- Bài viết: “Phát huy tính tích cực học tập của sinh viên là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay”, của tác giả Lê Thanh Vân, Hội thảo khoa học: Nâng cao chất lượng đào tạo đại họ
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
NĂM 2020
GIẢI PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN
NGÂN HÀNG HIỆN NAY
Mã số: DTHV.15/2019
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS TRẦN THỊ THU HƯỜNG
HÀ NỘI - 2020
Trang 2NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
NĂM 2020
GIẢI PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN
NGÂN HÀNG HIỆN NAY
Mã số: DTHV.15/2019
Chủ nhiệm đề tài: TS TRẦN THỊ THU HƯỜNG Thư ký đề tài: TS NGUYỄN VĂN NGUYÊN Thành viên tham gia: TS NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG
TS ĐÀO THỊ HỮU
HÀ NỘI - 2020
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP VÀ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 12
1.1 TÍNH TÍCH CỰC VÀ TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 12
1.1.1 Tính tích cực 12
1.1.1.1 Khái niệm tính tích cực 12
1.1.1.2 Quá trình phát triển của tính tích cực 14
1.1.2 Sinh viên và tính tích cực học tập của sinh viên 16
1.1.2.1 Khái niệm sinh viên 16
1.1.2.2 Tính tích cực học tập của sinh viên 20
1.1.2.3 Một số biểu hiện chủ yếu của tính tích cực học tập của sinh viên 24
1.2 PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 28
1.2.1 Quan niệm về phát huy tính tích cực học tập của sinh viên 28
1.2.2 Nội dung phát huy tính tích cực học tập của sinh viên 29
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 32
1.3.1 Nhân tố khách quan tác động đến việc phát huy tính tính tích cực học tập của sinh viên 32
1.3.1.1 Môi trường kinh tế - xã hội 32
1.3.1.2 Môi trường học tập và văn hoá học đường 35
1.3.2 Nhân tố chủ quan tác động đến tính tích cực học tập của sinh viên 37
1.3.2.1 Đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên 37
1.3.2.2 Đặc điểm trí tuệ, phẩm chất đạo đức của sinh viên 38
1.3.2.3 Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và giảng viên 39
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA
SINH VIÊN HỌC VIỆN NGÂN HÀNG HIỆN NAY 42
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỌC VIỆN NGÂN HÀNG VÀ SINH VIÊN HỌC VIỆN NGÂN HÀNG 42
2.1.1 Khái quát về Học viện Ngân hàng 42
2.1.2 Sinh viên Học viện Ngân hàng 43
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN NGÂN HÀNG HIỆN NAY 44
2.2.1 Nhận thức về tầm quan trọng của tính tích cực trong học tập của sinh viên 44
2.2.2 Về mục đích, động cơ học tập của sinh viên 47
Trang 42.2.3 Thái độ, hứng thú, ý thức, hành vi học tập của sinh viên 51
2.2.4 Kết quả học tập của sinh viên 60
2.2.5 Việc sử dụng các biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của sinh viên 67
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN NGÂN HÀNG 83
3.1 NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ VỊ TRÍ, TẦM QUAN TRỌNG CỦA TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 83
3.1.1 Nâng cao nhận thức của sinh viên về vị trí, tầm quan trọng của tính tích cực học tập 83
3.1.2 Nâng cao vai trò của các chủ thể đối với việc phát huy tính tích cực học tập của sinh viên 84
3.2 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC, TĂNG CƯỜNG VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 87
3.3 CHÚ TRỌNG RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC 92
3.4 ĐỔI MỚI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ CÁC MÔN HỌC 94
3.5 TĂNG CƯỜNG CƠ SỞ VẬT CHẤT, TRANG THIẾT BỊ DẠY HỌC HIỆN ĐẠI Ở HỌC VIỆN NGÂN HÀNG 100
3.6 XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG SƯ PHẠM LÀNH MẠNH Ở HỌC VIỆN NGÂN HÀNG 102
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 113
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: So sánh nhận định của sinh viên và đánh giá của giảng viên về tầm quan trọng của tính tích cực học tập của sinh viên 45 Biểu đồ 2: Nhận định của sinh viên và đánh giá của giảng viên về mục đích, động cơ học tập vì bản thân sinh viên 48 Biểu đồ 3: Nhận định của sinh viên và đánh giá của giảng viên về mục đích, động cơ học tập vì gia đình 49 Biểu đồ 4: Nhận định của sinh viên và đánh giá của giảng viên về mục đích, động cơ học tập vì xã hội 50 Biểu đồ 5: So sánh nhận định của sinh viên và đánh giá của giảng viên về hứng thú học tập của sinh viên 53 Biểu đồ 6: Nhận định của sinh viên về thái độ, hành vi của sinh viên thể hiện trong học tập54 Biểu đồ 7: Đánh giá của giảng viên về thái độ, hành vi của sinh viên thể hiện trong học tập55 Biểu đồ 8: Nhận định của sinh viên về những hành vi của họ thể hiện trong học tập 58 Biểu đồ 9: Nhận định của sinh viên về các tiêu chí tạo nên tính tích cực học tập của họ68 Biểu đồ 10: Đánh giá của giảng viên về các tiêu chí tạo nên tích tích cực học tập của sinh viên 69 Biểu đồ 11: Đánh giá của giảng viên về các biện pháp phát huy tính tích cực 71 Biểu đồ 12: Nhận định của sinh viên về các biện pháp phát huy tính tích cực 71
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu, cách mạng khoa học và công nghệ đang ảnh hưởng một cách toàn diện, sâu sắc tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung, giáo dục và đào tạo nói riêng Nhiệm vụ chủ yếu của nhà trường không chỉ cung cấp cho người học hệ thống tri thức và kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, mà quan trọng là phải xây dựng và phát triển ở
họ những thái độ, kỹ năng, khả năng thích ứng, khả năng thu nhận và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức của nhân loại vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của xã hội Mục tiêu giáo dục cần phải chú ý nhiều hơn đến năng lực làm việc của cá nhân và phát triển tư duy của họ, phải tạo cơ sở để từ
đó họ có thể tham gia hoạt động tích cực hơn trong một xã hội hiện đại, đảm bảo cho
họ tham gia vào tiến trình học tập nhiều hơn, làm việc nhiều hơn, suy nghĩ và hợp tác nhiều hơn Như vậy, mục tiêu giáo dục phải thống nhất, hài hoà giữa mục đích và trách nhiệm xã hội với sự phát triển và tăng cường khả năng chủ động, tự giác, sáng tạo của cá nhân
Việc đổi mới thể hiện ở quan điểm đối với dạy học, ở việc xác định vị trí trung tâm của người học, phải hiện đại hoá chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra Những đòi hỏi này, buộc chúng ta phải có cách nhìn nhận mới về dạy học trong các trường đại học hiện nay
Từ năm học 2007 - 2008, Học viện Ngân hàng đã chuyển từ mô hình đào tạo theo niên chế sang mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ mà bản chất là cá thể hóa việc học tập của người học, trong đó có sự tham gia tích cực của người học vào nhiều phương diện của quá trình đào tạo Ở đó, người học phải chủ động, bám sát chương trình, tiến độ đào tạo, lựa chọn kế hoạch và tự tổ chức việc học của mình cho phù hợp với yêu cầu của từng môn học, toàn khoá học cũng như nhu cầu, điều kiện và năng lực của bản thân Người học phải trở thành chủ thể thực sự của hoạt động học tập và tính tích cực học tập của họ đóng vai trò quyết định trong việc chiếm lĩnh tri thức, biến quá trình đào tạo ở các trường đại học thành quá trình tự đào tạo Đó cũng là yếu tố cơ bản để hình thành tri thức, kỹ năng, phương pháp và hiệu quả làm việc của họ trong tương lai Nếu không có tính tích cực, chủ động trong học tập, người học sẽ không theo kịp với yêu cầu và mục tiêu đào tạo của nhà trường, của giáo dục theo hướng toàn diện, hiện đại và xa hơn, không đủ phẩm chất và kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu xã hội với những đổi thay nhanh chóng của thực tiễn
Là lực lượng trẻ, năng động, nhạy cảm với cái mới và khát khao sáng tạo, sinh viên Học viện Ngân hàng đã từng bước làm quen với phương thức đào tạo mới và đạt nhiều thành tích trong học tập, nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, không ít sinh viên mới
Trang 7chỉ thích nghi với mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ về hình thức mà chưa thực sự có
sự chủ động trong học tập, nghiên cứu, chưa xác định rõ năng lực và điều kiện của mình, chưa phát huy hết tính tích cực, sáng tạo để tự học, tự hoàn thiện kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp Việc thiếu tính năng động, tích cực học tập, không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển năng lực và phẩm chất của sinh viên, đến cơ hội việc làm, sức cạnh tranh trong thị trường lao động, mà còn ảnh hưởng đến mục tiêu tăng tính tự chủ,
tự chịu trách nhiệm, gắn với hiệu quả, chất lượng đào tạo của nhà trường, đáp ứng yêu cầu xã hội và xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng Vì vậy, việc đánh giá một cách toàn diện
về tính tích cực học tập của sinh viên Học viện Ngân hàng và tìm ra những giải pháp phù hợp để thúc đẩy hơn nữa tích cực học tập của họ, từ đó góp phần thực hiện thành công mục tiêu đào tạo của nhà trường là việc làm quan trọng và cần thiết Xuất phát từ
những lý do nói trên, nhóm tác giả chọn chủ đề: “Giải pháp phát huy tính tích cực học
tập của sinh viên Học viện Ngân hàng hiện nay” làm đề tài khoa học cấp cơ sở năm
học 2019 - 2020
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Việc phát huy tính tích cực học tập của người học đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu và coi đó là một trong những điều kiện tiên quyết để đạt kết quả trong quá trình dạy học Trong những năm gần đây, tính tích cực học tập của người học đã được các nhà khoa học quan tâm và được xem xét đến dưới nhiều góc độ, bình diện khác nhau Những công trình nghiên cứu khoa học đó được đăng tải dưới các hình thức đề tài khoa học, luận án, luận văn, sách, tạp chí, báo Qua các công trình khoa học đã công bố, chúng tôi có thể khái quát như sau:
2.1 Những công trình nghiên cứu về tính tích cực học tập
- Các bài viết của các tác giả Lê Khánh Bằng, Nguyễn Hữu Long, Nguyễn Cảnh Toàn đã nói đến tính tích cực của học sinh là sự say mê, tìm tòi, khám phá tri thức Do vậy, người thầy phải có phương pháp thích hợp để kích thích, phát triển tính chủ động, sáng tạo đó chứ không phải là “nồi nhét” kiến thức “sẵn có” vào đầu họ Có như vậy mới đào tạo được một thế hệ tương lai “biết làm, muốn làm” và tự kiếm được “việc làm” trong xã hội đổi mới hiện nay [Xem 7, 45, 71]
- Bài viết: “Phát huy tính tích cực học tập của sinh viên là vấn đề cấp thiết
trong giai đoạn hiện nay”, của tác giả Lê Thanh Vân, Hội thảo khoa học: Nâng cao
chất lượng đào tạo đại học và sau đại học giáo dục mầm non, ngày 15/11/2005, đã khẳng định việc phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo trong học tập của sinh viên
là yêu cầu mang tính cấp thiết và quan trọng trong quá trình đào tạo ở trường đại học Bởi lẽ, do yêu cầu thực tiễn của việc cải cách giáo dục và mục tiêu đào tạo của các trường đại học hiện nay là đào tạo một đội ngũ các nhà khoa học, các nhà tri thức có học vấn cao, có chuyên môn thành thạo, đặc biệt, có khả năng thích ứng kịp thời với
Trang 8sự biến đổi của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và đòi hỏi ngày càng cao của xã hội [78]
- Các nhà tâm lý học Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng trong công trình nghiên cứu khoa học của mình cũng đã coi hoạt động học tập của học sinh, sinh viên là một quá trình nhận thức tích cực Đó là hoạt động đặc thù chỉ có ở con người nhằm lĩnh hội tri thức nhân loại chuyển thành tâm lý, ý thức của bản thân cho nên muốn đạt được mục đích dạy học thì phải tạo ra được tính tích cực trong hoạt động của học sinh, sinh viên, làm cho các em “vừa ý thức được đối tượng cần lĩnh hội, vừa biết cách chiếm lĩnh cái lĩnh hội đó” [33, tr.94] Các tác giả cũng đã chỉ rõ việc hình thành tính tích cực học tập ở học sinh, sinh viên chính là quá trình hình thành hoạt động ở họ Muốn vậy, phải thấy rõ được mối quan hệ chặt chẽ giữa hoạt động dạy
- hoạt động học và sự phát triển trí tuệ, từ đó mới đào tạo ra những con người không những có tri thức phong phú về mọi lĩnh vực mà còn có các kỹ năng, kỹ xảo tương ứng phù hợp với yêu cầu của xã hội Theo các tác giả, dạy học phải dựa trên các thành tựu nghiên cứu tâm lý học của J Peaget, N.D Lêvitôp, N.A Mensinxcaia, E.N Cabanôva, V.V Đavưdôp , tức là ứng dụng kết quả nghiên cứu tâm lý sư phạm vào trong quá trình tổ chức, điều khiển hoạt động học của học sinh, sinh viên
- Bài viết: “Tính tích cực học tập của sinh viên: một phân tích về khoảng cách
giữa nhận thức và thực hành”, của tác giả Nguyễn Quý Thanh, Tạp chí Tâm lý học, Số
8, 8/2012, đã cho rằng, “Tính tích cực học tập là tổng hợp của yếu tố bên trong như nhận thức, xúc cảm, và thực hành bên ngoài biểu hiện thành phương pháp học tập tích
cực nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình học tập” [65, tr.41] Tác giả cũng khẳng định tính tích cực học tập là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng học tập cũng như chi phối đến khả năng của người học trong việc vận dụng thành công các yếu tố như trang thiết bị, cơ sở vật chất và cả phía giảng viên
