạnh vào vấn đề thoái vốn và cho rằng đây là tâm điểm quan trọng nhất của quá trình tái cấu trúc DNNN ở Việt Nam Tác giả cho rằng, việc chuyển dịch đáng kể một khối lượng vốn sang khu vực tư nhân sẽ có tác động tích cực tới lợi ích của quá trình phân bổ nguồn lực cho quốc gia và cần sự tham gia tích cực của toàn xã hội để tái cấu trúc DNNN thành công

Một nghiên cứu khá mới của Trung tâm Thông tin-Tư liệu (2014) về vấn

đề tái cấu trúc DNNN đã phân tích thực trạng của quá trình này trong khoảng thời gian từ sau năm 2011 Nghiên cứu cũng tổng kết những khó khăn và thuận lợi của quá trình tái cơ cấu DNNN và đưa ra những khuyến nghị cụ thể nhằm tăng hiệu quả và đẩy nhanh tốc độ của quá trình này Giải pháp đưa ra được nghiên cứu trên cơ sở tái cơ cấu DNNN theo ngành, theo lĩnh vực hoạt động của DNNN, theo vị trí chi phối độc quyền của DNNN và tái cơ cấu cả vai trò mang tính chính sách của DNNN đối với thị trường

Nhìn chung, những nghiên cứu về vấn đề tái cơ cấu DNNN đều khẳng định tính đúng đắn và cấp thiết của quá trình này và dù tiếp cận theo cách này hay cách khác thì mọi giải pháp đều hướng tới mục tiêu đẩy nhanh tốc độ tái

cơ cấu và gia tăng hiệu quả của quá trình tái cơ cấu các DNNN để thúc đẩy các hoạt động kinh tế

1.2.1 Mục tiêu của quá trình tái cơ cấu DNNN

Trang 25

Theo “Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 – 2015”, tái cơ cấu DNNN nhằm đạt 2 mục tiêu cơ bản:

Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu hợp lý hơn, tập trung vào

ngành, lĩnh vực then chốt, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho

xã hội và quốc phòng, an ninh, làm nòng cốt để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô Mục tiêu này hướng đến thu hẹp sự tham gia của các DNNN trong nền kinh tế, tập trung vốn nhà nước vào những lĩnh vực then chốt bao gồm: quốc phòng, an ninh; xuất bản; thủy nông; bảo đảm an toàn giao thông; xổ số kiến thiết; sản xuất, phân phối điện quy mô lớn đa mục tiêu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh; quản lý, khai thác hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đô thị; các cảng hàng không; cảng biển loại I; in, đúc tiền

Thứ hai, nâng cao sức cạnh tranh, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

đối với doanh nghiệp kinh doanh; hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, quốc phòng, an ninh đối với doanh nghiệp hoạt động công ích

Đây cũng là xu hướng chung của các quốc gia khi thu hẹp vai trò của chính phủ trong các hoạt động kinh tế, khuyến khích sự tham gia của khu vực

tư nhân, khuyến khích cạnh tranh theo cơ chế thị trường Đồng thời, hai mục tiêu này cũng phản ánh đúng chủ trương chuyển đổi mô hình kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu, nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN

1.2.2 Nội dung của quá trình tái cơ cấu DNNN

Vấn đề tái cơ cấu DNNN đang là nhiệm vụ trọng tâm của nền kinh tế Việt Nam hiện nay Đã có nhiều văn bản dưới luật được đưa ra nhằm hướng dẫn thực thi quá trình tái cơ cấu các DNNN Quyết định số 929/QĐ-TTg của

Trang 26

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 17/7/2012 về “Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 – 2015” với mục tiêu cơ cấu lại DNNN hợp lý hơn, tập trung vào ngành then chốt, nâng cao năng lực cạnh tranh, cung ứng các dịch vụ công ích thiết yếu Kỳ họp thứ 6 Quốc hội Khóa XIII vào cuối năm 2013, nhiều đại biểu Quốc hội đề xuất thành lập một Ủy ban Quốc gia về tái cơ cấu kinh tế, trong Ủy ban đó ngoài đại diện giới hành pháp cần có sự tham gia của nhiều giai tầng khác trong xã hội, ví dụ đại diện cơ quan dân cử, giới chuyên gia, kiểm toán, luật sư và các giai tầng khác trong xã hội; Nghị định số 99/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN và Nhà nước đầu tư vốn vào doanh nghiệp; Nghị định số 61/2013/NĐ-CP ngày 25/6/2013 của Chính phủ về quy chế giám sát tài chính và đánh giá kết quả hoạt động và công khai thông tin tài chính đối với DNNN do Nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước; Nghị định số 71/2013/NĐ-CP

về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

Trong đó, “Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 – 2015” tập trung vào 6 nhiệm vụ trọng tâm:

(i) Thoái vốn: nhằm chấm dứt tình trạng đầu tư dàn trải ngoài ngành và

hoàn thành việc thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có dưới 50% vốn nhà nước;

(ii) Quản trị tiên tiến: áp dụng chế độ quản trị tiên tiến theo cơ chế thị

trường;

(iii) Minh bạch chức năng điều tiết chính sách: chức năng hỗ trợ điều tiết

vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội của doanh nghiệp phải được đổi mới và thay thế

Trang 27

bằng cơ chế đặt hàng của Nhà nước, được hạch toán theo cơ chế thị trường;

(iv) Kết thúc thí điểm tập đoàn: kết thúc việc thực hiện chủ trương thí

điểm tập đoàn kinh tế nhà nước từ năm 2005; chuyển một số tập đoàn kinh tế Nhà nước thành tổng công ty Cơ cấu lại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước lớn; tăng cường vai trò và sự giám sát, kiểm tra của đại diện chủ sở hữu nhà nước, nhất là trong việc phê duyệt điều lệ, quyết định chiến lược phát triển sản xuất, kinh doanh, quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp;

(v) Tăng trách nhiệm của các hội đồng quản trị: nêu cao vai trò và

trách nhiệm của hội đồng quản trị, hội đồng thành viên và ban thường vụ đảng ủy’;

(vi) Thống nhất chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước: nghiên cứu

hình thành tổ chức thực hiện thống nhất chức năng đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước Trước mắt, tập trung soát xét, điều chỉnh sự phân cấp, phân công giữa Chính phủ và các bộ, ngành, chính quyền các địa phương trong việc thực hiện chức năng của cơ quan đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước cấp trên của hội đồng quản trị, hội đồng thành viên mà không trực tiếp chỉ đạo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Tái cơ cấu DNNN thực hiện theo quy trình gồm 3 bước:

- Bước đầu tiên xây dựng, ban hành một đề án chung có tính chất khung

về định hướng tái cơ cấu chung các DNNN đó là đề án khung “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 - 2015” Đề án này đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 ( gọi tắt là Đề án “929”)

- Bước thứ hai là xây dựng, phê duyệt các đề án tổng thể về sắp xếp, đổi mới DNNN Các đề án tổng thể này do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đối với từng Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, tập đoàn kinh tế nhà nước Đến tháng 8/2013 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt các đề án tái cơ cấu (sắp xếp, đổi

Trang 28

mới) DNNN của các bộ, ngành, địa phương giai đoạn 2011 - 2015

- Bước thứ ba, ở mức chi tiết hơn, là xây dựng các đề án cụ thể tái cơ cấu từng doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty Trên cơ sở các đề án tổng thể tái

cơ cấu DNNN của các bộ, ngành, địa phương giai đoạn 2011 - 2015 các doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty đã tiến hành rà soát, phân loại, xác định danh mục ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh chính, ngành nghề có liên quan, ngành nghề không liên quan, xây dựng kế hoạch cổ phần hoá, xây dựng đề án tái cơ cấu DNNN Đề án “929” có vai trò làm nền móng và định hướng chung cho các Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng đề án tổng thể tái cơ cấu các DNNN thuộc Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quản lý trình Thủ tướng phê duyệt Sau đó các doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty dựa vào đề án tổng thể để xây dựng đề án tái cơ cấu cụ thể trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Mục tiêu dài hạn của Đề án “929” là hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN, trong trung hạn là thực hiện 2 mục tiêu

chính Thứ nhất, tái cơ cấu để DNNN tập trung vào ngành, lĩnh vực then chốt,

cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội và quốc phòng, an ninh, làm nòng cốt để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế và

ổn định kinh tế vĩ mô Thứ hai, nâng cao sức cạnh tranh và tỷ suất lợi nhuận

trên vốn chủ sở hữu (đối với doanh nghiệp kinh doanh), và hoàn thành nhiệm

vụ sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, quốc phòng, an ninh (đối với doanh nghiệp hoạt động công ích)

