Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thị Thu Hoài 2015 đã nghiên cứu các nhân tố thuộc đặc điểm công ty và chia thành 4 nhóm: nhóm nhân tố liên quan đến thị trường gồm loại ngành, loại công ty kiểm
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
-
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ NĂM 2019
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN VẤN ĐỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
MÃ SỐ: DTHV.32/2019
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS Đỗ Thị Vân Trang
HÀ NỘI – 2020
Trang 2NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
-
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ NĂM 2019
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN VẤN ĐỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
MÃ SỐ: DTHV.32/2019
Chủ nhiệm đề tài: TS Đỗ Thị Vân Trang
Thành viên tham gia: TS Phan Thùy Dương
Ths Bùi Ngọc Phương
TS Đặng Thu Hằng
HÀ NỘI – 2020
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
đề tài Phó trưởng Khoa – Khoa Sau đại học
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2
MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Tổng quan nghiên cứu 4
2.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 4
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 7
3 Mục tiêu nghiên cứu 8
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LUẬN VỀ ĐẶC ĐIỂM HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CỔ PHẦN 10
1.1 Cơ sở lý luận về quản trị lợi nhuận trong các doanh nghiệp 10
1.1.1 Quản trị lợi nhuận 10
1.1.3 Các mô hình quản trị lợi nhuận 19
1.1.4 Các chính sách quản trị lợi nhuận 24
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận trong doanh nghiệp 26
1.2 Ảnh hưởng đặc điểm hội đồng quản đến vấn đề quản trị lợi nhuận trong doanh nghiệp cổ phần 29
1.2.1 Các vấn đề về đặc điểm hội đồng quản trị trong doanh nghiệp cổ phần 29
1.2.2 Ảnh hưởng đặc điểm hội đồng quản đến vấn đề quản trị lợi nhuận trong doanh nghiệp cổ phần 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2009-2019 40
2.1 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu 40
2.1.1 Giả thuyết về các yếu tố thuộc đặc điểm doanh nghiệp 40
2.1.2 Giả thuyết về các nhân tố thuộc đặc điểm hội đồng quản trị 41
2.1.3 Mô hình nghiên cứu 43
2.2 Cơ sở dữ liệu nghiên cứu 45
2.3 Thống kê mô tả và mối tương quan giữa các biến nghiên cứu 46
2.3.1 Thống kê mô tả các biến 46
2.3.2 Mối tương quan giữa các biến nghiên cứu 47
2.4 Kết quả thực nghiệm 48
2.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56
Trang 5CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT 57
3.1 Định hướng về công bố thông tin của Ủy ban chứng khoán Nhà nước 57
3.2 Một số khuyến nghị, đề xuất 59
3.2.1 Khuyến nghị đề xuất đối với các doanh nghiệp 60
3.2.2 Khuyến nghị đề xuất đối với nhà đầu tư 61
3.2.3 Khuyến nghị đề xuất đối với các cơ quan quản lý Nhà nước 63
3.2.4 Khuyến nghị đề xuất với các công ty kiểm toán 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 67
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
2.1 Mô tả giả thuyết nghiên cứu 43 2.2 Mô tả biến độc lập và phương pháp đo lường 45 2.3 Thống kê mô tả các biến 46 2.4 Mối tương quan giữa các biến nghiên cứu 48 2.5 Kết quả hồi quy mô hình OLS, FEM và REM 48 2.6 Kết quả hồi quy theo mô hình Hausman - Taylor 51 2.7 Kết quả mô hình hồi quy theo mô hình Hausman – Taylor 52
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐQT Hội đồng Quản trị QTLN Quản trị lợi nhuận TTCK Thị trường chứng khoán R&D Nghiên cứu phát triển ROA Hiệu quả sinh lời
DA Discretionary Accruals NDA Non-Discretionary Accruals BCTC Báo cáo tài chính
OLS Phương pháp bình phương nhỏ nhất FEM Mô hình ảnh hưởng cố định
REM Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên UBCKNN Ủy ban chứng khoán Nhà nước SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong mô hình công ty cổ phần, có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành, quản lý công ty Để có thể kiểm soát công việc điều hành của nhà quản lý, một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của Hội đồng Quản trị (HĐQT) là giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác trong việc điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty Trên thực tế, hoạt động của HĐQT có hiệu quả hay không trong việc giám sát hoạt động của Ban giám đốc phụ thuộc nhiều vào đặc điểm, cơ cấu tổ chức bộ phận này và chịu sự ảnh hưởng bởi quy mô của công ty,
cơ cấu vốn, đặc điểm ngành nghề của doanh nghiệp, Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh được rằng đặc điểm tổ chức của HĐQT có tác động làm gia tăng hoặc hạn chế mức độ quản trị lợi nhuận (QTLN) của người quản lý trong doanh nghiệp Vấn đề về lợi nhuận và quản trị lợi nhuận là một trong trong những nội dung quan trọng khi đánh giá chất lượng báo cáo tài chính Quản trị lợi nhuận là “một sự can thiệp có cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân” (Schipper,1989, trang 92) Quản trị lợi nhuận xảy ra khi
“nhà quản lý điều chỉnh báo cáo tài chính và cơ cấu giao dịch để thay đổi báo cáo tài chính hoặc là đánh lừa một số các bên liên quan về kết quả kinh doanh của công ty (Healy và Wahlen, 1999, trang 368) Quản trị lợi nhuận phản ánh hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc làm gia tăng giá trị thị trường của công ty (Scott 1997) Quản trị lợi nhuận là nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu đề ra
Đã có nhiều nghiên cứu về quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề đặc điểm HĐQT có ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của các các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt
Nam Xuất phát từ các luận cứ nêu trên, nhóm nghiên cứu đề xuất đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hội đồng quản trị đến vấn đề quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam” nhằm tìm ra các nhân tố tác động và mức độ tác động
của các nhân tố thuộc HĐQT đến hành vi quản trị lợi nhuận của người quản lý tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 92 Tổng quan nghiên cứu
Vấn đề về lợi nhuận và quản trị lợi nhuận là một trong trong những nội dung quan trọng đối với các nhà đầu tư khi đánh giá chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) Điều này đòi hỏi nhà đầu tư phải có những hiểu biết và kiến thức nhất định khi đánh giá về chất lượng BCTC Trước yêu cầu về việc minh bạch hóa thông tin đối với các doanh nghiệp niêm yết đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng thông tin cung cấp trong các báo cáo tài chính, nhằm hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư Tuy nhiên, trong thực tế thông tin trên BCTC của doanh nghiệp bị can thiệp khá nhiều bởi hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà quản lý vì những động cơ khác nhau Một trong những vấn đề ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết đó là vấn
đề đặc điểm của hội đồng quản trị Vấn đề này ở Việt Nam chưa được các nhà đầu tư, cũng như các học giả thực sự quan tâm nghiên cứu nhưng trên thế giới rất nhiều học giả đã đề cập đến vấn đề này từ sớm
2.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu của nước ngoài về quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp Có nhiều quan niệm được đưa ra về quản trị lợi nhuận Quản trị lợi nhuận là “một sự can thiệp có cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân” (Schipper,1989, trang 92) Quản trị lợi nhuận xảy ra khi “nhà quản lý điều chỉnh báo cáo tài chính và cơ cấu giao dịch để thay đổi báo cáo tài chính hoặc là đánh lừa một số các bên liên quan về kết quả kinh doanh của công ty (Healy và Wahlen, 1999, trang 368) Quản trị lợi nhuận phản ánh hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc làm gia tăng giá trị thị trường của công ty (Scott 1997)
Nghiên cứu về quản trị lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận đã được thực hiện trên thế giới từ rất sớm Trong đó phải kể đến nghiên cứu của Healey (1985) khi kiểm chứng hành vi quản trị lợi nhuận thông qua phần lợi nhuận dồn tích có thể điều chỉnh được (Discretionary Accruals-DA) và lợi nhuận dồn tích không điều chỉnh được (Non-Discretionary Accruals-NDA) Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ giữa việc vận dụng các biến dồn tích trong quy trình kế toán của nhà quản lý với quản trị lợi nhuận khi nghiên cứu về chính sách thưởng cho các nhà quản trị doanh nghiệp Kế thừa quan điểm của Healey (1985), DeAngelo (1986) giả định rằng các thành phần lợi nhuận dồn tích không thể điều chỉnh sinh ra là ngẫu nhiên
Trang 10và bằng với phần lợi nhuận dồn tích của kỳ trước (t-1), do đó sự thay đổi trong lợi nhuận dồn tích giữa kỳ này (t) và kỳ trước (t-1) được giả định là do việc thực hiện các điều chỉnh kế toán Với mô hình quan sát phần DA, nghiên cứu giả định rằng lợi nhuận sau thuế không đổi, khi DA càng nhỏ thì chỉ tiêu lợi nhuận càng ít bị điều chỉnh Tiếp đó đến năm 1991, Jones đã nghiên cứu hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Mĩ và xem xét sự ảnh hưởng của mức độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đến phần lợi nhuận dồn tích không thể điều chỉnh Trong đó, mức độ hoạt động của doanh nghiệp được xem xét thông qua các biến sự tăng trưởng doanh thu, quy mô tổng tài sản của doanh nghiệp và mức độ đầu tư cho Tài sản cố định của doanh nghiệp Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận trong nghiên cứu của Jones (1991) sau này vẫn tiếp tục được sử dụng, nhưng được Dechow và cộng