- Bài viết: “Tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, một vấn đề rất
được quan tâm trong thực tiễn dạy và học”, của tác giả Nguyễn Thị Loan, Tạp chí
Khoa học và Công nghệ, Số 73, năm 2013, đã cho rằng, trong tình hình giáo dục ở nước ta hiện nay, một vấn đề đang rất được quan tâm đó là yêu cầu đào tạo và thực tiễn dạy học “Muốn đạt được mục tiêu đó, phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của sinh viên; phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho sinh viên” [44, tr.160]
- Bài viết: “Phát huy tính tích cực học tập của sinh viên trong dạy học các môn
Tâm lý học, Giáo dục học đại cương”, của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Xuân, Tạp chí
Văn hóa - Giáo dục - Nghệ thuật, Số 23, năm 2016 Ở bài viết đã khẳng định tính tích
Trang 9cực học tập của sinh viên là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập và giảng dạy các môn Tâm lý học, Giáo dục học đại cương Tính tích cực học tập khơi dậy sự hứng thú và khi sinh viên có hứng thú sẽ tạo ra tính tích cực giúp sinh viên nhận thức trong quá trình học tập nói chung và học môn Tâm lý học, Giáo dục học đại cương nói riêng [81]
- Bài viết: “Tính tích cực học tập của sinh viên Trường Đại học Kinh tế quốc
dân”, của tác giả Nguyễn Thị Huyền, Tạp chí Giáo dục, Số 383, năm 2016, đã chỉ rõ
đặc điểm học tập của sinh viên; tính tích cực học tập của sinh viên; biểu hiện tính tích cực học tập của sinh viên Trường Đại học Kinh tế quốc dân Từ đó, tác giả kết luận:
“tính tích cực học tập của sinh viên là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động dạy và học trong trường Có nhiều phương pháp khác nhau nhằm phát huy tính tích cực học tập của sinh viên Vì vậy, giảng viên cần tổ chức định hướng, xác định mục tiêu học tập, phương pháp học tập đúng đắn để đạt kết quả học tập cao, giúp các em thực sự có đam mê nghề nghiệp, tích lũy kiến thức và kỹ năng tốt để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội” [35, tr.40]
2.2 Những công trình nghiên cứu về phát huy tính tích cực học tập
2.2.1 Tìm kiếm các phương hướng, biện pháp, thủ thuật nhằm phát huy tính tích cực học tập của người học
Ngay từ thời cổ đại, các nhà giáo dục đã chú ý đến việc tìm tòi các biện pháp để phát huy tính tích cực học tập của người học Có những triết gia vĩ đại, đồng thời là những nhà giáo dục học nổi tiếng như Socrate, Khổng Tử Những tư tưởng tiến bộ của họ trong lĩnh vực phát huy tính tích cực nhận thức của người học cho đến nay vẫn còn giá trị có thể kế thừa và phát triển
Theo Socrate (469-399 TCN), chân lý, tự nhận thức được bắt đầu từ chỗ con
người biết hoài nghi cái hiểu của mình Ông chủ trương: giáo dục chỉ là việc đánh thức trong còn người tri thức còn ngái ngủ chứ không phải đem tri thức của mình đặt vào lòng kẻ khác Ông đã từng ví phương pháp giảng dạy của mình với các thuật đỡ
đẻ, mỗi người đều mang thai những tri thức thiết yếu cho cuộc sống, trong giáo huấn
cần có ông thầy làm “bà đỡ” giúp trò “sinh ra những hài nhi - tri thức” [Dẫn theo 56]
Socrate thường đặt câu hỏi để học trò phải tìm tòi, suy nghĩ trả lời, thấy được
cái sai, cái đúng Phương pháp này của ông chính là dùng đàm thoại để tiến hành giáo
dục Phương pháp Socrate chính là báu vật trong kho tàng giáo dục nhân loại, một tiền
đề khoa học cho phương pháp dạy học và giáo dục hiện đại
Khổng tử (551 - 479 TCN) là người đã đề xuất và sử dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực Theo ông, “có dạy mà không có học, thì dẫu sự dạy hay thế nào mặc lòng, cũng không sao thành công được” [40, tr.118] Trong học tập, ai
mà không tự mình cố sức suy xét cho kỹ càng các lẽ thì dẫu có dạy cũng không có ích
Trang 10gì “Học mà phải có suy nghĩ thì mới hay, không thì thành ra mờ tối, không biết được các lẽ” [40, tr.120] Khổng Tử cho rằng, dạy điều gì cũng phải để cho trò phải cố sức suy nghĩ, tìm tòi lấy, khi nào xem đã gần hiểu được, nhưng còn chưa suốt được mọi lẽ, hoặc chưa diễn giải ra được rõ ràng, thì ông mới chỉ bảo cho Ông nói: “Người nào
không nói rằng: làm thế nào, làm thế nào, thì ta cũng chẳng làm thế nào được” (Bất
viết: như chi hà, như chi hà giả, ngô mạt như chi hà giã dĩ hỹ )” [40, tr.135] Ông căn
dặn học trò rằng, người học không bao giờ tự bằng lòng với mình mà phải luôn vươn
tới, học được cái gì thì phải lo củng cố đừng để nó mất đi “Học nhi bất cập, do khủng
thất chi Luận ngữ, Thái Bá” Trong học tập thì phải say mê và tìm thấy niềm vui
thích, nếu ai không say mê thì không bao giờ thành công "Có vui say về việc học thì
sự học mới chóng tiến ích Muốn cho sự học có vui thú, thì phải luyện tập luôn" [40, tr.122] Bản thân ông là một tấm gương sáng về việc say mê học tập, học hành đến nỗi quên ăn, quên ngủ Thậm chí còn đặt vấn đề học tìm tòi chân lý, lên trên cả tính mạng
“Buổi sáng học được đạo lý, thì buổi tối chết cũng đáng” (Triêu văn Đạo, tịch tử khả
hỉ Luận ngữ, Lí nhân” Theo ông học cần phải suy tư, vừa học vừa trăn trở những điều
đã học Người dạy chỉ gợi lên một mối để người ta phải tự mình suy nghĩ ra mà hiểu lấy “Không tức giận vì muốn biết, thì không truyền mở cho, không tức giận vì nói không rõ ra được, thì không bày vẽ cho Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà
không suy ra ba góc kia, thì không dạy nữa” (Bất phẫn bất khải, bất phỉ bất phát Cử
nhất ngung bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục giã Luận ngữ, Thuật nhi, VII)" [40,
tr.136] Điểm nổi bật trong phương pháp dạy học của ông là “gợi mở vấn đề”, người
thầy chỉ “gợi lên một mối”, rồi để cho học trò phải tự mình suy nghĩ ra mà hiểu lấy Phương pháp này đã tạo điều kiện cho người học phát huy khả năng suy luận và năng
lực phát hiện, lý giải vấn đề, chủ động, sáng tạo trong việc học tập của mình
- Cuốn sách: “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào”, Tập 2,
của tác giả I F Kharlamốp, người dịch Đỗ Thị Trang, Nguyễn Ngọc Quang, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 1979 Ở đây, để trả lời cho câu hỏi đặt ra ngay trong tên của cuốn sách về vấn đề làm thế nào phát huy được tính tích cực trong học tập của học sinh?, tác giả đã đề cập tới những khía cạnh khác nhau của việc tổ chức công tác dạy học trong nhà trường Sự thành công của việc dạy học phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó cơ bản là mức độ mà nhà trường áp dụng toàn bộ hệ thống những phương tiện
sư phạm nhằm duy trì tính tích cực học tập của học sinh ở trên lớp và khi học tập ở nhà Đồng thời, giáo viên cũng phải nắm vững phương pháp phát huy tính tích cực của hoạt động học tập của học sinh [Xem 38]
Cuốn sách là những chỉ dẫn quan trọng giúp cho cán bộ giáo dục hiểu rõ mặt lý luận của vấn đề phát huy tính tích cực hoạt động học tập của học sinh và khuyến khích
họ vận dụng trong thực tiễn một cách hiệu quả Đối với công tác kiểm tra, đánh giá,
Trang 11tác giả đã khẳng định không nên biến công tác kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh thành việc đơn thuần kiểm tra chất lượng tiếp thu tài liệu học tập của học sinh, mà
“phải góp phần đào sâu và mở rộng kiến thức của các em và được thực hiện trên cơ sở của tính tích cực trí tuệ cao” [38, tr.13] Ông cho rằng, cần áp dụng rộng rãi nhiều hình thức bài tập thực hành và bài tập miệng để phát huy tính tích cực học tập của học sinh Chẳng hạn, khi dạy môn tiếng Nga và tiếng Biêlôrutxi: “Học sinh tự lực làm các bài luyện tập mà nội dung tương tự với những bài đã cho ở nhà; đặt câu bằng cách dùng từ theo quy tắc đã học; đặt câu theo các từ cho sẵn trong đó để trống những cách viết chính tả đã học; nghĩ ra những mệnh đề trên cơ sở những cảm tưởng tiếp thu trong thời gian đi tham quan và buộc phải dùng những từ theo tài liệu mới học; những bài văn viết ngắn theo một bức tranh đã dựng từ trước, có dùng những từ và cấu trúc hành văn theo quy tắc đã được học; viết bài chính tả ngắn ” [38, tr.14] Từ đó ông khẳng định, trong lúc kiểm tra kiến thức, việc áp dụng các dạng bài luyện tập thực hành và luyện tập bằng miệng khác nhau khi củng cố tài liệu hoàn toàn không hạ thấp vai trò của các hình thức hỏi miệng phong phú Vấn đề đặt ra là phải làm sao cho việc kiểm tra miệng được phối hợp với các hình thức và thủ thuật khác nhau của sự luyện tập thực hành, nó không những mang tính chất kiểm tra, mà còn có tác dụng dạy học và phải được tiến hành trên cơ sở tất cả học sinh làm việc tích cực
- Luận án Tiến sĩ Giáo dục học: “Phương hướng vận dụng hệ phương pháp dạy
học phát huy tính tích cực nhận thức của học viên Đại học quân sự”, của tác giả Lê
Hồng Thái, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội, năm 2001, đã nhấn mạnh những phương hướng vận dụng hệ phương pháp dạy học tích cực để phát huy tính tích cực nhận thức của học viên các trường đại học quân sự: Vận dụng phương pháp tình huống, các phương pháp hoạt động tích cực cho học viên trong các buổi học, cải tiến quy trình và phương pháp kiểm tra, đánh giá [63]
- Luận án Tiến sĩ Giáo dục học: “Một số biện pháp tổ chức quá trình học tập
nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của sinh viên các trường kỹ thuật quân sự”, của
tác giả Đào Quốc trị, Viện khoa học giáo dục, Hà Nội, năm 2003, đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức quá trình học tập nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của sinh viên Kỹ thuật quân sự Tác giả khẳng định, có thể phát huy được tính tích cực nhận thức và nâng cao chất lượng học tập của sinh viên các trường Kỹ thuật quân sự nếu sử dụng các biện pháp: Tổ chức giờ học trên lớp theo quan điểm học tập hợp tác; tổ chức quá trình học tập bằng các bài thực nghiệm có cấu trúc mở (hay thực nghiệm sáng tạo); tổ chức cho sinh viên kiểm tra và tự kiểm tra tri thức bằng kỹ thuật test trên mạng máy tính [73]
- Bài viết: “Thiết kế bài giảng môn Lý luận dạy học theo hướng phát huy tính
tích cực nhận thức của sinh viên”, của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà, Tạp chí Khoa học
Trang 12giáo dục, số 29, tháng 2/2008 Ở bài viết này, tác giả đã cho rằng: “Lý luận dạy học là môn học vừa mang tính khoa học cơ bản, vừa mang tính thực tiễn, nghiệp vụ trong trường sư phạm, và có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo giáo viên Những năm gần đây, việc giảng dạy môn Lý luận dạy học ở các trường sư phạm đã có những đổi mới nhất định về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học Tuy nhiên, cho đến nay nó vẫn chưa thực sự khơi gợi được sự hứng thú và say mê học tập của sinh viên Do đó, việc đổi mới phương pháp dạy học môn Lý luận dạy học nhằm phát triển hứng thú và năng lực học tập, phát huy tính tích cực nhận thức - học tập của họ là việc làm cần thiết” [24, tr.49] Qua việc minh họa, phân tích tiết dạy học tích cực trong môn Lý luận dạy học, tác giả đưa ra kết luận về việc thiết kế bài giảng theo hướng phát huy tính tích cực học tập của người học đã thực sự tăng cường hoạt động của sinh viên, gắn liền lý luận với thực tiễn của nhà trường phổ thông Đồng thời, việc kiểm tra, đánh giá diễn ra thường xuyên, giúp cho cả thầy và trò nhanh chóng nắm bắt được các thông tin phản hồi để điều chỉnh kịp thời phương pháp giảng dạy và học tập hợp lý, qua đó nâng cao hiệu quả dạy học
- Bài viết: “Một số biểu hiện của tính tích cực học tập của sinh viên hệ vừa làm
vừa học ở Học viện Hành chính quốc gia”, của tác giả Ngô Thị Kim Dung, Tạp chí Thiết
bị giáo dục, Số 135, năm 2016, đã phân tích thực trạng tính tích cực học tập của sinh viên vừa làm vừa học, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao tính tích cực học tập của sinh viên như: Xác định rõ mục tiêu học tập là hướng vào kiến thức theo bốn trụ cột mà ngành giáo dục đã xác định; đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy của các giảng viên; tạo ra môi trường học tập hiện đại cho sinh viên với những phương tiện dạy học hiện đại, trực quan nhằm kích thích sự hứng thú học tập của sinh viên; từng bước đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học [13]
2.2.2 Cải tiến các hình thức tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của người học
- Cuốn sách: “Góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và đổi mới nội dung
chương trình các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, của tác giả
Lương Gia Ban (Chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2002 Nội dung cuốn sách là những suy nghĩ, kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn nghiên cứu, giảng dạy của các giảng viên thuộc nhiều trường cao đẳng và đại học Trong đó, có bài viết:
“Xêmina - một hình thức đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng học
tập các môn khoa học Mác - Lênin”, của tác giả Ngô Xuân Đậu đã trình bày vai trò
quan trọng của xêmina đối với việc dạy và học các môn khoa học Mác - Lênin Từ đó, tác giả đã đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả các buổi xêmina từ khâu
