Ở Việt Nam, cùng với dòng chảy của lịch sử Đạo Phật có ảnh hưởng sâu rộng và đóng góp đáng kể đến mọi mặt đời sống văn hoáxã hội. Bài viết này tập trung phân tích nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học Phật giáo gồm các nội dung cơ bản của tư tưởng triết học Phật giáo, những đặc điểm của Đạo Phật và ảnh hưởng nó đối với đời sống xã hội người Việt. Đồng thời, dưới con mắt khách quan của một người không theo tôn giáo nào đưa ra những ưu điểm và những mặt hạn chế còn tồn tại của Phật giáo hiện nay. Qua đó, có cơ hội tìm tòi những tư liệu về Đạo Phật và hiểu thêm ý nghĩa nhân văn, giá trị chân thiện mỹ từ những lời dạy của Đức Phật.
Trang 1Câu hỏi: Phân tích nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học Phật giáo và đưa rađánh giá của mình về tính tích cực, hạn chế của mỗi nội dung trong tư tưởngtriết học đó?
Bài làm
Ở Việt Nam, cùng với dòng chảy của lịch sử Đạo Phật có ảnh hưởng sâu
rộng và đóng góp đáng kể đến mọi mặt đời sống văn hoá-xã hội Bài viết này tập
trung phân tích nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học Phật giáo gồm các nộidung cơ bản của tư tưởng triết học Phật giáo, những đặc điểm của Đạo Phật vàảnh hưởng nó đối với đời sống xã hội người Việt Đồng thời, dưới con mắtkhách quan của một người không theo tôn giáo nào đưa ra những ưu điểm vànhững mặt hạn chế còn tồn tại của Phật giáo hiện nay Qua đó, có cơ hội tìm tòinhững tư liệu về Đạo Phật và hiểu thêm ý nghĩa nhân văn, giá trị chân - thiện -
mỹ từ những lời dạy của Đức Phật
I Phân tích nội dung cơ bản tư tưởng triết học Phật giáo
Kinh điển của Phật giáo gồm Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng Phật
giáo cũng luận về thuyết luân hồi và nghiệp, cũng tìm con đường “giải thoát” rakhỏi vòng luân hồi Trạng thái chấm dứt luân hồi và nghiệp được gọi là Niếtbàn Nhưng Phật giáo khác các tôn giáo khác ở chỗ chúng sinh thuộc bất kỳđẳng cấp nào cũng được “giải thoát”
Phật giáo nhìn nhận thế giới tự nhiên cũng như nhân sinh bằng sự phântích nhân-quả Theo Phật giáo, nhân-quả là một chuỗi liên tục không gián đoạn
và không hỗn loạn, có nghĩa là nhân nào quả ấy Mối quan hệ nhân-quả này Phậtgiáo thường gọi là nhân duyên với ý nghĩa là một kết quả của nguyên nhân nào
đó sẽ là nguyên nhân của một kết quả khác
1 Về thế giới tự nhiên
Bằng sự phân tích nhân quả, Phật giáo cho rằng không thể tìm ra mộtnguyên nhân đầu tiên cho vũ trụ, có nghĩa là không có một đấng Tối cao(Brahman) nào sáng tạo ra vũ trụ Cùng với sự phủ định Brahman, Phật giáocũng phủ định phạm trù (Anatman) nghĩa là không có tôi và quan điểm “vôthường”
Trang 2Quan điểm “vô ngã” cho rằng vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự “giả hợp” dohội đủ nhân duyên nên thành ra “có” (tồn tại) Ngay bản thân sự tồn tại của thực
thể con người chẳng qua là do “ngũ uẩn” (năm yếu tố) hội tụ lại là: sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (suy lý) và thức (ý thức) Như vậy
là không có cái gọi là “tôi” (vô ngã)
Quan điểm “vô thường” cho rằng vạn vật biến đổi vô cùng theo chu trìnhbất tận: sinh - trụ- dị- diệt Vậy thì “có có” – “không không” luân hồi bất tận
“thoáng có”, “thoáng không”, cái còn thì chẳng còn, cái mất thì chẳng mất
2 Về nhân sinh quan
Phật giáo đặt vấn đề tìm kiếm mục tiêu nhân sinh ở sự “giải thoát” khỏivòng luân hồi, “nghiệp báo” để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn Nội dung triếthọc nhân sinh tập trung trong thuyết “tứ diệu đế” với ý nghĩa là bốn chân lýtuyệt vời
