1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề mới về fdi trong nền kinh tế số và hàm ý cho việt nam

86 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Vấn Đề Mới Về FDI Trong Nền Kinh Tế Số Và Hàm Ý Cho Việt Nam
Tác giả Ts. Cấn Thị Thu Hương, Ts. Nguyễn Thị Ngọc Loan
Trường học Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Học Viện Ngân Hàng
Thể loại đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan nghiên cứu Theo Báo cáo Đầu tư ASEAN 2018, một hiện tượng quan trọng trong ASEAN là đầu tư tăng trong nền kinh tế kỹ thuật số, bao gồm thương mại điện tử, công nghệ fintec

Trang 1

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG -oOo -

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

NĂM 2019

MỘT SỐ VẤN ĐỀ MỚI VỀ FDI TRONG NỀN KINH TẾ SỐ VÀ HÀM

Ý CHO VIỆT NAM

MÃ SỐ: DTHV.09/2019

Chủ nhiệm đề tài : TS CẤN THỊ THU HƯƠNG

Thành viên : TS NGUYỄN THỊ NGỌC LOAN

Hà Nội 2020

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ SỐ VÀ FDI TRONG NỀN KINH TẾ SỐ 7

1.1.Những đặc trưng của nền kinh tế số 7

1.1.1.Tổng quan về nền kinh tế kỹ thuật số……….7

1.1.2 Xu hướng phát triển nền kinh tế số trên thế giới 11

1.2 Hoạt động đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế 16

1.2.1 Những thay đổi của đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế số 16

1.2.2 Những thay đổi trong chiến lược đầu tư của các công ty đa quốc gia trong nền kinh tế số 21

1.3 Một số mô hình kinh doanh số tiên tiến 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG FDI TRONG NỀN KINH TẾ KỸ THUẬT SỐ TẠI CÁC NƯỚC ASEAN VÀ VIỆT NAM 31

2.1 Thực trạng FDI trong các ngành kinh tế số tại các nước ASEAN 31

2.1.1 Tổng quan FDI toàn cầu 31

2.1.2 Hoạt động của vốn FDI trong các ngành kinh tế số tại các nước ASEAN 32

2.2 Những biện pháp hỗ trợ đầu tư vào các ngành kinh tế số của các nước ASEAN 43

2.2.2 An ninh mạng và bảo vệ dữ liệu 44

2.2.3 Chính sách thu hút vốn đầu tư FDI 45

2.3 Tình hình FDI tại Việt Nam trong các ngành kinh tế số 47

2.3.1 Thực trạng chung về vốn FDI tại Việt Nam 47

CHƯƠNG 3: HÀM Ý CHÍNH SÁCH THU HÚT FDI VÀO VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH NỀN KINH TẾ SỐ 71

3.1 Xu hướng phát triển các ngành kinh tế số trong thời gian tới 71

3.1.1 Những cơ hội cho ngành Công nghiệp điện tử Việt Nam 71

3.1.2 Những xu thế phát triển nội dung số trong những năm tới 73

3.2 Một số giải pháp thu hút FDI trong bối cảnh kinh tế số 74

3.2.1 Phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế số 74

3.2.2 Những giải pháp cụ thể nhằm thu hút FDI trong các lĩnh vực của nền kinh tế số 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 3

Hình 2.2: 10 nhà ĐTNN hàng đầu trong ngành ICT tại ASEAN năm 2013-2017 (tỷ

USD) 36 Hình 2.3: M&A trong ngành ICT của khu vực ICT giai đoạn 2010-2017 40 Hình 2.4: Các nước nhận đầu tư M&A trong ngành , từ năm 2010 – 2017 (tỷ USD) 41

Hình 2.5: 10 Nhóm hàng xuất khẩu đạt mức tăng trưởng về giá trị lớn nhất năm 2018

54

Hình 2.6: Doanh thu và tốc độ tăng trưởng ngành công nghệ thông tin Việt Nam 55

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tỷ lệ tài sản nước ngoài và doanh thu nước ngoài của 100 MNE hàng đầu,

năm 2015 24

Bảng 2.1: 25 ngành lớn nhất tính theo số lượng dự án FDI trên thế giới, theo ghi nhận của các thị trường FDI từ 2011 đến 2016 33

Bảng 2.2: Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong ngành viễn thông ASEAN, năm 2017 (%) 38

Bảng 2.3 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam theo ngành 48

Bảng 2.4: Số liệu doanh nghiệp trong ngành CNTT và TT 55

Bảng 2.5: Số liệu xuất nhập khẩu của ngành Công nghệ thông tin 56

Bảng 2.6: Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực CNTT 58

Bảng 2.7: Một số nền tảng số đã được đầu tư kinh doanh tại Việt Nam 61

Bảng 2.8: Vốn đầu tư vào Startup công nghệ của khu vực châu Á Thái Bình Dương năm 2019 63

Bảng 2.9: Vốn đầu tư vào các startup Việt Nam 6 tháng đầu năm 2019 64

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dưới tác động của làn sóng cách mạng công nghiệp 4.0, kinh tế số ngày càng phát triển và có tác động sâu sắc tới mọi mặt đời sống xã hội Sự phát triển mới của nền kinh

tế số đã tái cấu trúc việc tạo ra giá trị mới giữa người sản xuất và người tiêu dùng bằng cách khai thác qua internet và các công nghệ kỹ thuật số Đóng góp của công nghệ số

đã vượt qua khỏi giới hạn ngành, tác động trực tiếp đến hầu hết các hoạt động kinh tế khác từ sản xuất, bán hàng, phân phối và tiêu dùng

Việt Nam đã và đang đạt được một số điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế

số Khu vực kinh tế số thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ của khu vực ICT, của các ứng dụng nền tảng số, khu vực kinh tế chia sẻ và thương mại điện tử Tuy nhiên, tốc độ phát triển nhanh chóng của khu vực kinh tế số cũng dẫn đến nhiều nguy cơ tiềm ẩn và hiện hữu trong mọi mặt kinh tế-xã hội như thị trường lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, an ninh mạng Vì vậy, việc đánh giá đúng thực trạng phát triển, tác động và các vấn đề liên quan kinh tế số tại Việt Nam hiện nay là rất cần thiết

Chủ động nắm bắt cơ hội từ nền kinh tế số để thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với thực hiện các đột phá chiến lược và hiện đại hoá đất nước, Dự thảo Chiến lược đặt ra các mục tiêu cụ thể giai đoạn tới đối với kinh tế số

Đó là đến năm 2025, kinh tế số chiếm khoảng 20% GDP và sẽ tăng lên mức 30% vào năm 2030 Bên cạnh đó, đến năm 2030, chính phủ số thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN; mạng 5G phủ sóng toàn quốc; trụ cột thể chế trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 của Diễn đàn kinh tế thế giới thuộc nhóm 40 nước đứng đầu…

Để thực hiện mục tiêu trên, một số nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện mục tiêu, bao gồm: nâng cao chất lượng thể chế và năng lực xây dựng chính sách; phát triển hạ tầng kết nối, xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu; phát triển nguồn nhân lực; xây dựng chính phủ điện tử hướng tới chính phủ số; phát triển và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia

Trang 8

FDI luôn là một nguồn vốn quan trọng giúp các nước đang phát triển như Việt Nam có thể nhanh chóng tiếp cận khoa học công nghệ mới hiện nay Ngay từ giai đoạn đầu cải cách kinh tế theo chủ trương Đổi mới của 30 năm về trước, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã là một động lực chính cho sự phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc

tế của Việt Nam Trong thời gian qua, Việt Nam bước đầu đã có những kết quả góp phần phát triển các ngành kinh tế số tại Việt Nam, trong đó điển hình nhất là trong sản xuất các sản phẩm của ngành công nghệ thông tin, điện tử và viễn thông, các doanh nghiệp FDI chiếm tỷ trọng xuất khẩu hơn 90% Các hoạt động thương mại điện tử và các nền tảng số cũng đã thu hút được lượng vốn đầu tư nước ngoài đáng kể Tuy nhiên

so với các nước trong khu vực và thế giới, hoạt động FDI tại Việt Nam trong các ngành kinh tế số vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển hơn nữa

Trong bối cảnh nền kinh tế số diễn ra sôi động trên thế giới và yêu cầu phát triển của nền kinh tế, việc thu hút FDI cần được đổi mới phù hợp quy hoạch chung của các ngành, tập trung vào các lĩnh vực của nền kinh tế số và các ngành công nghệ cao, với mục tiêu phát triển FDI một cách bền vững góp phần tăng trưởng kinh tế

Với mục đích nhận định rõ về những biến đổi của dòng FDI trong điều kiện nền kinh tế số để làm cơ sở đưa ra giải pháp thu hút FDI vào Việt Nam thời gian tới, nhóm

tác giả đã lựa chọn đề tài “Một số vấn đề mới về FDI trong nền kinh tế số và Hàm ý cho

Việt Nam”

2 Tổng quan nghiên cứu

Theo Báo cáo Đầu tư ASEAN 2018, một hiện tượng quan trọng trong ASEAN là đầu tư tăng trong nền kinh tế kỹ thuật số, bao gồm thương mại điện tử, công nghệ fintech, vốn mạo hiểm và các hoạt động kỹ thuật số khác như phát triển trung tâm dữ liệu và cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)

Các công ty MNE và các công ty ICT của ASEAN hiện đang tăng cường sự chú ý trong khu vực Các dự án đầu tư ICT phi sản xuất đã tăng nhanh từ 2,8 tỷ USD năm

2010 lên 3,9 tỷ USD năm 2017, trong khi các vụ sáp nhập và mua bán công nghệ qua biên giới tăng từ 172 triệu USD năm 2010 lên 3,6 tỷ USD vào năm 2017

Trang 9

Ở cấp khu vực, các nước thành viên ASEAN đang thúc đẩy hợp tác để tăng cường khả năng cạnh tranh của ngành công nghệ thông tin, mở rộng thương mại điện tử và tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối kỹ thuật số, bao gồm cả việc thực hiện ký kết thỏa thuận thương mại điện tử ASEAN và áp dụng Khuôn khổ hội nhập kỹ thuật số ASEAN nhằm tạo thuận lợi cho việc đưa khu vực này trở thành một trung tâm kỹ thuật số toàn cầu có khả năng cạnh tranh

Báo cáo e-Conomy SEA 2018 – một nghiên cứu về kinh tế kỹ thuật số (hay còn được gọi là kinh tế Internet) được thực hiện giữa Temasek (Singapore) và Google đánh giá mảng kinh tế này của Việt Nam như "con rồng chuyển mình" Quy mô kinh tế Internet tại đây đã tăng gấp 3 lần trong vòng 3 năm, nhờ có thương mại điện tử và truyền thông online

Nghiên cứu của Georgios Zekos (2005) đã chỉ ra với xu hướng FDI trong nền kinh

tế, dòng vốn này sẽ tập trung vào các địa điểm cung cấp lực lượng lao động có tay nghề cao giá rẻ, tập hợp các công ty thông tin, hình thức và licensing sẽ là các hình thức FDI mới được áp dụng bởi các MNE Sự phát triển của các e-MNE sẽ đòi hỏi những phương thức khác nhau cho các nhà máy sản xuất và các điều kiện về logistic để phân phối hàng hóa hữu hình trong khi hàng hóa vô hình sẽ được phân phối bởi các trung tâm công nghệ rất tiên tiến dựa trên các địa điểm ở nước chủ nhà Hiện tại nền kinh tế kỹ thuật số đã được chứng minh là ít phá hủy hơn Nền kinh tế kỹ thuật số không nên chỉ giới hạn trong kinh doanh điện tử và thương mại điện tử Các hàng hóa hữu hình sẽ tiếp tục được sản xuất trong các nhà máy, có thể sử dụng thêm các phương thức hậu cần điện tử Cần lưu

ý rằng sự phát triển của nền kinh tế kỹ thuật số không có nghĩa là tất cả hàng hóa hữu hình sẽ được chuyển đổi thành kỹ thuật số nhưng yếu tố phổ biến là số hóa tất cả các nội dung có thể được số hóa Ý nghĩa của nền kinh tế kỹ thuật số có thể được đánh giá không những từ các công ty khởi nghiệp, mà còn là quá trình chuyển đổi được quan sát trong các lĩnh vực truyền thống của nền kinh tế Với sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế kỹ thuật số, tầm quan trọng của các doanh nghiệp đa quốc gia về công nghệ

và kỹ thuật số trong sản xuất quốc tế đã tăng lên đáng kể Sự gia tăng nhanh chóng của MNEs công nghệ đại diện cho một trong những xu hướng đáng chú ý nhất trong thế giới của các siêu đô thị toàn cầu trong những năm gần đây Theo nghiên cứu của UNCTAD năm 2017, từ năm 2010 đến 2015, số lượng các công ty công nghệ trong bảng xếp hạng

Trang 10

không chỉ tăng số lượng trong danh sách các công ty đa quốc gia lớn nhất toàn cầu, mà còn là những người chơi năng động nhất Trong cùng thời gian, tài sản của các MNE này tăng 65%, doanh thu và nhân viên hoạt động của họ tăng khoảng 30%, hoàn toàn trái ngược với tình hình tăng trưởng phẳng lặng của tốp 100 MNE hàng đầu khác (UNCTAD, 2017a; UNCTAD, 2017b)

