CITES Convention On International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã, nguy cấp CODEX FAO/WHO Codex Aliment
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THẾ HỆ MỚI VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU VIỆT NAM
MÃ SỐ: ĐTHV.21/2019
HÀ NỘI - 2019
Trang 2NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THẾ HỆ MỚI VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU VIỆT NAM
MÃ SỐ: ĐTHV.21/2019
Chủ nhiệm đề tài: TS Phạm Vĩnh Thắng
Thành viên tham gia:
1 TS Nguyễn Thanh Bình - Thư ký
2 Th.S Phạm Đình Dũng - Ủy Viên
HÀ NỘI - 2019
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RÀO CẢN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân định các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với FTA truyền thống 8
1.1.1.Khái niệm, đặc điểm của các FTA thế hệ mới 8
1.1.2 Phân định các FTA truyền thống và FTA thế hệ mới 10
1.2 Khái niệm và phân loại các rào cản trong thương mại quốc tế 11
1.2.1.Khái niệm về rào cản trong thương mại quốc tế 11
1.2.2.Phân loại rào cản trong thương mại quốc tế 13
1.3 Khả năng tác động của việc thực hiện các FTA thế hệ mới tới phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa của quốc gia 21
1.3.1 Tác động tĩnh 21
1.3.2 Tác động động 23
1.3.3 Phương pháp đánh giá tác động của các FTA thế hệ mới 24
1.4.Kinh nghiệm đối phó với các rào cản phi thuế quan trong thương mại quốc tế của một số nước 25
1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước 25
1.4.2 Một số bài học rút ra cho Việt Nam 38
Chương 2 : THỰC TRẠNG RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN CỦA MỘT SỐ NƯỚC 40 2.1 Khái quát về các rào cản phi thuế quan ở một số quốc gia có liên quan đến hoạt động XK hàng hoá của Việt Nam 40
2.1.1 Thị trường Hoa Kỳ 40
2.1.2 Thị trường EU 48
Trang 42.1.3 Thị trường Nhật Bản 55
2.1.4 Một số thị trường khác 64
2.2.Tác động của các rào cản phi thuế quan đối với xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam 70
2.2.1.Thực trạng áp dụng các rào cản phi thuế quan của các nước đối với hàng xuất khẩu Việt Nam 70
2.2.2.Tác động của các rào cản phi thuế quan đối với xuất khẩu hàng hóa Việt Nam 73
2.3.Năng lực đáp ứng các rào cản phi thuế quan của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam 83
Chương 3 : GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU VIỆT NAM 87 3.1 Bối cảnh và những vấn đề đặt ra 87
3.2 Định hướng phát triển thị trường XK trong bối cảnh thực hiện các FTAs thế hệ mới 88
3.3.Giải pháp cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong bối cảnh thực hiện các FTA thế hệ mới 90
3.3.1.Giải pháp đối với doanh nghiệp 90
3.3.2 Giải pháp đối với các hiệp hội 93
3.3.3 Một số khuyến nghị đối với Nhà nước 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHIẾU KHẢO SÁT
Trang 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1/ Danh mục cụm từ viết tắt tiếng Việt
2/ Danh mục cụm từ viết tắt tiếng Anh
ACFS Thailand national Bureau of
Agricultural Commodity and Food Standards
Cục Tiêu chuẩn thực phẩm và hàng hóa nông sản Thái Lan
APPPC Asia and Pacific plant protection
Trang 6CITES Convention On International
Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora
Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã, nguy cấp
CODEX FAO/WHO Codex Alimentarius
Commission
Uỷ ban Tiêu chuẩn thực phẩm của Liên hiệp quốc
Organization of the United Nations
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Free Trade Agreement Hiệp định Thương mại tự do
GATT General Agreement on Tariffs
Control Points
Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn
HS Harmonized System Hệ thống hài hòa thuế quan
IEC International Electrotechnical
Commission
Uỷ ban Kỹ thuật điện quốc tế
IPPC International Plant Protection
Convention
Công ước Bảo vệ thực vật quốc tế
ISO International Standardization
Organization
Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế
MEAs Multilateral Environmental
Agreements
Các Hiệp định đa phương về môi trường
MFN Most Favored Nation Đãi ngộ tối huệ quốc
NTBs Non Tariff Barriers Các rào cản phi thuế quan
NTMs Non Tariff Measures Các biện pháp phi thuế quan
OECD Organization for Economic
Cooperation and Development
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
ODS Ozone Deleting Substance Chất làm suy giảm tầng ô zôn
Trang 7OIE World Organization for Animal
Health
Tổ chức Kiểm dịch động vật thế giới
PPM Processes and Production
Methods
Quy trình và phương pháp sản xuất
SPS Sanitary and Phytosanitary Kiểm dịch Động thực vật
TBT Technical Barriers to Trade Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại UNCTAD United Nations Conference On
Trade and Development
Hội nghị Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển
UNDP United Nations Development
Programme
Chương trình phát triển Liên hiệp quốc
WHO World Health Organization Tổ chức Y tế thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Số lượng NTM áp dụng đối với hàng XK của Việt Nam 70
Bảng 2.2 Số lượng NTM đối với Việt Nam phân theo khu vực 73 Bảng 2.3: Mức độ khó khăn mà DN phải đối mặt với các rào cản môi trường trên
một số khu vực thị trường 80 Bảng 2.4: Mức độ đáp ứng của doanh nghiệp đối với các quy định môi trường trong
xuất khẩu 81 Bảng 2.5: Mức độ khó khăn của DN trong việc đáp ứng các quy định của nước
nhập khẩu 82
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1.Tổng quan nghiên cứu
Trong nhiều tài liệu của WTO, không có tài liệu nào đề cập tới tiêu thức phân loại hoặc phân loại các rào cản trong thương mại quốc tế mà chỉ đề cập tới hệ thống các biện pháp kiểm soát NK.Theo Diễn đàn về Thương mại
và Phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD),từ năm 1994 hệ thống các biện pháp kiểm soát NK được chia làm 2 loại là các biện pháp thuế quan (Tariff)
và các biện pháp phi thuế quan (Non Tariff Measures - NTM)
Theo các chuyên gia WTO, nếu như biện pháp thuế quan rất rõ ràng và
dễ dự đoán thì các biện pháp phi thuế quan có thể làm nhiễu tín hiệu chỉ dẫn quyết định của người sản xuất và người tiêu dùng, tín hiệu chỉ dẫn việc phân
bổ nguồn lực trong nội bộ nền kinh tế, phản ánh không trung thực lợi thế cạnh tranh Mặc dù về lý thuyết, WTO chỉ thừa nhận thuế quan là công cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất nhưng thực tế đã chứng minh rằng các nước không ngừng
sử dụng các biện pháp phi thuế quan mới
Rào cản trong thương mại quốc tế bao gồm nhiều loại khác nhau và mỗi loại rào cản lại có những vị trí và vai trò nhất định Chẳng hạn, để bảo hộ sản xuất trong nước người ta có thể sử dụng các biện pháp thuế quan vì thuế quan có ưu điểm là rõ ràng, minh bạch, dễ dự đoán và tạo nguồn thu chắc chắn cho Chính phủ Tuy nhiên, thuế quan lại có nhược điểm là không tạo ra được sự bảo hộ nhanh chóng
Theo Ts Nguyễn Bích Thủy – Đại học Thương mại, các công cụ chính sách thương mại phi thuế quan ngày càng được nhiều nước trên thế giới sử dụng, đặc biệt là các nước phát triển,trong đó có nhiều nước là thị trường XK chính của Việt Nam Chính vì vậy,rào cản phi thuế quan có ảnh hưởng lớn đến XK của Việt Nam Bên cạnh những tác động tiêu cực làm giảm sức cạnh tranh của các sản phẩm của Việt Nam, vẫn có những động lực khiến DN Việt
Trang 10Nam phải thay đổi để thích ứng với yêu cầu của nước NK và giành thế chủ động trên thương trường
Pgs,Ts Phạm Tất Thắng -Viện Nghiên cứu Thương mại cho rằng : Mức
độ cần thiết và lý do sâu xa dẫn đến việc bảo hộ sản xuất nội địa của từng nước cũng khác nhau, đối tượng cần bảo hộ cũng khác nhau khiến cho các hàng rào phi thuế ngày càng trở nên đa dạng hơn Có thể sử dụng nhiều biện pháp phi thuế quan để phục vụ một mục tiêu.Mặt khác, một biện pháp phi thuế quan có thể đồng thời phục vụ hiệu quả nhiều mục tiêu khác nhau Xu hướng chung trong việc sử dụng các biện pháp phi thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước là chuyển từ các biện pháp mang tính chất hạn chế định lượng trực tiếp sang các biện pháp tinh vi hơn như TCKT; PVTM ;CBPG ; CTC ; TV Ngoài ra, xu hướng sử dụng các biện pháp hạn chế NK gắn với
yêu cầu tuân thủcác tiêu chuẩn môi trường và lao độngđang nổi lên và được nhiều nước phát triển hậu thuẫn mạnh mẽ
Ths Vũ Thị Như Quỳnh – Đại học Thương mại trong nghiên cứu về rào cản thương mại quốc tế quan niệm : Khi một biện pháp phi thuế quan gây cản trở thương mại không biện minh được theo tinh thần và các nguyên tắc của
WTO, biện pháp này bị coi là một hàng rào phi thuế quan (Non Tariff Barrier – NTB) Trên thực tế nhiều khi rất khó phân biệtmột biện pháp phi thuế quan
có phải là một rào cản phi thuế quan hay không.Ngoài ra, một biện pháp phi thuế quan có thể là hợp pháp trong một giai đoạn nhất định nhưng có thể bị coi là một rào cản phi thuế quan vào một giai đoạn khác