1 Khổ đế.
Phật giáo cho rằng cuộc sống là khổ, ít nhất có tám nỗi khổ (bát khổ) đó
là : sinh, lão, bệnh, tử , thụ biệt ly (thương yêu nhau phải xa nhau), oán tăng hội(oán ghét nhau nhưng phải sống gần nhau), sở cầu bất đắc (mong muốn nhưngkhông được), ngũ thụ uẩn (năm yếu tố uẩn tụ lại nung nấu làm khổ sở)
2 Tập đế hay nhân đế.
Phật giáo cho rằng cuộc sống đau khổ là có nguyên nhân Để cắt nghĩanỗi khổ của nhân loại, Phật giáo đưa ra thuyết “thập nhị nhân duyên” đó là 12nguyên nhân và kết quả nối theo nhau cuối cùng dẫn đến các đau khổ của conngười: 1 vô minh; 2.hành; 3 thức; 4 danh sắc; 5.lục nhập; 6 xúc; 7 thụ; 8 ái;
9 thủ; 10 hữu; 11 sinh; 12 lão-tử Trong đó vô minh là nguyên nhân đầu tiên
Trang 3(hiểu biết đúng tứ đế); 2 chính tư (suy nghĩ đúng đắn); 3 chính ngữ (lời nói đúngđắn); 4 chính nghiệp (giữ nghiệp không tác động xấu); 5 chính mệnh (giữ ngăndục vọng); 6 chính tinh tiến (rèn luyên tu lập không mệt mỏi); 7 chính niệm (cóniềm tin bền vững vào giải thoát); 8 chính định (tập trung tư tưởng cao độ)
Tám nguyên tắc trên có thể thâu tóm vào (tam học) tức là 3 điều cần học
tập và rèn luyện là giới – định – tuệ Giới là giữ cho thân, tâm thanh tịnh trong sạch Định là thu tâm, nhiếp tâm để cho sức mạnh của tâm không bị ngoại cảnh làm xáo động Tuệ là trí tuệ Phật giáo coi trọng khai mở trí tuệ để thực hiện giải
thoát
Tóm lại, bốn sự thật mà đức Phật đã từng kinh qua chứng đắc và đem nó
ra để dạy lại các đệ tử nên thực hành như chính Ngài nếu muốn thoát khỏi khổđau
Sự thật thứ nhất là khổ đau, đó là kết quả bản chất của chính sự sống mà
chúng sinh hữu tình đang gánh chịu, nỗi khổ đau này, những buồn vui của nóchính trong cuộc sống của mỗi chúng sinh về tâm và vật, chúng luôn luôn mang
bộ mặt bất toàn giả tạm và không làm vừa lòng mỗi chúng ta, do vô thường vàhuyễn hóa Về sự thật này, thì chúng ta phải hiểu và biết nó như một sự kiện như
thật, một cách chính xác và đầy đủ.
Sự thật thứ hai là Nguồn gốc tập khởi của khổ đau, tức chỉ cho nguyên
nhân mọi thứ dục vọng, mọi khát khao của ái, và tương ứng với tất cả nhữngđam mê xấu xa bất tịnh khác liên quan với vô minh, đưa chúng ta đến kết quảđau khổ, trôi lăn trong sinh tử luân hồi ba cõi Ở đây, chúng ta không những chỉhiểu sự kiện này một cách như thật chính nó thôi, mà chúng ta còn phải nỗ lực
từ bỏ, loại bỏ nó, bằng cách diệt trừ và nhổ nó tận gốc rễ để nó không còn là
nguyên nhân trực tiếp đưa chúng ta đến hậu quả khổ đau, trong hiện tại và tươnglai nữa
Sự thật thứ ba là sự Chấm dứt khổ đau, đạt Niết-bàn, chân lý tuyệt đối,
hay là thực tại tối hậu, là kết quả sau khi chúng sinh thực hiện con đường trungđạo
Trang 4Ở đây, việc thực hành của chúng ta là phải thực chứng nó, bằng vào
những nỗ lực cả thân và tâm trong việc thực hiện thanh tịnh hóa ba nghiệp
Sự thật thứ tư là Con đường đưa đến thực chứng Niết - bàn Ở đây,