chuẩn bị, tổ chức, xử lý thông tin, điều kiện để tổ chức xêmina; Bài viết: “Thảo luận -
Trang 13một hình thức dạy và học tích cực cần được tăng cường”, của tác giả Hoàng Xuân
Phú, đã cho rằng: “Thảo luận là một hình thức dạy và học tích cực thông qua trao đổi
một cách tự giác giữa giáo viên với sinh viên, giữa sinh viên với sinh viên về một vấn
đề nào đó trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn Sau mỗi buổi thảo luận, giáo
viên sẽ nắm bắt được tình hình học tập của từng sinh viên, của từng nhóm sinh viên và
của cả lớp trên cả ba phương diện: thái độ, kiến thức và phương pháp Đối với sinh
viên, mỗi buổi thảo luận là một môi trường lý tưởng để rèn luyện tư duy lôgíc, khả năng thuyết trình” [6, tr.240-241]
- Bài viết: “Phát huy tính tích cực, sáng tạo học tập của sinh viên qua phương
pháp dạy học giải quyết tình huống có vấn đề”, của tác giả Phùng Đình Mẫn, Tạp chí
Tâm lý học, Số 3 (108), 3/2008, đã phân tích, chỉ rõ sự cần thiết của phương pháp dạy học thông qua giải quyết tình huống có vấn đề trong các trường đại học hiện nay Phương pháp dạy học thông qua việc sinh viên giải quyết các tình huống có vấn đề có
ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao chất lượng dạy và học trong trường đại học hiện nay Bởi lẽ, phương pháp đó đã thu hút sự tham gia và phát huy được tính tích cực học tập của sinh viên trong quá trình học tập, đặc biệt là quá trình học ở trên lớp; hình thành tư duy sáng tạo và một số kỹ năng thực hành cần thiết cho sinh viên [51]
- Bài viết: “Dạy học giải quyết vấn đề phát huy tính tích cực của sinh viên trong
quá trình dạy học”, của tác giả Vũ Thị Lan, Tạp chí Giáo dục, Số 249, kỳ 1 - 11/2010,
khẳng định rằng, do sự phát triển vượt bậc của các ứng dụng khoa học - công nghệ vào cuộc sống hiện nay đòi hỏi các nhà trường cần chuẩn bị cho sinh viên khả năng tự tìm tòi lĩnh hội những nôi dung của môn học một cách vững chắc và có thể vận dụng tri thức, năng lực (kỹ năng, kỹ xảo) của mình vào các tình huống mới nảy sinh từ thực tế cuộc sống Mục đích này chỉ có thể đạt được nếu sinh viên phát huy tính tích cực trong quá trình dạy học, vì vậy dạy học giải quyết vấn đề phát huy tính tích cực của sinh viên trong quá trình dạy học có vai trò quan trọng Bởi lẽ, dạy học giải quyết vấn đề là các giải pháp nhằm phát triển trí thông minh trong hoạt động của cá nhân hay một nhóm theo hướng lặp lại con đường độc lập mày mò, khám phá, nghiên cứu phát minh của các nhà bác học sáng chế tiên phong [41]
- Bài viết: “Phát huy tính tích cực của sinh viên trong dạy học hợp tác nhóm”,
của tác giả Mai Như Quyện, Tạp chí Giáo dục, Số 265, 7/2011, cho rằng các phương pháp dạy học dù thể hiện hiệu quả như thế nào vẫn có thể tồn tại một số khía cạnh mà người dạy và người học chưa khai thác hết Mỗi phương pháp dạy học đều ưu điểm riêng của nó Vì vậy, không có phương pháp dạy học nào được coi là lý tưởng Phương pháp dạy học trong nhà trường có vai trò rất quan trọng, giúp người học tham gia vào đời sống xã hội một cách tích cực, tránh thụ động, ỷ lại Trong đó, dạy học hợp tác
Trang 14nhóm là một trong những phương pháp nhằm mục đích định hướng, kích thích tính tích cực học tập của học sinh, tăng cường hứng thú với bài học, đào sâu kiến thức, tăng cường tính bền vững cho người học [61]
- Bài viết: “Sử dụng phương pháp thuyết trình theo hướng phát huy tính tích
cực của học viên trong giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn”, của tác giả
Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Thái Bảo, Tạp chí Giáo dục, Số 253, kỳ 1, 1/2011, đã chỉ
rõ ưu thế và hạn chế của phương pháp thuyết trình trong giảng dạy các môn khoa học
xã hội và nhân văn Vì vậy, để phương pháp thuyết trình trở thành phương pháp dạy học tích cực, người dạy phải hiểu sâu sắc về bản chất, ưu thế và nhược điểm của thuyết trình; biết kết hợp thuyết trình nêu vấn đề và các phương pháp, thủ pháp sư phạm cụ thể sao cho tận dụng được tối đa những ưu điểm và hạn chế thấp nhất các nhược điểm của phương pháp thuyết trình Đồng thời, kết hợp thuyết trình thông báo với thuyết trình nêu vấn đề, hoàn thiện các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nói và tăng cường tính nêu vấn đề khi dạy học bằng phương pháp thuyết trình Ngoài ra, cần kết hợp phương pháp thuyết trình với các phương pháp khác như đàm thoại, tranh luận và sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học [23]
- Bài viết: “Phát huy tính tích cực và sáng tạo của sinh viên vật lý thông qua thí
nghiệm tự tạo”, của tác giả Trần Thị Thanh Thư, Quách Khả Quang, Tạp chí Thiết bị
giáo dục, Số 78, 7/2012, đã phân tích làm sáng tỏ việc sử dụng thí nghiệm tự tạo trong dạy học vật lý một cách có hiệu quả nhằm phát huy được tính tích cực, sáng tạo của sinh viên thông qua việc lựa chọn dụng cụ và chế tạo thí nghiệm; thông qua việc định hướng giải thích hiện tượng thí nghiệm; thông qua việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học [68]
Có thể nói, tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu, nên mỗi công trình đề cập đến những chiều cạnh khác nhau về tính tích cực của người học và phát huy tính tích cực của người học trong quá trình dạy học Các công trình nghiên cứu đã góp phần quan trọng làm sáng tỏ thêm những vấn đề cơ bản về bản chất của quá trình dạy học, việc phát huy tính tích cực nhận thức của người học trong quá trình dạy học Trong đó, những vấn đề về phát huy tính tích cực học tập của người học trong quá trình dạy học
đã được các nhà nghiên cứu đề cập Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ở đây mới chú trọng tới đối tượng là học sinh, chưa đề cập nhiều đến đối tượng là sinh viên Những kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên cũng nằm trong số vấn đề có liên quan đến đề tài tác giả nghiên cứu Tuy nhiên, trước yêu cầu của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện nay, vấn đề phát huy tính tích cực học tập của sinh viên Học viện Ngân hàng chưa được tác giả nào nghiên cứu Vì vậy, việc phân tích để làm sáng tỏ vấn đề phát huy
Trang 15tính tích cực học tập của sinh viên Học viện Ngân hàng hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cần thiết
Để thực hiện đề tài, nhóm tác giả đã kế thừa, tiếp thu có chọn lọc một số quan niệm, quan điểm, tư tưởng trong những công trình khoa học có liên quan đến đề tài
Trên cơ sở kết quả của những nghiên cứu nói trên, trong đề tài này nhóm tác giả
sẽ làm rõ thêm một số nội dung sau:
- Luận giải làm rõ cơ sở lý luận của việc phát huy tính tích cực học tập của sinh viên
- Khảo sát thực trạng việc phát huy tính tích cực học tập của sinh viên Học viện Ngân hàng hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tính tích cực học tập của sinh viên Học viện Ngân hàng hiện nay
Nghiên cứu vấn đề phát huy tính tích cực học tập của sinh viên là một vấn đề rộng
lớn, phức tạp, vì vậy đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về “Giải pháp phát huy tính tích học
tập của sinh viên Học viện Ngân hàng hiện nay”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích những vấn đề lý luận và thực trạng của việc phát huy tính tích cực học tập của sinh viên Học viện Ngân hàng, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của sinh viên Học viện Ngân hàng hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải làm rõ cơ sở lý luận của việc phát huy tính tích cực học tập của sinh viên
- Khảo sát thực trạng việc phát huy tính tích cực học tập của sinh viên Học viện Ngân hàng hiện nay (Tập trung khảo sát sinh viên chính quy Khóa 20, khóa
21, khóa 22)
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tính tích cực học tập của sinh viên Học viện Ngân hàng hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tính tích cực học tập là một vấn đề rộng lớn Vì vậy, ở phạm vi đề tài này tác giả chỉ nghiên cứu phát huy tính tích cực học tập của sinh viên
Trang 16- Thời gian nghiên cứu: Các năm học 2016-2017 đến nay
- Không gian nghiên cứu: Diện khảo sát giới hạn tập trung vào giảng viên (100 người); sinh viên Học viện Ngân hàng (330 sinh viên) Tài liệu thu thập, những
số liệu khảo sát chủ yếu được đề cập những năm gần đây
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tính tích cực học tập Đồng thời, có kế thừa các kết quả nghiên cứu, các công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời, kết hợp các phương pháp điều tra, khảo sát, so sánh, phương pháp trừu tượng hóa, khái quát hóa, lôgíc - lịch sử, phân tích và tổng hợp để đánh giá làm rõ các nội dung mà đề tài đề cập
* Phương pháp trừu tượng hóa, khái quát hóa
Là phương pháp loại bỏ những cái riêng, cái cụ thể, chỉ lựa chọn những cái điển hình, ổn định, để lại những cái chung trong quá trình nghiên cứu
6 Những đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài
- Đề tài góp phần luận giải làm rõ cơ sở lý luận của việc phát huy tính tích cực học tập của sinh viên
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tính tích cực học tập của sinh viên Học viện Ngân hàng hiện nay
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các công trình của tác giả có liên quan đến nội dung đề tài, đề tài gồm 3 chương
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP VÀ PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
lực của chủ thể diễn ra ở nhiều phương diện như sinh lý (đòi hỏi chi phí nhiều năng lượng cơ bắp), tâm lý (tăng cường các hoạt động của các hoạt động nhận thức như cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng), xã hội (đòi hỏi tăng cường mối liên hệ với môi
trường bên ngoài) Tính tích cực được xem xét gắn liền với hoạt động, với những hành động bên trong của chủ thể Nó là điều kiện thúc đẩy, tạo ra hoạt động hay làm biến đổi hoạt động Tính tích cực biểu hiện tính ổn định của hoạt động, thể hiện ý chí và tính độc lập của chủ thể đối với môi trường bên ngoài
Tính tích cực là đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và ở những góc độ khác nhau như triết học, tâm lý học, giáo dục học… Trước hết, theo các nhà triết học, mỗi sự vật, hiện tượng bao giờ cũng thể hiện tính tích cực của nó, bởi vật chất luôn vận động và phát triển không ngừng Tuy nhiên, tùy theo lập trường triết học
mà các nhà triết học đã đưa ra những quan niệm khác nhau về tính tích cực Các nhà triết học duy tâm coi tính tích cực hoạt động của con người là một thuộc tính tiềm tàng vốn có của tâm hồn, của ý thức, là một sản vật nào đó của một sức mạnh tối cao Chẳng hạn, Platôn (triết học Hy Lạp cổ đại) đã cho rằng, tâm hồn không phản ánh thế giới hiện thực, nó vốn đã mang sẵn sự hiểu biết, vì vậy chỉ cần hồi tưởng lại mà thôi Như vậy, cá nhân luôn thụ động trước thế giới, mà trong đó họ sinh sống
Triết học Mác - Lênin khẳng định: Con người là kết quả của quá trình vận động
và phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là một bộ phận của giới tự nhiên, có mối quan hệ khăng khít với tự nhiên Ngay từ khi xuất hiện con người đã hướng tới nhận thức và cải tạo, biến đổi tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu của mình Giữa con người và thế giới tự nhiên có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong mối quan hệ đó, con người là chủ thể nhận thức và cải tạo thế giới Do đó, có thể nói tính tích cực thuộc bản chất của con người, là đặc trưng của cơ thể sống trong mối tương quan với hoạt động của chính mình Tính tích cực đóng vai trò là điều kiện, động lực của quá trình nhận thức và thay đổi các loại hình hoạt động Nó là thuộc tính quan trọng tạo sự vận động nội sinh của hoạt động Tính tích cực của con người được biểu hiện trong hoạt
Trang 18động thực tiễn hàng ngày như lao động sản xuất, chính trị - xã hội, khoa học thực nghiệm
Như vậy, tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội, được thể hiện ở sức mạnh của con người trong việc chinh phục, cải tạo thế giới tự nhiên, xã hội và cải tạo chính bản thân mình Theo V.I.Lênin tính tích cực là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể, đối với đối tượng sự vật xung quanh; là khả năng của mỗi người đối với việc tổ chức cuộc sống, điều chỉnh những nhu cầu, năng lực của
họ thông qua các mối quan hệ xã hội
Tác giả I.F.Kharlamốp đã xem xét tính tích cực của như một phẩm chất của cá nhân gắn liền với hoạt động của họ Tính tích cực chỉ sự sẵn sàng hoạt động và con người tích cực có nghĩa con người đó đang ở trạng thái hoạt động Nhu cầu, hứng thú
có quan hệ chặt chẽ với tính tích cực, nó chính là nguồn gốc bên trong, là động lực thúc đẩy con người hoạt động Bởi lẽ, “Trên cơ sở của nhu cầu và hứng thú, sẽ hình
thành động cơ học tập Nếu hứng thú là nhu cầu mang màu sắc cảm xúc, thì động cơ
là thái độ chủ quan của học sinh đối với học tập, mà cơ sở là mục đích được tự giác đặt ra” [38, tr.29]
V.Ôcôn cho rằng “Tính tích cực là lòng mong muốn hành động được nảy sinh
một cách không chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của sự hoạt động” [59, tr.38]