Trước những xu hướng này, một câu hỏi cơ bản cho nghiên cứu và phân tích chính sách là bằng cách nào số hóa đã thay đổi chiến lược quốc tế hóa của MNEs Người ta thường lập luận rằng số hóa có thể dẫn đến sự rút lui của FDI, vì nó cho phép các MNE hoạt động trên toàn cầu và tham gia vào thị trường nước ngoài mà không cần có sự hiện diện thực tế (Eden, 2016; McKinsey Global Institute, 2016) Vì các động lực (truyền thống) cho FDI tìm kiếm thị trường và FDI tìm kiếm tài nguyên (hữu hình) bị làm suy yếu một phần bởi số hóa, các loại hình FDI khác có thể trở nên quan trọng hơn Ví dụ như FDI tìm kiếm tri thức và ở một mức độ nào đó cũng là FDI dựa trên tài chính và thuế Những mô hình đầu tư này có thể ảnh hưởng đến con đường sản xuất quốc tế của các MNE, với ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển ở các nước sở tại Đặc biệt, các MNE trong các lĩnh vực số hóa cao dự kiến sẽ có dấu ấn quốc tế theo một cách hoàn toàn khác các MNE khác, liên quan đến việc tạo ra doanh số lớn ở nước ngoài bằng cách đầu tư tương đối ít vào quá trình sản xuất Báo cáo nghiên cứu về dòng FDI hàng năm của UNCTAD (2017) kết luận rằng FDI tìm kiếm thị trường và FDI tìm kiếm hiệu quả

bị suy giảm một phần là do bởi kỹ thuật số hóa Khả năng các công ty tiếp cận thị trường quốc tế với tài sản nhỏ hơn, nhờ phần lớn vào nền kinh tế kỹ thuật số, có liên quan đến

sự xuất hiện của cái gọi là đa quốc gia vi mô và các công ty toàn cầu sinh ra nhanh chóng đạt được phạm vi toàn cầu với mức độ tối thiểu đầu tư biên giới trên toàn cầu

Một chủ đề khác trong tài liệu nghiên cứu ban đầu về tác động của nền kinh tế kỹ thuật số đối với các mô hình đầu tư quốc tế liên quan đến tầm quan trọng ngày càng tăng của cơ sở hạ tầng kỹ thuật số đối với khả năng thu hút vốn đầu tư của các nước Theo nghiên cứu của De Backer, K và D Flaig, 2017, giống như nền kinh tế kỹ thuật số đã đóng một vai trò trung tâm trong việc tạo điều kiện cho sự xuất hiện và lan rộng của các chuỗi giá trị toàn cầu, khả năng của các quốc gia cung cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật số cần thiết cho mạng lưới sản xuất quốc tế chuyên sâu hơn về kỹ thuật số dự kiến sẽ trở thành một yếu tố mới ngày càng quan trọng đối với các quyết định địa điểm đầu tư của MNE

Trang 11

Nghiên cứu của Bughin et al, 2013 cho biết, mặc dù nền kinh tế kỹ thuật số sẽ tiếp tục có những tác động biến đổi và đột phá đối với các doanh nghiệp, nhưng sự gián đoạn lớn đối với các công ty đa quốc gia và xu hướng đầu tư quốc tế, như sự sụt giảm trong việc sử dụng vốn FDI của các công ty như một phương thức tiếp cận thị trường, vẫn tiếp tục được nghiên cứu Các công nghệ kỹ thuật số đã tạo ra các doanh nghiệp mới và các

mô hình kinh doanh quốc tế cho phép một số doanh nghiệp xây dựng sự hiện diện toàn cầu mà không cần nguồn vốn FDI đáng kể Điều này được phản ánh trong sự đóng góp khiêm tốn của các công ty kỹ thuật số vào dòng vốn đầu tư xuyên biên giới (hình 1) Mặc dù chiếm khoảng 6 nghìn tỷ USD đầu tư vốn kỹ thuật số vào năm 2013 (Bughin et

al, 2013), các công ty kỹ thuật số thực hiện 153 tỷ USD M & A xuyên biên giới trong năm 2017 (13% tổng số M & A xuyên biên giới)

Các nghiên cứu của Nachum và Zaheer (2002, 2005) nhận thấy rằng FDI nhằm tìm kiếm hiệu quả và tìm kiếm tài sản tri thức vô hình là động lực quan trọng nhất đối với FDI kỹ thuật số, trong khi đầu tư tìm kiếm thị trường và tìm kiếm tài nguyên ít liên quan hơn nhiều so với các ngành truyền thống Một số nghiên cứu liên quan đã phân tích tác động của CNTT và công nghệ số đối với việc quản trị chuỗi giá trị toàn cầu Foster và Graham (2016) đã xem xét cách các công nghệ kỹ thuật số dựa trên internet định hình các mạng sản xuất toàn cầu hiện đại, nhằm kết hợp các tiến bộ kỹ thuật số trong các khung lý thuyết hiện có Rangan và Sengul (2009) cho rằng việc áp dụng CNTT-TT tạo điều kiện kiểm soát việc thuê ngoài và các mối quan hệ phi tài sản khác, thông qua trao đổi thông tin liên tục Nghiên cứu của Chen và Kamal (2016) đã chỉ ra liên kết CNTT với sản xuất nội bộ và thương mại nội bộ cao hơn Từ góc độ thương mại thuần túy, Cassetta, Meleo và Pini (2016) cho rằng việc áp dụng và sử dụng các công nghệ kỹ thuật số ảnh hưởng tích cực đến hành vi xuất khẩu của các doanh nghiệp

3 Mục tiêu nghiên cứu:

- Mục tiêu tổng quát: nghiên cứu và đề xuất gợi ý chính sách thu hút FDI trong nền kinh tế kỹ thuật số

Trang 12

+ Đặc trưng của FDI trong nền kinh tế kỹ thuật số là gì? khác biệt gì với FDI trong nền kinh tế truyền thống

+ Chính sách gì để thu hút FDI trong nền kinh tế kỹ thuật số ?

4 Nội dung nghiên cứu chủ yếu:

- Tác động của nền kinh tế kỹ thuật số đến dòng vốn FDI

- Nghiên cứu tìm ra những đặc điểm mới của dòng vốn FDI trong nền kinh tế số

- Nghiên cứu thực trạng FDI của Việt Nam và hoạt động FDI trong các lĩnh vực

kinh tế kỹ thuật số của Việt Nam

- Đề xuất một số hàm ý chính sách của Việt Nam trong thu hút và sử dụng FDI

dưới tác động của xu hướng hình thành nền kinh tế số

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: FDI và nền kinh tế số và chính sách thu hút FDI tại Việt Nam trong xu hướng nền kinh tế số

Phạm vi nghiên cứu: từ năm 2000 đến năm 2018

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, so sánh, phân tích Nguồn tư liệu: Số liệu được thu thập từ các nguồn chính thống như: Bộ kế hoạch và đầu tư, Tổng cục thống kê của Việt Nam; Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF); Số liệu sơ cấp: được thu thập từ khảo sát điều tra tại các khu công nghiệp, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công thương, Bộ kế hoạch Đầu tư

Trang 13

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ SỐ VÀ FDI

TRONG NỀN KINH TẾ SỐ 1.1 Những đặc trưng của nền kinh tế số

1.1.1 Tổng quan về nền kinh tế kỹ thuật số

Các định nghĩa ban đầu về kinh tế số tập trung đặc biệt vào Internet; phản ánh sự xuất hiện của nó trong những năm 1990 như là một công nghệ chủ đạo Các định nghĩa sau này thêm các công nghệ mới như mạng di động và mạng cảm biến và điện toán đám mây và dữ liệu lớn

Trong vài năm qua, các cuộc thảo luận về nền kinh tế số đã thay đổi, tập trung nhiều hơn vào cách thức công nghệ kỹ thuật số, dịch vụ, sản phẩm, kỹ thuật và cách thức lan tỏa trên khắp các nền kinh tế Quá trình này thường được gọi là số hóa, được định nghĩa

là sự chuyển đổi của các doanh nghiệp thông qua việc sử dụng các công nghệ, sản phẩm

kỹ thuật số và dịch vụ Sản phẩm kỹ thuật số và các dịch vụ đang tạo điều kiện cho sự thay đổi nhanh chóng hơn một phạm vi rộng hơn của các lĩnh vực thay vì bị giới hạn cho những lĩnh vực công nghệ cao từng là trọng tâm chính trước đây

Nền “kinh tế kỹ thuật số” đôi khi được định nghĩa hẹp như là các nền tảng trực tuyến và các hoạt động mà sự tồn tại của chúng dựa trên các nền nền tảng trực tuyến đó, tuy nhiên, nếu theo một nghĩa rộng, tất cả các hoạt động mà sử dụng dữ liệu kỹ thuật số

là bộ phận của nền kinh tế kỹ thuật số Nếu dựa vào việc sử dụng số liệu kỹ thuật số, nền kinh tế kỹ thuật số có thể bao gồm một bộ phận lan tràn vô cùng lớn của hầu hết các nền kinh tế, trải rộng từ nông nghiệp đến nghiên cứu và phát triển (R&D)

Cách khắc phục hạn chế này là khám phá chính các thành phần của nền kinh tế kỹ thuật số Với công nghệ kỹ thuật số làm nền tảng, nền kinh tế kỹ thuật số đang ngày càng trở nên không thể tách rời khỏi chức năng của kinh tế nói chung Các công nghệ khác nhau và khía cạnh kinh tế của nền kinh tế kỹ thuật số có thể là chia thành ba thành phần:

• Các khía cạnh cốt lõi hoặc các khía cạnh nền tảng của nền kinh tế kỹ thuật số, bao gồm cơ bản đổi mới (chất bán dẫn, bộ xử lý), công nghệ cốt lõi (máy tính, viễn thông thiết bị) và cho phép cơ sở hạ tầng (Mạng Internet và viễn thông)

Trang 14

• Công nghệ thông tin và kỹ thuật số (CNTT) lĩnh vực sản xuất các sản phẩm chính hoặc dịch vụ dựa trên công nghệ kỹ thuật số cốt lõi, bao gồm các nền tảng kỹ thuật số, ứng dụng di động và dịch vụ thanh toán Nền kinh tế Kỹ thuật số bị ảnh hưởng ở mức

độ cao dịch vụ sáng tạo trong các lĩnh vực này, trong đó đang đóng góp ngày càng tăng cho các nền kinh tế, cũng như cho phép lan tỏa tiềm năng ảnh hưởng đến các ngành khác

• Một tập hợp rộng hơn các lĩnh vực số hóa, trong đó bao gồm những nơi mà các sản phẩm kỹ thuật số và các dịch vụ đang được sử dụng ngày càng nhiều (ví dụ: thương mại điện tử) Ngay cả khi thay đổi là gia tăng, nhiều lĩnh vực của nền kinh tế đang được

số hóa theo cách này Điều này bao gồm kỹ thuật số các ngành được kích hoạt trong đó các hoạt động mới hoặc mô hình kinh doanh đã xuất hiện và đang được chuyển đổi như

là kết quả của công nghệ kỹ thuật số Ví dụ bao gồm tài chính, truyền thông, du lịch và vận tải

Các định nghĩa về nền kinh tế số có xu hướng được liên kết chặt chẽ với các thành phần nêu ở trên Chúng ta có thể gọi cốt lõi này là lĩnh vực kỹ thuật số thường được gọi

là lĩnh vực CNTT-TT Một sự kết hợp giữa các ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ thu thập, truyền tải và hiển thị dữ liệu và thông tin điện tử, bao gồm:

- Hàng hóa: sản xuất hàng tiêu dùng CNTT-TT như phần cứng máy tính và viễn thông

kỹ thuật số, cộng với hàng hóa sản xuất CNTT-TT: cả hàng hóa vốn (ví dụ máy móc tự động để sản xuất PC) và hàng hóa trung gian (chip, bo mạch chủ, ổ đĩa cứng, ổ đĩa DVD, v.v trong sản xuất máy tính)

- Phần mềm: thiết kế, sản xuất, tiếp thị, vv của phần mềm đóng gói và tùy chỉnh

- Cơ sở hạ tầng: "phát triển và vận hành cho phép cơ sở hạ tầng mạng" (Wong 1998: 325); cả viễn thông nền tảng cộng với các dịch vụ mạng giá trị gia tăng

- Dịch vụ: dịch vụ chuyên nghiệp không nằm trong các danh mục khác như dịch vụ tư vấn, đào tạo và kỹ thuật

- Bán lẻ: bán, bán lại và phân phối hàng hóa CNTT-TT, phần mềm và cơ sở hạ tầng và các dịch vụ liên quan

- Nội dung: sản xuất và phân phối nội dung dữ liệu, bao gồm xử lý và số hóa văn phòng

Trang 15

Nền kinh tế kỹ thuật số có thể được định nghĩa là rộng hơn lĩnh vực kỹ thuật số Theo định nghĩa rộng nhất, tổng thể về nền kinh tế kỹ thuật số bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế được kích hoạt kỹ thuật số Nhưng điều này đặt ra một vấn đề: Nền kinh tế

kỹ thuật số ngày càng trở nên đan xen với nền kinh tế truyền thống tạo ra sự khác biệt giữa chúng ít rõ ràng hơn và việc phân định rõ ràng nền kinh tế kỹ thuật số ngày càng khó khăn hơn