Có thể thấy, đề án đã đặt nhiều sự quan tâm vào vấn đề chủ sở hữu - người đại diện trong các DNNN Đây chính là nút thắt trong vấn đề hiệu quả hoạt động của các DNNN

1.3 MỘT SỐ NHÂN TỐ KINH TẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỐC ĐỘ TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Trang 29

Yếu tố thứ nhất là xuất phát điểm khác nhau của các DNNN khi thực

hiện tái cơ cấu Trên thực tế, mỗi DNNN lại bắt đầu tái cơ cấu từ các xuất

phát điểm khác nhau Nhiều doanh nghiệp về cơ bản kinh doanh có hiệu quả nhưng nhiều doanh nghiệp gặp những vấn đề tài chính nghiêm trọng, rủi ro tài chính cao và đầu tư ra ngoài ngành lớn Như vậy, những doanh nghiệp không

có các vấn đề tài chính nghiêm trọng sẽ tái cấu trúc nhanh hơn và thuận lợi hơn những tập đoàn, tổng công ty có nhiều vấn đề phức tạp Những DNNN có khó khăn về tài chính sẽ phải dựa vào sự giúp đỡ và hỗ trợ lớn từ Chính phủ, tuy nhiên, trong bối cảnh ngân sách hạn hẹp khả năng huy động vốn kém hiệu quả trong thời gian gần đây khiến các DNNN rơi vào tình trạng khó khăn nhiều hơn khi muốn tái cơ cấu Ngược lại, những DNNN khác không gặp phải những vấn đề quá lớn về tài chính sẽ dễ dàng thực hiện được mục tiêu tái

cơ cấu theo đúng định hướng của Chính Phủ

Yếu tố thứ hai là việc tái cơ cấu các dự án đầu tư ngoài ngành quá lớn

Thực tế thì việc đầu tư ngoài ngành tiềm ẩn khá nhiều rủi ro cho các DNNN và trên thực tế hoạt động đầu tư ngoài ngành cũng tạo ra những khoản nợ khổng lồ cho các DNNN ở Việt Nam Do vậy, mức độ thành công của tái cấu trúc phụ thuộc phần lớn vào việc tổng công ty có tái cấu trúc thành công những khoản đầu tư lớn kém hiệu quả hay không Thực tế trọng điểm những khó khăn tài chính của các tập đoàn, tổng công ty thường xuất phát từ một vài dự án quy mô rất lớn nhưng kém hiệu quả Vì vậy, kết quả tổng thể của tái cấu trúc phụ thuộc quyết định vào việc các tổng công ty có giải quyết được việc thoái vốn ở những dự án này không Những dự án đầu tư ngoài ngành lại càng khó thoái vốn hiệu quả vì đa phần những ngành đầu tư đem lại nguồn lợi lớn trong ngắn hạn lại chứa đựng tiềm ẩn rủi ro lớn cũng như khả năng tăng trưởng không vững chắc Giải quyết vấn đề này đã làm chậm tốc độ tái cơ cấu của DNNN

Yếu tố thứ ba là khả năng hỗ trợ tín dụng của các định chế tài chính Với

Trang 30

những tổng công ty gặp những vấn đề tài chính nghiêm trọng như kinh doanh kém hiệu quả, hệ số nợ cao và đầu tư ngoài ngành lớn, sự hỗ trợ tín dụng của các định chế tài chính sẽ đóng vai trò quyết định đến khả năng thành công của quá trình tái cấu trúc Nếu DNNN trong quá trình tái cơ cấu gặp thuận lợi là được sự hỗ trợ của tập đoàn mẹ và các định chế tài chính về tín dụng, thì tăng khả năng DNNN có thể hoàn thành đúng tiến độ, bảo đảm kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình Ngược lại, trong suốt quá trình tái cơ cấu nếu DNNN không nhận được sự hỗ trợ của các ngân hàng trong trong việc cung cấp các khoản cho vay mới thì DN sẽ phải dành phần lớn số tiền từ tái cấu trúc (bán dự án, phát hành cổ phiếu) để trả nợ ngân hàng Điều này khiến cho dòng tiền