chúng ta nói đến vấn đề con đường đưa đến thực chứng, tức là nói đến conđường thực hành qua Bát chính đạo, không chỉ hiểu biết về con đường, dù cóthấu triệt bao nhiêu đi chăng nữa thì cũng không ích lợi gì Trong trường hợpnày, việc của chúng ta là phải đi theo con đường ấy và tuân giữ nó về hai mặtthân và tâm, làm cho ba nghiệp thanh tịnh Có như vậy, chúng ta mới đạt đượcmọi sự an lạc ngay trong cuộc sống này, mà không cần tìm đâu xa ngoài thế giannày
II Những đặc điểm nổi bật của Phật giáo
Phật giáo như ánh sáng mặt trời mà nhìn ánh sáng ấy, chúng ta chỉ có cặpmắt nhỏ hẹp Tuy nhiên, một là tất cả, chúng ta có thể căn cứ một vài điều sauđây mà biết tất cả đặc điểm của Phật giáo
1 Thứ nhất, đặc điểm của Phật giáo là “In như sự thật”:
Lý thuyết, phương pháp, kết quả đều hợp lý, đều như thật Phật giáokhông chen chủ quan của mình vào trước hay trong khi suy nghiệm sự thật, vàchân lý của đạo Phật là lời kết luận sau sự suy nghiệm trung thực ấy Đạo Phậtchỉ thấy và chỉ nói những sự thật mà sự vật có, không thêm không bớt ĐạoPhật, do đó, cấm đoán những tín ngưỡng và hành động không phát sinh từ sựhiểu biết như thật, và không công nhận những kết quả của tín ngưỡng mê mờ,hành động manh động là hợp lý Cho nên đạo Phật cũng gọi là Đạo Như Thật
2 Thứ hai, đạo Phật giáo rất “tôn trọng sự sống”.
Không sát sinh, ăn chay, là những điều tượng trưng cụ thể cho đặc điểm
ấy Đạo Phật xem sự sống trên tất cả Hết thảy cái gì gọi là có giá trị là phải bảo
vệ sự sống ấy Giết sự sống để nuôi sự sống là mê muội mà vì tham sống nên hại
sự sống cũng là vô minh Cho nên tôn trọng sự sống không những bằng cáchgiúp nhau để sống còn, mà còn có khi phải hy sinh sự sống để bảo vệ sự sống,nghĩa là có khi tiêu cực như ăn chay để cứu muôn loài, có khi tích cực như 'thay
Trang 5khổ cho chúng sinh' để cứu vạn loại Đạo Phật đặc biệt chú trọng và nêu cao chủnghĩa lợi tha, nhưng chữ lợi ấy là phải hướng về mục đích tôn trọng sự sống.
3 Thứ ba, đạo Phật chỉ thừa nhận sự “tương quan sinh tồn”.
Đạo Phật dạy cho người ta thấy ở đời phải tự lập chứ không phải biệt lập.Phật tử không thấy, không tạo nên một đối phương Vũ trụ là một lò tương quan;không có gì là trung tâm, không có gì là phụ thuộc, hay ngược lại Bởi thế chonên phân ly là tự tạo một ung nhọt, mà chiến đấu (theo nghĩa hẹp) chỉ là tươngđối Chiến đấu phải là một hành động vì bảo vệ sự sinh tồn mà bất đắc dĩ phải ápdụng trong trường hợp bất đắc dĩ Nếu biến sự bất đắc dĩ ấy thành sự tuyệt đốicần thiết trong mọi trường hợp, thì chiến đấu sẽ trở thành chiến tranh
4 Thứ tư, đạo Phật xác nhận “con người là trung tâm của xã hội”
Đạo Phật không hoàn toàn duy tâm, cũng không hoàn toàn duy vật, mà tất
cả đều do con người phát sinh và đều phát sinh vì con người Kết luận này thực
tế ở đâu cũng rõ rệt cả Trên thế giới loài người này không có gì tự nhiên sinh rahay từ hư không rơi xuống, mà đều do năng lực hoạt động của con người tạothành Năng lực hoạt động của con người tạo tác chi phối tất cả Tất cả khổ hayvui, tiến hóa hay thoái hóa, là đều do con người dã man hay văn minh Người làchúa tể của xã hội loài người, xã hội loài người không thể có chúa trời thứ hai