Theo các chuyên gia thuộc Bộ Công Thương, các rào cản thương mại nhìn chung sẽ đem lại lợi ích cho một nhóm người nhất định nào đó, tuy rằng
có thể gây thiệt hại cho một nhóm người khác và thậm chí gây thiệt hại về tổng thể cho một quốc gia.Chính vì sự liên quan tới lợi ích của từng nhóm người khác nhau và sự hình thành của các loại rào cản cũng liên quan mật thiết với từng nhóm người này cũng như khả năng tác động của họ tới chính
Trang 11sách của Nhà nước.Xét trên khía cạnh này, một số nghiên cứu cho rằng sự hình thành các loại rào cản phi thuế quan trong thương mại quốc tế có thể xuất phát từ một trong ba chủ thể sau:
- Từ phía doanh nghiệp: Hầu hết các DN của bất kỳ một ngành sản xuất
kinh doanh nào cũng muốn được Nhà nước bảo hộ Một mặt để tránh với sự cạnh tranh của nước ngoài Mặt khác, ngay cả khi không lo ngại sự cạnh tranh của nước ngoài thì rào cản thương mại của Nhà nước cũng giúp họ có thêm vị trí trên thị trường và có khả năng thu được lợi nhuận cao hơn
- Từ phía người lao động và người tiêu dùng: Một trong những lý do
lớn dẫn tới việc hình thành các rào cản là để bảo vệ người lao động Trước hết
là để bảo vệ cho người lao động (thuộc ngành được bảo hộ) có công ăn việc làm, và sau đó là để bảo vệ cho họ có thu nhập ổn định Người lao động có thể thông qua các nghiệp đoàn để đấu tranh hoặc đòi hỏi Chính phủ hạn chế sản phẩm, DN và kể cả công nghệ có năng suất cao thâm nhập vào thị trường nội địa của họ Cũng có khi họ mượn cớ rằng để bênh vực người lao động của nước khác phải làm việc trong điều kiện không được bảo đảm, rằng vì lý do
sử dụng lao động trẻ em hay tù nhân nên sản phẩm đưa vào thị trường với giá
rẻ Đây chính là lý do mà Chính phủ phải dựng nên rào cản với tên gọi là trách nhiệm xã hội theo SA 8000
- Từ phía Chính phủ: Xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh
tế xã hội của quốc gia và vận động của các nhóm khác nhau, Chính phủ sẽ phải cân nhắc đến lợi ích của từng nhóm cũng như tổng thể để quyết định xem
có nên thực thi một rào cản nào đó hay không Quá trình này không phải dễ dàng vì tính toán lợi ích – thiệt hại một cách tổng thể là rất khó khăn, đặc biệt
là giữa cái trước mắt và lâu dài cũng như phản ứng của các đối tác thương mại chính cũng như các quốc gia có liên quan
Nhìn chung các ý kiến, bài báo, công trình nghiên cứu đã công bố mới chủ yếu đề cập tới một số vấn đề lý luận liên quan tới biện pháp phi thuế quan
Trang 12- NTM và rào cản phi thuế - NTB mà hàng XK nước ta phải vượt qua Với các FTA thế hệ mới, các NTM và NTB còn phức tạp hơn nhiều, đặt ra nhiều thách thức đối với các DN xuất khẩu Việt Nam.Nội dung này chưa được đề cập hoặc còn mờ nhạt trong các nghiên cứu đã công bố
2.Tính cấp thiết của đề tài
Do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do trình độ phát triển kinh tế không đồng đều, các nước đều duy trì các biện pháp thương mại nhằm bảo hộ nền sản xuất nội địa Bên cạnh biện pháp bảo hộ bằng thuế quan còn rất nhiều
biện pháp phi thuế quan
Gia nhập WTO sau 12 năm kiên trì đàm phán, năm 2007 Việt Nam đã trở thành thành viên của một sân chơi rộng lớn nhất của thương mại toàn cầu Tiếp theo đó, Việt Nam đã tiếp tục trở thành thành viên của rất nhiều FTA song phương và khu vực khác.Tới nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, được xem là nước có nền kinh tế
hướng ra XK mạnh mẽ nhất ASEAN, là quốc gia có nền kinh tế với “độ mở
”khá cao.Mức độ cam kết hội nhập kinh tế quốc tế đã chuyển dần từ thấp lên cao, từ hẹp sang rộng, phù hợp với xu thế phát triển của kinh tế khu vực và thế giới
Mặc dù số lượng các vụ điều tra liên quan đến PVTM trên thế giới ngày càng giảm song các vụ kiện PVTM; CBPG… đối với hàng hóa Việt Nam lại có
xu hướng gia tăng.Lý do khiến các vụ kiện đối với Việt Nam có thể tiếp tục gia tăng trong thời gian tới là phần lớn các đối tác thương mại vẫn xem Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường (NME) Điều này thường dẫn đến kết quả là biên độ phá giá cao hơn,các bên tham gia vào quá trình điều tra phải bỏ thêm nhiều công sức và chi phí.Nhiều nước cũng đã lạm dụng biện pháp PVTM để bảo vệ hàng hóa trong nước.Đó là các biện pháp gắn với môi trường và tiêu chuẩn lao động
để hạn chế NK Nếu bị áp dụng các biện pháp này, các sản phẩm XK của Việt Nam sẽ rất khó thâm nhập vào thị trường các quốc gia này
Trang 13Trong tương lai,Nghị viện châu Âu sẽ tăng cường rà soát chính sách của Ủy ban châu Âu (EC) liên quan tới PVTM và CBPG Các DN XK từ nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, sẽ chịu tác động từ động thái này Động thái của Nghị viện châu Âu cho thấy, các DN sẽ gặp khó khăn hơn khi
XK vào thị trường Liên minh châu Âu (EU)
Thị trường nông sản thế giới vẫn nhiều tiềm năng, nhưng yêu cầu về chất lượng hàng hóa ngày càng cao Các nước NK nông sản lớn của Việt Nam đều gia tăng bảo hộ hàng hóa nông sản thông qua các tiêu chuẩn về quản
lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm , yêu cầu truy xuất nguồn gốc
Diễn đàn Kinh tế Việt Nam chuyên đề Nông nghiệp tổ chức ngày 5/6/2018, cho thấy 9 tháng đầu năm 2016, Việt Nam đã có 542 lô hàng thủy sản của 110 công ty XK bị 38 nước NK trả về, với lý do không đáp ứng được yêu cầu vệ sinh ATTP và tồn dư kháng sinh Cũng theo thông tin tại hội
thảo"Nâng cao năng lực XK hàng nông sản Việt Nam" tổ chức ngày
2/11/2017 tại thành phố Hồ Chí Minh: Tính đến tháng 10/2017, Bộ NN&PTNT đã nhận được 45 thông báo, trong đó có 35 thông báo liên quan đến việc các nước điều chỉnh những tiêu chuẩn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật đối với hàng nông sản
Việt Nam bị đánh giá là nước có năng lực cạnh tranh thấp, trình độ khoa học công nghệ và trình độ phát triển DN tụt hậu xa so với các đối tác Ngoài ra,với trình độ quản lý DN còn hạn chế, công nghệ lạc hậu, trình độ lao động tay nghề thấp, quy mô nhỏ đã dẫn đến khả năng tham gia vào chuỗi toàn cầu rất yếu Hiện tại, 96% DN là các DN vừa và nhỏ, trong đó, số DN siêu nhỏ chiếm đến 70%
Trong các FTA thế hệ mới,những quy định về phát triển bền vững cũng như các quy định về hàng rào kỹ thuật, biện pháp vệ sinh dịch tễ ngày càng chặt chẽ hơn Việc thực thi trong ngắn hạn chắc chắn sẽ ảnh hưởng nhất định đến chi phí của DN Điều đáng quan ngại là việc các nước có xu hướng tìm
Trang 14cách tận dụng triệt để các vấn đề này như là những biện pháp bảo hộ cuối cùng sau khi hàng rào thuế quan gần như được hoàn toàn xóa bỏ.Các khảo sát
do các tổ chức trong và ngoài nước thực hiện đều cho thấy mức độ nhận biết
về các FTA của DN Việt Nam vào hạng thấp nhất khu vực.Một chương trình phổ biến, tuyên truyền sâu rộng, cụ thể chắc chắn sẽ giúp DN chủ động tích cực hơn trong việc tìm hiểu , tận dụng được các cơ hội mà các FTA mang lại
Như vậy, việc Nghiên cứu các rào cản phi thuế quan trong các hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới và giải pháp đối với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam sẽ góp phần vào thực hiện chiến lược quốc gia về xuất nhập khẩu, đẩy
nhanh quá trình hội nhập, thực hiện thắng lợi kế hoạch kinh tế - xã hội 2016 –
2021
2.Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu đề xuất giải pháp để giúp các DN XKvượt qua các rào cản
phi thuế quan khi Việt Nam triển khai, thực thi các FTA thế hệ mới
Mục tiêu cụ thể :
i.Làm rõ về mặt lý luận (khái niệm , nội dung ) về rào cản phi thuế quan ii.Đánh giá thực trạng rào cản phi thuế quan đang được áp dụng ở các thị trường XK chủ yếu của Việt Nam trong những năm vừa qua
iii Đề xuất quan điểm , định hướng và các giải pháp để các DN xuất khẩu Việt Nam vượt qua các rào cản phi thuế quan khi thực thi các FTA thế
hệ mới
3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các rào cản phi thuế quan trong hai FTA thế hệ
mới mà Việt Nam đã ký kết (hiệp định CPTPP và EVFTA), liên quan tới một
số mặt hàng XK chủ lực của các DN Việt Nam ( gỗ, rau quả, thủy sản)
- Phạm vi nghiên cứu:Về thời gian quan trắc các rào cản phi thuế quan
giới hạn xem xét, đánh giá trong hai năm gần đây Về không gian tập trung vào các DN xuất khẩu nông lâm sản trên các địa bàn trọng điểm
Trang 154.Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phiếu hỏi để tiến hành khảo sát tại 01 số DN xuất khẩu nông lâm sản thuộc các loại hình khác nhau ở các địa bàn trọng điểm.Bên cạnh đó trưng cầu ý kiến đánh giá chuyên gia cũng được xem là một kênh đánh giá quan trọng Song song với các phương pháp trên, phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp cũng được sử dụng trong quá trình triển khai đề tài
5.Nội dung nghiên cứu
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương :
Chương 1 : Cơ sở lý luận về rào cản trong thương mại quốc tế