Có thể nói, tích tính cực được xem như là thể hiện vai trò chủ thể của con người trong hoạt động, vai trò đó được phản ánh thông qua các hoạt động sáng tạo của cá nhân, sự phát triển của xã hội loài người trong các giai đoạn lịch sử nhất định
Ở khía cạnh này, tích tính cực của con người kéo theo sự vận động và phát triển không ngừng của xã hội loài người Tuy nhiên, mọi hoạt động của cá nhân con người
ít nhiều đều có liên quan đến sự thỏa mãn nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu lại nảy sinh nhu cầu mới, hoạt động mới Do đó, tích tính cực của con người có liên quan và được thúc đẩy bởi nhu cầu của chính cá nhân con người Chính những nhu cầu cá nhân đã tạo nên động cơ cho tích tính cực hoạt động của con người, là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người Theo tác giả Nguyễn Thị Tình, tích tính cực của con người có một số biểu hiện cơ bản là: “Thứ nhất, cá nhân nhận thức sâu sắc và
tự giác mục đích, nhiệm vụ, ý nghĩa xã hội và ý nghĩa cá nhân của hoạt động Thứ hai,
cá nhân có thái độ chấp nhận, ủng hộ đổi mới hoạt động Thứ ba, về hành vi cá nhân,
cố gắng suy nghĩ, tìm tòi ý tưởng mới - sáng tạo trong hoạt động và cố gắng vượt khó trong việc thực hiện ý tưởng mới đó, hoàn thành có chất lượng cao nhiệm vụ, mục đích của hoạt động Tính tích cực được hình thành và biểu hiện trong hoạt động” [70, tr.58]
Trang 19Về mặt thuật ngữ, tích tính cực bao hàm: Trạng thái hoạt động của chủ thể đối với môi trường; tính chủ động của chủ thể trong hoạt động đời sống và quan hệ xã hội Tích tính cực là nhân tố quyết định trực tiếp sự hình thành năng lực và chất lượng hiệu quả của hoạt động Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu tính tích cực bao gồm mặt tự phát và tự giác Mặt tự phát là những yếu tố bên trong, bẩm sinh, thể hiện ở tính tò mò, hiếu kỳ, linh hoạt trong đời sống hàng ngày Mặt tự giác là những trạng thái tâm lý có mục đích và đối tượng rõ rệt, vì vậy cần phải hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó, thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, tính tò mò khoa học
Nhìn chung, có nhiều quan niệm khác nhau về tích tính cực Các nhà khoa học nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau đã đưa ra định nghĩa khác nhau về tích tính cực và các định nghĩa này đều có giá trị nhất định về mặt khoa học Song, để
có một định nghĩa hoàn chỉnh về tích tính cực là một vấn đề không đơn giản Bởi lẽ, như Ph.Ăngghen nói: “Đứng về một khoa học mà nói, thì mọi định nghĩa đều chỉ có một giá trị nhỏ thôi” [49, tr.121] Còn theo V.I.Lênin: “Có thể có nhiều định nghĩa, bởi
vì đối tượng có nhiều mặt” [42, tr.256]
Như vậy, từ sự phân tích trên có thể hiểu một cách khái quát, tích tính cực là
một phẩm chất xã hội của con người, là một thuộc tính nhân cách của cá nhân được đặc trưng bởi sự chi phối mạnh mẽ của các hoạt động đang diễn ra đối với đối tượng Tích tính cực thể hiện ở sự nỗ lực cố gắng của bản thân, ở sự chủ động, sáng tạo, tự giác hoạt động và là kết quả cao của hoạt động có mục đích của chủ thể
1.1.1.2 Quá trình phát triển của tính tích cực
Sự phát triển của tính tích cực là một quá trình từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Tính tích cực được coi là một đặc tính hoạt động của sinh vật sống, nó được xem là năng lực của cơ thể để thích nghi, thích ứng với sự thay đổi của điều kiện sống nhằm tồn tại và phát triển Trước tiên, ở động vật nguyên sinh tính tích cực hoạt động biểu hiện ở tính chịu kích thích - chưa được phân hoá Khi tính tích cực hoạt động được phân hoá sẽ thích hợp hơn với các nhu cầu và các tác động của bên ngoài Sự hoàn thiện các phản ứng này gắn liền với sự xuất hiện các mô và giác quan mới, được chuyên môn hoá để phân biệt các tác động và hành vi có phân hóa
Sự xuất hiện của hệ thần kinh, cơ quan thống nhất các chức năng của cơ thể với nhau để thiết lập những mối liên hệ phức tạp với hoàn cảnh bên ngoài là một bước nhảy vọt quan trọng trong sự phát triển của cơ thể sống Hoạt động của hệ thần kinh giúp cơ thể thích nghi một cách tốt nhất với hoàn cảnh bên ngoài - đó cũng chính là cơ
sở sinh lý của tính tích cực hoạt động
Nếu như hoạt động của con vật nhằm thích nghi với môi trường bên ngoài, thì hoạt động của con người lại nhằm làm cho môi trường thích nghi với nhu cầu của con người, nói cách khác là nhằm cải tạo thế giới trong đó con người đang sống Với sự
Trang 20hoạt động có ý thức, con người làm cho giới tự nhiên thành tác phẩm của mình Con người cấu tạo nên giới tự nhiên theo hai hướng: Bằng hoạt động thực tiễn con người cải tạo giới tự nhiên; bằng hoạt động nghệ thuật, trong nghệ thuật con người tái sản xuất ra giới tự nhiên phù hợp với bản chất và kích thước của một đối tượng nhất định Trong cải tạo thế giới vật thể đó, đã diễn ra sự chủ quan hóa vật thể và sự khách quan hóa con người Điều đó quy định sự thống nhất hữu cơ ngày càng sâu sắc giữa con người và tự nhiên
Nói tóm lại, động vật chỉ lợi dụng tự nhiên bên ngoài và gây ra những biến đổi trong tự nhiên chỉ vì nó đang tồn tại trong tự nhiên Còn con người thì tạo ra những biến đổi để bắt tự nhiên phục vụ những mục đích của mình, tức là thống trị tự nhiên
Và điều đó là sự khác biệt căn bản cuối cùng giữa con người với các động vật khác, sự khác biệt này cũng là nhờ lao động mà có C.Mác viết: “Có thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu bằng tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là bước tiến do tổ chức cơ thể của con người Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế là con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình” [47, tr.29]
Sự thích ứng của động vật với môi trường mang tính chất phản xạ bản năng và thực hiện trên cơ sở tín hiệu thứ nhất, tức là trên cơ sở hình tượng Còn hoạt động của con người thì có ý thức, có chủ định trước, theo định hướng, mục tiêu nhất định Bằng hoạt động thực tiễn và lao động sản xuất ra “thế giới vật thể”, cải tạo giới tự nhiên, con người đã tỏ ra là một sinh vật có tính loài, có ý thức Với tư cách là một cá thể, một chủ thể có ý thức, con người không tách rời khỏi môi trường tự nhiên, càng không thể tách khỏi môi trường lịch sử - xã hội Khác với những sinh vật thuần tuý bản năng, con người thực sự là một sinh vật - xã hội, đứng trên đỉnh cao của sự tiến hoá giống loài
Là một sinh vật, con người cũng có bản năng như những sinh vật khác Song là một sinh vật - xã hội, con người có ý thức, có năng lực tự giác và sáng tạo - sức mạnh mà chỉ riêng con người mới có
Tính tích cực của con người được thể hiện thông qua hoạt động, hoạt động của con người rất đa dạng bao gồm hoạt động lao động sản xuất, chính trị - xã hội, khoa học thực nghiệm, hoạt động nhận thức Trong đó, tính tích cực được phát triển một cách hoàn thiện nhất trong lao động, lao động tác động đến việc hình thành các phẩm chất của tính cách như tính bền vững của ý chí, khả năng duy trì chú ý bền vững vào một đối tượng hay một hoạt động nào đó
Như vậy, quá trình phát triển tính tích cực được hình thành và phát triển cùng với quá trình thích ứng và cải tạo của con người với môi trường Điều đó được thể hiện trong hành động, hoạt động, trong nhận thức, trong cải tạo thế giới khách quan của con
Trang 21người Vì thế ngay trong sự tri giác, con người đã thể hiện tính tích cực hoạt động của mình, "chúng ta lắng nghe chứ không phải là nghe thấy, chúng ta để mắt nhìn chứ không phải là trông thấy, tức là chúng ta tích cực tìm tòi, chọn lọc, kiểm nghiệm” [10, tr.150] Do đó, muốn phát triển tính tích cực cho người học trong các hoạt động học tập thì nhà sư phạm phải tuân thủ một số yêu cầu cơ bản khi tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục của mình như:
Hoạt động dạy học, giáo dục cần phải được tổ chức, tiến hành trong các mối quan hệ sư phạm, quan hệ xã hội tốt đẹp để tạo ra những điều kiện thuận lợi nhằm đạt được mục đích giáo dục
Trong tổ chức hoạt động cần phải đặc biệt quan tâm đến kết quả và mục đích của hoạt động dạy học, giáo dục là tạo ra con người phát triển toàn diện, chủ động, năng động, sáng tạo
Hoạt động dạy học, giáo dục phải có nội dung, khối lượng công việc tương ứng
và phải tổ chức đúng đắn, hợp lý các hoạt động học tập, lao động, văn hóa thể thao, vui chơi, giải trí phù hợp với đặc điểm, trình độ phát triển của người học Thông qua các hoạt động này giúp người học nhận thức được sâu sắc thế giới và phát hiện được những tiềm năng về thể chất và tinh thần
Cần phải giám sát, kiểm tra chặt chẽ quá trình hoạt động về thời gian, nhịp độ Phải thực hiện bằng được mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ đề ra cho hoạt động dạy học, giáo dục
1.1.2 Sinh viên và tính tích cực học tập của sinh viên
1.1.2.1 Khái niệm sinh viên
Sinh viên là một bộ phận quan trọng của dân tộc, là nền tảng của sự phát triển đất nước Sinh viên luôn mang trong mình những đặc điểm chung, đa dạng của thế hệ đang lớn lên Bởi vậy, trong những chặng đường phát triển của lịch sử nhân loại, sinh viên đã được mọi các quốc gia, thời đại coi là một vấn đề có tính chiến lược lâu dài Trong kho tàng tri thức của loài người đã có các bộ môn khoa học, những công trình của các nhà khoa học nghiên cứu về sinh viên được lưu giữ lại Cùng với sự biến đổi, phát triển của lịch sử - xã hội khái niệm sinh viên cũng luôn biến đổi và ngày càng phong phú, hoàn thiện hơn
Khái niệm “sinh viên” theo Từ điển tiếng Việt được dùng chỉ “Người học ở bậc
đại học” [79, tr.860] “Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt gồm những người đang trong quá trình chuẩn bị tri thức để trở thành chuyên gia, hoạt động lao động trong một lĩnh vực nhất định thuộc các ngành kinh tế, văn hoá, xã hội hoặc sinh viên là những người đang học tập ở các trường Cao đẳng, Đại học trong và ngoài
nước” [19, tr.13]
Trang 22Theo cách gọi chung nhất thì “sinh viên” là thuật ngữ dùng để chỉ những người đang học tập ở các trường đại học và cao đẳng Do vậy, nếu quan niệm sinh viên là tất
cả những người đang học đại học và cao đẳng với bất cứ loại hình nào, lứa tuổi nào thì khái niệm sinh viên sẽ quá rộng Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, khái niệm
sinh viên được giới hạn bởi một số nét cơ bản như sau:
Sinh viên là người đã tốt nghiệp phổ thông trung học hoặc tương đương, tham dự kỳ thi tuyển sinh quốc gia và được trúng tuyển vào học trong các trường đại học và cao đẳng
Độ tuổi của họ từ 18 đến khoảng 25 tuổi Đây là độ tuổi mà con người đã có những bước trưởng thành nhất định về cả mặt sinh học và mặt xã hội
Có thể khái quát một số biểu hiện đặc thù của sinh viên như sau:
Một là, sinh viên luôn nêu cao khả năng tự ý thức, tự đánh giá và mong muốn
tự khẳng định mình
Tự ý thức của sinh viên được hình thành trong quá trình xã hội hoá và liên quan đến tính tích cực xã hội của sinh viên Tự ý thức giúp sinh viên có những hiểu biết và thái độ đối với bản thân mình để chủ động định hướng nhân cách theo yêu cầu của xã hội Trong quá trình học tập ở các trường đại học việc định hướng tương lai của sinh viên có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tự ý thức của họ Mức độ tự ý thức của sinh viên phụ thuộc vào mục đích và thời gian đặt ra cho mục đích đó Những sinh viên nào, luôn đặt ra mục đích, có định hướng phấn đấu cho bản thân mình, thì họ sẽ có một kế hoạch lâu dài, những dự định tốt đẹp và có ý chí vươn lên trong cuộc sống Thực tế đã chứng minh, những sinh viên có kết quả học tập xuất sắc thường chủ động tích cực, sáng tạo, tìm tòi những tri thức mới, tích cực hoạt động nhận thức, khám phá tri thức và sống đúng mực với mọi người và luôn muốn khẳng định nhân cách của mình
tòi khám phá những tri thức khoa học về thế giới xung quanh Trong môi trường đó, sinh viên không chỉ lớn lên về mặt tri thức, mà còn phát triển các chức năng tâm lý: tư duy, trí nhớ, tình cảm… Bên cạnh học tập, sinh viên còn tham gia vào các hoạt động
xã hội do Đoàn thanh niên, Hội sinh viên tổ chức như: hiến máu tình nguyện, chiến dịch mùa hè xanh, tư vấn mùa thi… Điều đó đã làm cho khả năng tự đánh giá của sinh viên có những bước phát triển mới về mặt nhận thức và kinh nghiệm
Hai là, sinh viên xây dựng kế hoạch để thực hiện mục tiêu nghề nghiệp mà
mình đã chọn
tri thức từ các môn khoa học trong chương trình đào tạo và vừa tham gia các hoạt động khác trong và ngoài nhà trường, từ đó xu hướng nghề nghiệp của sinh viên được hình
Trang 23thành và phát triển Đó là chủ định của cá nhân muốn sử dụng những tri thức, kinh nghiệm, năng lực của mình vào nghề nghiệp đã chọn
Sự hình thành xu hướng nghề nghiệp ở sinh viên được xác định bởi ưu thế của các động cơ xã hội và triển vọng phát triển ở từng cá nhân Nội dung xu hướng nghề nghiệp được biểu hiện ở các động cơ liên quan đến nghề nghiệp trong tương lai; mong muốn thực hiện tốt trách nhiệm công việc; tăng cường khả năng giải quyết các vấn đề, những nhiệm vụ học tập phức tạp; có tình cảm nghề nghiệp và mong muốn đạt thành tích trong hoạt động nghề nghiệp, những biểu hiện này liên quan đến thái độ, sự thích ứng nghề nghiệp của sinh viên Đó là sự chuẩn bị cả về mặt sức khoẻ, tinh thần và trí tuệ để đáp ứng yêu cầu công việc Nó đảm bảo cho sinh viên có niềm tin đúng đắn vào nghề nghiệp trong tương lai, là cơ sở để khẳng định nhân cách và củng cố tình yêu vào lĩnh vực chuyên môn mà họ lựa chọn