Để giải quyết vấn đề này, chúng ta sẽ không đề cập đến phạm vi rộng lớn này - bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế dựa trên công nghệ kỹ thuật số - như nền kinh tế

kỹ thuật số, nhưng, thay vào đó, là nền kinh tế số hóa Định nghĩa phạm vi rộng này bao gồm kinh doanh điện tử (giao dịch kinh doanh hỗ trợ CNTT-TT) và tập hợp con, thương mại điện tử (giao dịch kinh doanh bên ngoài hỗ trợ CNTT-TT), ra quyết định thuật toán trong kinh doanh, sử dụng công nghệ tự động hóa kỹ thuật số trong sản xuất và nông nghiệp bao gồm Công nghiệp 4.0 và nông nghiệp chính xác, v.v

Thông qua cách tiếp cận này, nền kinh tế kỹ thuật số sẽ đại diện cho tất cả các ứng dụng rộng rãi của công nghệ kỹ thuật số cộng với việc sản xuất các công nghệ kỹ thuật

số đó Nó sẽ bao gồm lĩnh vực kỹ thuật số và các yếu tố rộng hơn được trình bày trong Hình 1: các dịch vụ kỹ thuật số, bán lẻ và các hoạt động nội dung Và nó sẽ bao gồm một số phần của hiện tượng mới nổi - nền kinh tế nền tảng, nền kinh tế biểu diễn, nền kinh tế chia sẻ - nơi mà những hoạt động kinh tế mới không tồn tại trước đó là công nghệ kỹ thuật số Ví dụ, các công ty dựa trên nền tảng sẽ được bao gồm Điều này dễ thấy với các công ty như Facebook và Google chỉ là kỹ thuật số; ít rõ ràng hơn với các nền tảng giao dịch hàng hóa hữu hình như Amazon, eBay hoặc Alibaba; và đạt được lợi thế mờ nhạt với các công ty như Airbnb và Uber Nhưng chúng ta sẽ định nghĩa cái sau nằm trong định nghĩa nền kinh tế kỹ thuật số của chúng tôi bởi vì chúng không phải là công ty lưu trú hoặc công ty taxi; chúng là các nền tảng kỹ thuật số và chúng được xây dựng trên các sáng kiến kỹ thuật số và mô hình kinh doanh số

Do đó, dựa trên khái niệm mở rộng này, chúng ta định nghĩa nền kinh tế kỹ thuật

số là một phần của sản lượng kinh tế có nguồn gốc duy nhất hoặc chủ yếu từ các công nghệ kỹ thuật số với mô hình kinh doanh dựa trên hàng hóa hoặc dịch vụ kỹ thuật số Định nghĩa có một ranh giới mờ nhưng nó cũng đủ linh hoạt để kết hợp đổi mới mô hình kinh doanh kỹ thuật số và kỹ thuật số theo thời gian Nó bao gồm cả lĩnh vực kỹ thuật

Trang 16

số cốt lõi và phạm vi hoạt động kỹ thuật số rộng lớn hơn, mà không cho rằng tất cả hoạt động số hóa là một phần của nền kinh tế kỹ thuật số

Nếu như phạm vi lõi và hẹp của nền kinh tế số liên quan đến lĩnh vực chế tạo công nghệ thông tin và truyền thông, bao gồm nhiều dịch vụ kỹ thuật số khác nhau và các dịch vụ kinh tế nền tảng thì phạm vi rộng bao gồm việc sử dụng các công nghệ kỹ thuật

số khác nhau để thực hiện các hoạt động như kinh doanh điện tử, thương mại điện tử, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, kinh tế chia sẻ và các nền tảng lao động trực tuyến

Hình 1.1: Mô hình nền kinh tế kỹ thuật số

Nguồn: UNCTAD 2017

Nền kinh tế số phát triển hiện nay là kết quả của sự phát triển và ứng dụng các công nghệ mới trong nhiều thập kỷ qua Các cột mốc quan trọng đánh dấu sự đổi mới công nghệ bao gồm sự xuất hiện của máy tính cá nhân vào giữa những năm 1980, sự trưởng thành của công cụ thiết kế kỹ thuật số và thiết bị sản xuất robot trong thập niên

1990, sự bùng nổ của hoạt động gia công và thuê ngoài phần mềm vào đầu thế kỷ 21, năng lực ngày càng tăng của các công ty đa quốc gia trong việc cải thiện khả năng tương tác và phối hợp nhằm sử dụng tốt hơn hệ thống công nghệ thông tin Ngày nay, hội nhập chuỗi cung ứng đang diễn ra như là một phần của sự phát triển của hệ thống kinh doanh

số Ngoài ra, khi bàn về nền kinh tế số, không thể không nhắc tới cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Cuộc cách mạng này là sự kết hợp giữa công nghệ, thông tin liên lạc và cơ sở hạ tầng Sự mở rộng của hàng loạt thiết bị CNTT, đặc biệt là phần mềm, ngày càng trở nên quan trọng trong sản xuất, dịch vụ, vận tải và thậm chí là lĩnh vực nông nghiệp

Nền kinh tế số tổng thể

1 Thương mại điện tử

2 Nội dung số

3 Giải pháp số

4 Các nền tảng Internet

Ngành ICT/ Hạ tầng CNTT (phần cứng

và phần mềm, dịch

vụ viễn thông)

Trang 17

1.1.2 Xu hướng phát triển nền kinh tế số trên thế giới

Sự phát triển của nền kinh tế số thời gian gần đây gắn liền với (i) xu hướng gia tăng công nghệ kỹ thuật số; (ii) sự phát triển của thương mại điện tử và (iii) sự gia tăng vai trò của các công ty công nghệ

- Thứ nhất, xu hướng gia tăng công nghệ kỹ thuật số

Một số công nghệ cốt lõi giúp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế số, bao gồm: công nghệ chuỗi khối, công nghệ in 3D, internet vạn vật (IOT), mạng di động 5G, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa và robot

Công nghệ chuối khối (Blockchain) là một dạng của công nghệ sổ cái phân tán

cho phép nhiều bên tham gia vào các giao dịch an toàn, đáng tin cậy mà không cần thông qua bên trung gian Giá trị kinh doanh chuỗi khối, theo dự báo của WTO (2018), sau thành công trong giai đoạn đầu 2019-2021 sẽ còn tiếp tục gia tăng trong giai đoạn 2022-

2026 với sự đầu tư tập trung và các mô hình thành công hơn Giá trị kinh doanh trong giai đoạn 2027-2030 được kỳ vọng sẽ bùng nổ lên mức 3 nghìn tỷ USD trên phạm vi toàn cầu

Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối một mặt được biết đến với vai trò đứng đằng sau của tiền ảo, mặt khác cũng liên quan rất lớn đến nhiều lĩnh vực quan trọng khác của các nước đang phát triển, như nhận dạng kỹ thuật số, quyền sở hữu trí tuệ, giải ngân viện trợ

Công nghệ in 3D còn được gọi là công nghệ sản xuất cộng Sự đột phá về công

nghệ này cho phép giảm chi phí và thời gian sản xuất, cùng với việc sử dụng robot thậm chí sẽ dẫn đến dư thừa nhân công trong các công ty sản xuất lớn Điều đó có thể gây thiệt hại đáng kể đối với các quốc gia đang phát triển vốn có lợi thế về nhân công giá rẻ

Ở một khía cạnh khác, sự mở rộng của công nghệ in 3D sẽ tạo áp lực khiến các quốc gia đang phát triển đầu tư cho giáo dục nhằm nâng cao trình độ đội ngũ lao động của quốc gia mình

Internet vạn vật (IoT) đề cập đến linh vực gia tăng không ngừng của của các thiết

bị kết nối internet cho phép gửi và nhận nhiều loại dữ liệu khác nhau IoT được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, chẳng hạn gắn mác trong quy trình sản xuất, lĩnh vực kho bãi và logistic, theo dõi đất và điều kiện thời tiết trong nông nghiệp Trong năm 2018,

Trang 18

có hơn 8,6 tỷ “vật” kết nối Internet so với mức 5,7 tỷ đăng ký băng thông rộng di động của con người Số lượng kết nối IoT được dự báo sẽ tăng trưởng ở mức 17% và đạt hơn

22 tỷ trong năm 2024 Nhóm 7 nước nằm trong tốp đầu, bao gồm Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Pháp và Anh, chiếm gần 75% chi tiêu toàn cầu cho IoT (trong đó

Mỹ và Trung Quốc chiếm tới 50% tổng mức chi tiêu toàn cầu)

Thị trường IoT toàn cầu dự kiến sẽ tăng gấp 10 lần từ 151 tỷ USD năm 2018 đến

1567 tỷ USD vào năm 2025 Ước tính vào năm 2025, một người kết nối trung bình trên thế giới sẽ tương tác với các thiết bị IoT gần 4900 lần mỗi ngày, hoặc tương đương với một tương tác cứ sau 18 giây Điều này thể hiện sự gia tăng theo cấp số nhân khi so sánh với mức 298 lần mỗi ngày trong năm 2010 và 584 trong năm 2015 (IDC, 2018) Như vậy tăng trưởng nhanh chóng trong việc sử dụng IoT sẽ tạo ra thêm mở rộng dữ liệu số

Mạng di động 5G: Công nghệ không dây 5G được kỳ vọng sẽ đóng vai trò quan

trọng đối với IoT bởi khả năng xử lý tốt hơn khối lượng lớn dữ liệu so với các công nghệ thế hệ trước Mạng 5G có thể xử lý dữ liệu gấp khoảng 1000 lần so với các hệ thống hiện nay (Afolabi và cộng sự, 2018) Đặc biệt, nó cung cấp khả năng kết nối trên nhiều thiết bị hơn Theo dự báo, đến năm 2025, Mỹ, Châu Âu và châu Á Thái Bình Dương sẽ dẫn đầu trong việc phủ sóng 5G (Deloitte, 2019) Nhằm tối đa hóa ảnh hưởng của IoT tại các nước đang phát triển, cần thiết phải có sự đầu tư đáng kể vào cơ sở hạ tầng 5G Lý do dược Deloitte (2019) đưa ra là chênh lệch rất lớn giữa các nước phát triển và đang phát triển trong việc đầu tư và phát triển hệ thống công nghệ, trong đó có công nghệ 5G Theo dự báo, tỷ trọng của mạng 5G trong tổng số kết nối tại Hàn Quốc vào năm 2025 dự kiến sẽ là 59% trong khi con số tương ứng ở Châu Mỹ La Tinh và tiểu

vùng cận Sahara Châu Phi là 8% và 3%

Điện toán đám mây liên quan đến tốc độ internet cao hơn, qua đó làm giảm đáng

kể độ trễ giữa người dùng và các trung tâm dữ liệu ở xa Nhờ có điện toán đám mây, chi phí lưu trữ dữ liệu cũng giảm mạnh Điện toán đám mây đang chuyển đổi mô hình kinh doanh bởi nó làm giảm nhu cầu chuyên gia công nghệ thông tin, cung cấp sự linh hoạt cho việc triển khai, bảo trì các ứng dụng nhất định (UNCTAD, 2013) Một số dịch vụ điện toán đám mây miễn phí còn cung cấp các công cụ ứng dụng văn phòng hữu ích cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Điều này đặc biệt hữu ích cho các quốc gia nơi mà chi phí mua phần mềm có bản quyền có thể là trở ngại đối với việc tạo ra các ứng dụng và

Trang 19

cung cấp dịch vụ Tuy nhiên, tại nhiều nước đang phát triển, chi phí đầu tư lớn cho việc phát triển băng thông quốc tế nhằm truy cập máy chủ và dữ liệu ở nước ngoài có thể là nhân tố hạn chế sự phát triển của dịch vụ đám mây

Trí tuệ nhân tạo

Trí tuệ nhân tạo là một khái niệm phức tạp, dùng để chỉ khả năng nhận thức và suy nghĩ của máy móc giống như con người nhờ vào việc sử dụng các thuật toán và dữ liệu

số Trí tuệ nhân tạo được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như nhận dạng giọng nói và nhiều sản phẩm thương mại Công nghệ này có khả năng đóng góp cho sản lượng kinh

tế toàn cầu 13 nghìn tỷ USD vào năm 2030, tương đương 1,2% tăng trưởng GDP hàng năm (ITU, 2018) Chênh lệch trong khả năng tiếp cận công nghệ giữa các quốc gia một lần nữa lại là nhân tố ảnh hưởng tới mức độ hưởng lợi của mỗi quốc gia (theo ITU, 2018) Nếu như Trung Quốc và Hoa Kỳ đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc thu được lợi ích kinh tế lớn nhất từ trí tuệ nhân tạo thì có thể thấy rõ ràng lợi ích đạt được đối với khu vực châu Phi và Mỹ La Tinh là thấp nhất

Tự động hóa và robot

Công nghệ tự động hóa và robot đang ngày càng được sử dụng nhiều trong sản xuất Điều đó có ảnh hưởng đáng kể đến việc làm của người lao động, đặc biệt tại các nước đang phát triển Với việc ứng dụng những công nghệ hiện đại như vậy, các nước phát triển có thể sẽ tự sản xuất những hàng hóa mà trước đây phải nhập từ các nước đang phát triển Điều đó sẽ ảnh hưởng lớn đến chiến lược công nghiệp hóa sản xuất theo hướng xuất khẩu của các nước đang phát triển (UNTACD, 2017)