Chương 2 : Thực trạng rào cản phi thuế quan của một số nước
Chương 3 : Giải pháp đối với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RÀO CẢN TRONG
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân định các Hiệp định thương mại tự
do thế hệ mới với FTA truyền thống
1.1.1.Khái niệm, đặc điểm của các FTA thế hệ mới
a) Khái niệm, đặc điểm
Xét từ góc độ pháp lý thì Hiệp định Thương mại tự do(Free Trade Agreement - FTA) là dạng hiệp định quá độ (interim agreement) làm cơ sở pháp lý cho việc hình thành một Khu vực Thương mại tự do (Free Trade Area) hoặc một Liên minh Thuế quan (Customs Union) sau một khoảng thời gian nhất định.Về bản chất , Hiệp định/Khu vực Thương mại tự do là một hiệp định có đi có lại, trong đó các hàng rào thương mại giữa các quốc gia tham gia hiệp định được xóa bỏ Song, mỗi thành viên của hiệp định có quyền duy trì các hàng rào thương mại riêng đối với các nước không phải là thành viên hiệp định.Kể từ thập kỷ 1990 đến nay, khái niệm Hiệp định Thương mại
tự dođã mở rộng hơn về phạm vi và sâu hơn về cam kết tự do hóa Đây chính
là lý do mà các học giả thường gọi các Hiệp định Thương mại tự do ngày nay
là FTA “thế hệ mới”
b) Vai trò của các FTA thế hệ mới
- Thúc đẩy tiến trình tự do hóa thương mại và đầu tư, cạnh tranh, nâng cao tiêu chuẩn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (IPR), môi trường và tiêu chuẩn lao động, vốn chưa được quy định trong các hiệp định hiện tại của WTO
Các FTA thế hệ mới được triển khai sẽ thúc đẩy mạnh hơn tiến trình tự
do hóa Bởi trên thực tế, bản thân các quốc gia không tự cắt giảm thuế, xóa bỏ các rào cản, mà chỉ có thông qua đàm phán, thiết lập các FTA mới, mở ra các
cơ hội để thúc đẩy tự do hóa, góp phần vào quá trình tăng trưởng kinh tế của
Trang 17mỗi quốc gia thành viên FTA Có thể nói, các FTA thế hệ mới thúc đẩy mạnh
mẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia
- Nâng cao chuẩn mực tự do hóa thương mại
Vai trò chung của các FTA là thúc đẩy thương mại, trong bối cảnh tự
do hóa thương mại toàn cầu qua kênh đa phương đang gặp khó khăn Các FTA thế hệ mới với các yêu cầu cao hơn và rộng hơn đối với thương mại hàng hóa, dịch vụ đã nâng cao và chặt chẽ hơn trong tiêu chuẩn tham gia hội nhập Ngoài các tiêu chuẩn về thương mại, đầu tư, bảo hộ sở hữu trí tuệ được nâng cao hơn, các FTA thế hệ mới còn thiết thực góp phần thực thi và tuân thủ các tiêu chuẩn về sử dụng lao động, tiêu chuẩn môi trường và phát triển bền vững đã được Liên hợp quốc thông qua
- Mở ra không gian phát triển mới với các quốc gia thành viên FTA thế
hệ mới
Tầm nhìn và không gian sản xuất của các DN, cũng như chiến lược phát triển của các quốc gia trong điều kiện thực thi các FTA, nhất là FTA thế hệ mới không chỉ bó hẹp trong phạm vi từng quốc gia Chính không gian phát triển mới đặt yêu cầu mới trong tư duy, định hình chiến lược phát triển quốc gia mới phù hợp, hiệu quả trong bối cảnh thực thi các FTA thế hệ mới
- Góp phần củng cố và bảo đảm an ninh kinh tế, nâng cao vị thế đối với các quốc gia thành viên
Hiện nay, việc chọn phương án ký kết các FTA được coi là bước đi hợp lý nhằm củng cố quan hệ giữa các nước và tiến tới sự hợp tác ở những cấp độ cao hơn, tạo tiền đề cho những giải pháp phòng, chống khủng hoảng khả thi hơn
Tham gia các FTA thế hệ mới, thông qua liên kết khu vực, vị thế các nước nhỏ cũng được cải thiện thông qua vị thế chung của khối Mặt khác, việc hình thành các FTA có chuẩn mực cao, được dẫn dắt bởi những nền kinh tế lớn, cũng là cơ hội để các nước này khẳng định vai trò trong xây dựng và thiết lập
Trang 18trật tự khu vực, ảnh hưởng đến chiều hướng phát triển và cạnh tranh vị thế nước
lớn trên trường quốc tế
1.1.2 Phân định các FTA truyền thống và FTA thế hệ mới
Các hiệp định FTA trong thời gian gần đây chứng kiến một xu hướng mới trong đó không chỉ những lĩnh vực thương mại được đề cập mà cả những vấn đề phi thương mại như lao động, môi trường cũng được đưa vào đàm phán và ký kết
Thuật ngữ “thế hệ mới” được sử dụng để nói về các FTA có phạm vi
toàn diện, vượt ra ngoài khuôn khổ tự do hóa thương mại hàng hóa, như: Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA); Hiệp định Đối tác thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (TTIP); các hiệp định thành lập Liên minh châu Âu; Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA); Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR); Hiệp định thương mại tự do Australia - Mỹ (AUSFTA) …
Các FTA thế hệ mới khác với với các FTA truyền thống ở những đặc điểm sau:
(i) Các FTA thế hệ mới bao gồm cả các nội dung vốn được coi là “phi
thương mại” như: lao động, môi trường, cam kết phát triển bền vững và quản
trị tốt… Đây là cách tiếp cận của các FTA thế hệ mới và đang trở thành một
xu thế trong những năm gần đây trên thế giới
(ii) Nếu so với các FTA trước đây và các hiệp định của WTO, thì các FTA thế hệ mới bao gồm các nội dung rộng hơn như: đầu tư, cạnh tranh, mua sắm công, thương mại điện tử, khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ, hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển cũng như dành thời gian chuyển đổi hợp lý để nước đi sau có thể điều chỉnh chính sách theo lộ trình phù hợp với trình độ phát triển của mình…
(iii) Nội hàm của các FTA trước đây và các hiệp định của WTO, nay được xử lý sâu sắc hơn trong các FTA thế hệ mới, như: thương mại hàng hóa,
Trang 19bảo vệ sức khỏe động vật và thực vật trong thương mại quốc tế, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ (IPR) , tự vệ thương mại, quy tắc xuất xứ, minh bạch hóa và chống tham nhũng, giải quyết tranh chấp giữa Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài (ISDS)…
(iv) Các FTA thế hệ mới cũng đặt ra các yêu cầu và tiêu chuẩn cao về minh bạch hóa, cải cách thể chế, chính sách sau đường biên giới, cũng như đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp có tính ràng buộc và chặt chẽ
1.2 Khái niệm và phân loại các rào cản trong thương mại quốc tế
1.2.1.Khái niệm về rào cản trong thương mại quốc tế
Thuật ngữ “rào cản” hay “hàng rào” đối với thương mại chỉ được đề
cập chính thức trong một hiệp định của WTO - đó là Hiệp định về các hàng
rào kỹ thuật đối với thương mại (Agreement on Technical Barriers to
Trade).Tuy nhiên, trong Hiệp định này khái niệm hàng rào cũng không được
định danh một cách rõ ràng mà chỉ được thừa nhận như một thoả thuận rằng
“không một nước nào có thể bị ngăn cản tiến hành các biện pháp cần thiết để
đảm bảo chất lượng hàng hoá XK của mình, hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khoẻ con người, động và thực vật, bảo vệ môi trường hoặc để ngăn ngừa các hoạt động man trá, ở mức độ mà nước đó cho là phù hợp và phải đảm bảo rằng các biện pháp này không được tiến hành với cách thức có thể gây ra phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện hoặc không thể biện minh được giữa các nước, trong các điều kiện giống nhau, hoặc tạo ra các hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, hay nói cách khác phải phù hợp với các quy định của Hiệp định này”
Khi nghiên cứu tài liệu “Kết quả vòng đám phán Uruguay về hệ thống
thương mại đa biên” và các tài liệu của các vòng đàm phán đa phương hoặc
song phương về mở cửa thị trường và tự do hoá thương mại cho thấy rào cản trong thương mại quốc tế xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực, với các biện pháp rất đa dạng và tinh vi Chẳng hạn có biện pháp tại biên giới và có biện pháp
Trang 20đằng sau biên giới; có biện pháp thuế quan và phi thuế quan; có biện pháp môi trường và biện pháp vệ sinh dịch tễ; có biện pháp tự vệ đặc biệt và biện pháp tự vệ mang tính tạm thời; có biện pháp chung và biện pháp mang tính chuyên ngành; có những biện pháp đối với hàng hoá xuất nhập khẩu và có những biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
Điều cần lưu ý – theo các chuyên gia của Trung tâm Thương mại quốc
tế là thuật ngữ “hàng rào phi thuế quan” hay “rào cản phi thuế quan” tuy
được sử dụng rộng rãi nhưng là một thuật ngữ khá mơ hồ và không phải là thuật ngữ chính thống được WTO sử dụng Các văn bản pháp lý của WTO chỉ
sử dụng thuật ngữ “biện pháp phi thuế quan” mà không bao giờ nhắc đến hàng rào phi thuế quan Đặc biệt thuật ngữ “hàng rào” chỉ được sử dụng có một lần trong các văn bản của WTO, đó là hiệp định về các “Hàng rào kỹ
thuật đối với thương mại – TBT ” Nhưng trong chính hiệp định, thuật ngữ
này không hề được nhắc lại.Vì vậy chúng tôi lựa chọn khái niệm : rào cản
thương mại - theo cách hiểu chung nhất là bất kỳ biện pháp hay hành động nào gây cản trở đối với thương mại quốc tế
Cần lưu ý rằng với bất kỳ chính sách rào cản nào, có thể có lợi cho DN