bị cạn kiệt, thiếu vốn đầu tư kịp thời vào các dự án dẫn đến chậm tiến độ

Yếu tố thứ tư là sự ổn định của thị trường đầu ra Nếu như DNNN tái cấu

trúc trong bối cảnh thị trường đầu ra thuận lợi và tăng trưởng, cơ hội thành công

sẽ cao và tiến độ tái cơ cấu sẽ diễn ra nhanh hơn Thị trường đầu ra được đảm bảo sẽ khiến các DNNN có thể có doanh thu lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho tái

cơ cấu Tuy nhiên, thị trường đầu ra khá biên động nên bảo đảm thị trường đầu

ra cần sự hỗ trợ của Chính Phủ hoặc thị trường đầu ra được đảm bảo bởi các dự

án lớn của Nhà nước Ngược lại, tái cơ cấu trong bối cảnh nhu cầu hàng hóa suy giảm, thị trường hạn hẹp và gặp cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ trong khu vực,

sẽ gây khó khăn rất lớn cho quá trình tái cơ cấu

Yếu tố cuối cùng không thể thiếu là sự thuận lợi của thị trường chứng

khoán cũng khiến quá trình tái cơ cấu DNNN diễn ra với tốc độ nhanh hơn

Quá trình tái cấu trúc đòi hỏi phải huy động vốn từ thị trường chứng khoán cũng như thoái vốn các khoản đầu tư qua thị trường chứng khoán Vì vậy, tình hình thị trường chứng khoán tác động rất lớn đến kế hoạch tái cơ cấu của các DNNN Khi thị trường chứng khoán tiến triển tốt thì việc tăng vốn và thoái vốn thuận lợi sẽ giúp tổng công ty tái cấu trúc hiệu quả

Trang 31

Trên thực tế, các yếu tố kinh tế và mỗi chính sách kinh tế của Chính Phủ đều ít nhiều có tác động đến quá trình tái cơ cấu DNNN tùy mức độ Mỗi tác động này có thể là trực tiếp, gián tiếp, tác động mạnh hay yếu nhưng mọi sự chuyển động của nền kinh tế đều có thể làm nhanh hoặc chậm lại tốc độ tái cơ cấu này Trên đây đã chỉ ra một vài nhân tố trực tiếp và điển hình có ảnh hưởng đến tái cơ cấu DNNN nhằm mục đích có thể đánh giá thực trạng và tìm kiếm những giải pháp hữu hiệu nhất bảo đảm chất lượng, hiệu quả và đẩy nhanh tốc độ tái cơ cấu

1.4 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH TÁI

CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1.4.1 Kinh nghiệm tái cấu trúc khu vực DNNN tại các nước OECD

Hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới bắt đầu tiến hành việc thu hẹp khu vực DNNN kể từ thập niên 1980 Anh và Mỹ là các quốc gia đi đầu, sau

đó lan rộng sang khắp các nước khác Các nước có truyền thống phúc lợi xã hội như Bắc Âu cũng tiến hành giảm số lượng và cải cách mạnh mẽ khu vực DNNN trong thập niên 1990 Các nước chuyển đổi thuộc khu vực xã hội chủ nghĩa cũ ở Đông Âu và Liên Xô đã tiến hành những đợt tư nhân hóa hệ thống DNNN ở quy mô lớn Ở Châu Á, từ Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản,

Hàn Quốc, cho tới Singapore đều thực hiện những bước tương tựKinh nghiệm tư nhân hoá khu vực DNNN tại các nước OECD

Đến đầu thập niên 2000, hơn 100 quốc gia đã tiến hành các chính sách

tư nhân hóa, dù ở các mức độ khác nhau Tổng giá trị tài sản nhà nước được thực hiện tư nhân hóa đã lên tới hơn 1 nghìn tỷ USD, trong đó hơn ¾ là ở các nước thành viên OECD

Trong quá trình tư nhân hóa, Chính phủ ở các nước OECD thường đặt ra nhiều mục tiêu: (1) thắt chặt kỷ luật tài khóa và kiểm soát chi tiêu công và nợ công; (2) thu hút thêm đầu tư từ nhiều nguồn; (3) cải thiện hiệu quả hoạt