5 Thứ năm, đạo Phật chú trọng “đối trị tâm bệnh con người trước hết”.
Lý do rất dễ hiểu Con người là trung tâm điểm của xã hội loài người, xãhội ấy tiến hóa hay thoái hóa là hoàn toàn do hoạt động con người chi phối; màhoạt động con người lại do tâm trí con người chủ đạo, vậy xã hội phản ánh trungthành của tâm trí con người Cho nên muốn cải tạo xã hội, căn bản là phải cảitạo con người, cải tạo tâm bệnh của con người Tâm bệnh con người nếu cònđộc tài, tham lam, thì xã hội loài người là địa ngục, tâm bệnh con người đượcđối trị rồi thì hoạt động con người rất sáng suốt mà xã hội con người, kết quảcủa hoạt động ấy, cũng rất cực lạc
6 Thứ sáu, mục đích đạo Phật là “đào luyện con người thành bi, trí, dũng”
Bi là tôn trọng quyền sống của người khác Trí là hành động sáng suốt lợilạc Dũng là quyết tâm quả cảm hành động Dũng không có bi và trí thì sẽ thành
Trang 6tàn ác và manh động Trí không có bi và dũng thì sẽ trở thành gian xảo và mộngtưởng Bi không có trí và dũng sẽ thành tình cảm và nhút nhát Bi là tư cách tiếnhóa, trí là trí thức tiến hóa, dũng năng lực tiến hóa Con người như thế là conngười mới, căn bản của xã hội mới.
7 Thứ bảy, tư tưởng của đạo Phật là “kiến thiết một xã hội mới” mà căn bản
là con người mới
Cho nên tranh đấu cho xã hội mới ấy, trở lại vấn đề, là phải chiến thắngchính mình trước hết Con người tự chiến thắng con người, nghĩa là cái 'nhân cũ'(bóc lột, đàn áp, độc tài, xâm lược) không còn nữa, thì kết quả được cái 'quảmới' là là một xã hội mới Trong xã hội ấy quyền sống tuyệt đối bình đẳng như
sự sống: Bình đẳng trong nhiệm vụ, bình đẳng trong hưởng thụ
8.Thứ tám, đạo Phật là “tiến lên vô thượng giác”.
Đào luyện một con người mới, kiến thiết một xã hội mới rồi, không phảimục đích của đạo Phật cứu cánh ở đó Cao xa, đạo Phật còn hướng dẫn conngười lên chóp đỉnh của sự tiến hóa là địa vị vô thượng giác, địa vị vô minh toàndiệt, trí tuệ toàn giác, địa vị Phật đà
9 Thứ chín, đạo Phật là đạo Phật dạy phải “tự lực giải thoát”.
Đấy là một tinh thần tuyệt đối cần thiết Đức Phật chỉ là một đạo sư dẫnđạo con đường sáng cho chúng ta Còn chúng ta phải tự thắp đuốc trí tuệ củamình mà soi đường, phải tự động cặp chân năng lực của mình mà đi Con ngườimới là phải tự rèn luyện; xã hội mới là phải tự kiến thiết; vô thượng giác là phải
tự tu chứng Tự lực giải thoát là con đường duy nhất của mười phương các đứcPhật Bồ-Tát An lạc không phải cầu xin, trí giác không do cầu hồ Một điều nữa,nước trong bản chất là nước đục, hoa sen không mọc trên cát vàng, cho nênngười trong đạo Phật phải tự lực giải thoát ngay trong cảnh giới đau khổ mêmuội Lánh ngoài thế gian đau khổ để tìm giác ngộ, thì kinh dạy, đó là đi tìmsừng con thỏ Phật tử không có đứng vào hàng ngũ thông minh mà phải hướng