và người lao động trong ngành được bảo hộ, nhưng lại gây hại cho các ngành khác và cho người tiêu dùng nói chung.Xu hướng chung hiện nay là căn cứ vào các định chế và thoả thuận trong khuôn khổ của WTO, cũng như dựa vào các tiêu chuẩn và cam kết quốc tế khác để quyết định biện pháp áp dụng
Ngoài ra, trong nhiều trường hợp luôn có sự cấu kết giữa DN và Nhà nước vì lợi ích của hai bên có sự liên hệ chặt chẽ với nhau, tăng mức độ bảo
hộ bằng thuế quan thì thu ngân sách của Nhà nước sẽ tăng lên trong ngắn hạn Bên cạnh đó còn là sự “xoa dịu” của Chính phủ với người lao động hoặc dân chúng nhằm đạt được lòng tin của dân chúng với Chính phủ Sự xoa dịu này
có thể được viện dẫn bởi các lý do như đảm bảo an ninh xã hội, an toàn cho dân cư hoặc là để bảo vệ các giá trị văn hoá và đạo đức…
Trang 211.2.2.Phân loại rào cản trong thương mại quốc tế
Hiện nay, chưa có tài liệu nghiên cứu nào đề cập tới việc phân loại các rào cản trong thương mại quốc tế vì khái niệm và nội hàm của rào cản chỉ có tình chất tương đối Chẳng hạn, thuế quan không phải là rào cản nếu mức thuế suất là thấp hoặc rất thấp tới mức không gây cản trở thương mại quốc tế, ngược lại nó sẽ trở thành rào cản nếu mức thuế suất là cao một cách thực sự hoặc là cao hơn so với mức thuế suất được áp dụng đối với hàng hoá cùng
loại của nước khác Biện pháp phi thuế quan (Non-tariff Measure- NTM) cũng như vậy, bản thân nó không phải là rào cản nếu biện pháp đó “không đặt ra
quá mức cần thiết” và không vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia, nhưng nó
sẽ trở thành hàng rào phi thuế quan (Non tariff Barrier-NTB) nếu như nó gây
trở ngại (cản trở) tới thương mại của quốc gia khác.Hiện có 2 cách phân loại thường được sử dụng một cách thông dụng sau:
1.2.2.1.Theo cách tiếp cận của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Trong nhiều tài liệu của WTO, không có tài liệu nào đề cập tới tiêu thức phân loại hoặc phân loại các rào cản trong thương mại quốc tế mà chỉ đề cập tới hệ thống các biện pháp kiểm soát NK.Theo Diễn đàn về thương mại
và phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD), từ năm 1994 hệ thống các biện pháp kiểm soát NK được chia làm 2 loại là các biện pháp thuế quan (Tariff)
và các biện pháp phi thuế quan Với cách đặt vấn đề như đã trình bầy ở trên, rào cản trong thương mại quốc tế có thể phân thành 2 nhóm lớn là: rào cản thuế quan và phi thuế quan
a Rào cản thuế quan:
Thuế quancó thể được hiểu là một biện pháp bảo hộ cổ điển nhất trong
thương mại quốc tế, một loại thuế đánh vào hàng mậu dịch, phi mậu dịch (hàng hóa xuất NK) khi hàng hóa đi qua khu vực hải quan của một nước, bao gồm các mức thuế suất thông thường,thuế suất ưu đãi tối huệ quốc (MFN),thuế suất ưu đãi phổ cập (GSP), các loại thuế suất theo thời vụ, thuế
Trang 22suất ưu đãi theo các Hiệp định thương mại tự do…Bên cạnh mục tiêu nhằm bảo hộ các ngành sản xuất trong nước, hạn chế nhập siêuvà bảo vệ môi trường, loại thuế này còn đem lạimột nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước
để phát triển kinh tế - xã hội
Thuế quan là một trong những rào cản thương mại phổ biến nhất trong thương mại quốc tế do vậy trong hầu hết các vòng đàm phán thương mại đa biên và song phương đều nổi lên chủ đề về cắt giảm thuế quan để đẩy nhanh quá trình tự do hoá thương mại Các quy định của WTO không đề cập một cách cụ thể các nước phải ràng buộc loại thuế nào vì trong thực tiễn thương mại quốc tế có rất nhiều loại thuế và mức thuế suất khác nhau.Nhìn chung có
3 loại thuế quan phổ biến sau:Thuế phần trăm ;Thuế phi phần trăm ;Thuế quan đặc thù, bao gồm hạn ngạch thuế quan, thuế đối kháng, thuế chống bán phá giá,
thuế thời vụ và thuế bổ sung ; Thuế phi tối huệ quốc (Non- MFN);Thuế tối huệ quốc (MFN) ;Thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP);Thuế áp dụng đối với các khu
vực thương mại tự do; Các loại thuế quan ưu đãi khác
b Rào cản phi thuế quan
Biện pháp phi thuế quan (Non Tariff Measures - NTMs) có thể hiểu là
tất cả các biện pháp không phải thuế quan ,có ảnh hưởng đến hoạt động NK
và được quy định cụ thể trong hệ thống chính sách pháp luật hay phát sinh từ thực tiễn quản lý hoạt động thương mại, nhằm thực hiện các mục tiêu bảo hộ thị trường nội địa chống lại sự xâm nhập của hàng hóa nước ngoài, bảo vệ các nhà sản xuất và người tiêu dùng trong nước, cũng như bảo vệ môi trường, sức khỏe con người và động thực vật
Ngoài ra, có thể hiểu các biện pháp phi thuế quantrong thương mại
nhằm bảo vệ môi trường là các biện pháp không dùng thuế quan, mà sử dụng
các quy định kỹ thuật dưới hình thức như các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật
(quy định chất lượng và đặc tính của sản phẩm; quy trình và các phương pháp sản xuất, chế biến, vận chuyển; quy định về đóng gói, bao bì, nhãn mác môi
Trang 23trường, nguồn gốc xuất xứ; quy định, tiêu chuẩn môi trường đối với sản
phẩm; quy định, tiêu chuẩn về hàng đã qua sử dụng, phế liệu, phế thải ) và
các quy trình, thủ tục đánh giá sự phù hợp với các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật; các quy định kiểm dịch động thực vật, vệ sinh an toàn thực phẩm và các quy định pháp lý (thông qua các biện pháp hành chính và thủ tục cấp phép), nhằm trực tiếp thực hiện các mục tiêu về bảo vệ môi trường, sức khỏe con người và động thực vật
Trong khuôn khổ WTO,các biện pháp phi thuế quan có thể được phép áp dụng, nếu nó tuân theo những tiêu chí của WTO và không gây cản trở hay bóp méo thương mại, được gọi là những biện pháp phi thuế quan
phổ thông Có những biện pháp phi thuế quan mang tính bắt buộc phải thực
hiện và cả những biện pháp phi thuế quan tự nguyện áp dụng
Bên cạnh đó, có rất nhiều biện pháp phi thuế quan gây cản trở đối với thương mại quốc tế, làm hạn chế hoặc ngăn cấm một cách có hiệu quả hoạt
động NK và nó được coi là các rào cản phi thuế quan.Mặc dù được sử dụng
khá phổ biến trong thương mại quốc tế, nhưng “rào cản phi thuế quan” là một
thuật ngữ không được WTO định nghĩa một cách chính thống và cũng không
được đưa vào các văn bản pháp luật của WTO Thuật ngữ “rào cản” hay “hàng
rào” đối với thương mại chỉ được đề cập chính thức trong Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại của WTO Tuy nhiên trong Hiệp định
này, khái niệm rào cản cũng không được định nghĩa một cách rõ ràng mà chỉ
được thừa nhận như một thỏa thuận rằng “Các nước có thể tiến hành các biện
pháp cần thiết để bảo vệ cuộc sống hay sức khỏe con người, động thực vật, BVMT hoặc để ngăn ngừa các hoạt động man trá, ở mức độ mà nước đó cho
là phù hợp và đảm bảo không gây ra sự phân biệt đối xử một cách tùy tiện hoặc không thể biện minh được giữa các nước, cũng như không tạo ra các hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế” Rào cản phi thuế quan trong
thương mại quốc tế xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực, với các biện pháp rất đa
Trang 24dạng và tinh vi.1 Việc phân biệt một biện pháp phi thuế quan có phải là một rào cản phi thuế quan hay không là rất khó, vì trong nội dung các hiệp định của WTO luôn nhận thấy có sự xen kẽ giữa các biện pháp phi thuế quan và
rào cản phi thuế quan.Tuy nhiên có thể hiểu, rào cản phi thuế quanlà một biện
pháp phi thuế quan được áp dụng gây cản trở cho thương mại quốc tế mà không giải thích được theo bất kỳ một định chế hay nguyên tắc nào của WTO
Rào cản phi thuế quan bao gồm nhiều loại khác nhau, có thể được áp dụng ở biên giới hay nội địa, có thể là biện pháp hành chính và cũng có thể là các biện pháp kỹ thuật, có những biện pháp bắt buộc phải thực hiện và có
những biện pháp tự nguyện…Chính vì có sự “giao thoa” nhau giữa các loại
nên việc phân loại chi tiết theo một tiêu thức thống nhất là rất khó khăn Sau đây xin liệt kê một số rào cản phi thuế quan chủ yếu:
- Các biện pháp cấm :Trong số các biện pháp cấm được sử dụng trong
thực tiễn thương mại quốc tế có các biện pháp như cấm vận toàn diện, cấm vận từng phần, cấm XK hoặc NK đối với một số hàng hoá nào đó, cấm phần lớn các DN mà chỉ cho DN được xác định XK hoặc NK (ví dụ: chất nổ, hoá chất chuyên ngành…)
- Hạn ngạch XK, NK: đó là hạn ngạch về số lượng hoặc trị giá được
phép XK hoặc NK trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm) Hạn ngạch này có thể do nước NK hoặc XK tự áp đặt một cách đơn phương nhưng cũng
có loại hạn ngạch được áp đặt trên cơ sở tự nguyện của bên thứ hai (hạn ngạch XK tự nguyện)
- Giấy phép xuất NK: Có 2 loại giấy phép là giấy phép về quyền hoạt
động kinh doanh xuất NK và giấy phép xuất NK đối với một số loại hàng hoá hoặc phương thức kinh doanh xuất NK nào đó.Chẳng hạn là giấy phép cho phép DN có vốn đầu tư nước ngoài được phép mua, bán hàng hoá trên thị
1Kết quả Vòng đàm phán Uruguay về hệ thống thương mại đa biên.Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2000.