sự (1995) xem xét mức độ hoạt động của doanh nghiệp thông qua doanh thi bằng tiền Đồng thời, nghiên cứu của Dechow và cộng sự (1995) còn so sánh chi tiết các mô hình quản trị lợi nhuận trong các nghiên cứu trước để đưa ra ưu điểm và hạn chế của mỗi
mô hình Kothari và cộng sự (2005) lại cho rằng doanh nghiệp thường có hành vi quản trị lợi nhuận trước sự kiện quan trọng nào đó như IPO, phát hành thêm cổ phần, thay đổi người quản lý,…Nhóm tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa giá trị dồn tích và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trước những sự kiện này là rất lớn Do đó, nhóm tác giả đã bổ sung thêm biến ROA vào mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận dồn tích trong mô hình của Jones ở trên khi doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng doanh thu quá lớn Vận dụng kết quả nghiên cứu này, Cormier (2012) và Charfeddine
và cộng sự (2013) đã nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Canada và Tunisian
Cũng nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết, Rahman và cộng sự (2006) đã bổ sung thêm nhân tố có liên quan tới mức độ tăng trưởng của doanh nghiệp là tỉ số giá trị sổ sách so với giá trị thị trường của doanh nghiệp Sở dĩ nhân tố này được đưa vào mô hình là xuất phát từ quan điểm doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng cao thì có xu hướng có phần lợi nhuận dồn tích lớn Kết quả thực nghiệm cho thấy nhân tố này có mức ý nghĩa thống kê cao khi nghiên cứu đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Malayxia Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận còn được thực hiện trên thị trường chứng khoán của nhiều nước khác như Singapore (Lee, Li & Yue, 2006);
Trang 11Đài Loan (Chen và cộng sự, 2005); Anh (Lo, 2008); Indonesia (Januarsi và cộng sự, 2014),…
Theo nghiên cứu của Mark (1996) đã chỉ ra mối quan hệ giữa đặc điểm của hội đồng quản trị đến việc thao túng báo cáo tài chính sau khi nghiên cứu 75 doanh nghiệp
có gian lận trên BCTC và 75 doanh nghiệp không có gian lận trên BCTC trên thị trường chứng khoán Mĩ Tác giả đã chỉ ra những doanh nghiệp không có gian lận trên báo cáo tài chính có tỉ lệ thành viên hội đồng quản trị là nhà đầu tư bên ngoài cao hơn những doanh nghiệp có gian lận trên BCTC Ernardus và Umanto (2011) đã chỉ ra hành vi quản trị lợi nhuận diễn ra đối với các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Indonesia ở tất cả các loại hình doanh nghiệp trong giai đoạn 2004-2008 Trong đó, các nhân tố như quy mô hội đồng quản trị, mức độ sở hữu của các thành viên hội đồng quản trị, thành phần hội đồng quản trị, nhiệm kỳ hội đồng quản trị và ban kiểm soát, mức độ kiêm nhiệm của chủ tịch HDQT đều là những nhân tố ảnh hưởng hành vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết Lio (2007) khi nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Trung Quốc cũng đã chỉ ra những doanh nghiệp có mức độ quản trị cao hơn thì
ít có hành vi quản trị lợi nhuận hơn Kết quả thực nghiệm cũng chỉ ra rằng xung đột giữa các cổ đông kiểm soát và các cổ đông thiểu số chiếm có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ quản trị lợi nhuận trong các công ty niêm yết của Trung Quốc.Mitra (2002) đã thực hiện hồi quy đa biến và chỉ ra kết quả thực nghiệm rằng các nhà đầu tư tổ chức thường không quan tâm và xử lý phần lợi nhuận bất thường trong doanh nghiệp, xu hướng điều chỉnh phần lợi nhuận bất thường thường chiếm tỉ lệ nhỏ Kết quả này có ý nghĩa thống kê cao đối với các công ty thuộc nhóm S&P 500 trên thị trường chứng khoán Mĩ nhưng lại cho kết quả ngược lại đối với nhóm doanh nghiệp không thuộc nhóm S&P 500
Ngoài ra các vấn đề về ảnh hưởng của đặc điểm hội đồng quản trị đến hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết còn được đề cập đến trong rất nhiều nghiên cứu khác nhau trên thế giới với các mô hình định lượng khác nhau như nghiên cứu của Osma, Beatriz và Belen (2004); Shang (2003); Veronica (2005); Warfield và Wild (1995); Xie và Davidson (2003); Yeo et al (2002),…
Trang 122.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về quản trị quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp Một số tác giả đã thực hiện nghiên cứu trong phạm vi ngành hoặc nhóm doanh nghiệp, cụ thể:
Nghiên cứu quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trong những năm gần đây cũng được thực hiện bởi Phạm Thị Bích Vân (2014) nghiên cứu về các hình thức quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tuy nhiên nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc làm rõ các định nghĩa về quản trị lợi nhuận, các hình thức quản trị lợi nhuận và sự khác nhau giữa các hình thức này Phạm Ngọc Toàn
và Hoàng Thị Thu Hoài (2015) đã nghiên cứu các nhân tố thuộc đặc điểm công ty và chia thành 4 nhóm: nhóm nhân tố liên quan đến thị trường gồm loại ngành, loại công
ty kiểm toán, nhóm nhân tố liên quan đến hiệu suất hoạt động gồm tính thanh khoản
và lợi nhuận, nhóm nhân tố liên quan đến quản trị doanh nghiệp gồm thành phần hội đồng quản trị (HĐQT), tỷ lệ sở hữu của HĐQT và cuối cùng là nhóm nhân tố liên quan đến cấu trúc công ty gồm có quy mô công ty, đòn bẩy tài chính và tỷ lệ sở hữu nước ngoài Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ công bố trong BCTC của các công
ty niêm yết chưa cao, về các nhân tố tác động các yếu tố thành phần của HĐQT, tỷ lệ
sở hữu vốn của HĐQT, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ sở hữu nước ngoài có ảnh hưởng đến chất lượng thông tin công bố, trong khi các nhân tố còn lại không có ảnh hưởng Nghiên cứu của Đặng Ngọc Hùng (2015) cho thấy năm 2013 các công ty điều chỉnh giảm lợi nhuận với mục đích tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp, trong khi đó các năm trước và sau năm 2013 các công ty có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận Đồng thời, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận qua kiểm định phi tham
số cho thấy việc điều chỉnh lợi nhuận không phụ thuộc vào quy mô của các công ty Ngô Thị Khánh Linh & Nguyễn Thị Mai Lê (2018) đã trình bày một số vấn đề liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên cơ sở tổng quan kết quả một số nghiên cứu thực nghiệm về điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán trong và ngoài nước, trên cơ sở đó các tác giả nhấn mạnh về tầm quan trọng của vấn đề này trong việc công bố thông tin tài chính của các doanh nghiệp niêm yết
Như vậy, các nghiên cứu về quản trị lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận đã được các học giả nước ngoài nghiên cứu trên nhiều khía cạnh cả
Trang 13về góc độ tài chính, cũng như góc độ quản trị doanh nghiệp Tuy nhiên, ở Việt Nam vấn đề về quản trị lợi nhuận mới thực sự được đề cập đến nhiều sau các vi phạm về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán của các doanh nghiệp niêm yết Các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung vào việc đánh giá về hành vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp Một số nghiên cứu đã tập trung làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết mà chưa quan tâm làm rõ các nhân tố thuộc về quản trị doanh nghiệp tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp Nhận thấy tầm quan trọng các nhân tố thuộc về đặc điểm của hội đồng quản trị
có ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp, nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của các nhân tố trên đến quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết Bởi đây là mối quan tâm của nhiều đối tượng trong đó có các nhà đầu tư, các nhà làm luật cũng như các nhà nghiên cứu
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về đặc điểm hội đồng quản trị và vấn đề quản trị lợi nhuận trong các doanh nghiệp
- Nghiên cứu thực trạng quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp theo hướng nghiên cứu định lượng, xác định các nhân tố về đặc điểm hội đồng quản trị (như độ lớn của HĐQT, các thành viên HĐQT độc lập không điều hành, số lần họp HĐQT, thành viên HĐQT có chuyên môn tài chính, thành viên nữ trong HĐQT, HĐQT có thành viên kiêm nhiệm CEO, các nhân tố khác) đến hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2009- 2019
- Nghiên cứu định lượng các nhân tố về đặc điểm hội đồng quản trị (như độ lớn của HĐQT, các thành viên HĐQT độc lập không điều hành, số lần họp HĐQT, thành viên HĐQT có chuyên môn tài chính, thành viên nữ trong HĐQT, HĐQT có thành viên kiêm nhiệm CEO, các nhân tố khác) đến hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2009- 2019
- Đề xuất một số khuyến nghị đối với cơ quan quản lý và doanh nghiệp niêm yết trong việc xác định cơ cấu tổ chức HĐQT, qui chế hoạt động của HĐQT cho phù
Trang 14hợp với đặc điểm ngành nghề, quy mô doanh nghiệp, cấu trúc vốn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, cũng như nâng cao mức độ minh bạch thông tin tài chính doanh nghiệp
5 Phương pháp nghiên cứu
- Về mặt định tính: Đề tài sử dụng các phương pháp truyền thống như phương pháp thống kê so sánh, thống kê mô tả, thống kê phân tích, phương pháp duy vật biện chứng… để phân tích và luận giải những vấn đề về lý thuyết cũng như thực tiễn có liên quan đến chủ đề nghiên cứu
- Về mặt định lượng: Đề tài nghiên cứu sử dụng các mô hình kinh tế lượng để xem xét các nhân tố về đặc điểm hội đồng quản trị đến hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2009- 2019
6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu
được kết cấu thành các chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về đặc điểm hội đồng quản trị và quản trị lợi nhuận trong các doanh nghiệp cổ phần
Chương 2 Thực trạng quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2009-2019
Chương 3 Một số khuyến nghị, đề xuất