Theo số liệu của Liên đoàn robot quốc tế IFoR (2018), doanh số của ngành công nghiệp robot trên toàn cầu đã tăng gấp đôi trong giai đoạn 2013-2017 Xu hướng này được dự báo sẽ còn tiếp tục, với doanh số 381.300 chiếc trong năm 2017 tăng lên 630.000 đơn vị vào năm 2021 Năm thị trường hàng đầu (bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ và Đức) chiếm 73% tổng doanh số bán hàng của ngành công nghiệp robot trong năm 2017 Trung Quốc có nhu cầu về robot lớn nhất, chiếm 36%, sử dụng chủ yếu trong ngành công nghiệp ô tô, công nghiệp điện/điện tử và kim loại

- Thứ hai, sự phát triển của thương mại điện tử

Trang 20

Thương mại điện tử là việc mua bán hàng hóa, dịch vụ online, bao gồm các giao dịch thông qua các công ty dựa trên nền tảng công nghệ Đây là một cấu thành quan trọng của nền kinh tế số Theo số liệu thống kê của UNTACD (2019), tổng giá trị thương mại trên toàn thế giới trong năm 2017 là 29 nghìn tỷ USD (tăng 13% so với năm 2016), chiếm 36% tổng GDP toàn cầu

Thương mại điện tử đem lại lợi ích cho người tiêu dùng do có cơ hội lựa chọn nhiều hàng hóa hơn với chi phí rẻ hơn Tỷ lệ mua sắm online tăng qua các năm Số liệu thống kê trong giai đoạn 2015-2017 là minh chứng cho điều đó Khoảng 1,3 tỷ người trên thế giới (chiếm ¼ dân số từ 15 tuổi trở lên) đã mua sắm online vào năm 2017, cao hơn 12% so với năm 2016 Mức tăng của 2016 so với năm 2015 cũng xấp xỉ con số đó

Nguồn: UNTACD (2019)

Hình 1.2: Thương mại điện tử toàn cầu, 2015-2017 (Đơn vị: Triệu USD)

Trong khi hầu hết người tiêu dùng mua hàng online chọn mua sắm hàng hóa từ những nhà cung ứng nội địa, tỷ lệ lựa chọn mua sắm từ nước ngoài có chiều hướng gia tăng Khoảng 277 triệu người đã lựa chọn hình thức mua sắm hàng hóa từ nước ngoài trong năm 2017, chiếm tỷ lệ 21% so với mức 15% của năm 2015

- Thứ ba, gia tăng các công ty công nghệ trong bối cảnh kinh doanh toàn cầu

Tác động chuyển đổi của số hóa trở nên rõ ràng khi tiến hành xem xét mức độ quan trọng ngày càng gia tăng của một số ít công ty công nghệ và nền tảng công nghệ lớn trong vòng một thập kỷ trở lại đây Tìm hiểu về 20 công ty hàng đầu thế giới trong giai đoạn 2009-2018 cho thấy xu hướng thay đổi đáng kể đó Trong năm 2009, 7 công

ty trong lĩnh vực dầu mỏ, khí đốt và khai khoáng nằm trong tốp 20 công ty hàng đầu (chiếm 35%), trong khi đó số công ty thuộc lĩnh vực công nghệ và dịch vụ khác hàng, bao gồm cả các ứng dụng nền tảng công nghệ chỉ là 3 và số lượng công ty thuộc lĩnh

Trang 21

vực tài chính cũng tương đương 3 Đến năm 2018, đã có sự thay đổi đáng kể khi số lượng công ty công nghệ và dịch vụ khách hàng, công ty tài chính nằm trong tốp 20 công ty hàng đầu đã lên tới con số tương ứng là 8 và 7 Ở chiều hướng ngược lại, chỉ có

2 công ty thuộc lĩnh vực dầu mỏ, khí đốt và khai khoáng còn nằm trong tốp 20 Hơn nữa, trong số 10 công ty hàng đầu trong năm 2018, chỉ có 2 công ty thuộc tốp 10 của năm 2009 4 trong số 10 công ty hàng đầu năm 2018 bao gồm Amazon, Alibaba, Facebook và Tencent thậm chí còn không nằm trong tốp 100 của năm 2009

Sự chuyển đổi đáng kể còn được thể hiện rất rõ qua chỉ số vốn hóa thị trường Trong năm 2009, các công ty thuộc lĩnh vực dầu mỏ, khai khoáng chiếm 36% tổng giá trị vốn hóa thị trường của tốp 20 công ty hàng đầu, tiếp theo là các công ty thuộc lĩnh vực tài chính với tỷ lệ 18%, trong khi tỷ trọng của các công ty công nghệ và dịch vụ khách hàng là 16% Đến năm 2018, tỷ trọng của các công ty thuộc nhóm cuối cùng đã

là 56%, các công ty tài chính tăng lên mức 27%, trong khi con số tương ứng của các công ty thuộc lĩnh vực dầu mỏ và khai khoáng là 7% (PwC, 2018)

Nguồn: PwC (2018)

Hình 1.3: Top 20 công ty hàng đầu thế giới tính theo giá trị vốn hóa thị trường 2009, 2018

Về phân bổ địa lý, kinh tế số tập trung cao tại Hoa Kỳ và Trung Quốc Hai quốc gia này nắm giữ 90% giá trị vốn hoá thị trường của 70 nền tảng kinh tế số lớn nhất thế giới

Trang 22

Trung Quốc và Hoa Kỳ sở hữu:

1.2 Hoạt động đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế

1.2.1 Những thay đổi của đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế số

Nền kinh tế toàn cầu đang thay đổi cùng với sự gia tăng của các MNE công nghệ

và kỹ thuật số Quá trình chuyển đổi của nền kinh tế toàn cầu được thúc đẩy bởi các cuộc cách mạng số trong cả sản xuất và tiêu dùng Sự lạc quan trong thúc đẩy phục hồi kinh tế, sự thay vđổi công nghệ đang thay đổi phương thức sản xuất hàng hóa và dịch

vụ, mở đường cho một cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư đang tác động mạnh đến xã hội nói chung (Schwab, 2016) Nền kinh tế kỹ thuật số đang trở thành một phần ngày càng quan trọng của sự chuyển đổi này

Nền kinh tế kỹ thuật số là quá trình áp dụng các công nghệ dựa trên internet vào sản xuất và thương mại hàng hóa và dịch vụ Phát triển kinh tế số là sử dụng công nghệ

số và dữ liệu để tạo ra những mô hình kinh doanh mới, tạo ra sản phẩm, dịch vụ số hoặc hỗ trợ cung cấp dịch vụ số cho doanh nghiệp, với sự hội tụ loạt công nghệ mới (điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo ) trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0

Trong nền kinh tế số, các doanh nghiệp sẽ đổi mới quy trình sản xuất, kinh doanh sang mô hình theo hệ sinh thái, liên kết từ khâu sản xuất, thương mại đến tiêu dùng và góp phần tăng năng suất lao động

Dựa vào cơ sở hạ tầng được cung cấp bởi các công ty công nghệ thông tin, các hoạt động của MNEs kỹ thuật số dựa trên Internet hoặc liên kết chặt chẽ với internet Các MNE này bao gồm các nhà cung cấp nền tảng internet, thương mại điện tử, giải pháp kỹ thuật số và nội dung số Tầm quan trọng của các công ty kỹ thuật số này so với các MNE truyền thống đang tăng lên nhanh chóng Tuy nhiên, dấu ấn quốc tế của họ khác về cơ bản so với các MNE truyền thống: họ có thể tiếp cận thị trường nước ngoài với ít tài sản hơn và ít nhân viên hơn ở nước ngoài Do đó, tác động kinh tế (ví dụ như:

75% mô hình blockchain 50% chi tiêu cho IoT 75% thị trường điện toán đám mây

Trang 23

về vốn đầu tư vật chất và tạo việc làm) của họ đối với các nước sở tại ít được nhìn thấy trực tiếp Hoạt động quốc tế của họ cũng khác với các MNE truyền thống trong một số lĩnh vực: họ có xu hướng nắm giữ nhiều tài sản thanh khoản hơn và họ có nhiều cơ hội hơn để khai thác hiệu quả về thuế Ngoài ra, không giống như các MNE truyền thống, hầu hết các MNE kỹ thuật số đều có trụ sở tại một số ít quốc gia, tập trung cao ở Hoa

Kỳ

Câu hỏi cơ bản cho nghiên cứu và phân tích chính sách là bằng cách nào, số hóa đang thay đổi các chiến lược quốc tế hóa của MNEs Số hóa có thể dẫn đến sự rút lui của FDI hay không, vì nó cho phép MNE hoạt động trên toàn cầu và tham gia vào thị trường nước ngoài mà không cần có sự hiện diện thực sự (Eden, 2016; McKinsey Global Institute, 2016) Về lý thuyết, số hóa có thể làm mờ nhạt sự hiện diện tài sản nước ngoài của MNE theo hai cách:

• Chợ trực tuyến: Các MNE truyền thống tiếp cận người tiêu dùng nước ngoài ở các khu vực hạ nguồn của chuỗi giá trị thông qua vốn FDI tìm kiếm thị trường (ví dụ: chuỗi phân phối bán lẻ hoặc hoạt động tiếp thị và bán hàng) hoặc thông qua xây dựng các hoạt động sản xuất ở nước ngoài bán thông qua các nhà phân phối trong nước MNE

kỹ thuật số có thể phân phối với nhiều nỗ lực khác Họ tiếp cận người tiêu dùng trực tuyến và thường phân phối thông qua các kênh của bên thứ ba Ở các thị trường nhỏ hơn, họ thường chỉ duy trì các văn phòng công ty địa phương, nhằm mục đích tối thiểu hoá văn phòng đại diện

• Chuỗi giá trị kỹ thuật số: Số hóa không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động phân phối tiêu dung mà tác động mạnh vào quá trình sản xuất Số hóa sản xuất và hoạt động đang diễn ra dưới nhiều hình thức: sản phẩm và dịch vụ kỹ thuật số đầy đủ (ví dụ: nền tảng internet), sản phẩm vật lý số hóa (ví dụ nội dung số) và số hóa các phần được chọn của quy trình sản xuất Trong tất cả các hình thức này, một số hoặc tất cả chuỗi giá trị là kỹ thuật số, được sinh ra bằng kỹ thuật số hoặc chuyển từ vật lý sang kỹ thuật số Các hoạt động diễn ra chủ yếu trên internet và do đó là vô hình và xuyên quốc gia (hoặc thậm chí không quốc tịch) theo bản chất Trong bối cảnh này, một số động lực truyền thống cho FDI suy yếu hoặc có thể không đủ để bù đắp chi phí địa điểm hoặc các vấn đề phối hợp

và quản trị liên quan đến FDI Những động lực này ảnh hưởng chủ yếu đến hiệu quả -

Trang 24

tìm kiếm vốn đầu tư, ví dụ như được thúc đẩy bằng cách giảm chi phí lao động hoặc chi phí thương mại

Để định hình nền kinh tế số, UNCTAD đã phân chia các MNE trong nền kinh tế

kỹ thuật số thành hai loại Nền tảng của nó là các công ty công nghệ thông tin cung cấp

cơ sở hạ tầng và các công cụ giúp internet có thể truy cập được bởi các cá nhân và doanh nghiệp Cốt lõi của nó được đại diện bởi các công ty kỹ thuật số, đặc trưng bởi vai trò trung tâm của internet trong mô hình hoạt động và phân phối Cuối cùng, nền kinh tế rộng lớn dựa trên cơ sở hạ tầng kỹ thuật số và nội dung số trong quá trình số hóa các hoạt động truyền thống

1 MNE kỹ thuật số được đặc trưng bởi vai trò trung tâm của internet trong mô hình vận hành và phân phối Loại hình này bao gồm các doanh nghiệp kỹ thuật số thuần túy (nền tảng internet và nhà cung cấp giải pháp kỹ thuật số) hoạt động hoàn toàn trong môi trường kỹ thuật số và các trình phát hỗn hợp (thương mại điện tử và nội dung số) kết hợp một khía cạnh kỹ thuật số nổi bật với một khía cạnh vật lý

a Nền tảng Internet: các doanh nghiệp được sinh ra bằng kỹ thuật số, được vận hành và phân phối qua internet, ví dụ: công cụ tìm kiếm, mạng xã hội và các nền tảng khác, chẳng hạn như để chia sẻ

b Giải pháp kỹ thuật số: các trình phát và kỹ thuật số dựa trên internet khác, chẳng hạn như các nhà khai thác thanh toán điện tử và kỹ thuật số, trình phát đám mây và các nhà cung cấp dịch vụ khác

c Thương mại điện tử: các nền tảng trực tuyến cho phép giao dịch thương mại, bao gồm các nhà bán lẻ internet và các công ty du lịch trực tuyến Phân phối có thể là

kỹ thuật số (nếu nội dung của giao dịch là kỹ thuật số) hoặc vật lý (nếu nội dung là hữu hình)

d Nội dung số: nhà sản xuất và phân phối hàng hóa và dịch vụ ở định dạng kỹ thuật số, bao gồm cả phương tiện kỹ thuật số (ví dụ: video và TV, âm nhạc, sách điện tử) và trò chơi, cũng như dữ liệu và phân tích Nội dung số có thể được phân phối qua internet mà còn thông qua các kênh khác (ví dụ: truyền hình cáp)