Trang 25trường nội địa; giấy phép NK thuốc lá điếu và rượu ngoại; giấy phép kinh doanh tạm nhập tái xuất… Ngoài ra còn có 2 hình thức cấp phép là cấp phép
tự động và không tự động.Sử dụng các biện pháp cấp phép không tự động cũng dẫn tới các rào cản thương mại về thủ tục hành chính và chi phí tăng
- Các thủ tục hải quan:Nếu các thủ tục hải quan đơn giản, nhanh chóng
thì đây chỉ là biện pháp quản lý thông thường nhưng nếu thủ tục quá phức tạp, chậm chạp thì sẽ trở thành các rào cản phi thuế quan Chẳng hạn, các quy định về kiểm tra trước khi xếp hàng, quy định về cửa khẩu thông quan, quy định về trị giá tính thuế hải quan… cũng sẽ trở thành rào cản khi mà nó chưa hoặc không phù hợp với quy định về hài hoà thủ tục hải quan
- Các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế (TBT): Đó là các quy
định và tiêu chuẩn kỹ thuật, các quy định về phòng thí nghiệm và quy định về công nhận hợp chuẩn Hiện có rất nhiều các quy định và hệ thống tiêu chuẩn được áp dụng trên thế giới mà các nước cho là phù hợp.Song lại có rất ít phòng thí nghiệm và tiêu chuẩn quốc tế mà các nước đều công nhận hợp chuẩn Do còn có sự khác biệt nhau như vậy nên nó đã trở thành rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế WTO đã phải thống nhất các nguyên tắc
chung và được cam kết tại Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật trong thương mại
nhưng cách thức mà các nước đang áp dụng thường tạo ra sự phân biệt đối xử hay hạn chế vô lý đối với thương mại
- Các biện pháp vệ sinh động – thực vật (SPS):Theo Hiệp định về các
biện pháp kiểm dịch động thực vật của WTO thì các biện pháp vệ sinh động - thực vật bao gồm tất cả luật, nghị định, quy định, yêu cầu và thủ tục, kể cả các tiêu chí sản phẩm cuối cùng; các quá trình và phương pháp sản xuất, thử nghiệm, thanh tra, chứng nhận và làm thủ tục chấp thuận; xử lý kiểm dịch kể
cả yêu cầu gần với việc vận chuyển động vật hay thực vật hay gắn với các nguyên liệu cần thiết cho sự tồn tại của chúng trong khi vận chuyển; thủ tục lấy mẫu và đánh giá nguy cơ; các yêu cầu đóng gói và nhãn mác liên quan
Trang 26trực tiếp đến an toàn thực phẩm Vì định nghĩa của WTO về “mức độ bảo vệ động - thực vật phù hợp” rất chung chung như “mức bảo vệ được xây dựng nên” lại được chính nước đó “coi là phù hợp” nên các nước công nghiệp phát triển thường đưa ra các mức quá cao khiến cho hàng hoá của các nước đang phát triển khó thâm nhập Đây là một trong những loại rào cản phổ biến nhất hiện nay và mức độ của nó ngày càng tinh vi
- Các quy định về thương mại dịch vụ: như quy định về lập công ty, chi
nhánh và văn phòng của nước ngoài tại nước sở tại, quy định về xây dựng và phát triển hệ thống phân phối hàng hoá, quy định về quyền được tiếp cận các dịch vụ công một cách bình đẳng, quy định về thanh toán và kiểm soát ngoại
tệ, quy định về quảng cáo và xúc tiến thương mại… đều có thể trở thành các rào cản trong thương mại quốc tế nếu các quy định này là không minh bạch
và có sự phân biệt đối xử
- Các quy định về đầu tư có liên quan đến thương mại như lĩnh vực
không hoặc chưa cho phép đầu tư nước ngoài; tỷ lệ góp vốn tối thiểu hoặc tối
đa cho các lĩnh vực hoặc sản phẩm xác định; tỷ lệ XK tối thiểu của DN có vốn đầu tư nước ngoài; quy định bắt buộc về phát triển vùng nguyên liệu … Các quy định trên nếu có sự phân biệt đối xử giữa các DN trong nước với DN
có vốn đầu tư nước ngoài đều được gọi là rào cản và hiện tại đã trở thành chủ
đề của các cuộc đàm phán dỡ bỏ rào cản nhằm thực thi tự do hoá thương mại
- Các quy định về sở hữu trí tuệ : trước hết là các quy định về xuất xứ
hàng hoá Nếu các quy định về xuất xứ quá chặt chẽ so với hàng sản xuất trong nước để nhằm xác định xem một hàng hoá có phải là hàng nội địa hay không và có sự phân biệt đối xử giữa các thành viên thì quy định về xuất xứ
đó vi phạm Hiệp định về quy tắc xuất xứ của WTO và đương nhiên trở thành rào cản trong thương mại quốc tế Ngoài ra, các vấn đề về thương hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, bí mật thương mại…cũng có thể trở thành rào cản trong thương mại quốc tế Chẳng hạn, trên thị trường thế giới đã có nhiều
Trang 27thương hiệu và nhãn hiệu nổi tiếng của các công ty hay tập đoàn xuyên quốc gia nên các DN vừa và nhỏ mới tham gia vào thị trường thế giới sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi thâm nhập thị trường thế giới
- Các quy định chuyên ngành về các điều kiện sản xuất, thử nghiệm,
lưu thông và phân phối các sản phẩm được xác định trong các Hiệp định của
WTO như: Hiệp định nông nghiệp, Hiệp định thương mại về hàng dệt và may mặc Hầu hết các nước trong Tổ chức Thương mại thế giới đều có các quy định quốc gia cho một số hàng hoá thuộc diện quản lý theo chuyên ngành, cách thức và biện pháp quản lý của các nước cũng rất khác nhau Đó cũng được xem xét là một trong số các rào cản phi thuế quan
- Các quy định về bảo vệ môi trường gồm : Các quy định về môi trường
bên ngoài lãnh thổ biên giới theo Hiệp ước hoặc Công ước quốc tế (Ví dụ Công ước về bảo vệ loài rùa biển và việc cấm NK tôm do đánh bắt bằng lưới quét…); các quy định trực tiếp về môi trường trong lãnh thổ quốc gia (quy định về tiêu chuẩn môi trường, bao bì và tái chế bao bì, nhãn mác sinh thái…)
và các quy định có liên quan trực tiếp đến môi trường nhưng thuộc mục tiêu bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm (dư lượng chất kháng sinh và chất bảo vệ thực vật )
- Các rào cản về văn hoá : Sự khác biệt về văn hoá và cách nhìn nhận,
đánh giá về giá trị đạo đức xã hội…cũng trở thành một trong các rào cản phi thuế quan trong thương mại quốc tế Trên thế giới có nhiều nền văn hoá khác nhau, với ngôn ngữ, chữ viết khác nhau, để hiểu rõ và có thể đáp ứng được các yêu cầu này phải tiêu tốn nhiều thời gian, tri thức và phải trả với giá không rẻ thì mới có thể vượt qua được
- Các rào cản địa phương : Ở một số nước, luật lệ của Chính phủ trung
ương cũng có sự khác biệt so với các quy định mang tính địa phương Chẳng hạn như quy định về xuất NK tiểu ngạch, quy định về phân luồng đường cho các phương tiện vận chuyển hàng hoá,quy định về các khoản phí và phụ
Trang 28thu…là những rào cản địa phương mà trong thực tiễn thương mại quốc tế đã gặp phải
1.2.2.2.Theo cách tiếp cận xây dựng báo cáo thường niên của Hoa Kỳ
Báo cáo hàng năm của Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) cho Tổng thống và Quốc hội Hoa Kỳ về rào cản thương mại của nước ngoài (theo yêu cầu của Điều 181 Luật Thương mại và Thuế quan 1984, được sửa đổi bằng Luật Thương mại và Cạnh tranh 1988), đề cập tới :
a) Các rào cản chủ yếu đối với hàng hoá, dịch vụ XK, sở hữu trí tuệ và đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hoa Kỳ;
b) Các hiệu ứng biến dạng thương mại của các rào cản này và trị giá của các cơ hội thương mại và đầu tư bị mất;
c) Danh sách các rào cản chiểu theo Điều khoản 301 và các hành động để loại bỏ các rào cản đó hoặc giải thích tại sao không có các biện pháp áp dụng;
d) Ưu tiên của Hoa Kỳ nhằm mở rộng XK
USTR phân loại các rào cản thương mại quốc tế thành 9 nhóm:
- Chính sách NK (thuế và các khoản lệ phí đối với hàng NK, hạn chế định lượng, giấy phép NK, rào cản hải quan);
-Tiêu chuẩn, kiểm tra, nhãn mác và chứng nhận (bao gồm việc áp dụng các hạn chế không cần thiết các tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật cũng như các biện pháp về môi trường, việc từ chối các tiêu chuẩn của các nhà sản xuất Hoa Kỳ);
- Mua sắm của Chính phủ (chính sách mua sắm quốc gia và đấu thầu hạn chế);
- Trợ cấp XK (tài trợ cho XK với các điều kiện ưu đãi và trợ cấp đối với XK nông sản);