về lớp người ngu dốt dìu dắt họ Hoa Sen muôn thuở người ta chỉ tìm thấy trong
ao bùn, tuệ giác vô thượng chỉ có bởi chúng sinh
10 Thứ mười, đạo Phật là “hiện chứng thể nghiệm”.
Trang 7Đức Phật chỉ hướng dẫn chúng ta, chứ chân lý không phải là thứ đemquay phim cho người thấy được Đức Phật là đạo sư, nhưng trí giác không phải
là thứ ai dạy khôn cho ai Cho nên đối với chân lý tối cao, ta phải tự lực thểnghiệm Sự tự lực thể nghiệm ấy, không những áp dụng với tinh thần tự lực giảithoát mà thôi, mà còn đặc biệt chú ý đến sự hiện chứng Thế nào gọi là sự hiệnchứng? Ví dụ con đường đi đến Mai thôn có mười đoạn Người đi không ham,không thể ham nhảy vọt đến Mai thôn mà không qua mười đoạn đường, mà phải
đi từng bước, bước từng đoạn, được một đoạn là đến Mai thôn một đoạn Conđường vô thượng giác cũng vậy, nương theo lời Phật chỉ dẫn, ta phải bước từngbước, hiện chứng đến đâu thể nghiệm chân lý đến đó, cho đến khi toàn giác.Đức Phật tạo cho ta cái thang, nhưng không kéo giàn hoa xuống hay đẩy thẳng
ta lên được Ta phải tự lực mà trèo từng nấc thang lên giàn hoa thiên lý Trèođược nấc nào là tự thể nghiệm chân lý nấc ấy Đối với chân lý chưa hiện chứng,chúng ta chỉ nói học, không nói biết Tinh thần tu chứng đạo Phật là thế
Do tất cả đặc điểm trên đây, chúng ta thấy đạo Phật không phải chỉ là mộttôn giáo 'Đạo Phật là tất cả', đó là một đặc điểm vừa cuối cùng vừa trước hếtcủa đạo Phật Cho nên Phật tử không thực hành đạo Phật bằng cách để hoạtđộng của mình một phần chính vào sự lễ bái cầu nguyện Phật tử thực hành đạoPhật là áp dụng vào đời sống, áp dụng vào tất cả mọi hoạt động Căn bản củađạo Phật là như thật, tinh thần đạo ấy là bi, trí, dũng Sống trong căn bản và tinhthần ấy, Phật tử tự nhiên không thể phủ nhận sự tàn sát, sự manh động và sự nô
lệ Cho nên họ phải tự lực hành động để thượng thượng tăng tiến Và hành động
ấy không có lãnh vực trong không gian, không có giới hạn trên thời gian, không
có phạm vi trong tổ chức, không có khu phân trong trường hợp Ở đâu và lúcnào, với ai và cảnh nào, Phật tử cũng áp dụng căn bản và tinh thần bi, trí, dũngcủa đạo Phật vào để tác động và chi phối, hầu tạo thành một thế giới tịnh độ.Cho nên đạo Phật bao trùm tất cả Nói ngược lại, tất cả có tinh thần đạo Phậtmới tốt đẹp
III Những ảnh hưởng của Phật giáo
Trang 8Từ khi du nhập Việt Nam đến nay, Phật giáo đã tồn tại và gắn liền với lịch
sử dân tộc, nó ngấm sâu vào tư duy và trở thành một bộ phận văn hoá, nếp sốngcủa người Việt
1 Ảnh hưởng của Đạo Phật đến đời sống văn hoá-xã hội:
1.1 Về mặt tư tưởng triết học và đạo lý
a Về tư tưởng
Tư tưởng hay đạo lý căn bản của Phật Giáo là đạo lý Duyên Khởi, TứDiệu Ðế và Bát chính Ðạo Ba đạo lý này là nền tảng cho tất cả các tông pháiphật giáo, Nguyên Thủy cũng như Ðại Thừa đã ăn sâu vào lòng của người dânViệt
Ðạo lý Duyên Khởi là một cái nhìn khoa học và khách quan về thế giới hiệntại Duyên khởi nghĩa là sự nương tựa lẫn nhau mà sinh tồn và tồn tại Khôngnhững các sự kiện thuộc thế giới con người như thành, bại, thịnh, suy mà tất cảnhững hiện tượng về thế giới tự nhiên như cỏ, cây, hoa, lá cũng điều vâng theoluật duyên khởi mà sinh thành, tồn tại và tiêu hoại