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LUẬN VỀ ĐẶC ĐIỂM HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP CỔ PHẦN
1.1 Cơ sở lý luận về quản trị lợi nhuận trong các doanh nghiệp
1.1.1 Quản trị lợi nhuận
1.1.1.1 Khái niệm
Lợi nhuận là chỉ tiêu thể hiện lượng giá trị gia tăng được tạo ra sau một kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khi lập báo cáo, nhà quản trị có quyền lựa chọn và vận dụng chính sách kế toán, hoặc tạo ra các giao dịch thực nhằm điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính để đạt được tiêu nhất định
Thuật ngữ “quản trị lợi nhuận” mang hàm ý rất rộng, bao gồm rất nhiều cách thức, biện pháp khác nhau mà nhà quản trị sử dụng để đạt được mục đích mong muốn khi truyền tải thông tin tài chính của doanh nghiệp Quản trị lợi nhuận là một trong những chủ đề được quan tâm nhiều nhất của giới nghiên cứu kế toán và giới làm nghề
kế toán đặc biệt là kế toán của các công ty niêm yết Không có sự thống nhất trong việc định nghĩa thuật ngữ quản trị lợi nhuận
Quản trị lợi nhuận theo Healy và Wahlen (1999) xảy ra khi nhà quản trị điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính, khiến các cổ đông hiểu sai về hiệu quả hoạt động của công ty, ảnh hưởng tới các giao dịch hợp đồng Theo Davidson và cộng sự (1987), quản trị lợi nhuận là một quá trình có chủ đích của nhà quản lý, thực hiện trong khuôn khổ của các nguyên tắc kế toán nhằm tạo lập các báo cáo tài chính với mức lợi nhuận mong muốn Schipper (1989) cho rằng, điều chỉnh lợi nhuận là một sự can thiệp vào quy trình công bố thông tin ra bên ngoài nhằm đạt được mục tiêu cụ thể nào đó của nhà quản trị Tương đồng với những nghiên cứu trước, Healy và Wahlen (1999) định nghĩa, quản trị lợi nhuận xảy ra khi nhà quản trị sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong trình bày báo cáo tài chính, nhằm làm cho các đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính hiểu sai về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hoặc nhằm thay đổi các kết quả của các hợp đồng mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế toán
Holthausen và Leftwich (1983) thì lại bày tỏ quan điểm rằng, thông qua hành vi quản trị lợi nhuận, nhà quản trị thể hiện rõ những kỳ vọng cá nhân của họ về dòng tiền
Trang 16tương lai của công ty đến nhà đầu tư Watts và Zimmerman (1990) mô tả “quản trị lợi nhuận” xảy ra khi các nhà quản lý điều chỉnh các số liệu kế toán trong hoặc vượt quá giới hạn cho phép theo ý định chủ quan của họ Tuy nhiên, có thể nhận định rằng hành
vi thao túng báo cáo tài chính không phải lúc nào cũng là xấu và rất khó để chúng ta
có thể phân biệt giữa việc bóp méo lợi nhuận để thực hiện hành vi gian lận với việc các nhà quản trị luôn cố gắng điều tiết thông tin trên báo cáo tài chính để đạt được mục tiêu về lợi nhuận (Ronen và Yaari, 2007) Theo Jiraporna và cộng sự (2008) định nghĩ rõ hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ góp phần nâng cao giá trị thông tin cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính
Trên quan điểm của nhóm tác giả, “quản trị lợi nhuận” có thể được hiểu là hành
vi thao túng lợi nhuận có thể được thực hiện trong hoặc ngoài phạm vi cho phép của các quy định, chuẩn mực, chế độ kế toán nhằm đạt được các mục tiêu quản lý
1.1.1.2 Phân loại hành vi quản trị lợi nhuận
Căn cứ vào cách thức quản trị lợi nhuận, hành vi quản trị lợi nhuận có thể chia thành hai loại: quản trị lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích và quản trị lợi nhuận thông qua việc tác động vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh (Schipper, 1989)
Quản trị lợi nhuận thông qua các khoản dồn tích: Là hành vi quản trị lợi nhuận
mà nhà quản trị sẽ vận dụng các khoản dồn tích để tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp Nhà quản trị doanh nghiệp vận dụng linh hoạt chính sách kế toán hàng tồn kho, chính sách ghi nhận doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, chính sách ghi nhận chi phí được vốn hóa,… để điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp
Quản trị lợi nhuận thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh: Là hành vi quản trị lợi nhuận mà nhà quản trị sẽ tác động vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, thông qua
đó điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh có thể ở hoạt động kinh doanh chính, hoạt động tài chính hay hoạt động đầu tư Nhà quản trị có thể cắt giảm chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí quảng cáo, chi phí đào tạo để duy trì lợi nhuận ở mức hiện tại; hoặc họ có thể tác động vào chính sách bán hàng của công ty để tăng lợi nhuận bằng cách tăng thời gian bán chịu cho khách hàng, giảm giá bán niêm yết nếu mua hàng với số lượng lớn Nhà quản trị có thể thông qua việc mua lại cổ phiếu quỹ để giảm lượng cổ phiếu lưu hành từ đó làm tăng chỉ tiêu lợi nhuận trên cổ phần (EPS); hoặc có thể quyết định thanh lý tài sản dài hạn vào những thời
Trang 17điểm thích hợp trong năm để lợi nhuận được trình bày trên báo cáo tài chính được ổn định
1.2 Các lý thuyết vận dụng để nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp
1.2.1 Lý thuyết đại diện
Jensen và Meckling (1976) trong tác phẩm “Lý thuyết về công ty: Hành vi nhà quản trị, chi phí người đại diện và cấu trúc sở hữu” đã giới thiệu các quan điểm của mình về lý thuyết người đại diện Đây là một trong những tác phẩm được trích dẫn nhiều nhất trong gần 3 thập kỷ qua của giới học giả kinh tế, tài chính khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chi phí người đại diện (agency cost) Lý thuyết này đã được nghiên cứu từ trước và có cơ sở từ tâm lý học đó là: con người vốn có khuynh hướng
cá nhân (individualistic), cơ hội (opportunistic), và tư lợi (self-interest); tuy nhiên vấn
đề ở đây là làm sao để các cá nhân dung hòa lợi ích để cùng có lợi và phát triển Nghiên cứu này của Jensen và Meckling thường được trích dẫn ở các nội dung chính sau đây:
“Một là, chủ thể (principal) hay chủ sở hữu vốn (shareholders) và người đại diện (agent) hay nhà quản trị (managers) luôn có sự đối nghịch về lợi ích Người sở hữu vốn quan tâm đến giá trị công ty, giá cổ phiếu (cũng là lợi ích của chính họ) Trong khi đó, nhà quản trị về cơ bản không quan tâm nhiều đến lợi ích cổ đông mà thường chỉ quan tâm đến lợi ích của mình là chính (lương, thưởng, phụ cấp, nguồn thu khác dựa trên vị trí công tác của mình)
Hai là, việc không đồng nhất lợi ích giữa chủ sở hữu vốn và người đại diện hay nhà quản trị làm phát sinh một loạt chi phí “Agency Cost” (tạm dịch là chi phí người đại diện, hay còn gọi là chi phí Giám đốc) bằng 0 (không) khi chủ sở hữu đồng thời là Giám đốc công ty, tức là, Giám đốc sở hữu toàn bộ vốn của công ty (principal và agent là một)
Ba là, chi phí Giám đốc càng lớn khi Giám đốc sở hữu ít hoặc không sở hữu cổ phiếu công ty.”
Trên cơ sở đó, các nhà kinh tế tiếp tục nghiên cứu về mối quan hệ người đại diện, cũng như về các loại chi phí Giám đốc Những nghiên cứu tiếp theo cho thấy một số kết quả như sau:
Trang 18– Giám đốc sẵn sàng lựa chọn các dự án sinh lợi thấp cho công ty nếu lợi ích của mình được đảm bảo và khó có thể chứng minh được thiệt thòi về phía công ty
– Cổ đông có khuynh hướng chấp nhận rủi ro (risk-preference) cao hơn nhiều so với Giám đốc vì cổ đông có thể đa dạng hóa đầu tư vào nhiều công ty, còn Giám đốc làm thuê thì thu nhập chủ yếu từ công ty Vì vậy, Giám đốc có khuynh hướng né tránh rủi ro (risk-averse) trong việc lựa chọn chiến lược kinh doanh cho công ty, vì khi chấp nhận rủi ro, nếu sinh lợi cao thì không được hưởng như cổ đông Ngược lại, nếu không thành công thì nguy cơ mất việc cao Từ đó, Giám đốc sẵn sàng bỏ qua các cơ hội làm lợi cho cổ đông
– Giám đốc sẵn sàng gây dựng tên tuổi cá nhân mình bằng cách đầu tư vào các
dự án đồ sộ, sinh lợi thấp nhưng sử dụng nhiều kinh phí Giám đốc ưa thích xây nhà cửa, mua phương tiện đi lại nhiều tiền để chứng minh vị thế của mình và hưởng lợi trên chi phí mà cổ đông phải chịu
– Giám đốc có khuynh hướng đầu tư ngắn hạn, quan tâm tới công việc, vị trí của mình hơn là mạo hiểm để mang lại lợi ích dài hạn cho công ty Giám đốc có khuynh hướng đầu tư mạnh cho quảng cáo để gián tiếp quảng bá mình và nhận hoa hồng, nhưng có khuynh hướng ngược lại đối với chi phí nghiên cứu phát triển (R&D) vì chi lớn có thể làm giảm lương, thưởng, còn cái lợi về dài hạn của R&D thì Giám đốc có thể không được thụ hưởng
– Giám đốc có khuynh hướng không thích vay nợ vì sẽ bị kiểm soát bởi các bên cho vay trong việc sử dụng vốn của mình
– Chi phí Giám đốc liên quan trực tiếp đến mức độ phân tán hay tập trung của vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu phân tán khiến các cổ đông có thể thiếu quyền hạn trong việc giám sát Giám đốc, dẫn đến tình trạng cổ đông này cho rằng cổ đông kia đã giám sát (free-rider)
Các nghiên cứu cho thấy Giám đốc thường ít có khuynh hướng trả cổ tức (devidend payout) vì muốn lưu giữ ngân quỹ cao để làm vùng đệm cho những chi tiêu, đồng thời làm giảm khả năng công ty phải đi vay khi đó Giám đốc sẽ bị đánh giá về hiệu quả, năng lực qua hoạt động sử dụng vốn
Theo lý thuyết người đại diện, chi phí Giám đốc chỉ bằng không khi chủ sở hữu vốn cũng chính là Giám đốc công ty Những loại hình công ty cổ phần là rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường và các Giám đốc thường được thuê từ bên ngoài, nên các
Trang 19chi phí này là không thể tránh khỏi khi Giám đốc và cổ đông luôn không đồng nhất về lợi ích như đã đề cập