Trang 32

động của các DNNN; (4) tạo lập môi trường cạnh tranh ở một số ngành độc quyền; (5) hướng tới phát triển thị trường vốn; (6) hướng đến các mục tiêu

chính trị

Bài học cho Việt Nam

Thứ nhất, cam kết chính trị là yếu tố tối quan trọng

Thứ hai, quá trình chuyển đổi DNNN phải gắn chặt với việc xác định

các mục tiêu và lộ trình phù hợp, minh bạch và có tính giải trình đầy đủ

Thứ ba, việc thành lập một cơ quan chuyên biệt thúc đẩy và giám sát

quá trình chuyển đổi DNNN không phải là yêu cầu bắt buộc, với điều kiện là cam kết chính trị được đảm bảo ở mức cao nhất

Thứ tư, quá trình chuyển đổi DNNN không tách rời với việc duy trì và

đảm bảo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, phù hợp

Thứ năm, sau khi đã thu nhỏ khu vực DNNN đến một mức độ có thể

kiểm soát được (dưới 10% GDP) cần tìm cách thu hẹp đầu mối quản lý khu vực DNNN bằng cách chuyển tất cả các DNNN sang cho một công ty quản

lý quĩ (holding company)

Cuối cùng, cần lưu tâm đúng mức đến việc hoàn thiện khuôn khổ pháp

lý cho cả quá trình chuyển đổi DNNN cũng như môi trường hoạt động cạnh

tranh phù hợp, hiệu quả cho các DNNN hoạt động hậu chuyển đổi

1.4.2 Kinh nghiệm ở Trung Quốc

Trung Quốc là một trong những quốc gia đi đầu trong việc cải cách nhằm chuyển đổi cấu trúc sở hữu trong nền kinh tế Quy mô kinh tế Nhà nước và kinh

tế tập thể giảm gần một nửa trong giai đoạn từ 1994 đến năm 2001 Đồng thời, trong thời gian này, số lượng các công ty cổ phần tăng lên nhanh chóng từ dưới

1000 lên tới hơn 6000 doanh nghiệp (Gary H Jefferson và Jian Su,2005)

Quá trình tái cơ cấu các DNNN Trung Quốc được thực hiện qua 4 giai đoạn

Thứ nhất, khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân mới tham gia thị

Trang 33

trường Số lượng các doanh nghiệp tư nhân ở các thành phố nhỏ và thậm chí

là các địa phương vùng nông thôn cũng tăng lên nhanh chóng trong những năm 1980 Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài từ Hong Kong, Đài Loan, các nước OECD, các nước Đông Nam Á cũng gia tăng mạnh mẽ Đặc biệt, rất nhiều các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài này trước đây là các DNNN nhưng đã được Chính phủ Trung Quốc chuyển đổi thông qua việc thu hút đầu tư nước ngoài Đây chính là một điểm mới quan trọng trong việc

tư nhân hóa các doanh nghiệp Trung Quốc

Thứ hai, cải cách các quyền kiểm soát quản lý các DNNN thông qua việc xây dựng một hệ thống sở hữu công Mở đầu giai đoạn này là sự cải thiện cơ

chế khuyến khích và đãi ngộ cho những người quản lý và nhân viên, công nhân trong các DNNN, tránh những tác động của thay đổi chính trị đến quyền

sở hữu thông thường Xây dựng các cơ quan giám sát chuyên trách của Chính phủ nhằm giám sát hoạt động của các DNNN, phân bổ lại các nguồn lực theo chiều ngang về quyền kiểm soát giữa các nhà quản lý DNNN, hiệp hội bảo vệ người lao động và các cơ quan quản lý Nhà nước McMillan và Naughton (1992) đã chỉ ra những kết quả đạt được lớn nhất trong giai đoạn này chính là làm xuất hiện một đội ngũ quản lý có hứng thú mạnh mẽ trong quá trình tư nhân hóa Điều này giúp tạo động lực làm việc trong khu vực tư nhân và kích thích phát triển nền kinh tế nói chung

Thứ ba, chuyển đổi cấu trúc tài sản của đầu tư tư nhân trong các lĩnh vực Nhà nước đang nắm giữ.Trong các doanh nghiệp ở Trung Quốc, đã có sự

thay đổi mạnh mẽ trong mối quan hệ giữa loại hình sở hữu và cấu trúc tài sản

sở hữu Trong năm 1999, số người làm việc trong các doanh nghiệp lớn và trung bình được phân bố đồng đều giữa các DNNN và các doanh nghiệp tư nhân Tuy nhiên, chỉ có 1.417 doanh nghiệp có một phần nhỏ tài sản thuộc sở hữu Nhà nước Trong khi đó, có khoảng 1.935 doanh nghiệp tư nhân cho rằng