Có 4 loại duyên cần được phân biệt: thứ nhất là Nhân Duyên Có thể gọi làđiều kiện gần gũi nhất, như hạt lúa là nhân duyên của cây lúa Thứ hai là TăngThượng Duyên tức là những điều kiện có tư liệu cho nhân duyên ví như phânbón và nước là tăng thượng duyên cho hạt lúa Thứ ba là Sở Duyên Duyên tức lànhững điều kiện làm đối tượng nhận thức, thứ tư là Ðẳng Vô Gián Duyên tức là
sự liên tục không gián đoạn, cần thiết cho sự phát sinh trưởng thành và tồn tại Luật nhân quả cần được quan sát và áp dụng theo nguyên tắc duyên sinhmới có thể gọi là luật nhân quả của Ðạo Phật, theo đạo lý duyên sinh, một nhânđơn độc không bao giờ có khả năng sinh ra quả, và một nhân bao giờ cũng đóngvai trò quả, cho một nhân khác
Về giáo lý nghiệp báo hay nghiệp nhân quả báo của Ðạo Phật đã trở thànhnếp sống tín ngưỡng hết sức sáng tỏ đối với người Việt Nam có hiểu biết, có suynghĩ Người ta biết lựa chọn ăn ở hiền lành, dù tối thiểu thì đó cũng là kết quả tựnhiên âm thầm của lý nghiệp báo Có thể nói mọi người dân Việt điều ảnhhưởng ít nhiều qua giáo lý này Vì thế, lý nghiệp báo luân hồi đã in dấu đậm nét
Trang 9trong văn chương bình dân, trong văn học chữ nôm, chữ hán, từ xưa cho đến nay
để dẫn dắt từng thế hệ con người biết soi sáng tâm trí mình vào lý nhân quảnghiệp báo mà hành động sao cho tốt đẹp đem lại hòa bình an vui cho conngười Thậm chí trẻ con mười tuổi cũng tự nhiên biết câu: "ác giả ác báo" Mặtkhác họ hiểu rằng nghiệp nhân không phải là định nghiệp mà có thể làm thayđổi, do đó họ tự biết sửa chữa, tu tập cải ác tùng thiện Sống ở đời, đột nhiênnhững tai họa, biến cố xảy ra cho họ, thì họ nghĩ rằng kiếp trước mình vụngđường tu nên mới gặp khổ nạn này
b Về đạo lý
Ðạo lý ảnh hưởng nhất là giáo lý từ bi, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh củaPhật giáo đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn của người Việt.Ðiều này ta thấy rõ qua con người và tư tưởng của Nguyễn Trãi (1380-1442),một nhà văn, nhà chính trị, nhà tư tưởng Việt Nam kiệt xuất, ông đã khéo vậndụng đạo lý Từ Bi và biến nó thành đường lối chính trị nhân bản đem lại thànhcông và rất nổi tiếng trong lịch sử nước Việt
Cho nên khi đại thắng quân xâm lược, đối với tù binh nhà Minh, chúng takhông những không giết hại mà còn cấp cho thuyền bè, lương thực để họ vềnước.Tinh thần thương người như thể thương thân đã biến thành ca dao tục ngữphổ biến trong nhân dân Việt Nam như "lá lành đùm lá rách"
Ðó là những câu ca dao, tục ngữ mà bất cứ người Việt Nam nào cũng điềuthấm nhuần và thuộc lòng, nói lên lòng nhân ái vị tha của dân tộc Việt Nam.Ngoài đạo lý Từ Bi, người Việt còn chịu ảnh hưởng sâu sắc một đạo lý khác củađạo phật là đạo lý Tứ Ân, gồm ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân chúngsinh Ðạo lý này được xây dựng theo một trình tự phù hợp với bước phát triểncủa tâm lý về tình cảm của dân tộc Việt Tình thương ở mọi người bắt đầu từthân đến xa, từ tình thương cha mẹ, họ hàng lan dần đến tình thương trong cácmối quan hệ xã hội với thầy bạn, đồng bào quê hương đất nước và mở rộng đếnquê hương cao cả đối với cuộc sống của nhân loại trên vũ trụ này Ðặc biệt trongđạo lý tứ ân, ta thấy ân cha mẹ là nổi bật và ảnh hưởng rất sâu đậm trong tìnhcảm và đạo lý của người Việt Vì đạo phật rất chú trọng đến hiếu hạnh, và được