Cùng với nghiên cứu của Jensen & Meckling (1976), một nghiên cứu khác về chi phí đại diện và cấu trúc sở hữu sau đó đã được thực hiện bởi Fama & Jensen (1983) Nghiên cứu này đưa ra kết luận rằng trong một công ty luôn có sự tách biệt giữa quyền
sở hữu và kiểm soát Nói cách khác, người sở hữu thực sự của công ty không tham gia vào việc quản lý công ty và chi phí đại diện sẽ xuất hiện vì tình trạng bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và các cổ đông Nhà quản lý có nhiều thông tin về tình hình công ty và họ sẽ dùng quyền quản lý để trục lợi cho bản thân
Như vậy có thể thấy rằng có sự tồn tại mối tương quan giữa chi phí đại diện với cấu trúc sở hữu trong công ty ở nhiều quốc gia khác nhau Trong đó, nổi bật lên vai trò giải thích của tỷ lệ sở hữu cổ phần của các nhà quản lý công ty, cũng như vai trò của các nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ trong việc kiểm soát hoạt động của công ty
* Vận dụng lý thuyết đại diện để giải thích hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Vấn đề đại diện tạo ra mâu thuẫn giữa bên ủy quyền và bên đại diện, giữa cổ đông và chủ nợ Để giải quyết vấn đề này, nhà quản trị sẽ tác động vào số liệu kế toán, vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để đảm bảo lợi ích của các bên Lý thuyết đại diện được vận dụng để giải thích việc kiêm nhiệm chức danh Giám đốc điều hành của Chủ tịch hội đồng quản trị, quy mô của hội đồng quản trị, tính độc lập của hội đồng quản trị thông qua tỷ lệ giữa thành viên hội đồng quản trị độc lập không điều hành, số lượng cuộc họp hội đồng quản trị, số lượng thành viên ban kiểm soát, loại công ty kiểm toán, tỷ lệ sở hữu của tổ chức tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận Các công ty niêm yết có kiêm nhiệm hai chức danh chủ tịch hội đồng quản trị và Giám đốc điều hành tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện điều chỉnh lợi nhuận nên mức độ điều chỉnh lợi nhuận ở những công ty có kiêm nhiệm sẽ cao Dựa trên lý thuyết này, nhóm tác giả cũng kỳ vọng rằng doanh nghiệp có số lượng thành viên hội đồng quản trị càng cao, số lượng thành viên độc lập không điều hành càng cao, có số lượng thành viên ban kiểm soát thì sẽ kiểm soát được hành vi điều chỉnh lợi nhuận; Công ty có tỷ lệ vốn được nắm giữ bởi người quản lý càng cao thì mức độ điều chỉnh lợi nhuận càng cao và công
ty có tỷ lệ vốn được được nắm giữ bởi Nhà nước càng cao thì mức độ điều chỉnh lợi nhuận càng thấp
1.2.2 Lý thuyết các bên liên quan
Trang 20Lý thuyết các bên liên quan được Edward Freeman sử dụng lần đầu tiên năm
1984, trong tác phẩm quản trị chiến lược Các bên có liên quan gồm, bất kỳ cá nhân hoặc nhóm người nào quan tâm đến công ty, vì họ có thể gây ảnh hưởng hoặc chịu ảnh hưởng bởi công ty Freeman chia bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thành hai nhóm: bên trong doanh nghiệp và bên ngoài doanh nghiệp Nhà quản lý và nhân viên
là bên liên quan bên trong doanh nghiệp các bên liên quan bên ngoài doanh nghiệp như cổ đông, nhà cung cấp, cơ quan chính phủ, … Lý thuyết các bên liên quan có nhiều ứng dụng, trong đó có ứng dụng vào lĩnh vực kế toán cho rằng thành công của công ty phụ thuộc vào sự hợp tác của các bên liên quan, bởi vì họ cung cấp nguồn lực hữu hình hoặc vô hình để đảm bảo sự tồn tại của bất kỳ công ty nào Các nguồn lực
đó, có thể là nguồn lực tài chính (cổ đông), môi trường hoạt động và dịch vụ công (cơ quan chính phủ), sức lao động (nhân viên),… Vì vậy, công ty có trách nhiệm giải trình, cung cấp thông tin giải thích về hoạt động kinh doanh của công ty cho các bên liên quan, thay vì chỉ cung cấp thông tin cho chủ sở hữu
Lý thuyết các bên liên quan ủng hộ công ty mà hội đồng quản trị có quy mô lớn
và đa dạng sẽ phù hợp và có nhiều tạo thuận lợi cho việc liên kết các thành phần (Zingales và Rajan, 1998; John và Senbet, 1998) Bên cạnh việc sử dụng lý thuyết đại diện, lý thuyết các bên liên quan cũng được kết hợp để giải thích các nhân tố hội đồng quản trị tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận Prior và cộng sự (2008) cũng cho rằng người quản lý có thể tác động vào lợi nhuận để cải thiện lợi ích cá nhân của họ và
bỏ qua chi phí của cổ đông và các bên liên quan khác
* Vận dụng lý thuyết các bên liên quan để giải thích hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Theo lý thuyết các bên liên quan, người quản lý chịu sức ép phải quan tâm đến lợi ích của nhiều đối tượng liên quan và cả lợi ích của bản thân nên hoàn toàn có thể lý giải khả năng người quản lý sẽ thực hiện điều chỉnh lợi nhuận Dựa trên lý thuyết các bên liên quan có thể giải thích tác động của đòn bẩy tài chính đến hành viđiều chỉnh lợi nhuận Người quản lý sẽ phải dung hoà lợi ích của cổ đông, của người quản lý với người cung cấp vốn bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay, vốn chiếm dụng Họ phải đảm bảo các điều khoản của hợp đồng vay nợ, do vậy, tác giả kỳ vọng rằng doanh nghiệp có mức độ sử dụng tiền vay càng lớn, nợ phải trả càng lớn thì mức độ điều chỉnh lợi nhuận càng cao Nhóm tác giả vận dụng lý thuyết này để giải thích tác động
Trang 21của nhóm nhân tố tỷ lệ sở hữu vốn của tổ chức với hành vi điều chỉnh lợi nhuận, với những cấu trúc sở hữu vốn khác nhau có thể vì để dung hòa lợi ích giữa các nhóm cổ đông mà người quản lý thực hiện điều chỉnh lợi nhuận
1.2.3 Lý thuyết tín hiệu
Lý thuyết tín hiệu được giới thiệu bởi Michael Spence (1973) Khi nghiên cứu thị trường lao động, Michael Spence cho rằng việc thuê mướn lao động là một quyết định không thể chắc chắn được bởi vì họ làm sao biết được năng lực thật sự của người lao động Chính vì thế, họ có thể thuê được người lao động có chất lượng cao, cũng có thể là không Để giảm thiểu rủi ro thuê được lao động không phù hợp như kỳ vọng, người đi thuê lao động phải dựa vào các tín hiệu mà người lao động phát ra để lựa chọn Các tín hiệu này có thể là chất lượng của bằng cấp, thời gian công tác, kinh nghiệm của người lao động trong quá khứ,… Đứng dưới góc độ người lao động thì họ muốn tìm được việc làm tốt thì họ cần phải phát tín hiệu, nghĩa là cung cấp thông tin
cá nhân đến thị trường lao động để bộc lộ khả năng của mình
Ross (1977), Cho và Sobel (1990) cho rằng sự mâu thuẫn vốn có của cổ đông và người quản lý làm cho người quản lý tập trung cung cấp những tín hiệu trọng tâm, đáp ứng các nhu cầu thông tin cơ bản cho người sử dụng Trong thị trường tài chính, mối quan hệ chủ yếu giữa cổ đông và người quản lý được thể hiện bằng lợi nhuận đầu tư, người đầu tư đưa ra quyết định kinh tế dựa trên các chỉ số về khả năng sinh lời Dựa trên nền tảng lý luận này, các nghiên cứu mở rộng sang thị trường tài chính và nhận thấy các công ty có khả năng sinh lợi cao sẽ sử dụng thuyết minh để cung cấp tín hiệu nhằm tăng sức cạnh tranh của mình (Bini và cộng sự, 2010)
* Vận dụng lý thuyết tín hiệu để giải thích hành vi QTLN
Vận dụng lý thuyết tín hiệu để giải thích tác động của hiệu quả sinh lời (ROA), quy mô của doanh nghiệp, tỷ lệ nợ vay, nợ phải trả đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp Do thông tin không cân xứng giữa các đối tượng nên người quản lý
có xu hướng cung cấp thông tin sao cho có lợi nhất Nhằm đáp ứng kỳ vọng của người
sử dụng thông tin liên quan, nhóm tác giả kỳ vọng rằng người quản lý tại các doanh nghiệp có quy mô càng lớn, lợi nhuận càng cao, tỷ lệ nợ phải trả, tỷ lệ nợ vay càng lớn thì càng có nhiều khả năng người quản lý sẽ thực hiện thao túng lợi nhuận
1.2.4 Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource dependency theory)
Trang 22Pfeffer và Salancik (1978) giới thiệu lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, là một lý thuyết nền tảng về vai trò nguồn lực của hội đồng quản trị doanh nghiệp Thuyết phụ thuộc nguồn lực cho rằng, các doanh nghiệp vận hành trong môi trường của mình và phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài để tồn tại và phát triển Môi trường của một doanh nghiệp bao gồm cấu trúc tổ chức và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào các nguồn lực bên ngoài Như vậy, thuyết phụ thuộc nguồn lực xem doanh nghiệp là một hệ thống mở, và nhấn mạnh vai trò của các mối quan hệ bên ngoài thông qua trao đổi nguồn lực Theo đó, các nguồn lực mà doanh nghiệp có được từ môi trường hoặc được chuyển giao đến môi trường rất cần thiết cho quá trình vận hành của các hoạt động chức năng nội bộ Một doanh nghiệp sẽ ngày càng phụ thuộc hơn vào những doanh nghiệp khác (nhà cung cấp nguồn lực) nếu bị kiểm soát các nguồn lực quan trọng Nói cách khác, nếu các nguồn lực quan trọng của doanh nghiệp bị kiểm soát (thường được cung cấp) bởi các doanh nghiệp khác, thì
mức độ phục thuộc của doanh nghiệp và các doanh nghiệp khác sẽ ngày càng cao
Thông qua các đối tác của mình, một doanh nghiệp có thể đạt được các nguồn lực hữu hình như các nguyên vật liệu, nhân công, vốn, cở sở và trang thiết bị … thông qua giao dịch với các đối tác giao dịch, có thể là các nhà cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, các liên đoàn, các cơ quan luật pháp và các nhóm lợi ích Bên cạnh nguồn lực hữu hình, một số nguồn lực vô hình như lòng tin, sự cảm thông, trách nhiệm cá nhân, danh tiếng, vị thế riêng biệt trong các mối quan hệ,… cũng có vai trò quan trọng, góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp có thể thay đổi môi trường thông qua các hành động tương tác của mình với môi trường Doanh nghiệp có khả năng làm thay đổi môi trường, từ đó tác động đến mức độ phụ thuộc nguồn lực, hay mức độ phụ thuộc vào các doanh nghiệp khác Theo Pfeffer và Salancik (1978), doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược
để làm giảm sức ép và phụ thuộc từ bên ngoài Chiến lược này tập trung vào khả năng thích ứng với môi trường và những thay đổi của doanh nghiệp đối với môi trường, ví
dụ, có thể thiết lập liên minh với các doanh nghiệp khác cùng ngành hoặc vận động hành lang với các cơ quan chính phủ để thay đổi luật pháp
Như vậy, lý thuyết phụ thuộc nguồn lực cho rằng việc đảm bảo các nguồn lực thiết yếu và mối liên kết với môi trường bên ngoài có thể được cải thiện nếu quy mô
và sự đa dạng của hội đồng quản trị được tăng cường Rất nhiều nghiên cứu đã vận
Trang 23dụng lý thuyết này để giải thích sự đa dạng trong hội đồng quản trị ảnh hưởng đến chất lượng thông tin của báo cáo tài chính, mức độ công bố thông tin như Singh và Vinicombe (2004), Bathula (2008), Huse và Solberg (2006),…
* Vận dụng lý thuyết sự phụ thuộc nguồn lực để giải thích hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Người quản lý có đủ năng lực và điều kiện để điều chỉnh các nguồn lực của doanh nghiệp Đề tài vận dụng lý thuyết phụ thuộc nguồn lực để giải thích hành vi điều chỉnh lợi nhuận của người quản lý Cụ thể, đề tài giải thích mối quan hệ giữa số lượng cuộc họp hội đồng quản trị, quy mô của hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên nữ thuộc hội đồng quản trị và ban kiểm soát tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận Dựa vào khả năng phân bổ nguồn lực của hội đồng quản trị để kỳ vọng rằng doanh nghiệp có số lượng thành viên hội đồng quản trị càng lớn thì hành vi điều chỉnh lợi nhuận càng thấp; Số lượng thành viên nữ thuộc hội đồng quản trị càng nhiều thì mức độ quản trị lợi nhuận càng thấp Doanh nghiệp năng động tổ chức nhiều cuộc họp
sẽ giúp thông suốt các vấn đề trong kinh doanh và quản lý, từ đó làm giảm mức độ điều chỉnh lợi nhuận tại doanh nghiệp
Họ đưa ra 3 giả định cho hành vi điều chỉnh lợi nhuận của người quản lý Đó là
kế hoạch thưởng, các giao ước nợ và chi phí chính trị
- Kế hoạch thưởng: Người quản lý làm việc tại những công ty có kế hoạch thưởng thường có nhiều khả năng lựa chọn các chính sách kế toán để chuyển lợi nhuận ở những năm sau về năm hiện tại, nhằm gia tăng tiền thưởng ở năm hiện tại
- Các giao ước nợ: Các công ty ở gần mức vi phạm các giao ước nợ sẽ có xu hướng lựa chọn các thủ tục kế toán phù hợp để thay đổi lợi nhuận ở những năm sau về năm hiện tại nhằm đảm bảo các giao ước nợ và giảm bớt những ràng buộc trong điều hành công ty
Trang 24- Chi phí chính trị: Công ty lớn thường phải đối mặt với chi phí chính trị lớn (ví
dụ như thuế phải nộp ở mức cao), người quản lý có xu hướng tác động vào các chính sách kế toán để hoãn ghi nhận lợi nhuận trên báo cáo ở năm hiện tại, chuyển sang ghi nhận ở những năm sau đó
Lý thuyết kế toán thực chứng được sử dụng để giải thích lợi ích của người quản
lý, các hợp đồng nợ và chi phí thuế đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận như Yue (2007), Suwardi (2013), Beuselinck và Deloof (2014), Kevin và cộng sự (2016),…
* Vận dụng lý thuyết kế toán thực chứng để giải thích hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Người quản lý vận dụng linh hoạt các chính sách kế toán được thừa nhận để thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận là rất phổ biến Vận dụng lý thuyết kế toán thực chứng để xem xét và giải thích kết quả nghiên cứu một số nhân tố tác động đến hành
vi điều chỉnh lợi nhuận đặc biệt là điều chỉnh lợi nhuận thông qua các khoản dồn tích
là rất phù hợp Khi doanh nghiệp có tỷ lệ nợ càng cao, tỷ lệ nợ vay ngắn hạn càng cao thì càng chịu áp lực thanh toán nợ và thanh toán lãi vay, có khả năng thực hiện điều chỉnh lợi nhuận càng lớn
1.1.3 Các mô hình quản trị lợi nhuận
1.1.3.1 Mô hình Healy (1985)
Nghiên cứu điển hình và đi đầu về quản trị lợi nhuận là Healy (1985) Healy (1985) kiểm định giả thuyết tối đa hóa tiền thưởng của hành vi quản trị, bằng việc nhận định rằng, biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh được (NDA) chính là tổng biến kế toán dồn tích (TA) trung bình của các năm trước chia cho giá trị tài sản đầu năm Healy cho rằng hiện tượng quản trị lợi nhuận diễn ra một cách có hệ thống qua mỗi kỳ kế toán khác nhau Vì vậy, biến kế toán dồn tích (TA) được xác định bằng chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán trừ đi dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
Mô hình Healy (1985) được xây dựng như sau:
Trong đó:
NDAit là biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh của công ty i trong năm t;
TAit là tổng biến kế toán dồn tích của công ty i trong năm t;
TSi,t-1 là giá trị tài sản của công ty i trong năm t-1
Trang 25Theo mô hình này, khi nhà quản trị không thực hiện hành động điều chỉnh lợi nhuận, lúc đó DA bằng 0 và kết quả là, TA chính là NDA Khi nhà quản trị điều chỉnh lợi nhuận trong một năm nào đó, sẽ tồn tại một mức độ DA Do hành vi quản trị lợi nhuận được thực hiện thông qua lựa chọn các phương pháp kế toán, nhà quản trị không thể điều chỉnh lợi nhuận trong thời gian quá dài
Ưu điểm của mô hình này là đơn giản và dễ tính toán Tuy nhiên, hạn chế của
mô hình đó là giả định NDA không đổi theo thời gian nhưng thực tế có thể ngược lại
Vì NDA liên quan đến mức độ hoạt động của doanh nghiệp, khi mức độ hoạt động thay đổi, phần NDA sẽ thay đổi theo Các tính toán này không kiểm soát được những thay đổi về mức độ hoạt động làm cho phần NDA biến động, như tăng trưởng về hoạt động, thay đổi quy mô hoạt động kinh doanh, thay đổi về tăng trưởng kinh tế NDA được xác định không chính xác sẽ dẫn đến DA cũng sai lệch và kết quả suy luận sẽ không chính xác
1.1.3.2 Mô hình DeAngelo (1986)
Phát triển mô hình Healy (1985), DeAngelo (1986) kiểm chứng giả thuyết liệu nhà quản trí có điều chỉnh giảm lợi nhuận trước khi quyết định mua lại toàn bộ cổ phần Mô hình DeAngelo (1986) giả định rằng DA của năm trước năm đầu tiên trong
kỳ ước tính bằng 0 nghĩa là doanh nghiệp không điều chỉnh lợi nhuận Tương đồng với với Healy (1985), phần NDA được giả định rằng sẽ không đổi theo thời gian
Mô hình DeAngelo (1986) như sau:
Trong đó:
DAit là biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh của công ty i trong năm t;
TAit là tổng biến kế toán dồn tích của công ty i trong năm t;
TAit-1 là tổng biến kế toán dồn tích của công ty i trong năm t-1;
TSi,t-1 là giá trị tài sản của công ty i trong năm t-1
Phần NDA trong mô hình Healy (1985) đo lường dựa vào trung bình tổng dồn tích trong giai đoạn ước tính nhưng DeAngelo (1986) lại đo lường NDA chỉ dựa vào tổng dồn tích TA của năm liền trước trong kỳ ước tính Vì thế, DeAngelo (1986) có thể được xem như một trường hợp đặc biệt của Healy (1985)
Trang 26Mô hình DeAngelo (1986) có ưu điểm đơn giản, dễ tính toán Tuy nhiên với giả
định NDA không đổi theo thời gian và giả định năm liền trước năm đầu tiên của kỳ ước tính không có hành động điều chỉnh lợi nhuận, mô hình này có nhược điểm đó là
không tính đến sự thay đổi trong mức độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Để khắc phục nhược điểm này, Friedlan (1994) đã cải tiến các mô hình này bằng việc đưa thêm vào mô hình DeAngelo (1986) biến doanh thu để kiểm soát sự thay đổi của mức độ hoạt động, phần NDA được đo lường chính xác hơn so với mô hình Healy (1985), DeAngelo (1986)
1.1.3.3 Mô hình Jones (1991)
Khắc phục nhược điểm của các mô hình trước, Jones (1991) xây dựng mô hình mới trong đó tính đến những thay đổi về mức độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đến NDA Mô hình của Jones cho phép loại bỏ giả thiết tính ổn định của phần NDA được đề xuất bởi Healy (1985) và DeAngelo (1986) Mô hình của Jones được trình bày như sau:
Trong đó:
∆DT: Doanh thu thuần của nămt - doanh thu thuần của nămt-1
NGTSCĐit: Nguyên giá tài sản cố định (hữu hình, thuê tài chính, bất động sản đầu tư)
TSt-1: Tổng tài sản của năm t-1;
a1,a2, a3: Các tham số hồi quy
ε: Sai số mô hình (tương đương với phần DA)
Dechow và cộng sự (1995) tìm thấy bằng chứng cho rằng, mô hình của Jones là
mô hình tối ưu nhất trong việc phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhận của nhà quản trị Tuy nhiên, hạn chế của mô hình Jones (1991) đó là doanh thu được xem là đại diện cho phần dồn tích không thể điều chỉnh, điều này ngược với thực tế vì việc thay đổi thời điểm ghi nhận doanh thu về trước hay sau kỳ kế toán nhằm thay đổi lợi nhuận là
có thể được thực hiện bởi nhà quản trị
1.1.3.4 Mô hình Dechow và cộng sự (1995)-Modified Jones
Mô hình điều chỉnh Jones (1995) được xây dựng nhằm khắc phục hạn chế của
mô hình gốc Jones (1991) khi mô hình gốc cho rằng doanh thu được xem là phần
Trang 27không thể điều chỉnh Dechow, Sloan & Sweeny (1995) thay đổi biến động doanh thu bằng một biến khác là biến “biến động doanh thu bằng tiền” Mô hình thể hiện như sau:
Trong đó:
TAit : tổng dồn tích năm t của công ty i
∆PTKHit: Phải thu khách hàng năm t - Phải thu khách hàng năm t-1
∆DTit: Doanh thu năm t trừ - Doanh thu năm t-1 tại công ty i
TSit-1: Tổng tài sản cuối năm t -1 tại công ty i
NGTSCĐit: Nguyên giá tài sản cố định (hữu hình, thuê tài chính, bất động sản đầu tư)
a1, a2, a3: Các tham số hồi quy
ε: Sai số mô hình
Mô hình điều chỉnh Jones (1995) là mô hình được áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về quản trị lợi nhuận (Kang & Sivaramakrishnan, 1995, Kasznik ,1999, Yoon và Miller G.A, 2002, Yoon và cộng sự, 2006, Januarsi, Badina và Febrianti,
2014, Phan Thị Thùy Dương (2015)
Mô hình điều chỉnh Jones (1995) đã khắc phục được những hạn chế của mô hình Healy và DeAngelo Tuy nhiên, mô hình vẫn còn tồn tại hạn chế về mặt số liệu tính toán, để ước lượng các tham số hồi quy của mỗi doanh nghiệp, đòi hỏi phải thu thập một dãy số liệu thời gian trong quá khứ của các doanh nghiệp