Trang 34

phần lớn tài sản của họ thuộc sở hữu Nhà nước Mô hình sở hữu chéo khác thường này đã gợi lên một câu hỏi về sự phù hợp của hệ thống phân loại doanh nghiệp ở Trung Quốc Và cơ chế chuyển đổi cấu trúc tài sản chính là một giải pháp hiệu quả nhằm giúp tăng tích lũy các tài sản của khu vực tư nhân trong các lĩnh vực mà nhà nước đang nắm giữ Đây là một thành công quan trọng trong quá trình cải cách ở Trung Quốc

Thứ tư, chuyển đổi hoàn toàn các DNNN sang các hình thức DN khác.Với phương châm là “giữ lại cái lớn, bỏ đi cái nhỏ” (“retain the large,

release the small”), nhiều DNNN nhỏ, hoạt động kém hiệu quả đã được giải thể thông qua chính sách cho nghỉ phép (furlough policy) đối với công nhân, nhân viên trong các DN đó Kết quả là từ năm 1997 đến năm 2001, khoảng 70% các DNNN nhỏ đã được tư nhân hóa hoặc chuyển đổi sang các lĩnh vực, khu vực khác Đây chính là một thành công lớn của Trung Quốc trong quá trình tái cấu trúc DNNN

Như vậy, quá trình tái cấu trúc DNNN ở Trung Quốc cho thấy 3 yếu tố then chốt cần được thúc đẩy trong quá trình tái cấu trúcDNNN đó là: sự gia nhập thị trường và nâng cao tính cạnh tranh, thay đổi cơ chế quản lý, gia tăng tích lũy tài sản phi nhà nước

1.4.3 Kinh nghiệm ở Malaysia

Năm 1985, Malaysia đã chính thức ban hành văn bản Hướng dẫn quá trình tư nhân hóa (“Guidelines for Privatisation”) Mục tiêu tái cơ cấu các DNNN ở Malaysia trong giai đoạn này bao gồm 5 mục tiêu như sau:

Thứ nhất, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia và tinh giảm bộ

máy hành chính quản lý Nhà nước

Thứ hai, cải thiện hiệu quả và nâng cao năng suất của nền kinh tế

Thứ ba, tạo động lực tăng trưởng kinh tế

Thứ tư, giảm quy mô khu vực công trong nền kinh tế

Trang 35

Thứ năm, thúc đẩy sự kết nối giữa các mục tiêu chính sách phát triển

quốc gia

Những bài học kinh nghiệm có thể rút ra cho Việt Nam từ quá trình tái cấu trúc DNNN ở Malaysia

Thứ nhất, thành lập một cơ quan chuyên trách có trách nhiệm hướng dẫn

và thi hành các chính sách trong quá trình tái cơ cấu DNNN

Thứ hai, xây dựng các chương trình chuyển đổi phù hợp với chiến lược

và kế hoạch phát triển nền kinh tế nói chung

Thứ ba, gia tăng đầu tư vào phát triển vốn con người Đặc biệt chú trọng

phát triển kỹ năng quản lý cho đội ngũ điều hành trong các doanh nghiệp

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2016

2.1 VAI TRÒ CỦA DNNN TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

2.1.1 DNNN đóng góp chủ yếu trong tăng trưởng kinh tế:

Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng

và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế

xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo

Nếu như năm 1995 khu vực doanh nghiệp mới chỉ tạo ra được 103,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 45,3% tổng GDP (khu vực còn lại gồm khối hành chính, sự nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh cá thể chiếm 54,7%), thì đến năm 2001 khu vực này đã tạo ra 255,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 53,2% tổng GDP, gấp 2,5 lần năm 1995 Trong đó doanh nghiệp nhà nước chiếm 30,6% tổng GDP, doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 8,8%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 13,8% Tính cho đến nay, số lượng DNNN ở nước ta có khoảng