Trang 25

2 MNEs CNTT cung cấp cơ sở hạ tầng cho phép internet có thể truy cập được cho các cá nhân và doanh nghiệp Họ bao gồm các công ty CNTT bán phần cứng và phần mềm, cũng như các công ty viễn thông

a CNTT: nhà sản xuất thiết bị và linh kiện (phần cứng), nhà phát triển phần mềm

và nhà cung cấp dịch vụ CNTT

b Viễn thông: nhà cung cấp hạ tầng và kết nối viễn thông

Các công ty kỹ thuật số bao gồm những chủ thể chuyên nghiệp trong các hoạt động

kỹ thuật số thuần túy (nền tảng internet và nhà cung cấp giải pháp kỹ thuật số) hoạt động hoàn toàn trong môi trường kỹ thuật số và những doanh nghiệp hỗn hợp (thương mại điện tử và kỹ thuật số) kết hợp khía cạnh kỹ thuật số nổi bật với khía cạnh vật lý Các nền tảng internet (công cụ tìm kiếm, mạng xã hội và các nền tảng khác) là những công ty cung cấp dịch vụ kỹ thuật số thông qua internet và các nền tảng dựa trên đám mây; ví dụ công cụ tìm kiếm và mạng xã hội Các nền tảng khác bao gồm chia sẻ nền tảng kinh tế, ví dụ: nền tảng giao dịch (eBay) và nền tảng nguồn mở (Red Hat) Các danh mục giải pháp kỹ thuật số (thanh toán điện tử và kỹ thuật số, các giải pháp kỹ thuật

số khác trong công nghệ đám mây) mô tả nhiều người chơi khác nhau với các hoạt động cốt lõi dựa trên hoặc liên kết chặt chẽ với các công nghệ internet Trong số đó: lưu trữ đám mây và điện toán, lưu trữ web và dịch vụ email, thanh toán điện tử và trực tuyến

và các giải pháp kỹ thuật số cho quản lý doanh nghiệp và cho các ứng dụng tài chính (fintech)

Công nghệ di động đang thay đổi cách thức người dân sống và làm việc, cung cấp cho họ khả năng tiếp cận tốt hơn đến các thị trường và những cơ hội mới Nó không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của một số lượng người ngày càng tăng không chỉ ở trong nước mà còn trên khắp nền kinh tế thế giới Tỷ trọng ngành công nghiệp internet đóng góp vào GDP ngày càng ở các nền kinh tế lớn nhất Ngày càng có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNVV) mua và bán trực tuyến, ước tính giá trị của các giao dịch kinh doanh dựa trên web cho doanh nghiệp (B2B) cao hơn khoảng một phần ba so với toàn bộ doanh nghiệp cho người tiêu dùng (Giao dịch B2C) (UNCTAD, 2015)

Với sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế kỹ thuật số, tầm quan trọng của các doanh nghiệp đa quốc gia (MNE) về công nghệ và kỹ thuật số trong sản xuất quốc

Trang 26

tế đã tăng lên đáng kể Sự gia tăng nhanh chóng của MNEs công nghệ đại diện cho một trong những xu hướng đáng chú ý nhất trong thế giới của các siêu đô thị toàn cầu trong những năm gần đây Từ năm 2010 đến 2015, số lượng các công ty công nghệ trong bảng xếp hạng 100 MNE hàng đầu của UNCTAD đã tăng hơn gấp đôi, từ 4 lên 10 Các MNE công nghệ không chỉ tăng tỷ lệ trong các công ty đa quốc gia lớn nhất toàn cầu, mà còn

là những doanh nghiệp năng động nhất Trong cùng thời gian, tài sản của các MNE này tăng 65% và doanh thu và nhân viên hoạt động của họ tăng khoảng 30%, trái ngược lại

xu hướng phát triển tương đối phẳng lặng của 100 MNE hàng đầu khác (UNCTAD, 2017)

Các loại MNE còn được chia thành 3 nhóm, trong đó, hai nhóm đầu tiên được coi

là các công ty công nghệ thông tin:

• MNE công nghệ Nhóm này bao gồm các MNE hoạt động trong ngành công nghệ thông tin rộng lớn hơn, đây là nhà sản xuất của máy tính, thiết bị CNTT và các thiết bị liên quan (ví dụ: Apple, Samsung, Hon Hai) hoặc là nhà cung cấp phần mềm và dịch vụ (ví dụ: Microsoft, SAP) Các công ty này không chỉ cung cấp các công cụ CNTT hỗ trợ cuộc cách mạng kỹ thuật số mà còn là nhà cung cấp dịch vụ kỹ thuật số Nhóm này không bao gồm các MNE hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực gần, ví dụ như thiết bị điện tử tiêu dùng (ví dụ: Philips)

• MNE viễn thông Nhóm này bao gồm các nhà cung cấp cơ sở hạ tầng truyền thông và kết nối

• MNE khác Nhóm này bao gồm các MNE từ tất cả các ngành công nghiệp (phi

kỹ thuật số) khác Những MNE này có thể được tiếp xúc với các công nghệ kỹ thuật số

và các dịch vụ, nhưng tất cả họ đều là người dùng chứ không phải nhà cung cấp hoặc hỗ trợ

Các MNE công nghệ là những người hỗ trợ cho nền kinh tế kỹ thuật số toàn cầu: họ cung cấp cơ sở hạ tầng và các công cụ để áp dụng kỹ thuật số Với sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế kỹ thuật số, vai trò của các MNE công nghệ trong sản xuất quốc tế đã tăng lên đáng kể trong thập kỷ qua Các MNEs công nghệ không chỉ vượt xa các công ty trong tất cả các ngành công nghiệp khác, mà còn phá vỡ các mô hình tạo việc làm và cơ cấu tài sản truyền thống, với tài sản vô hình và tiền mặt chiếm tỷ trọng cao hơn đáng kể

Trang 27

Sự gia tăng nhanh chóng của MNEs công nghệ đại diện cho một trong những xu hướng đáng chú ý nhất trong thế giới của các siêu đô thị toàn cầu trong những năm gần đây Hiện tượng này đã thu hút sự chú ý ngày càng tăng, không chỉ ở cấp độ nghiên cứu

và chính sách, mà còn ở công chúng rộng lớn hơn (The economist, 2016) Năm 2010, mức độ phù hợp của các công ty công nghệ trong bảng xếp hạng 100 MNE hàng đầu do UNCTAD biên soạn vẫn còn hạn chế và không khác biệt đáng kể so với 10 năm trước

đó Từ năm 2010 đến 2015, ngược lại, số lượng các công ty công nghệ trong bảng xếp hạng tăng hơn gấp đôi, từ 4 đến 10, và phần của họ trong tổng tài sản và doanh thu hoạt động theo xu hướng tương tự, và thậm chí rõ rệt hơn Tỷ trọng ngày càng tăng này là kết quả của một nhóm MNE công nghệ, chủ yếu từ Hoa Kỳ, bước vào bảng xếp hạng Một số trong những công ty này, như Alphabet (Google) và Microsoft, đang dẫn đầu cuộc cách mạng kỹ thuật số; những MNE khác, như Oracle, phụ thuộc rất nhiều và hưởng lợi từ sự tăng tốc của internet Khi bao gồm các MNE viễn thông, những người hỗ trợ quan trọng khác của nền kinh tế kỹ thuật số, 19 MNE trong top 100 là các công

ty công nghệ thông tin - một phần lớn của siêu tập đoàn

Các siêu tập đoàn công nghệ đang bước vào đà tăng trưởng đặc biệt Trong năm năm qua, các MNE công nghệ lớn nhất đã vượt qua các MNE và công ty viễn thông truyền thống, với tài sản tăng lên nhiều hơn hơn 10% mỗi năm, so với xu hướng căn bản của hai nhóm còn lại Tăng trưởng doanh thu hoạt động và nhân viên với tốc độ chậm hơn, nhưng vẫn cao hơn so với các tập đoàn khác trong 100 MNE hàng đầu Những số liệu này cho thấy rằng các MNE công nghệ đại diện cho đến nay là những doanh nghiệp năng động nhất trong số các công ty đa quốc gia lớn nhất toàn cầu

Sự phát triển nhanh chóng của MNE công nghệ là kết quả của nhiều yếu tố liên quan đến nhau, bao gồm động lực thị trường và công nghệ mạnh mẽ được thúc đẩy bởi cuộc cách mạng kỹ thuật số, sự vững chắc về tài chính và khả năng chi tiêu cũng như văn hóa quản lý theo định hướng đầu tư và sự đổi mới Kết quả là, không chỉ các siêu tập đoàn công nghệ đã chiếm lĩnh thị trường trong các phân khúc cốt lõi của họ, mà họ còn mở rộng thành công ở các khu vực kỹ thuật số lân cận Chỉ trong vài năm, một số

đã trở thành trung tâm kỹ thuật số hoạt động trong nền kinh tế kỹ thuật số

1.2.2 Những thay đổi trong chiến lược đầu tư của các công ty đa quốc gia trong nền kinh tế số

Trang 28

Trước xu hướng của nền kinh tế số, chiến lược quốc tế hóa của MNE thay đổi sẽ như thế nào Có phân tích lập luận rằng số hóa có thể dẫn đến sự rút lui của FDI, vì nó cho phép các MNE hoạt động trên phạm vi toàn cầu và tham gia vào thị trường nước ngoài mà không cần có sự hiện diện thực sự (Eden, 2016; McKinsey Global Institute, 2016) Vì các động lực truyền thống cho FDI tìm kiếm thị trường và FDI tìm kiếm tài nguyên (hữu hình) bị làm suy yếu một phần bởi quá trình số hóa, các loại hình FDI khác

có thể trở nên quan trọng hơn, bao gồm FDI tìm kiếm tri thức và ở một mức độ nào đó cũng là FDI dựa trên tài chính và thuế Những mô hình đầu tư này có thể ảnh hưởng đến phương thức sản xuất quốc tế của MNEs, với nhiều hàm ý quan trọng đối với sự phát triển ở các nước sở tại Đặc biệt, các MNE trong các lĩnh vực số hóa cao dự kiến sẽ có

sự hiện diện quốc tế theo một cách nhẹ nhàng hơn các MNE khác, liên quan đến việc tạo ra doanh số lớn ở nước ngoài bằng cách đầu tư tương đối ít vào tài sản sản xuất, cũng như duy trì lợi ích lớn nhất ở các nước chủ đầu tư

Như vậy, có sự khác biệt đáng kể giữa các MNE kỹ thuật số và MNE truyền thống trong các mô hình đầu tư trên phạm vi quốc tế Và nếu vậy, các MNE kỹ thuật số có thể tạo ra một mô hình FDI mới có ảnh hưởng đến toàn bộ sản xuất quốc tế không?

Vai trò của tài sản nước ngoài

Thống kê của UNCTAD cho thấy, các siêu tập đoàn đang nắm giữ khối lượng rất lớn tài sản nước ngoài Tuy nhiên, tỷ lệ tài sản nước ngoài trên tổng tài sản khá hạn chế và quan trọng hơn là nó khá nhỏ so với hoạt động kinh doanh ở nước ngoài của họ nếu so sánh với tỷ lệ doanh thu bán hàng ở nước ngoài Do đó, các MNEs công nghệ có

tỷ lệ khác biệt về doanh số nước ngoài so với tài sản nước ngoài, tỷ lệ này cao hơn bình thường vì các MNE này sở hữu chủ yếu các “tài sản nhẹ” (rất ít tài sản hữu hình); ngược lại, đối với các MNE truyền thống, tỷ lệ này hoàn toàn ngược lại Trong nền kinh tế số, các MNE viễn thông có tỷ lệ doanh thu nước ngoài so với tài sản nước ngoài thấp nhất, điều này phản ánh đúng bản chất của ngành này đó là các “tài sản nặng”

Các mô hình vận hành và phân phối dựa trên mức độ số hóa cao có xu hướng dẫn đến những hiện diện quốc tế mờ nhạt hơn Mở rộng phân tích quá trình quốc tế hóa bằng việc xem xét các MNE kỹ thuật số hàng đầu và MNE CNTT hàng đầu cho thấy tác động của internet đối với các mô hình quốc tế hóa

Trang 29

Để đánh giá tác động tiềm năng của số hóa đối với sản xuất quốc tế, tức là đối với các mô hình đầu tư quốc tế của tất cả các MNE, UNCTAD đưa ra một mô hình phân tích chi tiết hơn Như minh họa trong hình dưới đây, khung kỹ thuật số của UNCTAD

có thể được phân tích theo mô hình ma trận cường độ internet, theo hai khía cạnh: sản xuất và vận hành (trục dọc) và thương mại hóa và bán hàng (trục ngang)

Hình dưới đây cho thấy rõ ràng sự gia tăng tỷ lệ hiện diện mờ nhạt của FDI khi các công ty định vị trên ma trận cường độ internet chuyển sang các mô hình vận hành và vận hành được đặc trưng bởi cường độ internet cao hơn