chức năng người chuyên gia có trình độ nghiệp vụ cao trong một lĩnh vực nhất định của xã hội Sinh viên đang giai đoạn chuyển từ sự chín muồi về thể lực, tâm sinh lý sang trưởng thành về phương diện xã hội (ổn định nhân cách) Trong thời kỳ này sinh viên có sự biến đổi mạnh mẽ về động cơ, về thang giá trị xã hội có liên quan đến nghề nghiệp Sinh viên xác định con đường hướng tới tương lai, có kế hoạch cho hoạt động của mình, độc lập trong phán đoán hành vi, tích cực nắm vững nghề nghiệp và bắt đầu thể nghiệm mình trong một số lĩnh vực của cuộc sống
Tuy nhiên, ở giai đoạn này thế giới nội tâm của sinh viên có nhiều phức tạp và mâu thuẫn: Mâu thuẫn giữa khả năng và ước mơ; điều kiện và kinh nghiệm; mong muốn học những môn học mình yêu thích với yêu cầu thực hiện toàn bộ chương trình học tập: số lượng thông tin quá nhiều và thời gian xử lý thông tin quá ít Sự phát triển nhân cách của sinh viên nằm trong một quá trình biện chứng của các vấn đề nảy sinh
và giải quyết các mâu thuẫn, đó là quá trình chuyển các yêu cầu bên ngoài vào ngay chính bên trong của bản thân họ và quá trình tự vận động và hoạt động tích cực với mục tiêu cao nhất để đáp ứng các chuẩn mực của nghề nghiệp trong tương lai
trọng trong sự phát triển của xã hội: “Tương lai của giai cấp công nhân và do đó tương lai của nhân loại hoàn toàn phụ thuộc vào việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn
lên” [46, tr.118] Trong Thư “gửi Đại hội quốc tế các sinh viên xã hội chủ nghĩa”,
Ph.Ăngghen viết: “Các bạn hãy cố gắng làm cho thanh niên ý thức được rằng giai cấp
vô sản lao động trí óc phải được hình thành từ hàng ngũ sinh viên” [50, tr.613]
Nói đến vị trí, vai trò của sinh viên cũng có nghĩa là nói đến vị trí xã hội, chỗ đứng của sinh viên trong xã hội và mối quan hệ của họ đối với người khác Nói như
Trang 24thế, thì mỗi sinh viên không phải chỉ có một vị trí mà họ có những vị trí khác nhau, nếu như khi sinh viên được đặt trong những mối quan hệ khác nhau Chẳng hạn, trong gia đình, sinh viên là những người con, người anh, chị; trong nhà trường, họ là một sinh viên, một đoàn viên (chi đoàn), một đảng viên (chi bộ) Song, cách hiểu về vị trí của sinh viên như thế chỉ có ý nghĩa tương đối Bởi lẽ, xét trên phương diện thực tế sinh viên là những người chưa có một “vị trí thực” trong xã hội Họ là những người chưa có nghề nghiệp ổn định, cũng như có một vị trí độc lập trong một hệ thống sản xuất nhất định của xã hội Hoạt động cơ bản của họ là học tập và bước đầu đi vào tìm hiểu tham gia nghiên cứu khoa học, nhằm trau dồi kiến thức chuyên môn chuẩn bị cho một nghề nghiệp nhất định trong tương lai Khi còn ngồi trên ghế nhà trường họ là những sinh viên, khi ra trường họ sẽ là những tri thức trẻ, những người lao động, chuyên gia nghiên cứu khoa học, bác sĩ, giáo viên Điều đó, tuỳ thuộc vào năng lực, khả năng rèn luyện, học tập, tu dưỡng và việc lựa chọn ngành nghề của họ Và chỉ khi nào ra trường tham gia vào các hoạt động trong các ngành nghề nhất định, thì khi ấy
“vị trí thật sự” của sinh viên mới được xác định
Với quan niệm như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, sinh viên có một “vị trí kép” trong xã hội Một mặt, họ là những người đang hình thành về mặt nhân cách, họ đang từng bước trưởng thành về thể chất và trí tuệ, trong tương lai họ sẽ là những chủ nhân của nước nhà - một nhân tố cơ bản của quá trình phát triển kinh tế - xã hội; mặt khác, sinh viên là nguồn dự trữ rất lớn nhằm bổ sung và làm tăng nhanh lực lượng lao động trí óc - nguồn nhân lực có chất lượng cao của xã hội Hoạt động trong các ngành nghề khác nhau, song điều cơ bản nhất sinh viên là những người năng động, sáng tạo trong lao động, say sưa trong nghiên cứu khoa học, áp dụng và truyền bá những phát minh khoa học vào thực tiễn cuộc sống phục vụ cho lợi ích của đất nước
Cuộc sống đã chứng tỏ rằng, sự phát triển vững mạnh của một đất nước, một dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào việc giáo dục, đào tạo đối với thế hệ trẻ, nhất là đối với sinh viên
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn động viên tuổi trẻ phải ra sức rèn luyện và tu dưỡng đạo đức, không ngừng học tập để vươn lên xứng đáng là người chủ tương lai của đất nước Trong Di chúc để lại cho chúng ta, Người đã dành cho thế hệ trẻ Việt Nam tình yêu thương, sự quan tâm và niềm tin sâu sắc Người
nhận xét: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung
phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức
cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội
vừa “hồng” vừa “chuyên” Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết” [72, tr.61] Bởi vậy, “Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” [52, tr.61]
Trang 25Trong điều kiện hiện nay, quan tâm tạo mọi điều kiện tốt nhất để sinh viên học tập, rèn luyện, phát huy được năng lực, khả năng của mình phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn Đảng, toàn dân, trong đó giáo dục ngày càng giữ một vị trí hết sức quan trọng
1.1.2.2 Tính tích cực học tập của sinh viên
Trong hoạt động học tập, tính tích cực học tập là một thành tố tâm lý của tính tích cực nói chung, nó được hình thành, phát triển và biểu hiện ra thông qua các hoạt động học tập Đề cập tới tính tích cực học tập từ trước tới nay đã có nhiều quan điểm khác nhau Theo các nhà tâm lý học Xô Viết, tính tích cực học tập của người học là thái độ biểu hiện của chủ thể đối với đối tượng và phương pháp học tập Họ chia thái
độ biểu hiện này thành thái độ tích cực bên ngoài và thái độ tích cực bên trong Trong
đó, thái độ tính tích cực bên ngoài được biểu hiện thông qua sự chăm chú lắng nghe giảng viên giảng bài, chăm chú ghi chép, hăng hái phát biểu xây dựng bài còn tính tích cực bên trong thì được biểu hiện thông qua các thao tác trí tuệ như: khả năng so sánh, phân tích, tổng hợp của người học
Một số tác giả khác lại nhìn nhận tính tích cực dưới góc độ của một chủ thể tham gia vào hoạt động nhận thức Họ đã chia hoạt động này thành hai mức độ mức độ nhận thức thụ động và nhận thức tích cực Trong đó, nhận thức tích cực là mức độ cao của quá trình nhận thức cá nhân
Học tập là hoạt động mang dấu ấn của chủ thể - người học Đây là dấu ấn riêng của mỗi người Điều này được thể hiện qua việc người học có động cơ, thái độ học tập rất khác nhau Khi nghiên cứu hoạt động học cần đặt trong mối quan hệ với hoạt động dạy, có như vậy mới thấy hết tính tích cực học tập của sinh viên ở trong đó Quá trình học tập là quá trình lĩnh hội tri thức khoa học, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, phát triển tư duy độc lập sáng tạo và vận dụng các kiến thức đó nhằm giải quyết các vấn đề của thực tiễn Đối tượng của hoạt động học là hệ thống những tri thức khoa học cần thiết cho hoạt động thực tiễn của người học Hoạt động học hết sức đa dạng, bao gồm các hoạt động học diễn ra dưới sự hướng dẫn trực tiếp, gián tiếp của người thầy
Như vậy, hoạt động học là quá trình huy động tổng hợp các nhân tố chủ quan của người học để tiếp thu, lĩnh hội, phát triển tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nhằm phát triển và hoàn thiện năng lực, phẩm chất nhân cách của chính người học theo một định hướng xã hội nhất định, dưới sự hướng dẫn của người thầy và nhà quản lý của cơ
sở đào tạo
Hoạt động nhận thức của con người là quá trình phản ánh thế giới nhằm chiếm lĩnh các thuộc tính, quy luật, đặc điểm của sự vật hiện tượng xung quanh để cải tạo thế giới, đồng thời, nhận thức và cải tạo chính bản thân mình Hoạt động nhận thức của con người tuân theo qui luật chung của quá trình nhận thức mà V.I.Lênin đã chỉ ra “từ
Trang 26trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường biện chứng để nhận thức hiện thực khách quan” Tuy nhiên, khác với quá trình nhận thức chung của loài người ở chỗ là sinh viên có sự hướng dẫn của giảng viên, nhờ vậy nhận thức của sinh viên về thế giới nhanh nhạy và hiệu quả Học tập là hoạt động đặc thù của sinh viên được thực hiện một cách tự giác nhằm lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mới do người thầy truyền dạy và tự học Vì vậy, khái niệm hoạt động nhận thức rộng hơn khái niệm học tập Khi tính tích cực cá nhân được huy động và hướng vào một lĩnh vực, môi trường, đối tượng nhất định để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể thì nó ở trạng thái chuyên biệt Vì vậy, tính tích cực cá nhân của sinh viên, có thể phân ra các loại sau: Tính tích cực trí tuệ, tính tích cực nhận thức, tính tích cực học tập
- Tính tích cực trí tuệ: Là một thành tố cơ bản của tính tích cực cá nhân ở hình thái hoạt động bên trong (sinh lý và tâm lý), thường được gọi là hoạt động trí tuệ hay trí óc (tri giác, ghi nhớ, nhớ lại, tưởng tượng, tư duy…) Trong nhận thức và học tập, hoạt động trí tuệ giữ vai trò thiết yếu vì vậy tính tích cực trí tuệ là "cốt lõi của tính tích cực nhận thức và cùng với tính tích cực nhận thức tạo nên nội dung chủ yếu của tính tích cực học tập” [36, tr.201]
- Tính tích cực nhận thức: Là trạng thái hay dạng phân hoá của tính tích cực cá nhân được hình thành và thực hiện trong quá trình nhận thức của chủ thể Nó là tính tích cực chung được huy động để giải quyết các nhiệm vụ nhận thức và nhằm đạt các mục tiêu nhận thức Tính tích cực nhận thức bao gồm hình thái bên trong và hình thái bên ngoài Hình thái bên trong gồm các hoạt động trí óc, các chức năng cảm xúc, ý chí, các phản xạ thần kinh cấp cao, các biến đổi của nhu cầu, hứng thú, tình cảm… Hình thái bên ngoài gồm các hoạt động quan sát, khảo sát, ứng dụng thực nghiệm, đánh giá, thay đổi, dịch chuyển đối tượng…
- Tính tích cực học tập: Là tính tích cực cá nhân được phân hoá và hướng vào việc giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ học tập để đạt các mục tiêu học tập Tính tích cực học tập bao gồm hai hình thái bên trong và bên ngoài Hình thái bên trong chủ yếu bao hàm những chức năng sinh học, sinh lý, tâm lý, thể hiện rõ ở đặc điểm khí chất, tình cảm, ý chí, các chức năng và đặc điểm nhận thức như mức độ hoạt động trí tuệ, tư duy, tri giác, tưởng tượng… và các chức năng vận động thể chất bên trong (các nội quan, các quá trình sinh lý, sinh hoá) Hình thái bên ngoài bao hàm các chức năng, khả năng, sức mạnh thể chất và xã hội, thể hiện ở những đặc điểm hành vi, hành động
di chuyển, vận động vật lý và sinh vật, nhất là hành động ý chí, các phương thức tiến hành hoạt động thực tiễn và tham gia các quan hệ xã hội "Nó được hình thức hoá bằng các yếu tố cụ thể như cử chỉ, hành vi, nhịp điệu, cường độ hoạt động, sự biến đổi sinh lý… chúng ta có thể quan sát, đo đạc, đánh giá” [36, tr.202]
Trang 27Như vậy, trong các khái niệm nói trên, tính tích cực nhận thức là khái niệm có phạm vi rộng nhất, nếu coi học tập là một quá trình nhận thức đặc biệt của sinh viên thì tính tích cực học tập và tính tích cực nhận thức đều phải tiến hành các thao tác trí tuệ và huy động sự tham gia của toàn bộ nhân cách sinh viên trong quá trình chiếm lĩnh tri thức nhân loại để chuyển thành tâm lý, ý thức của bản thân Tính tích cực nhận thức, tính tích cực trí tuệ, tính tích cực học tập đều là tính tích cực cá nhân nên đều thể hiện ở hình thái bên ngoài và hình thái bên trong
Nghiên cứu về tính tích cực nhận thức của người học đã có nhiều quan điểm
khác nhau:
Một số tác giả coi tính tích cực học tập là một dạng của tính tích cực nhận thức I.F.Kharlamốp đã cho rằng “sự học tập là trường hợp riêng của sự nhận thức, một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo viên” [38, tr.16] Khi nói tới tính tích cực học tập, thực chất là nói tới một dạng của tính tích cực nhận thức “Tính tích cực học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở
sự gắng sức cao về nhiều mặt trong hoạt động học tập” [30, tr.9]
Có một số tác giả lại quan niệm tính tích cực nhận thức như trạng thái của hoạt
động như:
Tác giả Trần Bá Hoành xem tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận
thức của học sinh, đặc trưng ở “khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao
trong quá trình nắm vững kiến thức” [30, tr.9] Nếu như quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học là nhằm phát hiện những điều loài người chưa biết, thì quá trình nhận thức trong học tập là nhằm lĩnh hội những tri thức loài người đã tích luỹ được Tuy nhiên, trong học tập người học cũng phải “khám phá” ra những hiểu biết mới đối với bản thân mình
Trong học tập, người học chỉ thực sự nắm vững cái mà chính mình đã giành được bằng hoạt động của bản thân Họ sẽ thông hiểu và ghi nhớ những gì đã trải qua hoạt động nhận thức tích cực của mình, trong đó người học đã phải có những cố gắng trí tuệ