Trang 10Ðức Phật đã thuyết giảng đề tài này trong nhiều kinh khác nhau như Kinh BáoPhụ Mẫu Ân, kinh Thai Cốt, kinh Hiếu Tử, kinh Ðại Tập, kinh Nhẫn Nhục, kinh
Vu Lan nhắc đến công lao dưỡng dục của cha mẹ, Phật dạy: "muôn việc ở thế gian, không gì hơn công ơn nuôi dưỡng lớn lao của cha mẹ" (Kinh Thai Cốt), hay kinh Nhẫn Nhục dạy: "cùng tốt điều thiện không gì hơn hiếu, cùng tốt điều
ác không gì hơn bất hiếu" Bởi Phật Giáo đặc biệt chú trọng chữ hiếu như thế nên
thích hợp với nếp sống đạo lý truyền thống của dân tộc Việt
Đạo lý hiếu ân trong ý nghĩa mở rộng có cùng một đối tượng thực hiện lànhắm vào người thân, cha mẹ, đất nước, nhân dân , chúng sinh, vũ trụ, đó là môitrường sống của chúng sinh gồm cả mặt tâm linh nữa Ðạo lý Tứ Ân còn cóchung cái động cơ thúc đẩy là Từ ,Bi, Hỷ, Xả khiến cho ta sống hài hòa với xãhội, với thiên nhiên để tiến đến hạnh phúc chân thực và miên trường
1.2 Về đời sống văn hoá - xã hội:
a Phật Giáo dung hòa với các tôn giáo khác ở Việt Nam
Sự phối hợp và kết tinh của Ðạo Phật với đạo Nho và đạo Lão, được cácnhà vua thời Lý công khai hóa và hợp pháp hóa Nhờ đặc tính dung hòa này màPhật Giáo Việt Nam đã trở thành tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Việt Nóchẳng phải Phật giáo Ấn Ðộ hay Trung Hoa, Tiểu Thừa hay Ðại Thừa, mà là tất
cả những khuynh hướng tâm linh của người dân Việt
Với tinh thần khai phóng, Phật Giáo Việt Nam đã kết tinh lấy Chân, Thiện,
Mỹ làm cứu cánh để thực hiện Nho giáo thực hiện cứu cánh ấy bằng con đườngThiện, tức là hành vi đạo đức để tới chỗ nhất quán với Mỹ và Chân Ðạo giáothực hiện cứu cánh ấy bằng con đường Mỹ, tức là tâm lý nghệ thuật để tới chỗnhất quán với Thiện và Chân Phật giáo thực hiện cứu cánh ấy bằng con đườngtrí tuệ giác ngộ để đạt tới chỗ nhất quán Chân, Thiện, Mỹ
Ðó là thực tại Tam Vi Nhất của tinh thần tam Giáo Việt Nam, với hình ảnhĐức Phật Thích Ca ở giữa, Lão Tử bên trái và Khổng Tử bên phải đã in sâu vàotâm thức của người dân Việt
b Sự dung hòa giữa các tông phái trong Phật Giáo
Trang 11Nét đặc trưng rất riêng biệt của Phật Giáo Việt Nam so với các quốc gia Phật
Giáo láng giềng là sự dung hòa giữa các tông phái Phật Giáo Ở Thái Lan,
Srilanka, Lào, Campuchia chỉ có Phật Giáo Nam Tông, ở Tây Tạng,Trung Hoa,Nhật Bản, Mông Cổ thuần túy chỉ có Phật Giáo Bắc Tông Nhưng ở Việt Namthì lại dung hòa cả Nam Tông và Bắc Tông, vì tinh thần khế lý khế cơ của PhậtGiáo, cộng với tinh thần khai phóng, Phật Giáo Việt Nam mới có được kết quảnhư vậy
c Với đời sống người Việt Nam
Trong buổi đầu của Phật Giáo ở Việt Nam mang dáng dấp của Phật GiáoTiểu Thừa và Mật Giáo, vì vậy đã dễ dàng gắn với phù chú, cầu xin phước lộchơn là tôi luyện trí tuệ và thiền định Ðạo Phật đã có mặt ảnh hưởng khắp mọigiai tầng trong ở xã hội Việt Nam, cả trong giới bình dân và trong giới trí thức.Với tính đời trội hơn tính đạo, trong quần chúng đa số là phụ nữ đến với PhậtGiáo, đó là hạng người đau khổ nhất trong xã hội cũ Chùa làng đã từng một thờiđóng vai trò trung tâm văn