- Không bảo hộ sở hữu trí tuệ (không có các biện pháp phù hợp để bảo
vệ bản quyền sáng chế, phát minh, thương hiệu);
Trang 29- Các rào cản dịch vụ (thiếu các dịch vụ tài chính do các tổ chức tài chính nước ngoài cung cấp, các quy định về dữ liệu quốc tế và các hạn chế trong sử dụng dịch vụ xử lý dữ liệu của nước ngoài);
- Các rào cản đầu tư (hạn chế tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài, các hạn chế về tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào các chương trình R&D, các yêu cầu về tỷ lệ XK tối thiểu, các hạn chế về chuyển vốn và lợi nhuận ra nước ngoài);
- Các rào cản chống cạnh tranh (bao gồm cả các thực tiễn chống cạnh tranh của các DN Nhà nước cũng như các công ty tư nhân làm hạn chế hoạt động kinh doanh của các công ty Hoa Kỳ hay các công ty nước ngoài khác);
- Các rào cản khác (tham nhũng, hối lộ…hoặc các rào cản có ảnh hưởng đến những lĩnh vực đơn lẻ)
Theo cách tiếp cận này, một số nước cũng xây dựng báo cáo về rào cản thương mại của các nước khác đối với nước mình
1.3 Khả năng tác động của việc thực hiện các FTA thế hệ mới tới phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa của quốc gia
Khi tham gia vào một FTA, nền kinh tế các nước thành viên sẽ chịu nhiều tác động nhất định, bao gồm các tác động tĩnh (static effects) và các tác
động động (dynamic effects)
1.3.1 Tác động tĩnh
Tác động tĩnh được hiểu là những tác động sẽ diễn ra trong bất cứ một liên kết thương mại tự do nào, đối với bất cứ thành viên nào Các tác động tĩnh bao gồm: tác động tạo thương mại (trade creation effects) và tác động chệch hướng thương mại (trade diversion effects)
Tác động tạo thương mại sẽ xuất hiện khi một nước thành viên của
FTA thay thế việc sản xuất một mặt hàng nội địa có chi phí sản xuất cao nào
đó bằng việc nhập khẩu mặt hàng đó rẻ hơn từ các nước thành viên FTA, do việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan khiến giá hàng hoá NK thấp hơn chi phí cho
Trang 30việc sản xuất mặt hàng đó ở trong nước Tác động tạo thương mại sẽ làm tăng phúc lợi kinh tế tổng hợp của các nước thành viên FTA do việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất, cắt giảm các ngành ít hiệu quả, sử dụng nhiều tài nguyên sang tăng cường xây dựng đầu tư vào các ngành công nghiệp dựa trên những lợi thế so sánh Trong bất cứ FTA nào, tác động tạo thương mại được đặt ở một
vị trí quan trọng bởi nó tạo ra cái “mới” trong quan hệ thương mại của một
nước khi tham gia hội nhập bằng hình thức này
Tác động chệch hướng thương mại diễn ra khi các thành viên của FTA
chuyển hướng NK hàng hoá, thay vì NK hàng hoá có hiệu quả nhờ chi phí sản xuất thấp từ các quốc gia không phải thành viên FTA sang hàng hoá có chi phí sản xuất cao hơn (có nghĩa là kém hiệu quả hơn về phương diện sử dụng nguồn lực) của các thành viên FTA do việc dỡ bỏ thuế quan giữa các nước thuộc một FTA sẽ khiến giá NK một mặt hàng nào đó từ các thành viên FTA thấp hơn giá nhập từ nước nằm ngoài FTA vẫn duy trì một mức thuế quan cao.Thực chất là tác động chệch hướng thương mại không tạo ra cái
“mới” trong quan hệ thương mại của một nước mà nó chỉ thay đổi đối tác thương mại của quốc gia đó mà thôi Trong trường hợp này, các nước phi thành viên sẽ bị thiệt hại từ việc thành lập một FTA nào đó Như vậy, tác động của chệch hướng thương mại sẽ tạo ra sự phân biệt đối xử đối với các nước phi thành viên
Xét một cách tổng quát, khi tham gia một FTA nào đó quan hệ thương mại của các nước thành viên sẽ gia tăng nhờ tác động tạo thương mại (cái mới) và tác động chệch hướng thương mại (cái cũ với đối tác mới) Tổng hợp tác động tạo thương mại và chệch hướng thương mại sẽ có hai trường hợp xảy ra: (1) nếu tổng giá trị mất đi do tác động chệch hướng thương mại gây ra lớn hơn so với thặng dư do tác động sáng tạo thương mại tạo ra thì phúc lợi quốc gia sẽ bị suy giảm, và ngược lại, (2) quốc gia đó sẽ gia tăng được phúc lợi quốc gia khi giá trị thặng dư do tác động tạo thương mại tạo ra lớn hơn tổng
Trang 31giá trị bị mất của tác động chệch hướng thương mại Khung khổ lý thuyết này
có thể lý giải thực tiễn của các FTA hiện nay Trong khi một số FTA tỏ ra không hiệu quả thì các FTA khác lại đang trở thành lực hút, lôi kéo các nước khác tham gia vào cuộc chơi thương mại tự do
Như vậy, khi một FTA được ký kết, những tác động mà nó gây ra có thể
sẽ khiến chính sách của nhiều nước liên quan thay đổi FTA không chỉ tác động tới các nước thành viên và còn gián tiếp tác động tới các nước phi thành viên Việc bị phân biệt đối xử và lợi ích mà những nước phi thành viên bị mất (do tác động chệch hướng thương mại sang các nước FTA) có thể tạo ra những
biến động khi tham gia FTA Điều này có thể dẫn tới hai hệ quả là, thứ nhất các nước phi thành viên sẽ lập các FTA để đối trọng; thứ hai, các nước phi
thành viên sẽ đưa ra sáng kiến đề nghị tham gia FTA hiện có
1.3.2 Tác động động
Nếu như tác động tĩnh mới chỉ đề cập tới lợi ích của người tiêu dùng
mà chưa đề cập tới lợi ích của nhà sản xuất, lực lượng chủ yếu quyết định tiến trình hội nhập và vai trò chính trị của các quốc gia thành viên thì những tác động động của các FTA với ba dạng thức chính là phát triển thị trường (market expansion), thúc đẩy cạnh tranh (competition promotion) và thu hút đầu tư (FDI attraction) mang tính dài hạn và có thể dẫn đến những thay đổi về chất đối với nền kinh tế quốc gia:
(i) Việc mở rộng hay phát triển thị trường hàm ý khi tham gia FTA các thành viên có cơ hội mở rộng ngoại thương, đạt tới hiệu quả về sản xuất và phân phối xuất phát từ việc cắt giảm thuế quan và phân bổ lại nguồn lực hiệu quả hơn
(ii) Tác động thúc đẩy cạnh tranh thể hiện khi cắt bỏ hàng rào thuế quan, phi thuế quan các DN trong nước sẽ ít được bảo hộ hơn, để tồn tại trong điều kiện hàng nhập khẩu rẻ gây áp lực buộc họ phải nâng cao năng suất, chất lượng, giảm giá… để cạnh tranh tốt hơn Các tác động động tạo ra sức ép để các nhà
Trang 32sản xuất trong nước phải vận động vươn lên, nắm lấy cơ hội đổi mới hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ, hạ giá thành sản phẩm Đó là con đường duy nhất để thành công trong hội nhập đối với các DN
(iii)Tác động đáng lưu ý nữa của FTA là thúc đẩy sự lưu chuyển của các dòng vốn đầu tư Do các cam kết bảo đảm lợi ích cao và cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà đầu tư trong FTA thế hệ mới và nhiều dịch vụ hỗ trợ đi kèm cùng các thị trường đầu tư mới xuất hiện, nên dòng vốn đầu tư lưu chuyển mạnh hơn Điều này mở ra cơ hội với các nền kinh tế thành viên FTA, song cũng làm cho cạnh tranh đầu tư ngày càng quyết liệt
Có thể thấy, cơ hội lớn nhất mà các FTA thế hệ mới mang lại là mở rộng thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của các nền kinh tế thành viênnhờ cắt giảm thuế và dỡ bỏ rào cản thương mại, đầu tư, thúc đẩy cải cách thể chế, cải thiện chính sách, pháp luật đằng sau biên giới, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng để nâng cao hiệu quả sản xuất, thương mại, tham gia sâu hơn vào mạng sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu Bên cạnh những cơ hội mở ra nhưng nếu không khai thác được, các FTAs thế hệ mới có thể đem đến những nguy cơ, thách thức lớn đối với phát triển kinh tế, thương mại của các thành viên, nhất là các thành viên có trình độ phát triển thấp hơn trong FTA
1.3.3 Phương pháp đánh giá tác động của các FTA thế hệ mới
Bên cạnh các phương pháp đánh giá định tính, nhiều phương pháp định lượng được sử dụng để đánh giá tác động của các FTA thế hệ mới tới phát triển thị trường XK hàng hóa của các quốc gia