33 tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng có quy mô lớn với vai trò quan trọng trong các lĩnh vực then chốt như dầu khí, khoảng sản, điện,…Tổng tài sản của các DNNN lên đến trên 5 triệu tỷ đồng và hàng năm đóng góp khoảng 30% cho thu ngân sách quốc gia, đồng thời giản quyết việc làm cho 1,3 triệu lao động Tuy nhiên, với hiệu quả quản lý và sản xuất thấp, trong những năm gần đây vấn đề về tái cấu trúc DNNN được đặt ra vô cùng cấp thiết, đặc biệt ở các tổng công ty và các tập đoàn kinh tế

Trang 37

Xét về số lượng thì các DNNN cuối năm 2014 còn 3048 doanh nghiệp, giảm 2711 doanh nghiệp so với năm 2000 và giảm 1038 doanh nghiệp so với năm 2005 Nguyên nhân cơ bản của sự sụt giảm này là do quá trình sắp xếp lại và cổ phần hóa, bình quân mỗi năm giảm 56 ngàn lao động, lượng vốn tăng thêm ở mức thấp (473 nghìn tỷ đồng/năm) Cùng với số doanh nghiệp giảm là tỷ trọng các chỉ tiêu cơ bản của doanh nghiệp đều giảm Số liệu cụ thể như sau:

Bảng 2.1: Tỷ trọng một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của doanh nghiệp nhà nước

đề giải quyết việc làm lại có xu hướng giảm mạnh nhất, đến năm 2015 chỉ giải quyết cho gần 13% lao động

DNNN có xu hướng giảm tương đối về số lượng doanh nghiệp nên tất yếu dẫn tới tình trạng tỷ trọng lao động phân bổ vào khu vực này có xu hướng giảm so với trước đây Qua số liệu cho thấy rõ ràng khu vực ngoài NN mở

Trang 38

rộng khiến lao động trước đây chủ yếu hoạt động trong DNNN ( năm 2000 là 88,64%) thì chỉ còn lại 12,67% trong năm 2014 Thực tế này phản ánh sự phát triển mở rộng với tốc độ khá nhanh của khu vực ngoài NN và xu hướng thu hẹp của DNNN Nguồn vốn trong giai đoạn 2000-2015 cũng giảm đi về tỷ trọng chỉ còn lại bằng một nửa so với trước đây Điều này cũng kéo theo doanh thu giảm đáng kể, tuy nhiên, doanh thu giảm nhanh nhưng lợi nhuận lại giảm với tốc độ chậm thể hiện vẫn còn có những DNNN hoạt động có lãi và đem lại hiệu quả kinh tế cao Giá trị nộp ngân sách của DNNN cũng giảm đáng kể trong 14 năm (từ 50,65% xuống còn 39,38%) nhưng tỷ lệ nộp ngân sách như hiện tại cho thấy vai trò của DNNN vẫn còn khá lớn Trong các tiềm năng tăng trưởng nội địa thì DNNN vẫn còn là một trong những nhân tố then chốt có tính quyết định đến tăng trưởng kinh tế Trong dài hạn, dưới định hướng và điều chỉnh từ Chính Phủ, cũng như các chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân phát triển, khu vực DNNN có thể có xu hướng thu hẹp nhưng nâng cao hiệu quả hoạt động để duy trì vai trò tích cực trong tăng trưởng kinh tế

2.1.2 DNNN vẫn giữ vị trí quan trọng trong hệ thống kinh tế

Xu hướng giảm nói chung cho thấy DNNN hiện nay đang giảm dần vai trò quyết định trong giải quyết việc làm, tăng thêm nguồn vốn, chi phối tốc độ tăng trưởng chung của doanh nghiệp cũng như toàn nền kinh

tế, tuy nhiên, vẫn còn vai trò đáng kể trong đóng góp vào ngân sách nhà nước (nộp ngân sách tăng thêm gần 22000 tỷ đồng mỗi năm) So với sự phát triển của nhóm doanh nghiệp ngoài Nhà nước thì các DNNN đang giảm dần về số lượng lẫn vai trò tác động trong hệ thống kinh tế Số liệu

cụ thể so sánh một số chỉ tiêu giữa DNNN và DN ngoài Nhà nước của năm 2005 và 2015 như sau:

Trang 39

Bảng 2.2: Tỷ trọng DNNN và doanh nghiệp ngoài nhà nước trong tổng doanh nghiệp trong nước của một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản

Đơn vị tính: %, (Tổng DN trong nước = 100%)

Tên chỉ tiêu DNNN

(2005)