Ngoài ra, có một số tác giả khác quan niệm tính tích cực học tập là một hành động ý chí hay một phẩm chất nhân cách Chẳng hạn, R.A.Nizamôp cho tính tích cực học tập là "một hành động ý chí, một trạng thái hoạt động đặc trưng bởi sự tăng cường nhận thức của cá nhân Mà biểu hiện của nó là hứng thú toàn diện, sâu sắc đối với kiến thức, với nhiệm vụ học tập, sự cố gắng bền bỉ, tập trung chú ý, huy động thể lực, trí tuệ để đạt mục đích” [Dẫn theo 1, tr.176]
Các tác giả L.Aistôva, B.P.Êxipôp, thì lại xem tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với thế giới khách quan Theo họ, tính tích cực nhận thức là thái
độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua huy động ở mức độ cao các chức
Trang 28năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề học tập - nhận thức Nó vừa là mục đích hoạt động, phương tiện, điều kiện để đạt mục đích và vừa là kết quả của hoạt động [3], [22]
Từ góc độ tiếp cận hoạt động - nhân cách- giao tiếp, các nhà Tâm lý học Việt Nam như Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thuỷ, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết đều thống nhất cho rằng tính tích cực là một phẩm chất nhân cách điển hình của con người Các thành tố tâm lý của tính tích cực là nhu cầu, động cơ, hứng thú, niềm tin, lý tưởng Bởi vậy, đã nói tới tính tích cực có nghĩa nói tới tính chủ thể trong hoạt động, nói tới tính tương đối ổn định và bền vững của thuộc tính tâm lý này [26], [67], [75], [77]
Theo tác giả Võ Bình Nguyên, tích tích cực học tập là “phẩm chất nhân cách
của người học thể hiện ý thức tự giác của bản thân về mục đích của hoạt động học tập, thông qua đó huy động ở mức cao các chức năng tâm lý nhằm tổ chức và thực hiện hoạt động học tập có hiệu quả” [57, tr.71]
Gắn với hoạt động học thì tính tích cực của mỗi cá nhân được thể hiện khác nhau Tính tích cực học tập bao hàm các nhân tố như sự lựa chọn, thái độ, quan điểm đối với vấn đề học tập, từ đó đề ra nhiệm vụ, mục tiêu học tập một cách đúng đắn Tính tích cực học tập phản ánh thái độ của chủ thể đối với khách thể thông qua huy động ở mức cao nhất sự cố gắng nỗ lực đối với nhiệm vụ học tập Tính tích cực học tập là một mặt cụ thể của tính tích cực nói chung, một phẩm chất của nhân cách của người học, phản ánh trạng thái hoạt động, thể hiện nỗ lực cố gắng, chủ động, sáng tạo vươn lên để chiếm lĩnh nội dung tri thức và được biểu hiện ra ở hệ thống thái độ,
hành vi, kết quả học tập Nguồn gốc của tính tích cực học tập bắt nguồn từ nhu cầu
nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, từ sự cảm nhận những thiếu thốn bất cập của bản thân về các tri thức, kỹ xảo, kỹ năng trong cuộc sống và hoạt động, nhằm đáp ứng những yêu cầu khách quan của thực tiễn Chính tính tích cực trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phản ánh khát vọng vươn lên của con người nhằm làm chủ thế giới
Từ việc trình bày, phân tích các quan điểm của các nhà khoa học nói trên, có thể khái quát:
Tính tích cực học tập của sinh viên là phẩm chất nhân cách của sinh viên, thể hiện ý thức tự giác của sinh viên về mục đích của hoạt động học tập, là trạng thái sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ, khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức nhằm tổ chức và thực hiện hoạt động học tập có hiệu quả cao
Sinh viên muốn tích cực học, trước hết, phải có nhu cầu học Nhu cầu nhận thức, sự khát khao chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để tồn tại và phát triển nhân cách phù hợp với yêu cầu xã hội là động lực thúc đẩy sinh viên tích cực học Sinh
Trang 29viên càng tích cực tham gia hoạt động học thì sự thoả mãn nhu cầu nhận thức càng cao và sinh viên sẽ vui thích, say sưa học tập Sinh viên chiếm lĩnh tri thức vì chính
sự hấp dẫn, động lực thôi thúc từ bên trong chứ không phải do áp lực từ bên ngoài hoạt động học Tức là sinh viên thấy rõ được ý nghĩa thiết thực của nội dung môn học và có những xúc cảm trí tuệ đặc biệt như tính tò mò, ham hiểu biết cũng như lòng say mê, nhiệt tình tham gia vào mọi hình thức học tập để nâng cao hiểu biết và hoàn thiện nhân cách Chính vì vậy, trong quá trình nắm vững tri thức sinh viên sẽ luôn tự đề ra mục đích, tìm phương thức tối ưu, khắc phục mọi khó khăn trở ngại để đạt được hiệu quả cao
1.1.2.3 Một số biểu hiện chủ yếu của tính tích cực học tập của sinh viên
* Thứ nhất, về nhận thức: Sinh viên nhận thức được mục đích, ý nghĩa của việc
học tập
Thực tế cho thấy, để sinh viên có thái độ học tập đúng đắn, trước hết sinh viên phải nhận thức đối tượng học, tức là tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cần nắm vững, các yêu cầu và ý nghĩa của các môn học Việc sinh viên nắm vững, hiểu sâu sắc và làm chủ được hệ thống khái niệm, qui luật, đặc điểm các môn học tạo ra sự thống nhất giữa ý nghĩa khách quan và chủ quan khi học tập quyết định trực tiếp chất lượng học tập của sinh viên Các nhà Tâm lý học (A.N.Lêônchiev, P.A.Ruđich…) đã khẳng định “việc nâng cao tính ý nghĩa bao giờ cũng có tác dụng tổ chức hành vi con người và nó được thể hiện trong việc thực hiện hành động có hiệu quả hơn Các tín hiệu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và sở dĩ huy động cao sức tập trung và có ảnh hưởng đến quá trình cải biến thông tin vì chúng tạo ra thái độ của chủ thể đối với những tác động nhận được… yếu tố
có ý nghĩa khách quan trong hoàn cảnh hoà lẫn với ý nghĩa của nó, đối với chủ thể, hoà với nhu cầu phải nhận thức được nó” [43], [62]
Khi chủ động nhận thức về về vị trí, vai trò của việc học tập, sinh viên sẽ có thái độ, động cơ học tập đúng đắn từ đó hình thành tình cảm, niềm tin, xây dựng ý chí quyết tâm phấn đấu vượt qua mọi khó khăn để đạt kết quả cao nhất Ngoài ra, sinh viên sẽ có tâm thế chuẩn bị sẵn sàng mọi mặt, cả thể lực và trí lực cho học tập môn học, những nhiệm vụ cần phải giải quyết trong quá trình học tập và xác định phương thức, cách thức, con đường hợp lý để giải quyết vấn đề theo khả năng của bản thân
* Thứ hai, về thái độ: Sinh viên có thái độ học tập đúng đắn (nhu cầu, hứng thú,
động cơ) học tập
Sinh viên là chủ thể của quá trình lĩnh hội tri thức trong quá trình học tập, vì vậy, sinh viên có thái độ tích cực hay không, có tự giác hay không, thái độ đó có ổn định, thường xuyên hay không, điều đó có ảnh hưởng quyết định trực tiếp tới chất lượng học tập của mình, đồng thời cũng tạo ra cảm xúc tích cực Bất cứ tính tích cực nào cũng nói lên thái độ của chủ thể đối với thực tại xung quanh, đối với môi trường
Trang 30Trong hoạt động chiếm lĩnh tri thức các môn học của sinh viên phải kể đến sự thống nhất hữu cơ giữa thái độ và hành vi tương ứng Theo quan điểm của các nhà Tâm lý học thì “đối tượng qui định những đặc điểm của hành động, của tính tích cực, của hành
vi Tính tích cực bao giờ cũng có tính đối tượng” [25, tr.143] Vì thế thái độ tích cực học tập của sinh viên được thể hiện:
Tự giác, chủ động, độc lập trong học tập, có nhu cầu nhận thức cao tức là luôn có niềm vui trong học tập, sự sốt sắng khi thực hiện các yêu cầu của giảng viên, hăng hái trả lời câu hỏi của giảng viên; thích phát biểu ý kiến của mình trước những vấn đề nêu ra; hay thắc mắc đòi hỏi giảng viên phải giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa hiểu rõ; luôn mong muốn giảng viên giao thêm nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ học tập của mình; hăng hái tìm đọc thêm các tài liệu; vui vẻ tham gia các hoạt động nội, ngoại khoá, câu lạc bộ chuyên ngành, các hội thi phục vụ cho việc nâng cao tri thức chuyên ngành và nghiệp vụ mà sinh viên đang theo đuổi
Có động cơ học tập đúng đắn: Đó là những động cơ xuất phát từ nhu cầu cá nhân phù hợp với mục tiêu giáo dục, với chuẩn mực đạo đức và lợi ích xã hội Học để chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo biến chúng trở thành kinh nghiệm, vốn sống của bản thân, đồng thời qua đó rèn luyện, hoàn thiện các phẩm chất nhân cách theo yêu cầu của xã hội
Có hứng thú học tập: Hào hứng và say mê là những trạng thái tình cảm đi liền với nhau tạo nên thái độ tích cực của cá nhân trong học tập Khi sinh viên đã có hào hứng, say mê học tập, thì hầu như toàn bộ sinh lực của sinh viên được huy động để tìm tòi chân lý Say mê, hào hứng là dấu hiệu cho thấy sinh viên viên có nhu cầu hiểu biết sâu rộng, nhu cầu được tham gia các hình thức học tập khác nhau, hăng hái nhiệt tình tham gia các hình thức học tập, học tập với tinh thần không biết mệt mỏi, tích cực tham luận các vấn đề học tập, luôn thích đi sâu tìm hiểu cội nguồn tri thức, không bằng lòng với kiến thức của mình Ngoài ra, sự say mê, hứng thú còn biểu hiện ở tính cần
cù nhẫn nại trong học tập, thường xuyên đọc thêm sách, báo, tài liệu có liên quan đến các môn học, dành nhiều thời gian cho tự học và đặc biệt tích cực tham gia giải quyết các tình huống, các nhiệm vụ học tập đặt ra
* Thứ ba, về hành động: Sinh viên chủ động tìm tòi, sáng tạo ra cách thức học
phù hợp, hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập
Khi sinh viên có thái độ học tập đúng đắn thì họ thường có những hành động tương ứng để chiếm lĩnh đối tượng Trong hoạt động chiếm lĩnh tri thức của sinh viên
có sự thống nhất hữu cơ giữa thái độ và hành động tương ứng
Một trong những dấu hiệu đặc trưng để phân biệt hoạt động học của sinh viên với sự học là “hoạt động học không phải là hoạt động chỉ hướng vào tiếp thu những tri thức kỹ năng, kỹ xảo xã hội mà còn hướng vào tiếp thu chính những tri thức của bản
Trang 31thân hoạt động” [26, tr.94] Muốn cho hoạt động học tập diễn ra có kết quả cao, sinh viên phải biết cách học (phải có những hành động học tập thích hợp) Do đó, sinh viên muốn học tập có hiệu quả thì một mặt, phải chủ động nắm vững tri thức; mặt khác, phải chủ động, sáng tạo trong phương cách học tập, phải "thâm nhập vào đối tượng (bằng cách thực hiện một hành động với nó) để làm bộc lộ ra lôgic tồn tại của nó và
“lấy lại” khái niệm mà loài người đã “gửi gắm” vào đối tượng Cách “lấy lại” đó không có cách nào khác phải lặp lại đúng chuỗi thao tác mà trước đấy loài người đã phát hiện ra Mỗi lần làm như thế chủ thể lại có thêm một năng lực mới chưa hề có trước đây” [33, tr.97] Cách thức học tập tích cực của sinh viên được thể hiện ở các nội dung cơ bản như:
Một là, sinh viên tích cực tư duy, thể hiện ở việc, sinh viên phải xây dựng kế
hoạch hoạt động học phù hợp Sinh viên phải biết căn cứ vào những điều kiện khách quan (cơ sở vật chất, thiết bị, thời gian, địa điểm, các điều kiện hỗ trợ khác…) Điều kiện chủ quan (khả năng, trình độ nhận thức, tình trạng sức khỏe…), từ đó sắp xếp thời gian một cách hợp lý để có hiệu quả tối ưu Xác định đúng đắn có cơ sở khoa học khối lượng tri thức mà sinh viên phải thu nhận, số lượng thời gian dùng để thu nhận tri thức
đó Họ phải tự đặt chương trình làm việc cho từng ngày, từng tuần, tháng, năm Họ phải học tập xen kẽ các môn học, bài học một cách hợp lý về thần kinh, sức khoẻ, khả năng Sinh viên phải tiến hành học từ chậm đến nhanh, từ dễ đến khó, từ mục đích gần đến mục đích xa, từ đó họ sẽ có hứng thú, niềm vui học tập
Sinh viên phải sử dụng các thao tác tư duy để tìm ra cái mới một cách chủ động, sáng tạo thông qua giờ học ở lớp, ở nhà và làm bài tập, đề cương ôn tập… Đồng thời, cần thiết lập được mối quan hệ giữa nội dung mới và tri thức cũ Để giải quyết một nhiệm vụ tư duy, cần phải huy động những tri thức tương ứng đã có liên quan với đối tượng mới đang nghiên cứu Dưới sự hướng dẫn của giảng viên, sinh viên thiết lập mối liên hệ giữa tri thức mới và tri thức cũ một cách hợp lý, thường xuyên, độc lập, huy động được hết khả năng, tiềm năng của mình
Quá trình học tập tiếp thu tri thức, sinh viên phải biết hệ thống hoá tri thức đã tiếp thu Sắp xếp các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thuộc các lĩnh vực khoa học một cách lôgic, chặt chẽ; mô hình hoá, khái quát hoá được tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đó theo phương pháp khoa học và chuyên ngành tương ứng Thường xuyên vận dụng những tri thức đã tiếp thu được để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra có hiệu quả
Hai là, sinh viên biết phối hợp các cách ghi nhớ thường xuyên, linh hoạt, hợp lý
về nội dung bài học
Ba là, sự nỗ lực ý chí của sinh viên: Thể hiện ở sự kiên trì, nhẫn nại, vượt qua
khó khăn khi giải quyết các nhiệm vụ nhận thức, có quyết tâm, ý chí vươn lên trong học tập
Trang 32Bốn là, tập trung chú ý của sinh viên: Thể hiện ở sự tập trung chú ý học tập,
lắng nghe, theo dõi mọi hoạt động của giảng viên Đồng thời, biết sắp xếp, bố trí địa điểm, nơi học để có hiệu quả
Năm là, sinh viên phải có sự phối hợp trong học tập: Khả năng hợp tác của sinh
viên với giảng viên, sinh viên với sinh viên để làm bài tập, thực hành, trao đổi kinh nghiệm học tập…
Sáu là, ngoài việc được giảng viên truyền thụ kiến thức ở trên lớp, sinh viên