Các phương pháp định lượng đánh giá tác động của các FTA tới kinh
tế, thương mại của các quốc gia có thể là (i) sử dụng mô hình lực hấp dẫn (Gravity model) Mô hình này được dùng phổ biến để đánh giá tác động của các hiệp định đến các dòng chảy thương mại, giải thích nhu cầu nhập khẩu song phương với một loạt các biến số khác nhau như thu nhập của quốc gia
Trang 33nhập khẩu, của quốc gia xuất khẩu, thu nhập bình quân đầu người của quốc gia nhập khẩu, của quốc gia xuất khẩu, khoảng cách giữa nhập khẩu và xuất khẩu của một quốc gia và các biến số khác; (ii) Mô hình cân bằng tổng thể (CGE), mô hình này tập trung vào giá cả và thương mại liên kết giữa hai thị trường quốc tế; (iii) Mô hình cân bằng từng phần (PE) Đây là một phần của mô hình cân bằng tổng thể, nghiên cứu tác động của thị trường hàng hóa đơn nhất (thường ở cấp độ ngành), phù hợp nhất để phân tích sâu ở cấp độ ngành; (iv) Mô hình GTAP…
1.4.Kinh nghiệm đối phó với các rào cản phi thuế quan trong
thương mại quốc tế của một số nước
1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước
Do có nhiều loại rào cản thương mại khác nhau nên để sử dụng và đối phó với các loại rào cản, các nước đều có xu hướng phân công cho các Bộ hoặc các cơ quan Chính phủ theo chức năng và nhiệm vụ của mình mà xây dựng hoặc hướng dẫn các DN thực hiện Đồng thời trong khi đàm phán để ký kết các Hiệp định thương mại, các nước đều có xu hướng ủng hộ việc dỡ bỏ các rào cản phi thuế để chuyển sang thuế quan nhưng trên thực tiễn họ lại đưa
ra các rào cản phi thuế mới tinh vi hơn
1.4.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Từ năm 1979, Trung Quốc đã bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa ra
bên ngoài theo phương châm “thử nghiệm trước và áp dụng rộng rãi sau”
Đồng thời với việc phát triển các khu và đặc khu kinh tế, việc xây dựng và hoàn thiện chính sách thương mại ở Trung Quốc cũng tuân thủ theo một lộ trình gồm 4 giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1 từ 1979 đến 1985 phát triển thương mại theo định hướng thay thế NK
- Giai đoạn 2 từ 1986 đến 1992 tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài
và phát triển các DN có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 34- Giai đoạn 3 từ 1992 đến 2000 thực hiện định hướng XK bằng các kế hoạch đặc biệt cho từng ngành, áp dụng công nghệ tiên tiến để nâng cao tỷ trọng sản phẩm XK sử dụng công nghệ cao
- Giai đoạn 4 từ 2001 đến nay thực hiện phát triển nền kinh tế mở theo các yêu cầu và cam kết khi gia nhập WTO
Với lộ trình đã được xác định, Trung Quốc đã xây dựng và sử dụng hàng loạt các chính sách và biện pháp khác nhau và được nhiều chuyên gia đánh giá là các rào cản gồm nhiều lớp nhằm hạn chế sự tự do thâm nhập của hàng hoá nước ngoài vào thị trường Trung Quốc Điển hình và rõ rệt nhất là các loại rào cản sau:
* Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu :
Trước khi tiến hành chính sách mở cửa, Chính phủ kiểm soát tất cả các hoạt động ngoại thương.Đầu những năm 80, chỉ có các công ty được chỉ định mới có quyền tiến hành các hoạt động ngoại thương Từ giữa những năm 80 đến giữa những năm 90 của thế kỷ 20, mặc dù quyền tham gia thương mại quốc tế được phân theo cấp độ, nhưng Chính phủ vẫn thực hiện hệ thống kiểm tra và phê chuẩn nghiêm ngặt
Đến 11/12/2001, Trung Quốc gia nhập WTO và quyền kinh doanh xuất
NK đã được mở rộng hơn Tuy nhiên, trong quy chế về xuất NK mới được ban hành sau đó, Trung Quốc vẫn quy định 5 nhóm mặt hàng (cao su thiên nhiên, gỗ dán, lông cừu, sợi dệt chứa hợp chất hữu cơ và thép) vẫn do DN Nhà nước được chỉ định thực hiện Ngoài ra, còn có 16 mặt hàng XK do DN được chỉ định làm đầu mối (dầu thô, xăng dầu, than đá, gạo, ngô, bông, tơ tằm
Trang 35hàng năm được xác định dựa trên cân đối tổng thanh toán ngoại tệ, cân bằng
cơ cấu sản xuất công - nông nghiệp và nhu cầu thị trường Năm 1993, số mặt hàng được áp dụng cơ chế quản lý cấp phép chỉ còn 53 và bao gồm 1247 dòng thuế, tỷ lệ cao nhất của những mặt hàng này trong tổng khối lượng NK
là 43, 9% Với tư cách là một biện pháp hành chính chủ yếu, biện pháp phi thuế quan có thể bảo vệ ngành công nghiệp trong nước ở mức độ nào đó và là hiện thân của chính sách công nghiệp quốc gia và kế hoạch phát triển kinh doanh Kể từ đó, biện pháp phi thuế quan đã giảm theo từng năm Năm 1999, Trung Quốc đã cắt giảm loại hàng hoá phải xin phép NK xuống còn 35 và tỷ trọng của những mặt hàng này trong tổng khối lượng hàng hoá NK chỉ còn chiếm 8,45%
Kể từ 1/1/2004, xoá bỏ quản lý giấy phép hạn ngạch NK đối với mặt hàng dầu thành phẩm, cao su thiên nhiên, xăm lốp ô tô; xoá bỏ quản lý giấy phép hạn ngạch NK đối với một số mã số thuế của mặt hàng ô tô và linh kiện liên quan của ô tô.Thực hiện quản lý giấy phép NK đối với 2 loại vật chất làm tổn hại tầng ô zôn
* Định giá hải quan:
Nguyên tắc cơ bản của việc định giá hải quan là ưu tiên áp dụng giá giao dịch thực tế ghi trên hợp đồng NK và tiến hành điều chỉnh trên cơ sở giá giao dịch thực tế này, sau đó giá giao dịch sẽ được áp dụng để tính thuế.Nếu
cơ quan hải quan không thể xác định được giá giao dịch thực tế thì có thể áp dụng giá thay thế Ngoài ra, cơ quan hải quan có thể khẳng định giá theo hợp đồng bằng việc sử dụng giá xây dựng hoặc tái đầu tư Đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm được các DN NK thì cơ quan hải quan vẫn có thể tiếp tục khảo sát và kiểm tra giá sau khi hoàn thành thủ tục NK
* Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại:
Trung Quốc đang bãi bỏ và dừng áp dụng biện pháp áp đặt đối với thương mại và cân đối ngoại tệ, yêu cầu nội địa hoá, yêu cầu về XK theo các
Trang 36quy định của pháp luật Trước đây, Trung Quốc vẫn thực hiện các điều khoản hợp đồng chứa đựng nội dung như nêu trên và áp dụng yêu cầu nội địa hoá, bắt buộc mua sản phẩm trong nước, chuyển giao công nghệ hoặc thành lập trung tâm nghiên cứu và phát triển ( R&D) ở Trung Quốc như một điều kiện
để được cho phép Tháng 3 năm 2001, Quốc vụ viện đã quyết định sửa đổi Luật DN đầu tư nước ngoài.Trong luật này, hầu hết các biện pháp hạn chế đầu
tư liên quan đến thương mại đã được xoá bỏ Trong Quy định hướng dẫn đầu
tư nước ngoài và Danh mục đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp mới được ban hành và sửa đổi, danh mục lĩnh vực khuyến khích được mở rộng và danh mục không khuyến khích bị thu hẹp Những quy định trên mở rộng ra các lĩnh vực như ngân hàng, bảo hiểm, kinh doanh, ngoại thương, du lịch, giao thông vận tải, kế toán, kiểm toán, luật và các lĩnh vực dịch vụ khác, đồng thời, hạn chế tỷ lệ góp vốn của người nước ngoài trong một số lĩnh vực cũng được nới lỏng hơn
* Chính sách ngoại hối:
Kiểm soát ngoại hối và chính sách tỷ giá cũng là một trong những rào cản trong thương mại quốc tế của Trung Quốc.Trước năm 1978, các giao dịch ngoại hối gần như bị hạn chế bởi chính quyền Trung ương Hàng năm, chính quyền lập kế hoạch về ngoại hối trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế nói chung Theo kế hoạch tổng thể về ngoại hối thì mọi khoản thu từ XK do chính quyền thu và xử lý Ngoài ra, nhu cầu về ngoại hối đều do chính quyền quyết định Trong hoàn cảnh như vậy, Chính phủ thâu tóm toàn bộ nguồn ngoại hối
và độc quyền quyết định việc phân chia Mọi DN và cá nhân không được phép tích trữ hay trao đổi ngoại hối một cách tự do
Từ năm 1979 đến năm 1994, chính quyền đã quyết định cho phép DN được phép giữ lại một phần ngoại tệ thu được từ XK (còn được gọi là “thoả thuận giữ lại ngoại hối”) Năm 1979, Cục quản lý ngoại hối quốc gia (SAFE)
đã đưa ra một loạt các quy định về giữ lại ngoại tệ thu được từ XK hàng hoá