1.1.3.5 Mô hình của Kothari và cộng sự (2005)
Kothari và cộng sự (2005) khi nghiên cứu các doanh nghiệp Mỹ trong khoảng thời gian 1959 – 1998 cho thấy bằng chứng thực nghiệm rằng, động lực khiến nhà quản trị thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận là khi có sự xuất hiện một sự kiện bất thường của công ty, ví dụ như phát hành thêm cổ phiếu Khắc phục nhược điểm của các mô hình Jones (1991) và mô hình điều chỉnh Jones (1995) khi kết quả suy luận tỏ
ra không chính xác trong trường hợp công ty có sự tăng trưởng quá lớn Vì thế, Kothari và cộng sự (2005) bổ sung thêm biến ROA vào cả mô hình Jones (1991) và
mô hình điều chỉnh Jones (1995):
Trang 28Nghiên cứu của Kothari và cộng sự (2005) cho thấy rằng các nhà nghiên cứu có thể rút ra những suy luận đáng tin cậy nhiều hơn khi biến ROA được đưa thêm vào mô hình Mô hình Kothari và cộng sự (2005) đã được vận dụng cho nhiều nghiên cứu về thao túng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Canada (Cormier, Houle & Ledoux, 2013) hay trong bối cảnh của Tunisian (Charfeddine, Riahi & Omri, 2013)
1.1.3.6 Mô hình của Dechow và Dichev (2002)
Dechow và Dichev (2002) đề xuất cách tiếp cận khác thông qua dòng tiền từ hoạt động kinh doanh Dựa trên nguyên tắc kế toán dồn tích, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh sẽ được nghiên cứu trong quá khứ, hiện tại và tương lai Hai tác giả đề xuất mô hình như sau:
∆WCit = β0+ β1*CFOit-1+ β2*CFOit+ β3*CFOit+1+ εit
Trong đó:
∆WC=∆ khoản phải thu khách hàng+∆ hàng tồn kho-∆ khoản phải trả người
bán-∆ khoản thuế phải nộp nhà nước+bán-∆ tài sản khác Những khoản mục này lấy phần thực (nghĩa là sau khi đã trừ đi các khoản lập dự phòng như: dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá tồn kho )
CFOit-1 là dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của công ty i ở kỳ trước kỳ nghiên cứu
CFOit là dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của công ty i ở kỳ nghiên cứu
CFOit+1 là dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của công ty i ở kỳ sau kỳ nghiên cứu
β từ 0 đến 3 là các hệ số hồi quy
Tất cả các biến trên đều chia cho tổng tài sản bình quân
Hai tác giả sử dụng độ lệch chuẩn của phần dư có được từ bước chạy hồi quy ở
mô hình trên như là sự đo lường cho biến DA Nghiên cứu của McNichols (2002) cho thấy bằng chứng thực nghiệm rằng, mô hình của Dechow và Dichev (2002) có độ giải thích cao hơn nếu kết hợp với mô hình Jones (1991), nếu kết hợp với mô hình Jones (1991) thì R2 điều chỉnh tăng từ 0,201 đến 0,301 Do đó, McNichols đề xuất mô hình như sau:
∆WCit = β0+ β1*CFOit-1+ β2*CFOit+ β3*CFOit+1+ β4∆REVit +β5*PPEit + εit
Trang 291.1.4 Các chính sách quản trị lợi nhuận
1.1.4.1 Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn và vận dụng chính sách kế toán
“Chính sách kế toán” là những nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính (Chuẩn mực
kế toán 29, 2005) Việc lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán được các doanh nghiệp thực hiện linh họạt, điều này đã dẫn đến khoảng trống cho các hành vi điều chỉnh, làm sai lệch thông tin tài chính của nhà quản trị
- Vận dụng phương pháp kế toán trong ghi nhận doanh thu: Trên cơ sở kế toán
dồn tích, các doanh nghiệp được phép lựa chọn thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí
và tuân thủ nguyên tắc phù hợp Doanh thu và chi phí có thể được ghi nhận sớm hơn hoặc dịch chuyển về sau, điều này sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận của kỳ hiện hành, đây là hiện tượng của điều chỉnh lợi nhuận
- Lựa chọn phương pháp xác định giá trị hàng xuất kho: Trong một số điều
kiện khi giá thị trường biến động, các phương pháp tính giá trị hàng xuất kho (nhập trước, xuất trước, bình quân gia quyền hay thực tế đích danh) có thể tác động tới chi phí, giá vốn trong kỳ và ảnh hưởng tới lợi nhuận báo cáo trong kỳ
- Lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định: Mỗi một phương pháp khấu
hao (đường thẳng, tỷ lệ sử dụng, số dư giảm dần có điều chỉnh) đều có thể tác động tới chi phí, giá thành, giá vốn của doanh nghiệp Từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận báo cáo trong kỳ
- Lựa chọn chính sách về ghi nhận chi phí sửa chữa TSCĐ Tùy thuộc vào tính
chất và quy mô sửa chữa TSCĐ mà chi phí sửa chữa được hạch toán vào khoản mục chi phí khác nhau Các doanh nghiệp có thể điều chỉnh lợi nhuận qua việc lựa chọn
phương pháp ghi nhận chi phí sửa chữa TSCĐ
- Lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm và phương pháp xác định chi phí dở dang Tùy thuộc vào đặc điểm, quy trình công nghệ sản xuất,… mỗi doanh
nghiệp có thể lựa chọn các phương pháp tính giá thành và xác định chi phí sản xuất dở dang khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm, giá vốn hàng bán và lợi nhuận báo cáo trong kỳ
- Lựa chọn phương pháp kế toán chi phí lãi vay Chi phí lãi vay có thể được
vốn hóa vào nguyên giá TSCĐ hoặc ghi nhận như chi phí phát sinh trong kỳ Việc
Trang 30phân biệt này ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán, do đó, trong trường hợp này doanh nghiệp có thể lợi dụng kế toán chi phí lãi vay để điều chỉnh lợi nhuận
Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn và vân dụng chính sách kế toán về cơ
bản không làm thay đổi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tuân thủ theo chuẩn mực, chế độ kế toán, không được xem như là hành động trái pháp luật
1.1.4.2 Quản trị lợi nhuận thông qua sự can thiệp vào các giao dịch thực
Nhà quản trị có thể điều chỉnh, thao túng báo cáo tài chính bằng việc thực hiện một số giao dịch nằm tăng lợi nhuận trong năm hiện tại, mặc dù xét về dài hạn, giao dịch đó có thể không mang lại lợi ích cho công ty
Ngoài việc quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn các chính sách kế toán, doanh nghiệp còn có thể phù phép lợi nhuận thông qua việc dàn xếp một số giao dịch thực nhằm tăng lợi nhuận trong năm hiện tại, mặc dù các giao dịch đó có thể không có lợi cho công ty trong dài hạn
Nghiên cứu của Roychowdhury (2006) cho thấy bằng chứng về việc các nhà quản lý thao túng các hoạt động thực tế để tránh báo cáo lỗ hàng năm Cụ thể, giảm giá để tạm thời tăng doanh thu, sản xuất thừa để báo cáo giá vốn hàng bán thấp hơn và giảm chi phí hữu ích để cải thiện tỷ suất lợi nhuận được báo cáo
Những hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các hoạt động thực tế xảy ra tại công ty có thể liệt kê như:
- Giảm giá hàng bán hoặc nới lỏng các điều kiện tín dụng đối với khách hàng để tăng lượng hàng bán ra Từ đây doanh thu tăng dẫn đến lợi nhuận trong năm hiện tại tăng lên;
- Sản xuất vượt mức công suất theo thiết kế kỹ thuật của máy móc, thiết bị, làm giảm định phí sản xuất chung trên một đơn vị sản phẩm, dẫn đến giảm giá vốn hàng bán, lợi nhuận trong năm báo cáo tăng Quyết định này không tính đến những hệ lụy doanh nghiệp có thể phải gánh chịu ở những năm sau như: chi phí duy tu, bảo dưỡng máy móc thiết bị do hoạt động quá công suất, chi phí lưu khó, bãi thành phẩm sản xuất, …
- Cắt giảm các chi phí hữu ích như: chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí quảng cáo, chi phí duy tu, bảo dưỡng thiết bị, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp… để làm tăng lợi nhuận trong năm hiện tại
Trang 31Quản trị lợi nhuận qua các giao dịch thực là hành vi bóp méo lợi nhuận doanh nghiệp Hành vi này cơ bản làm thay đổi kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty để nâng cao lợi nhuận kế toán trong kỳ hiện hành
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận trong doanh nghiệp
1.1.5.1 Các nhân tố về đặc điểm hội đồng quản trị
- Quy mô hội đồng quản trị: Quy mô hội đồng quản trị được tính bằng số lượng thành viên hội đồng quản trị tại ngày kết thúc năm Theo luật doanh nghiệp 2014: “Hội đồng quản trị có từ 03 đến 11 thành viên Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng thành viên Hội đồng quản trị.” Hội đồng quản trị có nhiều thành viên có thể có nhiều kinh nghiệm, nhiều kiến thức và nhiều ý kiến đóng góp sẽ tăng cường khả năng giám sát của hội đồng quản trị, điều này góp phần giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận
- Tỷ lệ thành viên độc lập trong hội đồng quản trị: Thành viên độc lập trong hội đồng quản trị là thành viên hội đồng quản trị không có quan hệ vật chất với công ty, hay các công ty con, công ty liên kết của công ty - dù là trực tiếp hay gián tiếp Nhiệm
vụ của họ là đưa ra các ý kiến độc lập về chiến lược cũng như bảo vệ sự công bằng cho cổ đông nhỏ và vì quyền lợi của các cổ đông Họ có trách nhiệm can thiệp vào các quyết định của Ban điều hành nếu các quyết định này toan tính vụ lợi cho một số cá nhân, đảm bảo quản trị công ty công bằng, minh bạch, trách nhiệm Cơ cấu thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần đại chúng và niêm yết cần đảm bảo sự cân đối giữa các thành viên nắm giữ các chức danh điều hành với các thành viên độc lập, trong đó tối thiểu 1/3 tổng số thành viên Hội đồng quản trị là thành viên độc lập (Luật
DN 2014, Thông tư số 121/2012/TT-BTC) Chính vì vậy, tỷ lệ thành viên độc lập trong hội đồng quản trị sẽ có ảnh hưởng nhất định đến quản trị lợi nhuận trong doanh nghiệp
- Sự kiêm nhiệm giữa chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc: Khi một cá nhân đảm nhiệm cả hai vị trí của tổng giám đốc và chủ tịch hội đồng quản trị thì sẽ có thể tạo ra những mâu thuẫn về lợi ích Việc tập trung quyền lực vào tay một cá nhân
có thểsẽ thiếu đi sự giám sát cần thiết trong quá trình đưa ra các quyết định của doanh nghiệp Vì thế sự kiêm nhiệm giữa chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi thao túng lợi nhuận của doanh nghiệp