DN ngoài Nhà nước (2005)

DNNN (2015)

DN ngoài Nhà nước (2015)

2015 thì DNNN đã giảm tỷ trọng đi đáng kể ( trừ tiêu chí về số lượng doanh

Trang 40

nghiệp ) Sự khác biệt này rõ rệt nhất khi đánh giá về nguồn vốn và doanh thu Nguồn vốn mà DNN sở hữu giảm trong khi DN ngoài NN tăng lên đáng

kể Xu hướng này cũng kích thích các DN ngoài NN mạnh dạn đầu tư phát huy năng lực sản xuất nội địa tạo ra sự chênh lệch về doanh thu đối với hai khu vực trong năm 2015

Số liệu tổng hợp cho thấy chỉ tiêu thay đổi lớn nhất chính là số lao động

và việc làm trong hai khu vực Chỉ trong 14 năm, số lao động hoạt động trong DNNN giảm hẳn và cơ hội việc làm mở ra khá lớn từ nhóm DN ngoài Nhà nước Tuy nhiên, trong một vài lĩnh vực then chốt về công nghệ thì DNNN lại

có cải thiện đáng kể Cụ thể: Mức vốn bình quân tăng 6,1 lần (từ 354 tỷ đồng/1DN lên 2163 tỷ đồng/1DN), trang bị tài sản cố định cho 1 lao động tăng 9,1 lần (từ 239 triệu đồng/1LĐ lên 2184 triệu đồng/1LĐ), trong khi đó doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có mức vốn bình quân 1 doanh nghiệp chỉ tăng 2,55 lần (Từ 143 triệu đồng/1DN lên 364 triệu đồng/1DN), Giá trị tài sản cố định trang bị cho 1 lao động tăng 2,11 lần (Từ 221 triệu

đồng/1LĐ lên 474 triệu đồng/1LĐ) [Tổng cục Thống kê, 2016]

Nhìn chung, vai trò của DNNN đang có xu hướng giảm dần trong hệ thống kinh tế Việt Nam, nhưng vai trò then chốt của DNNN trong một số lĩnh vực vẫn chưa thể được thay thế ngay bởi DN ngoài Nhà nước Do đó, việc đánh giá và nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như năng lực cạnh tranh của các DNNN vẫn là yếu tố quan trọng nhằm bảo đảm cho phát triển kinh tế dài hạn của Việt Nam Có thể nói vai trò của DNNN quyết định sự phát triển bền vững về mặt kinh tế trước hết sẽ được phản ánh qua tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế qua vai trò định hướng chủ chốt của nhóm doanh nghiệp này trong sản xuất Thực tế đó sẽ được nghiên cứu và đánh giá qua phần tiếp theo

Ngày đăng: 17/12/2023, 00:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Trần Tiến Cường (2012), “Ngành, lĩnh vực cần duy trì sở hữu nhà nước trong tầm nhìn chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020”, Hội thảo khoa học Đổi mới vai trò chủ sở hữu nhà nước trong khu vực doanh nghiệp và quản trị DNNN, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành, lĩnh vực cần duy trì sở hữu nhà nước trong tầm nhìn chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020
Tác giả: Trần Tiến Cường
Năm: 2012
11. Các văn bản, Nghị định trên website http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=view&org_group_id=0&type_group_id=4&category_id=0 Link
1. Ban chỉ đạo đổi mới phát triển Doanh nghiệp, Báo cáo kết quả tái cơ cấu DNNN 2015, 2015 Khác
2. Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam VCCI, Báo cáo thường niên Doanh nghiệp Việt Nam, 2015 Khác
3. Chính phủ, Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần Khác
4. Chính phủ, Nghị định số 189/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần Khác
5. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 về phê duyệt Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trọng tâm là Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước giai đoạn 2011-2015 (htpp://www.chinhphu.vn) Khác
6. Chính phủ, Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần Khác
7. Chính phủ, Nghị định số 189/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần Khác
8. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 về phê duyệt Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trọng tâm là Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước giai đoạn 2011-2015 (htpp://www.chinhphu.vn) Khác
9. Bộ Tài chính, Quy trình chuyển đổi doanh nghiệp tái cơ cấu thành công ty cổ phần ban hành kèm theo Thông tư số 194/2013/TT-BTC ngày Khác
10. Tổng cục Thống kê, Số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w