còn phải tích cực tự học, tự đọc nghiên cứu tài liệu Có kế hoạch đọc sách khoa học, hợp lý, biết cách chọn sách, biết cách ghi chép, thu thập và xử lý thông tin thường xuyên, khoa học…
* Thứ tư, hoạt động học tập có hiệu quả: Biểu hiện ở kết quả học tập và chất
lượng học tập của sinh viên, ở sự biến đổi toàn bộ nhân cách, nhất là hoạt động nhận thức
Chính trong quá trình lĩnh hội tri thức mà tâm lý, ý thức, trong đó có tính tích cực của sinh viên được bộc lộ, hình thành và phát triển Tính tích cực học tập của sinh viên cao hay thấp cuối cùng được thể hiện ở kết quả học tập Kết quả học tập của sinh viên, một mặt, thể hiện ở việc lĩnh hội tri thức; mặt khác, thể hiện ở việc nắm vững các kỹ năng như: Khả năng quan sát, ghi nhớ, tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ, tự đánh giá…
Như vậy, khi sinh viên ý thức, nhận thức được đầy đủ mục đích, ý nghĩa của việc học tập, từ đó sẽ có thái độ học tập đúng đắn, tự nguyện, tự giác Bởi vì, “tâm
lý con người là sự thống nhất giữa phản ánh và thái độ” [25, tr.40] P.A.Ruđich đã chỉ
rõ đặc trưng tính tích cực của con người là “sự nỗ lực thường xuyên nhằm vào một mục đích,…hoạt động mang tính chất có kế hoạch, có hệ thống,…đạt được một kết quả nhất định” [62, tr.391] Ông khẳng định người tích cực thì hoạt động “mang tính chất bình tĩnh”, “đều đặn” và “có phương pháp”, huy động được sức mạnh tinh thần để hoạt động đạt được hiệu quả
Ở trường đại học, học tập của sinh viên là một quá trình nhận thức đặc biệt, trong đó sinh viên đóng vai trò chủ thể của hoạt động này Tính tích cực học tập có vai trò quyết định hiệu quả học tập của sinh viên Sinh viên chỉ có thể hiểu sâu sắc bài học, tài liệu học tập và biến nó thành giá trị riêng của bản thân nếu họ kiên trì, chủ động, tích cực và nỗ lực hoạt động trí tuệ trong học tập để tự “khám phá” phát hiện ra tri thức Tính tích cực học tập là một phẩm chất nhân cách, một thuộc tính quan trọng của quá trình học tập, giúp cho sinh viên có khả năng học tập không ngừng và đạt kết quả cao
Trang 331.2 PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
1.2.1 Quan niệm về phát huy tính tích cực học tập của sinh viên
Phát huy được luận giải dưới nhiều góc độ, cách tiếp cận khác nhau Theo từ
điển tiếng Việt, “Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục làm nảy
nở thêm”[79, tr.742] Quan niệm khác cho rằng, phát huy là quá trình khơi dậy và khai
thác những khả năng vốn có ở mỗi người, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thực tiễn của bản thân họ Phát huy tính tích cực của sinh viên là quá trình làm bộc lộ, khơi dậy và vận dụng khả năng của con người trong các hoạt động thực tiễn Hoạt động của sinh viên là hoạt động sáng tạo, phát huy tính tích cực là phát huy tính sáng tạo, khả năng làm việc độc lập tự giác của bản thân sinh viên Như thế, có thể thấy các quan niệm đều coi phát huy là quá trình khơi dậy, sử dụng và phát triển các yếu tố tích cực, nhằm đạt mục đích đã định sẵn Phát huy nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động thực tiễn của sinh viên Quá trình đó luôn gắn liền với việc loại bỏ các yếu tố tiêu cực, không phù hợp với quá trình phát triển
Tuy nhiên, khi đề cập đến phát huy tính tích cực của sinh viên, các nhà nghiên cứu thường nhấn mạnh mặt chủ quan của vấn đề, coi đó là quá trình phát hiện làm bộc
lộ, hình thành và sử dụng những tiềm năng sáng tạo của sinh viên Có tác giả coi thực chất phát huy tính tích cực của sinh viên là phát hiện, bồi dưỡng, phát huy cái “năng lực người” (năng lực suy nghĩ và hành động tự giác, độc lập, sáng tạo ) của sinh viên trong cuộc sống cộng đồng Kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, việc nghiên cứu của nhóm tác giả vừa coi trọng mặt khách quan, vừa coi trọng mặt chủ quan của quá trình phát huy tính tích cực của sinh viên, nhấn mạnh tính tự giác, hoạt động có chương trình, có mục tiêu, có nội dung và phương pháp khoa học nhằm nâng cao vai trò chủ thể cải tạo xã hội của sinh viên
Từ việc phân tích nói trên, có thể hiểu phát huy tính tích cực học tập của sinh
viên là hoạt động có mục đích của bản thân sinh viên và các chủ thể tham gia quá
trình giáo dục - đào tạo nhằm khơi dậy, phát triển những yếu tố cấu thành tính tích cực học tập các môn học của sinh viên như: Thái độ, trách nhiệm, ý chí quyết tâm, sự
nỗ lực mang tính tự giác, chủ động, sáng tạo của sinh viên đối với nhiệm vụ học tập môn học để thu được kết quả cao nhất
Chủ thể của quá trình phát huy tính tích cực học tập của sinh viên là các tổ chức, các lực lượng tham gia trong quá trình giáo dục - đào tạo mà trực tiếp là đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn học, các cơ quan chức năng chuyên môn, các đơn vị quản
lý sinh viên và chính bản thân đội ngũ sinh viên
Bản thân đội ngũ giảng viên trực tiếp giảng dạy là một trong những lực lượng trực tiếp quyết định tới việc phát huy tính tích cực học tập của sinh viên Bởi lẽ, giảng viên là người trực tiếp giảng dạy, truyền thụ tri thức và phương pháp học tập cho sinh
Trang 34viên Nhân cách mô phạm của người thầy, sự tận tụy, ham học hỏi của họ sẽ có tác động trực tiếp tới sự giác ngộ, thái độ, ý thức và phương pháp học tập của sinh viên, từ đó giúp họ có thể phát huy được tính tích cực trong học tập để đạt kết quả cao nhất
Đối với các phòng ban chức năng, các tổ chức như: Đoàn thanh niên, Hội sinh viên là những nhân tố đóng vai trò hỗ trợ đối với quá trình phát huy tính tích cực học tập học tập của sinh viên Hoạt động của các lực lượng này góp phần quan trọng tạo ra những điều kiện, môi trường thuận lợi thúc đẩy sinh viên nỗ lực phấn đấu để đạt kết quả cao trong học tập Đồng thời, thúc đẩy người sinh viên tích cực tu dưỡng, rèn luyện, phát triển, hoàn thiện phẩm chất, đạo đức, tác phong, năng lực của mình
Bản thân sinh viên vừa là chủ thể nhưng đồng thời cũng là đối tượng của quá trình phát huy tính tích cực học tập của họ Chính vì thế, quá trình phát huy tính tích cực học tập của sinh viên là quá trình tự chuyển hóa Trên cơ sở, họ nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của các môn học trong chương trình đào tạo và thực tiễn nghề nghiệp tương lai sau này sẽ góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm, tính tích cực tự giác, chủ động, sáng tạo không ngừng tìm tòi, đổi mới phương pháp học tập để đạt kết quả cao nhất
1.2.2 Nội dung phát huy tính tích cực học tập của sinh viên
Thứ nhất, nhận thức về tầm quan trọng của tính tích cực học tập của sinh viên
Học tập của sinh viên có tính chất đặc biệt, có mục đích và kết quả học tập Khacvs với hoạt động lao động, học tập của sinh viên tiếp thu tri thức, hình thành kỹ năng phát triển phẩm chất nhân cách, kỹ năng chuyên gia trong tương lai Học tập của sinh viên diễn ra trong điều kiện có kế hoạch, nội dung chương trình, mục đích, phương pháp, thời gian, địa điểm cụ thể Học tập của sinh viên mang tính độc lập cao, sinh viên tự ý thức về động cơ, mục đích và phương pháp học tập của mình Hoạt động học tập của sinh viên chỉ đạt được kết quả khi phát huy được tính tích cực học tập ở họ
Tính tích cực học tập của sinh viên bao hàm tính chủ động, sáng tạo, tính có ý thức của sinh viên trong hoạt động học tập Tính tích cực học tập của sinh viên là một thuộc tính của nhân cách được đặc trưng bởi sự chi phối mạnh mẽ của các hành động đang diễn ra đối với đối tượng và được thể hiện ở sự nỗ lực cố gắng của bản thân, ở sự chủ động, tự giác hoạt động và cuối cùng là kết quả cao của hoạt động có mục đích của sinh viên Tính tích cực học tập được nảy sinh, hình thành, phát triển trong hoạt động học tập (học tập ở trường, tự học) Tính tích cực học tập nếu được phát huy sẽ thúc đẩy hoạt động nhận thức làm cho khối lượng tri thức ngày càng nhiều, phát triển năng lực tư duy khái quát và tư duy trừu tượng Tính tự giác học tập của sinh viên được hình thành, phát triển khi sinh viên nhận thức đầy đủ được việc học tập là một nhu cầu cơ bản, thiết yếu, có tầm quan trọng đặc biệt Trên cơ sở đó, sinh viên tự biết
Trang 35đề ra mục tiêu phấn đấu trong học tập; tự vạch ra kế hoạch thực hiện mục tiêu đó; tự kiểm tra đánh giá bản thân thường xuyên trong từng môn học, trong những điều kiện, tình huống, quan hệ khác nhau, nhằm đạt kết quả cao nhất trong quá trình vươn tới mục đích đã đề ra
Thứ hai, phát huy tính tích cực học tập của sinh viên được biểu hiện ở mục đích,
động cơ, thái độ của sinh viên đối với các môn học
Đây là thành tố rất quan trọng để phát huy tính tích cực học tập của họ Một
mặt, nó được hình thành trên cơ sở nhận thức của sinh viên về môn học; mặt khác,
nó được hình thành thông qua những trải nghiệm trực tiếp với nội dung, các hình thức học tập của môn học và được biểu hiện thành thái độ, tình cảm đặc biệt, tích cực của sinh viên khi tiếp nhận các nội dung của môn học như: Tâm trạng háo hức, chờ đón các giờ lên lớp của giảng viên; có niềm vui nhận thức cùng với sự thích thú khi tiếp nhận nội dung tri thức của các môn học; thích thú, say sưa khi được thực hiện các nhiệm vụ, hình thức học tập môn học; nghe giảng lý thuyết, làm các bài tập nhận thức, xêmina, đọc tài liệu nghiên cứu…; sinh viên cảm thấy vui sướng khi khám phá
ra vấn đề mới, khi nhu cầu nhận thức được thỏa mãn hoặc khi hoàn thành tốt một nhiệm vụ học tập
Thứ ba, phát huy tính tích cực học tập của sinh viên là quá trình phát huy nhân
tố chủ quan của sinh viên (hứng thú, ý thức, hành vi trong học tập)
Đó là quá trình phát hiện, bồi dưỡng, làm cho những yếu tố cấu thành tính tích cực học tập các môn học như: Thái độ, trách nhiệm, ý chí quyết tâm, sự nỗ lực mang tính tự giác, chủ động, sáng tạo của sinh viên đối với nhiệm vụ học tập môn học ngày càng tăng lên, đồng thời, làm chuyển hoá những yếu tố đó theo hướng phát triển Phát huy tính tích cực học tập của sinh viên còn là quá trình sử dụng những yếu tố vật chất, tinh thần, tạo môi trường học tập lành mạnh để kích thích, xây dựng động cơ, tình cảm,
ý chí, thái độ trong quá trình học tập của sinh viên, giúp cho họ yên tâm, nhiệt tình với nhiệm vụ học tập
Thứ tư, phát huy tính tích cực học của sinh viên còn là quá trình mỗi sinh viên
tự ý thức và thực hiện tốt quá trình chuyển hoá giáo dục thành tự giáo dục, phản ánh tính năng động của chính bản thân họ trong khắc phục khó khăn, tích cực chủ động học tập để đạt kết quả học tập cao nhất
Tính tích cực với tư cách là những phẩm chất cơ bản của sinh viên, không tự
hình thành và phát triển Quá trình hình thành và phát triển phẩm chất đó là quá trình chuyển hoá từ nhận thức tự phát thành nhận thức tự giác trong quá trình hoạt động thực tiễn của sinh viên Biểu hiện ra bằng hành vi, ý chí quyết tâm của mỗi sinh viên trong học tập, tu dưỡng và rèn luyện bản thân Do đó, công tác giáo dục - đào tạo chỉ phát huy được hiệu quả cao khi sinh viên tiếp nhận nó một cách tự giác, biến nó trở thành động cơ bên
Trang 36trong, thôi thúc họ phấn đấu học tập và rèn luyện Điều đó cho thấy, phát huy tính tích cực học tập của sinh viên chỉ đạt được hiệu quả khi chính sinh viên phát hiện những yếu tố, những khâu then chốt để “hướng” vào những hành động tích cực, chủ động, tự giác, sáng tạo trong cxhọc tập, nghiên cứu khoa học Sự năng động, tự giác, linh hoạt, sáng tạo trong học tập và rèn luyện của người học viên biểu hiện ở chỗ: Trình độ tri thức của sinh viên về môn học ngày được nâng cao; luôn nhận thức và thực hiện tốt về vị trí, vai trò môn học trong thực hiện mục tiêu, yêu cầu đào tạo của khóa học, nhận thức đúng đắn về vai trò của bản thân mình trong hoạt động học tập Từ đó, xác định trách nhiệm, động cơ thái độ đúng đắn trong hoạt động tu dưỡng phấn đấu của mình, biết tận dụng thời gian, chủ động xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch tự học một cách khoa học và hiệu quả; thực hiện có hiệu quả các hoạt động thực tiễn sau mỗi bài học; giải quyết tốt mâu thuẫn trong quá trình học tập như nội dung chương trình lớn, yêu cầu cao, trong khi thời gian học ngắn, khả năng tiếp thu có mặt còn ở mức độ nhất định
Thứ năm, các biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của sinh viên
Biện pháp nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của sinh viên là cách thức tiến hành tổ chức các hoạt động sao cho sinh viên chủ động, tích cực và đạt kết quả cao trong học tập Nói cách khác, biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của sinh viên là cách thức sử dụng hay huy động, phối hợp các yếu tố khác nhau trong quá trình dạy học để tổ chức cho sinh viên giải quyết các nhiệm vụ nhận thức nhằm đạt các mục tiêu nhận thức đặt ra dựa vào chính kinh nghiệm và hoạt động của sinh viên, làm cho