Hình 1.4: Cường độ Internet và vận hành của MNE

Nguồn: Báo cáo của UNCTAD năm 2017

Ở phía đầu cuối của ma trận là các MNE kỹ thuật số thuần túy, nhóm các nền tảng internet và nhà cung cấp các giải pháp kỹ thuật số, trong đó cả hoạt động và bán hàng đều là kỹ thuật số Ở phía dưới của ma trận là nhóm không đồng nhất của các công ty phi CNTT, phi kỹ thuật số, một số trong đó đang dần chuyển sang áp dụng

kỹ thuật số trong hoạt động và bán hàng, khi đã khẳng định tầm quan trọng ngày càng tăng của thương mại điện tử trong kinh doanh truyền thống Vị trí trung gian là các MNE kỹ thuật số với các mô hình hỗn hợp (nội dung số và thương mại điện tử)

và nhóm MNEs CNTT (CNTT và viễn thông), có hoạt động kinh doanh cốt lõi kết hợp các yếu tố vật lý và kỹ thuật số

- Chi nhánh ở nước ĐPT: 12%

- Doanh thu từ nước ngoài so với tài sản ở nước ngoài: 6:1

MNE truyền thống:

- Tỷ lệ FDI “nhẹ”: 1.0

- Chi nhánh ở nước ĐPT: 29%

- Doanh thu từ nước ngoài so với tài sản ở nước ngoài: 1:1

Chỉ dùng Internet

Trang 30

Mô hình về sự hiện diện mờ nhạt của FDI được minh họa trong hình xác nhận mối liên hệ giữa mức độ số hóa và mức độ đầu tư; đây là xu hướng chính đã được ghi nhận Các phân tích cho thấy hai mô hình FDI liên quan hơn nữa đến số hóa Đó là: tái cân bằng sản xuất quốc tế đối với thế giới phát triển (FDI phi tập trung) và sự nổi bật của động cơ tài chính trong các quyết định đầu tư của MNE (tài chính hóa FDI) Các

mô hình được xem xét ở đây áp dụng chủ yếu cho các MNE kỹ thuật số và công nghệ, nhưng có những dấu hiệu cho thấy chúng đang bắt đầu phổ biến trong các MNE nói chung Internet đang làm chuyển đổi hoạt động vận hành của các MNE, làm cho sự hiện diện vật lý ở nước ngoài trở nên kém cần thiết hơn

Trong các mô hình kinh doanh đặc trưng bởi cường độ internet cao hơn, ý nghĩa của tài sản nước ngoài đối với doanh số nước ngoài có xu hướng thấp hơn Do đó, các MNE trong các lĩnh vực thâm dụng internet thể hiện tỷ lệ đầu tư FDI “nhẹ nhàng” cao hơn Bên cạnh đó, các nền tảng internet có tỷ lệ doanh thu từ nước ngoài cao hơn 2,5 lần so với tỷ lệ tài sản nước ngoài, so với tỷ lệ tương đương của MNE truyền thống (WIR17)

Bảng 1.1: Tỷ lệ tài sản nước ngoài và doanh thu nước ngoài của 100

MNE hàng đầu, năm 2015

Nguồn: Báo cáo UNCTAD 2017

Hơn nữa, số hóa có xu hướng phá vỡ mối quan hệ hoạt động giữa doanh thu bán hàng ở nước ngoài và tài sản nước ngoài Không chỉ các MNE kỹ thuật số cao có

xu hướng tỷ lệ cao hơn trong doanh số bán hàng nước ngoài so với tỷ lệ tài sản nước ngoài ít hơn, thực tế không có mối tương quan nào giữa hai chỉ số này, cho thấy sự hiện diện thương mại ở thị trường nước ngoài không có liên quan đến quyết định lựa chọn đầu tư quốc tế Trong một nghiên cứu của UNCTAD, hệ số tương quan tuyến tính giữa

tỷ lệ doanh thu bán hàng nước ngoài và tài sản nước ngoài gần bằng 0 (WIR17)

Trang 31

Như minh họa trong hình, các mô hình phân phối và vận hành được đặc trưng bởi cường độ internet cao hơn tạo ra tỷ lệ tài sản “nhẹ” ở nước ngoài cao hơn Nói cách khác, càng nhiều MNE dựa vào internet, họ càng có thể tận dụng tài sản nước ngoài tốt hơn, có được tỷ lệ bán hàng nước ngoài cao hơn với tài sản nước ngoài tương đối hạn chế Cấu trúc tài sản nước ngoài của MNE kỹ thuật số phản ánh mức độ tiếp xúc và việc

sử dụng internet và công nghệ kỹ thuật số

• Các MNE kỹ thuật số thuần túy, bao gồm các nền tảng internet và nhà cung cấp giải pháp kỹ thuật số, cho thấy khoảng cách cao nhất giữa tài sản nước ngoài (thấp)

và doanh số nước ngoài (cao) Đây là những công ty hoạt động gần như hoàn toàn trong một môi trường ảo, được đặc trưng bởi mối quan hệ vật lý hạn chế với thị trường của họ Tài sản nước ngoài hữu hình ở thị trường nước ngoài thường giới hạn ở các văn phòng công ty và trung tâm trung tâm dữ liệu

• MNE kỹ thuật số với các mô hình hỗn hợp, bao gồm nhà cung cấp nội dung

số và thương mại điện tử, cũng cho thấy sự hiện diện của tài sản nước ngoài mờ nhạt hơn so với MNE truyền thống, nhưng khoảng cách đã giảm đáng kể Cả hai nhóm kết hợp trong một doanh nghiệp kỹ thuật số với các công cụ vật chất để thực hiện những giá trị cốt lõi của mình trong kinh doanh

Các nhà bán lẻ Internet bao gồm chủ yếu là các công ty đa quốc gia thương mại điện tử, chẳng hạn như Amazon hoặc Rakuten, có hoạt động tiếp thị và thương mại trực tuyến, nhưng hoạt động giao hàng của họ yêu cầu tài sản logistic và các hoạt động vận hành

Các nhà cung cấp nội dung số bao gồm các công ty truyền thông lớn, như 21st Century Fox and Sky Các công ty này hoạt động trong một môi trường kỹ thuật số vốn

có với các sản phẩm kỹ thuật số và công nghệ kỹ thuật số Tuy nhiên, họ vẫn tiếp cận

cơ sở khách hàng đại chúng của mình theo những cách truyền thống, ví dụ, thông qua truyền hình cáp hoặc vệ tinh Với một số ví dụ đáng chú ý như Netflix, một phương thức phân phối trực tuyến của họ, mặc dù phát triển nhanh chóng, vẫn nhỏ hơn các phương thức phân phối truyền thống của họ.Các mô hình kinh doanh của các MNE phù hợp hơn với việc vận hành trực tuyến và giao hàng trực tuyến, chẳng hạn như các công ty du lịch trực tuyến (trong danh mục thương mại điện tử) và các nhà cung cấp thông tin và dữ

Trang 32

liệu (trong danh mục nội dung số), được đặc trưng bởi sự hiện diện của tài sản nước ngoài “nhẹ” hơn

Nhóm MNEs CNTT có sự khác biệt rất lớn giữa MNEs CNTT (phần cứng và phần mềm) và MNE viễn thông

• MNEs CNTT cho thấy tổng thể “tài sản nhẹ” ở nước ngoài, trong đó tỷ lệ giữa phần doanh thu bán hàng nước ngoài và phần tài sản nước ngoài gần như tương đương với những MNE kỹ thuật số thuần túy Tuy nhiên, nhóm này khá không đồng nhất và có lý do khác ngoài số hóa có thể góp phần vào cơ cấu “tài sản nhẹ” ở nước ngoài Các công ty CNTT hàng đầu, như Apple và Samsung, và các công ty phần mềm hàng đầu, như Microsoft và Oracle, có những hoạt động kỹ thuật số mạnh mẽ Ngược lại, các nhà sản xuất CNTT nhỏ hơn và chuyên nghiệp hơn có tiếp xúc kỹ thuật số hạn chế hơn Một số MNE này là nhà cung cấp linh kiện CNTT từ Đông và Đông Nam Á Các công ty này có xu hướng định vị các cơ sở sản xuất của họ tại nội địa, nơi chi phí sản xuất thấp hơn, và sau đó xuất khẩu Điều này rõ ràng đóng góp vào một tỷ lệ cao giữa tỷ lệ bán hàng nước ngoài và tỷ lệ tài sản nước ngoài

• MNEs viễn thông thể hiện tỷ lệ tài sản nước ngoài cao so với doanh số bán hàng nước ngoài Họ có xu hướng thiết lập sự hiện diện “nặng”, hữu hình ở nước ngoài nơi họ hoạt động Đây là bản chất của mô hình kinh doanh và hoạt động của họ, đòi hỏi

cơ sở hạ tầng viễn thông để đạt được phạm vi bao phủ rộng

Sự hiện diện của tài sản trên phạm vi quốc tế của các MNE phi kỹ thuật số thể hiện sự khác nhau đáng kể giữa các ngành Cấu trúc theo ngành về tài sản nước ngoài

và doanh số bán hàng nước ngoài vẫn ổn định theo thời gian, với các MNE công nghệ cho thấy tỷ lệ tài sản nước ngoài “nhẹ” cao nhất trong cả hai năm 2010 và 2015 Tiếp theo là MNEs trong lĩnh vực ô tô và máy bay, một ngành công nghiệp công nghệ cao, được đặc trưng bởi những hoạt động sản xuất sử dụng nhiều tài sản và lao động hơn Ở cuối bảng xếp hạng là các ngành công nghiệp dựa vào cơ sở hạ tầng địa phương (viễn thông và tiện ích) hoặc tài nguyên thiên nhiên (khai thác và lọc dầu)

Số hóa có xu hướng phá vỡ mối quan hệ giữa doanh thu bán hàng nước ngoài

và tài sản nước ngoài Như đã thảo luận trước đó, các nền tảng internet có tỷ lệ tài sản nước ngoài thấp so với doanh số nước ngoài Không ai trong số các MNE này thể hiện một tỷ lệ tài sản nước ngoài trên 40% và hầu hết không vượt quá 20%; tính trung bình,

Trang 33

tỷ lệ bán hàng nước ngoài của họ gấp hơn 2,5 lần thị phần tài sản nước ngoài Không chỉ các MNE kỹ thuật số cao có xu hướng nhận ra: nhiều doanh số nước ngoài hơn với ít tài sản nước ngoài hơn, mà còn có rất ít mối tương quan giữa hai bên, cho thấy sự hiện diện thương mại ở thị trường nước ngoài không có ảnh hưởng rõ ràng đến lựa chọn đầu

tư quốc tế Ngược lại, đối với các MNE trong lĩnh vực viễn thông và nội dung số, sự hiện diện của tài sản “nặng” ở nước ngoài tương đối cao hơn, tỷ lệ bán hàng nước ngoài tương quan với tỷ lệ tài sản nước ngoài Điều này cho thấy rằng sự hiện diện vật lý ở thị trường nước ngoài là một điều kiện quan trọng để bán hàng (WIR 2017)

Thu nhập nước ngoài

Sự hiện diện quốc tế mờ nhạt với việc đầu tư hạn chế vào tài sản hữu hình và khối lượng bán hàng quốc tế lớn, mang lại cho MNE kỹ thuật số tính thanh khoản cao

và khả năng chi tiêu cao, tạo ra mảnh đất màu mỡ cho các mô hình đầu tư dựa trên tài chính và thuế

Mặc dù có tài sản hữu hình hạn chế, các chi nhánh nước ngoài của MNE công nghệ và kỹ thuật số vẫn giữ một phần đáng kể trong thu nhập ở nước ngoài của họ, thường là dưới dạng tiền và các khoản tương đương tiền Thực tế này gần đây đã được chú ý vì ý nghĩa về thuế của nó Các MNE kỹ thuật số và công nghệ trung bình có lợi nhuận cao và duy trì dự trữ tiền mặt lớn để đầu tư (UNCTAD 2017) Một phần đáng kể của khoản tiền mặt này bao gồm các khoản thu nhập nước ngoài không được chuyển về, được giữ lại ở nước ngoài cho mục đích tối ưu hóa thuế Các tập đoàn công nghệ đến từ Hoa Kỳ trong bảng xếp hạng của UNCTAD 2015 giữ 62% tổng thu nhập nước ngoài của họ không được chuyển về, cao hơn gần ba lần so với các MNE khác của Hoa Kỳ (23%) Tỷ lệ này tương ứng với khoảng 385 tỷ USD, tương đương khoảng sáu lần giá trị ước tính của tài sản hữu hình nước ngoài Hơn nữa, tổng thu nhập nước ngoài được giữ lại ở nước ngoài bởi các MNE công nghệ từ Hoa Kỳ đang tăng nhanh hơn, với tỷ lệ trung bình hàng năm là 28% trong giai đoạn 2010-2015, so với 8% đối với các MNE khác Kết quả là, các siêu tập đoàn công nghệ trung bình giữ lại khoảng 75 tỷ đô la ở nước ngoài trong năm 2015, so với 45 tỷ đô la của các MNE khác

Thực tế là thu nhập nước ngoài không được chuyển về so với giá trị ước tính của tài sản hữu hình ở nước ngoài có xu hướng ngày càng tăng, cho thấy rằng các tài nguyên này chỉ là một phần nhỏ được sử dụng để phục vụ cho năng lực sản xuất nước

Trang 34

ngoài Mục tiêu chính là để giảm thiểu gánh nặng thuế bằng cách (vô thời hạn) hoãn việc thanh toán điều chỉnh thuế khi hồi hương thu nhập nước ngoài