- Kiểm toán độc lập: Kiểm toán là một nhân tố không thể thiếu trong bối cảnh của một nền tài chính – kế toán hiện đại.Uy tín của công ty kiểm toán có thể có ảnh
Trang 32hưởng đáng kể đến chất lượng của báo cáo tài chính, hành vi thao túng lợi nhuận của doanh nghiệp Những công ty kiểm toán quốc tế như nhóm BigFour thường được xem
là có uy tín trong ngành kiểm toán và chất lượng kiểm toán cao Chính vì vậy, những công ty niêm yết được các công ty kiểm toán này thực hiện kiểm toán thì báo cáo tài chính được xem là ít có khả năng thao túng lợi nhuận
- Số lần họp hội đồng quản trị: Thông thường các công ty niêm yết phải công bố báo cáo tài chính quý nên mỗi năm ít nhất phải có 04 lần họp để thông qua báo cáo cáo tài chính giữa niên độ Trên thực tế, Chủ tịch Hội đồng quản trị phải triệu tập họp Hội đồng quản trị khi có một trong các trường hợp sau đây: có đề nghị của Ban kiểm soát,
có đề nghị của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc hoặc ít nhất năm người quản lý khác, có
đề nghị của ít nhất hai thành viên Hội đồng quản trị, các trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định Số lần họp hội đồng quản trị nhiều khiến cho các thành viên hội đồng quản trị nhanh chóng nắm bắt công việc, thông tin và thống nhất một số nội dung quan trọng trong hoạt động kinh doanh, điều này có thể giảm thiểu hành vi thao túng lợi nhuận của doanh nghiệp
- Thành viên nữ trong hội đồng quản trị: Các nhà đầu tư ngày càng nhận ra sự đa dạng về giới tính trong hội đồng quản trị, ban điều hành là một trong những chỉ số quan trọng của doanh nghiệp, quyết định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai Một thành viên hội đồng quản trị nữ, với những đặc điểm giới tính, trong nhiều tình huống có thể đưa ra những quan điểm mới, góc nhìn khác biệt so với các thành viên nam khác, từ đó giúp doanh nghiệp đưa ra những quyết định tốt hơn và có ảnh hưởng nhất định đến hành vi thao túng lợi nhuận của doanh nghiệp
- Sở hữu tổ chức: Quyền sở hữu tổ chức được định nghĩa là sở hữu cổ phần của các tổ chức tài chính và các công ty phi tài chính Khi các doanh nghiệp có sở hữu tổ chức bên ngoài hiệu quả kiểm soát của người quản lý doanh nghiệp sẽ tốt hơn là sở hữu doanh nghiệp là các nhà đầu tư cá nhân Các nhà đầu tư tổ chức có khả năng giám sát qui trình lập báo cáo tài chính và góp phần nâng cao chất lượng thông tin kế toán,
từ đó có khả năng kiểm soát hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp
1.1.5.2 Các nhân tố về quy mô và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Quy mô doanh nghiệp: Lợi nhuận là mục tiêu cơ bản nhất của mỗi doanh nghiệp, bởi nó giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển bền vững Do đó, lợi nhuận luôn
là mối quan tâm hàng đầu của các nghiên cứu, kể cả lý thuyết và thực nghiệm Nhiều
Trang 33nghiên cứu đã chỉ ra rằng lợi nhuận của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của yếu tố vi
mô cũng như yếu tố vĩ mô Trong đó mối quan hệ đa dạng giữa quy mô và lợi nhuận của doanh nghiệp luôn gây ra nhiều tranh cãi, chính sự tác động đó mà các nhà quản trị đã tận dụng yếu tố quy mô để điều chỉnh lợi nhuận, làm sai lệch đi các thông tin trên báo cáo tài chính Quy mô doanh nghiệp liên quan đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Ngoài ra, quy mô doanh nghiệp có mối quan hệ với lượng tiền mặt và các khoản dồn tích, vốn có liên quan đến lợi nhuận Quy mô doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến các quyết định bởi vì công ty càng lớn thì càng có sự tách bạch giữa quyền quản lý và quyền sở hữu Vì thế quy mô doanh nghiệp sẽ có ảnh hưởng nhất định đến hành vi thao túng lợi nhuận của doanh nghiệp.Công ty có quy mô lớn nên nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh nhiều, đây là cơ hội để các nhà quản trị vận dụng chuẩn mực kế toán để thao túng lợi nhuận Hơn nữa công ty có quy mô lớn nên quyền lực của nhà quản trị lớn, nhà quản trị có thể lạm quyền của mình để thực hiện hành động điều chỉnh lợi nhuận và qua mặt cả hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp
- Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp: Đối với doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh không chỉ là thước đo chất lượng phản ánh trình độ tổ chức quản lí kinh doanh
mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp Trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng mở rộng, muốn tồn tại và phát triển thì đòi hỏi doanh nghiệp kinh doanh phải có hiệu quả Hiệu quả kinh doanh càng cao, doanh nghiệp càng có điều kiện mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh, đối với doanh nghiệp hiệu quả kinh tế chính là lợi nhuận thu được trên cơ sở không ngừng mở rộng sản xuất, tăng uy tín và thế lực của doanh nghiệp trên thương trường
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là vấn đề phức tạp có quan hệ đến toàn
bộ các yếu tố của quá trình kinh doanh Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được hiệu quả kinh doanh khi sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả Tùy theo mục tiêu cụ thể, nhà quản lý có thể tiến hành điều chỉnh lợi nhuận tăng hoặc giảm
so với lợi nhuận thực tế của công ty, độ lớn lợi nhuận được điều chỉnh dưới các yếu tố khác nhau thể hiện mức độ quản trị lợi nhuận của nhà quản lý Hiệu quả kinh doanh càng thấp thì khuynh hướng các nhà quản trị điều chỉnh tăng lợi nhuận càng lớn Chính vì thế hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp có tác động đến hành vi điều chỉnh
lợi nhuận của nhà quản lý doanh nghiệp
Trang 341.2 Ảnh hưởng đặc điểm hội đồng quản đến vấn đề quản trị lợi nhuận trong doanh nghiệp cổ phần
1.2.1 Các vấn đề về đặc điểm hội đồng quản trị trong doanh nghiệp cổ phần
Hội đồng quản trị là “tổ chức” quản lý doanh nghiệp cổ phần, do Đại hội đồng
cổ đông bầu ra Cá nhân nếu có đủ tiêu chuẩn và điều kiện có thể trở thành thành viên của Hội đồng quản trị
1.2.1.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị của công ty cổ phần là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông
Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị được quy định trong Luật doanh nghiệp năm 2014 tại Khoản 2, Điều 149, cụ thể:
“Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty
Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại Quyết định bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền chào bán của từng loại; quyết định huy động thêm vốn theo hình thức khác
Quyết định giá bán cổ phần và trái phiếu của công ty
Quyết định mua lại cổ phần của công ty
Quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và giới hạn theo quy định của pháp luật
Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ
Thông qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ hoặc giá trị khác Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng và giao dịch đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, nếu điều lệ công ty không có quy định một tỷ lệ khác hoặc giá trị khác, hoặc
là những hợp đồng và giao dịch phải được Đại hội đồng cổ đông chấp nhận
Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị; bổ nhiệm, miễn nhiệm, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy định; quyết định, tiền lương và
Trang 35quyền lợi khác của những người quản lý đó; cử người đại diện theo ủy quyền tham gia Hội đồng thành viên hoặc Đại hội đồng cổ đông ở công ty khác, quyết định mức thù lao và quyền lợi khác của những người đó
Giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác trong điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty
Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của công ty, quyết định thành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác
Duyệt chương trình, nội dung tài liệu phục vụ họp Đại hội đồng cổ đông, triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông hoặc lấy ý kiến để Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định
Trình báo cáo quyết toán tài chính hằng năm lên Đại hội đồng cổ đông
Kiến nghị mức cổ tức được trả; quyết định thời hạn và thủ tục trả cổ tức hoặc
xử lý lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh
Kiến nghị việc tổ chức lại, giải thể, yêu cầu phá sản công ty
Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Điều lệ công ty.”
Theo luật doanh nghiệp 2014, Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông và chịu sự kiểm soát của Đại hội đồng cổ đông về toàn bộ hoạt động quản lý của mình Hội đồng quản trị có toàn quyền nhân danh công ty cổ phần để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty Hội đồng quản trị là cơ quan quyền lực và cơ quan quản lý công ty cổ phần, thực hiện chức năng quản
lý công ty thay cho Đại hội đồng cổ đông khi Đại hội đồng cổ đông không họp
Đại hội đồng cổ đông có quyền thông qua định hướng phát triển công ty có thể
là chiến lược phát triển công ty, định hướng thay đổi, mở rộng hay thu hẹp ngành nghề kinh doanh, thay đổi mục tiêu kinh doanh… Trong khi đó, Hội đồng quản trị cũng có quyền quyết định chiến lược phát triển công ty Vì vậy, quyền này cần được quy định
cụ thể trong Điều lệ công ty nhằm tránh xảy ra chồng chéo quy định về thẩm quyền giữa Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị
1.2.1.2 Số lượng thành viên và nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị
a Nhiệm kỳ và số lượng thành viên Hội đồng quản trị
Trang 36Theo luật doanh nghiệp 2014: “Hội đồng quản trị có từ 03 đến 11 thành viên Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng thành viên Hội đồng quản trị.”