họ trở thành chủ thể chủ động, tự giác trong quá trình học tập Trong dạy học các biện pháp gắn liền với các phương pháp dạy học Đó chính là hệ thống các cách thức tác động cụ thể của giảng viên và sinh viên vào nội dung dạy học, qua đó thực hiện được nhiệm vụ dạy học Hệ thống biện pháp dạy học là cấu trúc đa diện, nhiều tầng có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong đó, các biện pháp cụ thể kết hợp với nhau theo lôgic tuyến tính, tạo nên quy trình chặt chẽ Do đó, trong thực tiễn dạy học phải xác định đầy đủ các biện pháp, đồng thời phải thiết lập được quy trình thực hiện các biện pháp đó Đồng thời, giảng viên cần phải tìm kiếm các biện pháp để tổ chức các yếu tố này đảm bảo cho sinh viên hoạt động tích cực trong những điều kiện cụ thể của nhà trường Vai trò chủ đạo của giảng viên trong dạy học được thể hiện thông qua việc tổ chức lại nội dung, lựa chọn và sử dụng hợp lý các hình thức, phương pháp, phương tiện để phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của sinh viên trong hoạt động học tập Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng chất lượng học tập của sinh viên phụ thuộc vào trình độ tổ chức và điều kiện điều khiển hoạt động của giảng viên Cơ sở tâm lý của việc phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo cá nhân trong hoạt động nhận thức chính
là nâng cao vai trò của yếu tố tự giác của bản thân sinh viên Làm sao việc dạy học của giảng viên phải đảm bảo phát huy được vai trò chủ thể tích cực của sinh viên trong
Trang 37hoạt động nhận thức thế giới khách quan Tuy nhiên, để làm được điều này, cần phải
có sự liên kết giữa các biện pháp làm thành một hệ thống biện pháp có khả năng làm cho hoạt động tư duy của sinh viên trở nên tích cực hơn, làm phát triển tính sáng tạo,
kỹ năng độc lập lĩnh hội tri thức của sinh viên Ngoài ra, cần phân tích và tổng hợp các nhân tố trong quá trình dạy học để tìm ra mối liên hệ ràng buộc của nó, trên cơ sở đó tìm ra các biện pháp tác động tối ưu nhất nhằm phát huy tính tích cực học tập của sinh viên và nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
Như vậy, nội dung bản chất phát huy tính tích cực học tập của sinh viên chính là quá trình phát hiện, bồi dưỡng, kích thích, phát triển những yếu tố cấu thành tính tích cực học tập của sinh viên; định hướng đúng đắn, xây dựng động cơ, trách nhiệm của người sinh viên đối với môn học Với đội ngũ sinh viên, việc phát huy tính tích cực học tập luôn chịu sự tác động của các tổ chức, các lực lượng trong hệ thống giáo dục
ở nhà trường Đây là một quá trình biện chứng giữa sự tác động của những chuẩn mực
về nhân cách người sinh viên, những yêu cầu về nội dung tri thức các môn học cần phải chiếm lĩnh với sự tiếp nhận, tự tu dưỡng học tập, phấn đấu nhằm biến những nội dung tri
thức được học thành những tri thức, giá trị phẩm chất nhân cách của mình
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
1.3.1 Nhân tố khách quan tác động đến việc phát huy tính tính tích cực học tập của sinh viên
1.3.1.1 Môi trường kinh tế - xã hội
Theo C.Mác, giáo dục không phải là sự tác động bên ngoài vào sự hình thành những phẩm chất nào đó của con người mà là quá trình tự biến đổi con người Không phải con người là sản phẩm tiêu cực, thụ động của hoàn cảnh Hoàn cảnh sẽ tạo nên nội tâm, năng lực của con người, nói cách khác là hình thành và phát triển trong con người những tri thức, niềm tin, thái độ, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen khi con người tác
động tích cực vào hoàn cảnh đó Trong lời tựa của tác phẩm “Góp phần phê phán khoa
kinh tế chính trị”, C.Mác viết: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các
quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ; trái lại, chính sự tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [48, tr.15] Luận điểm này có vai trò quan trọng trong việc xác định môi trường học tập đối với sinh viên
Thông qua học tập mà sinh viên lĩnh hội được tri thức và kinh nghiệm nhân loại, đáp ứng yêu cầu của xã hội và tham gia tích cực vào sự phát triển xã hội Môi trường kinh tế - xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động học tập của sinh viên Điều
đó thể hiện:
Trang 38Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, một mặt, tạo cơ chế kích thích sự phát triển kinh tế, nâng cao tổng lợi ích xã hội, tạo điều kiện cho sự phát triển con người về mọi mặt Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường đã tác động rất lớn đến nhận thức và hoạt động của con người Vì động cơ lợi ích cá nhân, con người có thể dám làm mọi chuyện trái luân thường đạo lý, trái pháp luật như kinh doanh lừa đảo, làm hàng giả, tham nhũng, hối lộ, thương mại hoá các giá trị đạo đức, nhân cách và đời sống tinh thần, mắc vào các tệ nạn xã hội…
Kinh tế thị trường đã có tác động trực tiếp đến nhận thức và hành động của sinh viên theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực Mặt tích cực, là tạo ra môi trường tốt để phát huy tài năng, tính sáng tạo của mỗi sinh viên, qua đó, năng lực toàn diện của sinh viên được thử thách, bộc lộ và phát triển Sinh viên không chỉ học tập, nghiên cứu những tri thức chuyên môn, chuyên ngành, mà còn ham muốn được học tập, nghiên cứu
mở rộng những kiến thức, hiểu biết về xã hội, về chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước
Bên cạnh ảnh hưởng tích cực thì mặt trái của kinh tế thị trường là tình trạng tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân ngày càng phát triển đã tác động không nhỏ đến nhận thức của một bộ phận sinh viên Bởi lẽ, do vốn sống kinh nghiệm còn ít, thiếu sự từng trải nên cách nhìn nhận vấn đề, giải quyết sự việc, lựa chọn giá trị ở họ thường mang tính chủ quan, phiến diện lại chịu ảnh hưởng tiêu cực của kinh tế thị trường nên dễ có nhận thức lệch lạc về những giá trị, thiếu nỗ lực, cố gắng, chủ động trong học tập Cơ chế thị trường đã kích thích lợi ích cục bộ, lợi ích cá nhân một cách thái quá Lối sống chạy theo đồng tiền đã bất chấp tất cả pháp luật và đạo đức Đảng Cộng sản Việt Nam đã cho rằng: “Chúng ta không quy mọi xấu xa đều do kinh tế thị trường,
nhưng không thể không thấy rằng về khách quan mà nói kinh tế thị trường với sức
mạnh tự phát ghê gớm của nó đã khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, làm cho người ta chỉ chú ý tới lợi ích vật chất mà coi nhẹ giá trị tinh thần, chỉ chú ý lợi ích cá nhân mà coi nhẹ lợi ích cộng đồng, chỉ chú ý lợi ích trước mắt mà coi nhẹ lợi ích lâu dài, cơ bản ” [16, tr.29-30]
Sinh viên là những người còn đang ngồi trên ghế nhà trường, do mặt trái của kinh tế thị trường như lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền đã có ảnh hưởng nhất định đến suy nghĩ, nhận thức, hành vi đạo đức, lối sống của họ Điều đó được thể hiện qua suy nghĩ, quan niệm về ý nghĩa cuộc sống, qua hành động thực tế của sinh viên
Từ những ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường, một số sinh viên nhận thức lệch lạc về mục đích, lý tưởng sống, về các giá trị văn hóa, chưa có ý thức tự giác trong học tập, rèn luyện, còn có thói quen ỷ lại, vụ lợi, lấy vật chất làm mục đích của cuộc sống, làm thước đo giá trị, vi phạm pháp luật, thiếu trung thực trong thi cử, ứng xử thiếu văn
Trang 39hóa, phai nhạt lý tưởng sống, làm ảnh hưởng đến quá trình giáo dục, đào tạo nói chung
và kết quả học tập của sinh viên nói riêng
Trong xu thế hội nhập quốc tế, bùng nổ thông tin, có sự giao thoa ngày càng sâu rộng của các trào lưu văn hóa, do vậy sinh viên quan tâm tới các vấn đề chính trị, kinh
tế, xã hội nhiều hơn chứ không chỉ tập trung vào hoạt động học tập trong trường đại học Sinh viên ngoài việc học tập, họ còn đi làm thêm, học thêm và tham gia các hoạt động xã hội khác Vì vậy, môi trường xã hội chính là một nhân tố khách quan thường xuyên tác động đến nhà trường, đến nhận thức và hành động của sinh viên
Dù muốn hay không thì các kênh thông tin, các sự kiện từ môi trường xã hội bên ngoài vẫn thường xuyên tác động vào nhà trường Và như vậy, dù tính chất của các tác động đó theo chiều hướng nào đi chăng nữa (tích cực hay tiêu cực), thì vẫn được xem như là tác nhân kích thích để sinh viên “gạn đục khơi trong” về nội dung tiếp nhận; hình thành thái độ và bản lĩnh vững vàng trước cuộc sống; nâng cao tính tích cực học tập; phát huy khả năng tìm tòi, nhìn nhận các xu hướng văn hóa và tình hình xã hội; rèn luyện năng lực phán xét các giá trị…
Ngoài ra, tình hình quốc tế đã có những tác động nhất định đến tính tích cực học tập của sinh viên Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự bùng nổ thông tin đã tác động mạnh mẽ đến nhận thức, suy nghĩ của sinh viên theo cả hướng tích cực
và tiêu cực, “mối nguy cơ đồng nhất hóa các hệ thống giá trị và tiêu chuẩn, đe dọa và làm suy kiệt khả năng sáng tạo của các nền văn hóa, nhân tố hết sức quan trọng đối với sự tồn tại lâu dài của cả nhân loại” [76, tr.20]
Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đã mang đến những cơ hội cho sinh viên nói chung, sinh viên Học viện Ngân hàng nói riêng mở rộng quan hệ giao lưu văn hóa, tiếp thu được những giá trị văn hóa tiến bộ của các nước tiên tiến trên thế giới, làm phong phú thêm nền văn hóa của dân tộc, xây dựng tinh thần dân tộc, ý thức cộng đồng và nâng cao vị thế của dân tộc trong khu vực và cộng đồng quốc tế Đây cũng là điều kiện tốt cho sinh viên phát triển trí tuệ, năng lực, mở rộng sự hiểu biết, đặc biệt là tính sáng tạo, đồng thời, làm phong phú tâm hồn, tình cảm, nâng cao tính chân - thiện - mỹ Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang đưa lối sống bên ngoài vào Việt Nam nói chung, Thành phố Hà Nội nói riêng Lối sống ấy, một mặt, tác động tích cực làm thay đổi lối sống khép kín, phụ thuộc, cam chịu, ỷ lại trước đây sang một lối sống mới cởi mở, năng động, sáng tạo, tự lập, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Việc tiếp cận với nhiều luồng thông tin giúp sinh viên có bản lĩnh, có óc phê phán, tính tự chủ, độc lập, sáng tạo trong học tập, lối sống; mặt khác, do việc tiếp thu lối sống bên ngoài một cách thiếu chọn lọc, định hướng dẫn đến một số sinh viên có nhận thức và hành động thiếu đúng đắn trong học tập, lối sống Sự xuất hiện các hiện tượng xã hội trong sinh viên như: Cờ bạc, ma túy, sống thực dụng; ham chơi, ỷ lại…
Trang 40đã đặt ra thách thức an ninh chính trị với nhà trường, xã hội ngày càng lớn Chính điều đó, đã có những tác động nhất định đến tính tích cực trong hoạt động học tập của sinh viên
1.3.1.2 Môi trường học tập và văn hoá học đường
Trong xu thế vận động và phát triển của giáo dục hiện nay, việc xây dựng môi trường học tập cho người học nói chung và môi trường học tập tích cực cho sinh viên nói riêng là một yêu cầu khách quan Vì vậy, trong quá trình dạy học, giảng viên và sinh viên luôn phải thay đổi để thích nghi với môi trường, phải cải thiện môi trường để cho việc dạy và học thuận lợi hơn Xây dựng môi trường học tập tích cực cho sinh viên là một yêu cầu cần thiết và là một thành tố quan trọng tạo nên hiệu quả dạy học Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, của nền kinh tế, xã hội toàn cầu đặt ra cho giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng là phải đào tạo ra nguồn nhân lực vừa có kiến thức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, vừa có thái độ và kỹ năng sống thích hợp với sự thay đổi của hoàn cảnh Do
đó, cần xây dựng được môi trường học tập tích cực giúp cho sinh viên có động lực học tập, tư duy năng động, sáng tạo, luôn tìm kiếm giải pháp để giải quyết những tình huống khác nhau trong thực tế cuộc sống
Học đường là nơi sinh viên học tập và rèn luyện Ở đó chứa đựng đầy đủ các nội dung, thông tin, nhân lực và những điều kiện cần thiết phục vụ cho việc dạy, việc học và giáo dục Văn hóa học đường là “hệ các chuẩn mực, giá trị giúp cán bộ quản lý nhà trường, thầy cô giáo, các vị phụ huynh và các em học sinh, sinh viên có các cách thức suy nghĩ, tình cảm, hành động tốt đẹp” [37, tr.189], là “hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành và tích lũy trong lịch sử bao gồm những suy nghĩ, quan niệm thói quen, tập quán, tư tưởng, luật pháp… nhằm thiết lập mối quan hệ giữa thầy, trò và các thành viên có liên quan để việc dạy và học đạt kết quả cao” [74, tr.51]
Như vậy, văn hóa học đường là tất cả các yếu tố vật chất và tinh thần tạo nên bản sắc riêng của nhà trường phù hợp với chuẩn mực chung của xã hội Văn hóa học đường (về mặt vật chất) của trường đại học có thể dễ dàng nhận thấy qua kiến trúc xây dựng giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, sân luyện tập, trang trí, quang cảnh, đồng phục, khẩu hiệu, logo, website… Văn hóa học đường (về mặt văn hóa tinh thần) được thể hiện trong sứ mạng, tầm nhìn, giá trị cốt lõi của nhà trường và bầu không khí tâm lý, cảm xúc cá nhân, mối quan hệ giữa các thành viên, cách giao tiếp ứng xử trong công việc và trong cuộc sống Tất cả các yếu tố đó tạo nên một môi trường học đường có tác động rất lớn đến việc học tập, tu dưỡng rèn luyện của sinh viên
Văn hóa học đường phù hợp sẽ tạo ra một môi trường học tập có lợi nhất cho sinh viên, để sinh viên rèn luyện nhân cách Môi trường này kích thích được sự chủ