Trang 37và quy định về giữ lại ngoại tệ thu được từ XK dịch vụ Trên cơ sở những quy định này, các DN đã có khoản thu bằng ngoại tệ có thể được mua ngoại tệ theo hạn ngạch và được sử dụng khoản ngoại tệ này theo nhu cầu Năm 1986, SAFE quyết định cải tổ hơn nữa thông qua việc cho phép các DN giữ lại các khoản ngoại tệ chưa dùng đến hoặc trao đổi với các DN khác có nhu cầu về ngoại tệ
Chính sách giữ lại ngoại tệ được coi là thành công trong việc thúc đẩy
XK nhưng nó cũng gây một số khó khăn liên quan đến NK hàng hoá Hơn nữa, hạn chế trong việc thanh toán bằng ngoại hối nói chung cũng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của DN Năm 1994, Trung Quốc bắt đầu thực hiện việc chuyển đổi đồng tiền trong tài khoản vãng lai và đã hoàn thành quá trình này trong vòng hai năm tiếp theo Với bước cải tổ này, Trung Quốc không chỉ
đã thoát khỏi những rắc rối của chính sách giữ lại ngoại tệ, giải quyết được vấn đề hệ thống hai tỷ giá mà còn được các tổ chức quốc tế đánh giá tốt về việc tiếp tục dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan
Năm 1994, cùng với việc xoá bỏ thị trường ngoại hối chợ đen, Trung Quốc đã thống nhất tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường, đồng thời bắt đầu thực hiện “cơ chế tỷ giá thống nhất và thả lỏng theo thị trường”
* Các biện pháp kỹ thuật:
Trung Quốc áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật khác nhau nhằm quản lý hàng hoá xuất NK như:
- Luật kiểm dịch động thực vật xuất nhập cảnh
- Quy định về kiểm nghiệm, kiểm dịch hàng xuất NK
Trong đó có 4 nội dung đáng lưu ý là:
a Hàng miễn kiểm nghiệm, kiểm dịch phải đạt 3 tiêu chuẩn theo quy định:
- DN sản xuất phải có hệ thống chất lượng hoàn thiện và nó phải có sự giám sát, đồng ý của Cục kiểm nghiệm Nhà nước và được cấp chứng nhận do
cơ quan kiểm tra chất lượng cấp
Trang 38- DN sản xuất phải có sự chấp nhận của Uỷ ban về tiêu chuẩn theo ISO 9000
- Chất lượng hàng miễn kiểm phải ổn định lâu dài Tỷ lệ hợp cách XK phải đạt 100% liên tục trong 3 năm
b Hàng liên quan đến an toàn vệ sinh và có yêu cầu đặc biệt bắt buộc phải kiểm nghiệm, kiểm dịch:
- Lương thực, dầu ăn, thực phẩm, đồ chơi, mỹ phẩm, đồ điện
- Những mặt hàng được xếp vào quản lý giấy phép an toàn chất lượng NK
- Hàng dễ biến chất hoặc hàng hoá rời
- Hàng mà Hợp đồng quy định tỷ lệ, thành phần, hàm lượng trong giấy chứng nhận hàng hoá cấp
- Đồ đựng, đóng gói hàng nguy hiểm trong xuất NK
c Quy định về chế độ cấp giấy phép an toàn chất lượng hàng NK:
- Hàng liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ môi trường, bảo hộ lao động khi NK vào Trung Quốc phải thực hiện chế độ giấy phép an toàn chất lượng NK
- Hàng NK nằm trong danh mục bắt buộc phải có giấy phép, khi chưa được cấp giấy phép an toàn chất lượng thì không được NK
- Hàng chỉ được cấp giấy phép an toàn chất lượng khi đạt các yêu cầu phù hợp với luật pháp và tiêu chuẩn quy định của Trung Quốc
d Các quy định về vệ sinh y tế tại cảng, cửa khẩu Trung Quốc
Tại các cảng, cửa khẩu Trung Quốc có các bộ phận giám sát vệ sinh Đối tượng kiểm dịch vệ sinh y tế gồm: Các phương tiện giao thông, khách xuất nhập cảnh nhằm phát hiện và xử lý vệ sinh đối với người và phương tiện đến từ vùng dịch bệnh truyền nhiễm, phát hiện động vật, côn trùng mang bệnh liên quan đến sức khoẻ con người
Ngoài những quy định chung như đã nêu, Trung Quốc còn ban hành các quy định cụ thể cho từng loại hàng hoá Chẳng hạn, ngày 23/12/2002, Tổng cục kiểm dịch kiểm nghiệm chất lượng quốc gia Trung Quốc đã gửi
Trang 39công hàm số 888 cho các nước và khu vực XK hàng thuỷ sản sang Trung Quốc phải xin giấy phép chứng nhận kiểm nghiệm, kiểm dịch hàng thuỷ sản
và phải tuân thủ các điều kiện do Trung Quốc quy định mới được phép XK vào Trung Quốc…
Tháng 11/2003, Bộ Thương mại Trung Quốc đã công bố Trung Quốc sẽ chính thức đánh thuế bán phá giá từ 3% đến 49% trong 5 năm đối với hoá chất (NCO)2 (toluene disocyanate) - vật liệu chính dùng để tạo bọt pôliurêtan, làm đệm ghế và chất cách điện - được NK từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ
Kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tháng 12/2001, Trung Quốc đã nhiều lần sử dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với các mặt hàng NK, chủ yếu là hoá chất, lĩnh vực mà các nhà sản xuất Trung Quốc chưa có khả năng cạnh tranh
Nhìn chung, Trung Quốc là một nước có nhiều rào cản thương mại rất tinh vi để phục vụ cho lợi ích của các nhà sản xuất trong nước và bảo vệ thị trường nội địa khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài Tuy nhiên, Trung Quốc cũng là nước bị các nước phát triển áp dụng nhiều biện pháp mang tính rào cản nhất, đặc biệt là trong thời gian Trung Quốc còn chưa là thành viên của WTO Để tạo ra thế chủ động và hạn chế các phán quyết thiếu công bằng, Trung Quốc đã đề ra 10 đối sách như sau:
(i) Chủ động kháng kiện để giành quyền lợi hợp pháp cho mình
Theo quy định của WTO, trong việc giải quyết bán phá giá, các DN bị khởi kiện có thể chủ động khởi kiện và phải tập hợp sức mạnh thông qua các Hiệp hội ngành hàng Trung Quốc đã rất thành công trong việc này từ thực tiễn vụ kiện bán phá giá nước táo cô đặc Trung Quốc vào thị trường Hoa Kỳ Tháng 10/1998, Hiệp hội xuất NK thổ súc sản, thực phẩm Trung Quốc (HHTSSTP) nhận được tin phía Hoa Kỳ dự định lập dự án điều tra và khởi kiện việc Trung Quốc bán phá giá nước táo cô đặc vào thị trường Hoa Kỳ Ngay sau đó, Trung Quốc đã công bố danh sách các DN có thể bị khởi kiện
Trang 40và HHTSSTP đã tổ chức cuộc họp với các DN để thống nhất thái độ và bàn biện pháp đối phó Tại cuộc họp này đã thống nhất được việc các DN cần tìm mọi cách để kéo dài thời gian khởi tố để trong thời gian sụt giá thấp nhất vẫn không bị liệt vào thời gian điều tra bán phá giá, đồng thời các DN tuân thủ chặt chẽ khung giá bán tối thiểu theo hướng nâng giá bán lên từ 80 -100 USD/tấn Mặt khác, với sự đóng góp về tài chính của DN, HHTSSTP đã mời văn phòng luật sư của Hoa Kỳ tiến hành công việc điều tra trước để xem xét
cơ cấu giá thành sản phẩm nước táo cô đặc, tìm kiếm tài liệu về nước thứ ba thay thế phù hợp với thực tế Trung Quốc và trình tự những công việc cần thiết phải làm trong vụ kiện Với những động thái chuẩn bị tích cực như trên nên trong vòng 8 tháng, vụ kiện mới chính thức xảy ra
(ii) Thành lập cơ quan chuyên trách hầu kiện
Chính phủ Trung Quốc đã thành lập một bộ phận chuyên trách về bán phá giá trực thuộc Bộ Thương mại Trung Quốc Cơ quan này có nhiệm vụ chủ yếu là đảm bảo liên hệ chặt chẽ với các Bộ, ngành liên quan và phối hợp hành động với các nhà sản xuất, nhà XK hay NK, Hội bảo vệ người tiêu dùng Trong hầu hết các vụ kiện, Bộ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc thường đích thân viết thư cho Bộ trưởng Bộ Thương mại Hoa Kỳ, Thương vụ Trung Quốc tại Hoa Kỳ cũng thay mặt Chính phủ Trung Quốc gặp phía Hoa Kỳ bày
tỏ thái độ hết sức quan tâm đến vụ kiện và mong muốn hợp tác với Chính phủ Hoa Kỳ giải quyết vụ kiện một cách công bằng, việc điều tra tiến hành một cách khách quan, công bằng và hợp pháp
(iii) Chuẩn bị các hồ sơ thẩm vấn
Khi vụ kiện chính thức xảy ra, Trung Quốc rất coi trọng chuẩn bị các
hồ sơ thẩm vấn bằng cách thông tin cho các DN chuẩn bị các tài liệu theo yêu cầu của phía Hoa Kỳ đối với việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của DN Đồng thời, chuẩn bị các tài liệu có sự lựa chọn giá cả của nước thay thế hợp
lý, các bước lập luận được chuẩn bị có cơ sở, chứng cứ chặt chẽ và dự đoán mức thuế suất mà các DN có thể giành được trong cuộc điều tra bán phá giá