Địa điểm tập trung

Hầu hết các MNE kỹ thuật số là từ các nước phát triển, đặc biệt là Hoa Kỳ Tỷ lệ của các MNE kỹ thuật số có trụ sở tại Hoa Kỳ rất cao Sự chiếm ưu thế của họ, cùng với xu hướng giữ lại hầu hết các tài sản hữu hình tại nước chủ đầu tư, dẫn đến sự phân phối theo địa lý của các công ty con có xu hướng rất lệch về các công ty trong nước có trụ sở tại Hoa Kỳ 63 trong số 100 MNE kỹ thuật số hàng đầu có công ty mẹ ở Hoa Kỳ, tiếp theo là Vương quốc Anh (7) và Đức (6); ba quốc gia đầu tiên chiếm hơn 75% các MNE lớn nhất Sự tập trung này rõ rệt hơn trong danh mục các nền tảng internet, trong

đó 10 trong số 11 MNE là từ Hoa Kỳ Ngược lại, sự hiện diện của các MNE kỹ thuật số hàng đầu từ các nền kinh tế đang phát triển là không đáng kể, chỉ có bốn trong top 100 (WIR17)

Tương tự như vậy, các công ty con của MNE kỹ thuật số tập trung cao ở các nước phát triển, đặc biệt là Hoa Kỳ, trong khi sự hiện diện của họ ở các nền kinh tế đang phát triển là không đáng kể Chỉ có 12% các chi nhánh nước ngoài của các MNE kỹ thuật số hàng đầu được đặt tại các nền kinh tế đang phát triển, so với tỷ lệ khoảng 30% đối với các MNE truyền thống Hoa Kỳ có cổ phần lớn nhất, bao gồm 40% các công ty con của MNE kỹ thuật số, gần gấp đôi cổ phần của các MNE khác (21%) (WIR17)

Do đó, cùng với tăng trưởng của nền kinh tế kỹ thuật số, MNEs có thể đảo ngược xu hướng vốn đầu tư nước ngoài trong thập kỷ qua theo hướng phân bổ rộng rãi (trong khi các nền kinh tế đang phát triển ngày càng trở thành nhà đầu tư hướng ngoại quan trọng) trở lại tập trung ở một số nước lớn

Phân tích thực nghiệm về hoạt động của các MNE kỹ thuật số tiêu biểu đã cho thấy ba xu hướng chính trong phương thức quốc tế hóa các MNE kỹ thuật số và công nghệ:

• Sự hiện diện của tài sản quốc tế hạn chế

• Dự trữ tiền mặt lớn được giữ ở nước ngoài)

• Tập trung đầu tư sản xuất ở một số nền kinh tế phát triển, đặc biệt Hoa Kỳ

Trang 35

Những xu hướng này mô tả một mô hình kinh doanh đa quốc gia hoàn toàn mới và có tiềm năng thay đổi hoàn toàn các hoạt động quốc tế của nhiều MNE Đồng thời, quá trình gián đoạn kỹ thuật số này vẫn chỉ giới hạn ở các MNE kỹ thuật số và công nghệ, hoặc MNE có liên kết mạnh mẽ với nền kinh tế kỹ thuật số, dù là nhà cung cấp hay người hỗ trợ Đối với các MNE khác, các mô hình kinh doanh truyền thống vẫn tiếp tục được duy trì và phát triển

Tuy nhiên, sự thâm nhập của các MNE kỹ thuật số hàng đầu vào các phần lớn của nền kinh tế bên ngoài sẽ tạo ra một số động lực để số hóa các hoạt động kinh tế trên quy mô rộng lớn hơn Sự tăng trưởng nhanh chóng của các kênh bán hàng trực tuyến trong các ngành công nghiệp truyền thống cho thấy các công ty đang tiến tới số hóa các hoạt động thương mại Việc số hóa sản xuất đang chứng tỏ nhiều thách thức hơn, nhưng cũng đang cho thấy sự tiến bộ hơn

1.3 Một số mô hình kinh doanh số tiên tiến

Các mô hình kinh doanh sản phẩm dịch vụ nội dung số phổ biến trên thế giới bao gồm:

- Miễn phí hoàn toàn cho người dùng: đây là một mô hình kinh doanh khá phổ

biến trong lĩnh vực nội dung số Rất nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp sử dụng mô hình này để có thể câu kéo một lượng người dùng lớn và quảng cáo truyền miệng trước khi nghĩ ra cách để kiếm lợi nhuận Các doanh nghiệp điển hình dùng mô hình này là Facebook, Google, Twiter hay như Zalo

- Đăng ký: Mô hình này khá phổ biến với mọi loại nội dung số, từ phần mềm, trò

chơi điện tử, báo, tạp chí, dịch vụ viễn thông và nội dung trực tuyến (Netflix, Hulu, Spotify) Ở Việt Nam, hình thức đăng ký khá phổ biến ở các nội dung trên mobile như game, nhạc chờ như là mp3zing, các trang đọc sách trực tuyến như alezza

- Vi giao dịch (microtransaction): Mô hình cho phép truy cập từng phần vào các

nội dung kỹ thuật số và hoặc là trả tiền để nghe (truyền tải nội dung, giới hạn thời gian truy cập vào nội dung hoặc ứng dụng) hoặc trả tiền để tải về (ca khúc, bộ phim, bài viết, hình ảnh,…) Mô hình này khá phổ biến trên Internet với các trò chơi, phim, chương trình thể thao iTunes là một ví dụ điển hình về mô hình vi giao dịch khi khách hàng phải trả một chi phí nhỏ khoảng dưới 1 US$ để tải bài hát Ở Việt Nam, trước đây vi

Trang 36

giao dịch được sử dụng khá nhiều khi khách hàng trả tiền qua SMS để tại nhạc, phim, tài liệu Hiện nay, một số trang bán sách điện tử trực tuyến hoặc các trang web tải tài liệu cũng sử dụng mô hình vi giao dịch để cung cấp dịch vụ

- Phát hành song song hai phiên bản miễn phí và trả tiền: Cung cấp một phiên bản

miễn phí (freemium) và một phiên bản phải trả tiền (premium) đối với sản phầm nội dung số Mô hình này khá phổ biến trên thế giới, đặc biệt đối với các ứng dụng di động Tại Việt Nam mô hình này chưa được phổ biến rộng rãi Một trong những lý do là do đặc điểm thị trường, nếu có thể dùng miễn phí người dùng Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng trả tiền cho các nội dung có phí

- Cấp quyền sử dụng: Các dịch vụ như Spotify lấy thông tin bản quyền từ các

thương hiệu ghi âm và các nhạc sĩ cá nhân, hay như Hulu và Netflix lấy thông tin bản quyền từ Hollywood để cung cấp sản phẩm nội dung số Tại Việt Nam Zingmp3 và Nhaccuatui là hai đơn vị điển hình trong kinh doanh nhạc trực tuyến theo mô hình này

- Liên kết giao diện (API Affliate): Nhiều nhà sản xuất nội dung số đang dựa vào

các nội dung đã có sẵn, kế thừa và điều chỉnh nó phù hợp với hiện tại để rồi cấp phép cho bên thứ ba Đây có thể hiểu như là đại lý kinh doanh nội dung số, rất phổ biến trong lĩnh vực thương mại điện tử Các trang thương mại điện tử cung cấp cho các đại lý một

mã (của sản phẩm), các đại lý lấy mã số này đi bán sản phẩm và được hưởng hoa hồng

- Mô hình kinh doanh tích hợp: Kho ứng dụng (app store) là một mô hình tích hợp

có sử dụng nhiều mô hình kinh doanh Kho ứng dụng xây dựng mô hình kinh doanh cốt lõi cho thế giới số, nơi ứng dụng được tải về và đánh giá Kho ứng dụng giúp các nhà cung cấp kiến tiền từ kinh doanh ứng dụng di động Tại thời điểm hiện tại, Google và Apple là hai nền tảng có kho ứng dụng với số lượng ứng dụng lớn nhất

Bên cạnh các Kho ứng dụng trên, có rất nhiều các kho khác được xây dựng bởi các công ty sản xuất thiết bị hoặc các nhà mạng Có thể kể ra Amazon, AT&T, China Mobile, Mozilla, Samsung, T-Mobile, Vodafone trong đó có một số kho ứng dụng trên nền tảng Android Để đăng ứng dụng lên kho ứng dụng cần phải thoả mãn các điều kiện bắt buộc về đánh giá và đăng tải của bên cung cấp và kho ứng dụng Các nhà phát triển sẽ phải chia sẻ doanh thu với kho ứng dụng và các nhà cung cấp dịch vụ khác Với hầu hết các kho ứng dụng, 30% giá bán sẽ chuyển đến cho nhà cung cấp kho nền tảng

và 30% sẽ cho mua bán vật phẩm bổ sung trong ứng dụng (in-app purchases) Tuy nhiên, kho ứng dụng lại là kênh có thể giúp nhà phát triển tiếp cận đến khách hàng nhanh và nhiều hơn so với hình thức truyền thống

Trang 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG FDI TRONG NỀN KINH TẾ KỸ THUẬT SỐ TẠI

CÁC NƯỚC ASEAN VÀ VIỆT NAM 2.1 Thực trạng FDI trong các ngành kinh tế số tại các nước ASEAN

2.1.1 Tổng quan FDI toàn cầu

FDI toàn cầu năm 2018 đạt 1.300 tỷ USD, giảm 13% so với năm 2017 (1.500 tỷ USD) Một nguyên nhân quan trọng của tình trạng giảm sút FDI là việc khá nhiều công

ty đa quốc gia Mỹ hồi hương từ nước ngoài để hưởng chính sách ưu đãi thuế của Chính phủ, một số nước phát triển giảm đầu tư ra nước ngoài làm cho FDI của họ giảm khoảng 25%, còn 557 tỷ USD năm 2018

FDI vào các nước đang phát triển tăng 2% trong năm 2018, chiếm 54% vốn đầu

tư toàn cầu (năm 2017 là 46%) Do đó, một nửa trong số 20 nền kinh tế thu hút FDI hàng đầu thế giới là đang phát triển và chuyển đổi

Năm 2019, FDI của các nước phát “triển phục hồi khi hiệu ứng cải cách thuế của

Mỹ giảm dần; trong 6 tháng đầu năm, hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) tăng 18%

do tác động của Chính phủ Mỹ yêu cầu các MNE nước này thanh khoản các chi nhánh nước ngoài của họ Tuy vậy, nhiều chuyên gia kinh tế nhận định, xu hướng tăng FDI toàn cầu không cao do bị chi phối bởi các yếu tố như rủi ro địa chính trị, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung leo thang và chính sách bảo hộ mậu dịch

Nếu loại trừ các yếu tố như cải cách thuế, megadeals (thương vụ kinh doanh lớn)

và dòng tài chính biến động, thì FDI trong giai đoạn 2008 - 2018 chỉ tăng bình quân 1%/năm so với mức 8%/năm giai đoạn 2000 và 2007 và 20%/năm trước năm 2000 Xu hướng giảm tốc độ tăng FDI toàn cầu do nhiều nhân tố, chủ yếu là tỷ lệ hoàn vốn đầu

tư nước ngoài giảm và chính sách, môi trường đầu tư ít thuận lợi hơn

Dự báo trung hạn và dài hạn cho thấy, tốc độ tăng trưởng tương đối của tiền bản quyền, phí cấp phép và thương mại dịch vụ trong kinh doanh quốc tế vượt xa vốn FDI; đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) rất lớn và tăng nhanh Do đó, một phần đáng

kể của đầu tư giữa các nước đang phát triển cuối cùng thuộc sở hữu của MNE các nước phát triển

Trong các nước tiếp nhận FDI, thì Hoa Kỳ vẫn là thị trường nhận vốn đầu tư lớn nhất Tiếp theo là Trung Quốc, Hồng Kông và Singapore Lần đầu tiên, Việt Nam nằm trong 20 nước thu hút FDI hàng” đầu thế giới

Trang 38

Nhật Bản trở thành nước đầu tư ra nước ngoài lớn nhất Tiếp đó là Trung Quốc và Pháp Lần đầu tiên Hoa Kỳ nằm ngoài danh sách top 20

FDI vào các nước đang phát triển ở châu Á tăng 3,9% năm 2018, đạt 512 tỷ USD, chiếm 39% FDI toàn cầu (năm 2017 là 33%) UNCTAD lạc quan về triển vọng FDI vào khu vực nhờ tốc độ phát triển kinh tế và môi trường đầu tư được cải thiện

FDI vào Đông Nam Á đạt mức kỷ lục trong năm 2018 với 149 tỷ USD, tăng 3%, trong đó Singapore, Indonesia, Việt Nam, Thái Lan có mức tăng khá cao Công nghiệp chế tạo, dịch vụ, bán buôn, bán lẻ, kỹ thuật số là những ngành mà các nước ASEAN thu hút được vốn FDI nhiều nhất

FDI chủ yếu là đầu tư xuyên biên giới của các công ty xuyên quốc gia (TNC) thông qua việc thành lập các dự án tại các nước tiếp nhận vốn đầu tư Để thích ứng với sự thay đổi chuỗi giá trị toàn cầu trong thời đại kinh tế số, TNC đã áp dụng phương thức mới để tiếp cận thị trường không theo phương thức truyền thống, nhưng có hiệu quả hơn như thuê gia công, thuê dịch vụ, nhượng quyền, cấp phép và quản lý theo hợp đồng Những hoạt động như vậy được gọi là “phương thức đầu tư xuyên biên giới không góp vốn” (NEM)