Hội đồng quản trị có không ít hơn 3 thành viên, không quá 11 thành viên, nếu Điều lệ công ty không có quy định khác Thành viên Hội đồng quản trị không nhất thiết phải thường trú ở Việt Nam, tuy nhiên, để việc quản lý công ty có hiệu quả, Điều
lệ công ty thường quy định một tỉ lệ thành viên Hội đồng quản trị phải thường trú ở Việt Nam
Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị là 05 năm, nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị không quá 05 năm, có nghĩa là Điều lệ công ty có thể quy định thành viên Hội đồng quản trị có thể được bầu với nhiệm kỳ ít hơn 05 năm, chẳng hạn 03 năm nhưng tối đa là 05 năm Thành viên của Hội đồng quản trị có thể được bầu lại với số nhiệm
kỳ không hạn chế
b Tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên Hội đồng quản trị
Theo quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2014 có quy định: Cơ cấu, tiêu chuẩn
và điều kiện làm thành viên Hội đồng quản trị như sau:
“Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc đối tượng không được quản
lý doanh nghiệp theo quy định
Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh của công ty và không nhất thiết phải là cổ đông của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định khác
Thành viên Hội đồng quản trị công ty có thể đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị của công ty khác
Đối với công ty con mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thì thành viên Hội đồng quản trị không được là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con
đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của Giám đốc, Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty; không được là người có liên quan của người quản lý, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ.”
Theo quy định của Luật doanh nghiệp, thành viên của Hội đồng quản trị không nhất thiết phải là cổ đông của công ty, nhưng phải có đủ năng lực hành vi dân sự, có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh như quản trị nhân lực, quản trị chất lượng, quản trị doanh nghiệp… hoặc trong ngành, nghề kinh doanh chủ yếu của công ty và không thuộc đối tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp theo quy định
Trang 37của pháp luật Tuy nhiên, cũng theo quy định trên, khi Điều lệ công ty quy định tiêu chuẩn và điều kiện khác với tiêu chuẩn và điều kiện trong quy định của Luật Doanh nghiệp thì áp dụng tiêu chuẩn và điều kiện do Điều lệ công ty quy định
Đối với một số ngành nghề kinh doanh, pháp luật có thể quy định tiêu chuẩn chuyên môn hoặc tiêu chuẩn khác cho thành viên Hội đồng quản trị Trong những trường hợp có quy định pháp luật, thành viên Hội đồng quản trị phải đáp ứng những tiêu chuẩn này
1.2.1.3 Mô hình tổ chức thành viên Hội đồng quản trị
Có hai mô hình thành viên Hội đồng quản trị, mô hình thứ nhất, tất cả các thành viên của Hội đồng quản trị đều là thành viên điều hành, quản lý công ty Mô hình thứ hai, Hội đồng quản trị gồm có 2 loại thành viên với chức năng khác nhau, đó là thành viên điều hành và thành viên độc lập (phải có ít nhất 20% số thành viên hội đồng quản trị là thành viên độc lập) và Ban kiểm toán nội bộ
Các thành viên độc lập sẽ thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát hoạt động đối với việc quản lý điều hành của công ty Điều lệ công ty sẽ quy định cụ thể số lượng, quyền, nghĩa vụ, cách thức tổ chức và phối hợp hoạt động của các thành viên độc lập Để trở thành thành viên điều hành hay thành viên độc lập của Hội đồng quản trị đòi hỏi phải có những tiêu chuẩn, điều kiện nhất định theo Luật doanh nghiệp năm 2014
Theo đánh giá của các chuyên gia, hiệu lực và hình ảnh của Hội đồng quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam chưa được như mong muốn, một phần do sự tập trung quyền lực quá lớn tại một số ít cá nhân nắm vai trò chủ sở hữu hoặc đại diện chủ
sở hữu đa số vốn của doanh nghiệp
Trong đó Hội đồng quản trị thay vì là người định hướng đã trở thành người trực tiếp tham gia vào điều hành hoạt động của doanh nghiệp điều này khiến cho hiện tượng vi phạm bổn phận và nghĩa vụ của người quản trị của công ty với lợi ích của công ty trở nên phổ biến, lợi ích của cổ đông thiểu số với lợi ích của người có liên quan dễ bị tổn thương Hoạt động của hội đồng quản trị các doanh nghiệp nói chung
có nguy cơ bị hình thức hóa và kém hiệu quả do chính sách, cơ chế tập trung quyền lực quá lớn này
Ban kiểm soát của các doanh nghiệp hiện nay chưa hoạt động hiệu quả cũng do
bị hình thức hóa, nhất là các doanh nghiệp có sở hữu Nhà nước chi phối Trong khi
Trang 38chờ bổ sung, hoàn thiện thêm Luật doanh nghiệp nhằm tạo cơ chế bảo vệ cổ đông tốt hơn, để cải thiện hình ảnh thì bản thân doanh nghiệp nên tự chuyên môn hóa hoạt động của Hội đồng quản trị trước
1.2.2 Ảnh hưởng đặc điểm hội đồng quản đến vấn đề quản trị lợi nhuận trong doanh nghiệp cổ phần
1.2.2.1 Quy mô hội đồng quản trị
Theo lý thuyết đại diện cho rằng, sự phân hóa lợi ích giữa nhà quản trị và các cổ đông trong các công ty niêm yết là tất yếu Bên cạnh đó, nhà quản trị là người bên trong doanh nghiệp, họ có những thông tin mà những cổ đông bên ngoài không có hoặc không muốn có (do chi phí có được nó quá cao) do lý thuyết thông tin bất đối xứng Do đó, họ có nhiều cơ hội để thực hiện hành động điều chỉnh lợi nhuận nhằm một mục đích nào đó
Trên thế giới, vai trò của hội đồng quản trị trong việc giám sát hoạt động của giám đốc/tổng giám đốc được thảo luận theo nhiều khía cạnh khác nhau của lý thuyết đại diện Thứ nhất, quy mô hội đồng quản trị càng lớn thì những thành viên trong hội đồng quản trị càng thận trọng hơn đối với các vấn đề đại diện (thông tin, lợi ích ) bởi
vì những thành viên trong hội đồng quản trị có thể được sắp xếp và bố trí nhân lực trải rộng để giám sát hoạt động của nhà quản trị
Thứ hai, quy mô hội đồng quản trị quản trị càng lớn thì càng hỗ trợ hiệu quả trong việc giám sát hoạt động của nhà quản trị bởi vì hội đồng quản trị lớn nên làm giảm được sự thống trị của nhà quản trị trong việc điều hành và bảo vệ được lợi ích của cổ đông nói riêng và lợi ích của công ty nói chung
Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới không thống nhất nhau về ảnh hưởng của quy mô hội đồng quản trị đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Rahman và Ali (2006) nghiên cứu thị trường chứng khoán Malaysia, Sarkar và cộng sự (2008), Alves (2012) nghiên cứu thị trường chứng khoán tại Bồ Đào Nha, Kumani và Pattanayak (2014) nghiên cứu thị trường chứng khoán tại Ấn Độ, kết quả các nghiên cứu đều chỉ ra mối tương quan thuận giữa quy mô hội đồng quản trị và hành vi thao túng lợi nhuận, tức là quy mô hội đồng quản trị lớn thì hành vi thao túng lợi nhuận nhiều hơn
Xie và cộng sự (2003) thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của quy mô hội đồng quản trị đến mức độ điều chỉnh lợi nhuận, trên quy mô mẫu là 282 công ty của Mỹ
Trang 39trong năm 1992, 1994, 1996 và sử dụng mô hình Jones (1991) Kết quả nghiên cứu chỉ
ra hành vi điều chỉnh lợi nhuận ít xảy ra đối với các công ty có quy mô hội đồng quản trị lớn Cũng có kết luận tương tự là các nghiên cứu của Bradbury và cộng sự (2006), Fathi (2013)
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu ủng hộ giả thuyết cho rằng, quy mô hội đồng quản trị lớn và thành viên hội đồng quản trị có chuyên môn cao thì có khả năng ban hành quy định giám sát hoạt động của nhà quản trị hiệu quả hơn Hay nói cách khác, quy mô hội đồng quản trị càng lớn thì mức độ điều chỉnh lợi nhuận càng nhỏ Các tác giả giải thích rằng, quy mô hội đồng quản trị càng nhỏ thì những người tham gia trong hội đồng quản trị thường là cổ đông lớn hoặc là giám đốc/tổng giám đốc và họ có quyền lực nên có thể khống chế hoạt động của hội đồng quản trị, trong khi đó những hội đồng quản trị có quy mô lớn có nhiều thành viên từ những vị trí khác nhau trong công ty nên có thể giám sát hoạt động của nhà quản trị tốt hơn và mức độ điều chỉnh lợi nhuận ít hơn
1.2.2.2 Tỷ lệ thành viên độc lập trong hội đồng quản trị
Phù hợp với lý thuyết đại diện, kết quả một số nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng, sự hiện diện của thành viên độc lập trong hội đồng quản trị làm giảm hành vi thao túng lợi nhuận của nhà quản trị Hay, tỷ lệ thành viên độc lập trong hội đồng quản trị càng lớn thì mức độ thao túng lợi nhuận càng nhỏ
Klein (2002) sử dụng mẫu nghiên cứu là 687 công ty Mỹ trong giai đoạn nghiên cứu từ 1991-1993, vận dụng mô hình của Jones (1991) và một số biến kiểm soát như quy mô công ty, tỷ lệ tăng trưởng, đòn bẩy tài chính Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ thành viên độc lập trong hội đồng quản trị
và điều chỉnh lợi nhuận
Xie và cộng sự (2003) sử dụng mô hình Jones (1991) để đo lường biến DA-đại diện cho mức độ điều chỉnh lợi nhuận ở doanh nghiệp và sử dụng mẫu là những công
ty niêm yết ở Mỹ trong giai đoạn từ 1992-1994 Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ thành viên độc lập trong hội đồng quản trị lớn thì mức độ điều chỉnh lợi nhuận giảm Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ sử dụng hai biến kiểm soát (quy mô doanh nghiệp và năm nghiên cứu)
Chen và công sự (2006) nghiên cứu tại Trung Quốc đưa ra kết quả về mối quan
hệ ngược chiều cho rằng tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập càng cao thì công