hóa tinh thần của cộng đồng làng xã Việt Nam, chùakhông những là nơi giảng đạo cầu kinh, thờ cúng Phật mà còn là nơi hội họp didưỡng tinh thần, tham quan vãn cảnh Kiến trúc của chùa Việt Nam thường hòahợp với cảnh trí thiên nhiên, tạo thành một kiến trúc hài hòa với ngoại cảnh, phùhợp với dinh dưỡng tinh thần của tuổi già.Nhờ có sự hiện diện của Phật Giáo ởViệt Nam,mà có các di tích và danh lam thắng cảnh như chùa Hương nhộn nhịptrong ngày trẩy hội đầu xuân,chùa Tây Phương, chùa Yên Tử mây mù, chùa Keo
bề thế, chùa Thiên Mụ soi mình trên dòng sông Hương, và có những chuyện dângian đầy tính nhân bản như truyện Từ Thức, truyện Tấm Cám, truyện Quan ÂmThị Kính có những lễ hội tưng bừng như hội Lim, hội Chùa Hương vàtrong tâm tư truyền thống cũng vẳng tư tưởng bố thí vị tha, lòng hướng thiện vàniềm tin vững chắc vào một tương lai sáng sủa, vẳng tinh thần lạc quan yêu đờicủa người dân Việt
d Với ngôn ngữ, ca dao và dân ca
Trong đời sống thường nhật cũng như trong văn học Việt Nam ta thấy cónhiều từ ngữ chịu ảnh hưởng ít nhiều của Phật Giáo được nhiều người dùng đến
Trang 12kể cả những người ít học Chẳng hạn như khi ta thấy ai bị hoạn nạn, đau khổ tỏlòng thương xót, người ta bảo "tội nghiệp quá" Hai chữ tội nghiệp là từ ngữchuyên môn của Phật Giáo Theo Ðạo Phật tội nghiệp là tội của nghiệp, donghiệp tạo ra từ trước, dẫn tới tai nạn hay sự cố hiện nay, theo giáo lý nhà Phậtthì không có một hiện tượng hay sự cố tai nạn nào xảy ra là ngẫu nhiên hay tình
cờ, mà chỉ là kết quả tập thành của nhiều nguyên nhân tạo ra từ trước Nhữngnguyên đó (theo đạo Phật gọi đó là nhân duyên) khi chín mùi, thì đem lại kếtquả Mọi người điều nói tội nghiệp nhưng không phải nhiều người biết được đó
là một từ ngữ nói lên một chủ thuyết rất căn bản của Phật :"thuyết nhân quả báoứng" thuyết này cũng đi sâu vào nhận thức dân gian với những cách như "ở hiềngặp lành, gieo gió gặp bão" Ca dao, dân ca là một thể loại văn vần truyền khẩu,
dễ hiểu trong dân gian phổ biến dưới dạng thơ lục bát bao gồm nhiều đề tài khácnhau, tư tưởng đạo lý của Phật giáo cũng thường được ông cha ta đề cập đếntrong ca dao dân ca dưới đề tài này hay khía cạnh khác để nhắc nhở, khuyênrằng dạy bảo, với mục đích xây dựng một cuộc sống an vui phù hợp với truyềnthống đạo đức của dân tộc Việt Nam
e Với quan niệm về hiếu hạnh:
Là người Việt Nam không thể không hiếu kính cha mẹ, niềm tri ơn và báo
ơn ấy đã trở thành bản tính tự nhiên, ăn sâu vào tâm khảm của người dân Việt.Tinh hoa và tinh thần cao đẹp này không phải tự nhiên mà có, mà chính là nhờảnh hưởng của cả một nền giáo dục, một tổ chức văn hóa từ ngàn xưa để lại,tương xứng với tư tưởng và phong tục của dân tộc Việt
Trong tất cả những ảnh hưởng, lớn nhất và sâu rộng nhất cũng vẫn là sựảnh hưởng của đạo phật, một tôn giáo, một nền giáo dục đã có mặt với dân tộc
từ buổi đầu của công nguyên, mà đạo phật là đạo hiếu, lời dạy của phật về việcnhớ ơn và báo ơn cha mẹ là những cảm giác suy tư in đậm trong lòng của người
Việt.
Thực ra, hiếu tâm tức thị phật tâm, hiếu hạnh vô phi phật hạnh, làm trònbổn phận cùa người con đối với cha mẹ chính là một trong những pháp tu củanhà phật