Hiện nay, các TNC đầu tư ra nước ngoài theo 2 phương thức: góp vốn với các hình thức chủ yếu: hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh và 100% vốn nước ngoài, M&A; không góp vốn theo NEM

2.1.2 Hoạt động của vốn FDI trong các ngành kinh tế số tại các nước ASEAN

Số liệu về FDI trong nền kinh tế số hiện khá hạn chế, do đó chủ yếu phần này đề cập đến hoạt động FDI trong các ngành CNTT và truyền thông (ICT) Các dự án FDI đầu tư trong ngành ICT bao gồm đầu tư sản xuất máy tính, điện tử và quang học; Mạng

và dịch vụ viễn thông, dịch vụ CNTT và công nghệ máy tính (bao gồm phát triển ứng dụng thương mại điện tử, trò chơi máy tính, phần mềm cho phương tiện kỹ thuật số tương tác, phần mềm cho an ninh mạng và phần mềm CNTT), hoạt động dịch vụ thông tin (ví dụ: xử lý dữ liệu, phân tích dữ liệu, lưu trữ web, cổng web) và các hoạt động thương mại bán lẻ không lưu trữ

Ngoài FDI đầu tư mới và các hoạt động M & A xuyên biên giới, đầu tư của các công ty đầu tư mạo hiểm cũng được tính đến khi phân tích các ngành kinh tế số vì hoạt động đầu tư này đóng vai trò quan trọng hỗ trợ sự phát triển của nền kinh tế kỹ thuật số

Trang 39

trong ASEAN Đặc biệt, vốn đầu tư mạo hiểm cũng giúp thúc đẩy sự sáng tạo, tăng trưởng và mở rộng khu vực của các doanh nghiệp khởi nghiệp tại thị trường nội địa

Bảng 2.1: 25 ngành lớn nhất tính theo số lượng dự án FDI trên thế giới, theo ghi

nhận của các thị trường FDI từ 2011 đến 2016

Nguồn: Báo cáo Đầu tư ASEAN 2018 Trong số 10 ngành có sự di biến động FDI lớn nhất thế giới, có tới một nửa là các ngành công nghiệp dựa trên dịch vụ Trong số các dự án đầu tư mới tại khu vực ASEAN,

tỷ lệ thu hút đầu tư phi dịch vụ khá cao như phần mềm & dịch vụ CNTT, dệt may, máy móc/thiết bị công nghiệp, ô tô, xe máy, điện tử, sản phẩm tiêu dùng và chế biến thực phẩm cũng như đầu tư vào các ngành công nghiệp phụ trợ như vật liệu kim loại, nhựa, hóa chất, bao bì

Trong nhiều năm qua, khu vực ASEAN này vẫn là một điểm đến của lựa chọn đầu

Trang 40

đối với các nền kinh tế đang phát triển Thương mại bán buôn và bán lẻ là những ngành tiếp nhận vốn lớn nhất, vượt qua lĩnh vực tài chính và sản xuất Bên cạnh đó nổi lên sự quan tâm ngày càng tăng của các nhà đầu tư nước ngoài trong các hoạt động nghiên cứu

và phát triển thương mại điện tử, bao gồm cả công nghệ fintech

Dòng vốn FDI vào ASEAN đã tăng lên mức kỷ lục, từ 123 tỷ USD năm 2016 lên

137 tỷ USD trong năm 2017, được củng cố bởi sự gia tăng đáng kể trong đầu tư ở 8 nước thành viên Kết quả là, tỷ lệ FDI của ASEAN chảy vào các nền kinh tế đang phát triển tăng từ 18% trong năm 2016 lên 20% vào năm 2017 Trong tổng lượng FDI vào Đông Á và Đông Nam Á, thị phần của ASEAN cũng tăng từ 31% trong năm 2016 lên 34% trong năm 2017 Đầu tư nội khối ASEAN, đóng góp lớn nhất cho dòng vốn FDI trong khu vực, đạt mức cao mới 27 tỷ USD, tương đương khoảng 19% tổng lượng vốn chảy vào khu vực Một sự phát triển quan trọng trong ASEAN là đầu tư tăng trong nền kinh tế kỹ thuật số, bao gồm thương mại điện tử, công nghệ fintech, vốn mạo hiểm và các hoạt động kỹ thuật số khác như phát triển trung tâm dữ liệu và cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)

Các công ty MNE và các công ty ICT của ASEAN hiện đang tăng cường sự chú ý trong khu vực Các dự án đầu tư ICT phi sản xuất đã tăng nhanh từ 2,8 tỷ USD năm

2010 lên 3,9 tỷ USD năm 2017, trong khi các vụ sáp nhập và mua bán công nghệ qua biên giới tăng từ 172 triệu USD năm 2010 lên 3,6 tỷ USD vào năm 2017

Ở cấp khu vực, các nước thành viên ASEAN đang thúc đẩy hợp tác để tăng cường khả năng cạnh tranh của ngành công nghệ thông tin, mở rộng thương mại điện tử và tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối kỹ thuật số, bao gồm cả việc thực hiện ký kết thỏa thuận thương mại điện tử ASEAN và áp dụng Khuôn khổ hội nhập kỹ thuật số ASEAN nhằm tạo thuận lợi cho việc đưa khu vực này trở thành một trung tâm kỹ thuật số toàn cầu có khả năng cạnh tranh

Các giao dịch Internet ước tính trị giá 50 tỷ USD vào năm 2017, có khả năng đạt

200 tỷ USD vào năm 2025 Cuộc cách mạng kỹ thuật số đang phá vỡ và chuyển đổi các ngành công nghiệp cũng như cách thức vận chuyển hàng hóa và dịch vụ Nền kinh tế kỹ thuật số cũng tạo ra cơ hội thúc đẩy phát triển bằng cách tăng hiệu quả kinh doanh và năng suất, mở rộng tiếp cận với các thị trường hiện tại hoặc thị trường mới, và tạo điều kiện tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu Các nước ASEAN đang tích cực thúc đẩy đầu

Ngày đăng: 15/12/2023, 00:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ASEANUP 2019, “Southeast Asia digital, social and mobile 2019”, https://aseanup.com/southeast-asia-digital-social-mobile/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Southeast Asia digital, social and mobile 2019”
2. Asian Development Bank (2014), “INNOVATIVE ASIA: ADVANCING THE KNOWLEDGE-BASED ECONOMY”,https://www.adb.org/sites/default/files/publication/59587/innovative-asia-knowledge- based-economy-pa.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: INNOVATIVE ASIA: ADVANCING THE KNOWLEDGE-BASED ECONOMY”
Tác giả: Asian Development Bank
Năm: 2014
15. Mohd Jalallul Alam (2015), “DESA : Growing the Digital Economy from a National Perspective”,https://www.dosm.gov.my/v1/uploads/files/7_Publication/Technical_Paper/MyStats/2 015/4.%20DESA%20Growing%20the%20Digital%20Economy%20from%20a%20National%20Perspective.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: DESA : Growing the Digital Economy from a National Perspective
Tác giả: Mohd Jalallul Alam
Năm: 2015
18. Paul Mah (2020), “POWERING SOUTHEAST ASIA’S BOOMING DIGITAL ECONOMY”, https://www.datacenterdynamics.com/en/analysis/powering-southeast- asias-booming-digital-economy/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: POWERING SOUTHEAST ASIA’S BOOMING DIGITAL "ECONOMY
Tác giả: Paul Mah
Năm: 2020
19. Qing (2012), “MALAYSIA LOSES $897.6M TO CYBERCRIME”, https://www.zdnet.com/article/malaysia-loses-897-6m-to-cybercrime/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: MALAYSIA LOSES $897.6M TO CYBERCRIME”
Tác giả: Qing
Năm: 2012
20. Trung tâm WTO-VCCI (2020), “Kinh tế số và cơ hội để Việt Nam bứt phá”, http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/15044-kinh-te-so-va-co-hoi-de-viet-nam-but- pha Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế số và cơ hội để Việt Nam bứt phá
Tác giả: Trung tâm WTO-VCCI
Năm: 2020
21. WTO (2018), World Trade Report 2018: The Future of World Trade – How Digital Technologies are Transforming Global Commerce, World Trade Organization, Geneva Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Trade Report 2018: The Future of World Trade – How Digital Technologies are Transforming Global Commerce
Tác giả: WTO
Năm: 2018
22. UNCTAD (2013). Information Economy Report 2013: The Cloud Economy and Developing Countries (United Nations publication, Sales No. E.13.II.D.6. New York and Geneva) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Information Economy Report 2013: The Cloud Economy and Developing Countries
Tác giả: UNCTAD
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mô hình nền kinh tế kỹ thuật số - Một số vấn đề mới về fdi trong nền kinh tế số và hàm ý cho việt nam
Hình 1.1 Mô hình nền kinh tế kỹ thuật số (Trang 16)
Hình 1.2: Thương mại điện tử toàn cầu, 2015-2017 (Đơn vị: Triệu USD) - Một số vấn đề mới về fdi trong nền kinh tế số và hàm ý cho việt nam
Hình 1.2 Thương mại điện tử toàn cầu, 2015-2017 (Đơn vị: Triệu USD) (Trang 20)
Hình 1.3: Top 20 công ty hàng đầu thế giới tính theo giá trị vốn hóa thị trường 2009, 2018 - Một số vấn đề mới về fdi trong nền kinh tế số và hàm ý cho việt nam
Hình 1.3 Top 20 công ty hàng đầu thế giới tính theo giá trị vốn hóa thị trường 2009, 2018 (Trang 21)
Bảng 2.1: 25 ngành lớn nhất tính theo số lượng dự án FDI trên thế giới, theo ghi - Một số vấn đề mới về fdi trong nền kinh tế số và hàm ý cho việt nam
Bảng 2.1 25 ngành lớn nhất tính theo số lượng dự án FDI trên thế giới, theo ghi (Trang 39)
Hình 2.2: 10 nhà ĐTNN hàng đầu trong ngành ICT tại ASEAN năm 2013-2017 (tỷ USD) - Một số vấn đề mới về fdi trong nền kinh tế số và hàm ý cho việt nam
Hình 2.2 10 nhà ĐTNN hàng đầu trong ngành ICT tại ASEAN năm 2013-2017 (tỷ USD) (Trang 42)
Hình 2.1: Vốn FDI đầu tư mới trong ngành ICT tại ASEAN giai đoạn 2010 - 2017 - Một số vấn đề mới về fdi trong nền kinh tế số và hàm ý cho việt nam
Hình 2.1 Vốn FDI đầu tư mới trong ngành ICT tại ASEAN giai đoạn 2010 - 2017 (Trang 42)
Bảng 2.2: Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong ngành viễn thông ASEAN, năm 2017 (%) - Một số vấn đề mới về fdi trong nền kinh tế số và hàm ý cho việt nam
Bảng 2.2 Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong ngành viễn thông ASEAN, năm 2017 (%) (Trang 44)
Hình 2.3: M&A trong ngành ICT của khu vực ICT giai đoạn 2010-2017 - Một số vấn đề mới về fdi trong nền kinh tế số và hàm ý cho việt nam
Hình 2.3 M&A trong ngành ICT của khu vực ICT giai đoạn 2010-2017 (Trang 46)
Hình 2.4: Các nước nhận đầu tư M&A trong ngành , từ năm  2010 – 2017 (tỷ USD) - Một số vấn đề mới về fdi trong nền kinh tế số và hàm ý cho việt nam
Hình 2.4 Các nước nhận đầu tư M&A trong ngành , từ năm 2010 – 2017 (tỷ USD) (Trang 47)
Hình 2.5: 10 Nhóm hàng xuất khẩu đạt mức tăng trưởng về giá trị lớn nhất năm 2018 - Một số vấn đề mới về fdi trong nền kinh tế số và hàm ý cho việt nam
Hình 2.5 10 Nhóm hàng xuất khẩu đạt mức tăng trưởng về giá trị lớn nhất năm 2018 (Trang 60)
Hình 2.6: Doanh thu và tốc độ tăng trưởng ngành công nghệ thông tin Việt Nam - Một số vấn đề mới về fdi trong nền kinh tế số và hàm ý cho việt nam
Hình 2.6 Doanh thu và tốc độ tăng trưởng ngành công nghệ thông tin Việt Nam (Trang 61)
Bảng 2.5: Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực CNTT - Một số vấn đề mới về fdi trong nền kinh tế số và hàm ý cho việt nam
Bảng 2.5 Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực CNTT (Trang 64)
Bảng 2.6: Một số nền tảng số đã được đầu tư kinh doanh tại Việt Nam - Một số vấn đề mới về fdi trong nền kinh tế số và hàm ý cho việt nam
Bảng 2.6 Một số nền tảng số đã được đầu tư kinh doanh tại Việt Nam (Trang 67)
Bảng 2.7: Vốn đầu tư vào Startup công nghệ của khu vực châu Á Thái Bình - Một số vấn đề mới về fdi trong nền kinh tế số và hàm ý cho việt nam
Bảng 2.7 Vốn đầu tư vào Startup công nghệ của khu vực châu Á Thái Bình (Trang 69)
Bảng 2.8: Vốn đầu tư vào các startup Việt Nam 6 tháng đầu năm 2019 - Một số vấn đề mới về fdi trong nền kinh tế số và hàm ý cho việt nam
Bảng 2.8 Vốn đầu tư vào các startup Việt Nam 6 tháng đầu năm 2019 (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w