Chính thị trường này đã cứu thua cho các ngân hàng thương mại khi mà các hoạt động khác khó khăn thì nguồn thu từ kinh doanh trái phiếu chính phủ có vai trò vô cùng quan trọng, vào những
Trang 2TRẦN THỊ HUẾ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ KINH DOANH
TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC s ĩ KINH TẺ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THANH PHƯƠNG
HỌ C VIỆN NGÀN HÀNG TRUNG TẤM THÒNG TIN-THƯ VIÊN
s s ZMJM
HÀ N Ộ I- 2 0 1 7
Trang 3Em xin cam đoan những nghiên cứu trong luận văn là của riêng em, các số liệu trong báo cáo là xuất phát từ thực tế ở các ngân hàng, thống kê trong các báo cáo tài chính đã đuợc kiểm toán.
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2017
Học viên
TRẦN THỊ HUÉ
Trang 4CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VÈ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐÀU
T ư KINH DOANH TRÁI PHIÉU CHÍNH PHỦ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG M Ạ I 4
1.1 LÝ LUẬN Cơ BẢN VỀ TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ 4
1.1.1 Khái niệm trái phiếu chính phủ 4
1.1.2 Đặc trưng cơ bản của trái phiếu chính phủ 6
1.1.3 Phân loại trái phiếu chính p hủ 6
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu chính p h ủ 8
1.2 PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ KINH DOANH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 10
1.2.1 Quan niệm về phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ của ngân hàng thương mại 10
1.2.2 Phân loại và chiến lược thực hiện đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ của ngân hàng thương mại 13
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ của ngân hàng thương m ại 22
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ của ngân hàng thương m ại 24
CHƯƠNG 2: THựC TRẠNG PHÁT TRIẺN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ KINH DOANH TRÁI PHIÉU CHÍNH PHỦ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 30
2.1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ VIỆT NAM 30
2.1.1 Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 30
2.1.2 Tổng quan về thị trường trái phiếu chính phủ Việt Nam 43
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIÊN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ KINH DOANH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 48
Trang 52.2.3 Thu nhập từ hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ 54
2.2.4 Tỷ suất sinh lời 57
2.3 ĐÁNH GIÁ CHƯNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ KINH DOANH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ CỦA NGÂN HÀNG THƯONG MẠI VIỆT NAM
2.3.1 Những kết quả đã đạt được 58
2.3.2 Tồn tại và nguyên nhân 59
KẾT LUẬN CHƯONG 2 63
CHƯONG 3:GLẢI PHÁP PHÁT TRIẺN HOẠT ĐỘNG ĐẦU T ư KINH DOANH TRÁI PHIÉU CHÍNH PHỦ CỦA NGÂN HÀNG THƯONG MẠI VIỆT NAM 64
3.1 ĐỊNH HƯỞNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐẦU T ư KINH DOANH TRÁI PHIẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯONG MẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 64
3.1.1 Dự báo và định hướng phát triển của nền kinh tế và thị trường trái phiếu Việt Nam 64
3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ của ngân hàng thương mại Việt Nam 68
3.2 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ KINH DOANH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ CỦA NGÂN HÀNG THƯONG MẠI VIỆT NAM 69
3.2.1 Kiểm soát và giảm tỷ lệ nợ xấu tín dụng 69
3.2.2 Tăng quy mô tổng tài sản của ngân hàng và khuyến khích sự xuất hiện của sở hữu nước ngoài trong cơ cấu sở hữu ngân hàng 72
3.2.3 Hoàn thiện cơ chê pháp lý nội bộ và hệ thông chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu 74
3.2.4 Cải tiến hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu
3.2.5 Nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ nhân sự
„76
777
Trang 63.2.7 Nâng cao năng lực quản trị và nghiệp vụ tự doanh của ngân hàng 79
3.3 KIẾN NGHỊ 81
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 81
3.3.2 Kiến nghị với ngân hàng nhà nước 84
3.3.3 Kiến nghị với Bộ Tài chính 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 91
KÉT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 7ACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
Cửu Long
Trang 8Biểu đồ 1.1: Mô tả chiến lược bậc thang 14
Biểu đồ 1.2: Mô tả chiến lược đầu tư chuyển đáo hạn về phía trước 15
Biểu đồ 1.3: Mô tả chiến lược đầu tư chuyển đáo hạn về phía sau 15
Biểu đồ 1.4: Mô tả chiến lược Barbell 16
Biểu đồ 1.5: Mô tả phương pháp dự kiến lãi suất 17
Biểu đồ 2.1: Tổng tài sản của một số NHTM Việt Nam tính đến 30/6/2016 33
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ hiệu quả sinh lời của hệ thống TCTD qua các năm 36
Bảng 2.3: Tỷ lệ nợ xấu của một số ngân hàng giai đoạn 2014-2016 37
Biểu đồ 2.3: Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu báo cáo giai đoạn 2012-2016 38
Biểu đồ 2.4: Khối lượng vốn huy động qua đấu thầu TPCP 44
Biều đồ 2.5: Tỷ lệ TPCP trúng thầu theo kỳ hạn 45
Biểu đồ 2.6: Quy mô niêm yết TPCP và tỷ trọng so với GDP 46
Biểu đồ 2.7: Giá trị giao dịch TPCP trên thị trường thứ cấp 47
Biểu đồ 2.8: Bình quân giao dịch TPCP theo phiên qua 48
Biểu đồ 2.9: Tổng quy mô nắm giữ TPCP của các NHTM 49
Biểu đồ 2.10: Tỷ trọng bình quân thu nhập từ TPCP và thu nhập từ lãi của các ngân hàng 55
Biểu đồ 2.11: Tỷ suất sinh lời TPCP bình quân của NHTM 57
Bảng 2.1: Bảng quy mô huy động vốn và cho vay khách hàng của các NHTM Việt Nam 34
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2016 tại một số ngân hàng 35
Bảng 2.4: Quy mô TPCP đầu tư, kinh doanh của các ngân hàng 50
Bảng 2.5: số liệu bình quân tỷ trọng về loại hình TPCP theo phương thức kinh doanh trái phiếu của NHTM Việt Nam giai đoạn 2013 -2016 53
Bảng 2.6: Thống kê thu nhập từ TPCP so với thu nhập lãi và tổng thu nhập hoạt động các ngân hàng 56
Trang 9của một số ngân hàng tại 30/06/2016 70
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm trở lại đây, sự cạnh tranh trên thị trường tài chính trong nước ngày càng trở nên gay gắt Bên cạnh đó, trong bối cảnh nợ xấu tín dụng tăng cao, lợi nhuận ngân hàng suy giảm v.v thì việc lựa chọn kênh đầu tư vào thị trường trái phiếu chính phủ đang chứng tỏ là lựa một chọn đúng đắn và có hiệu quả cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Chính thị trường này đã cứu thua cho các ngân hàng thương mại khi mà các hoạt động khác khó khăn thì nguồn thu từ kinh doanh trái phiếu chính phủ có vai trò vô cùng quan trọng, vào những thời điểm họ luôn phải “đốt đuốc” đi tìm khách hàng vay vốn.Bởi vậy mở rộng hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ được xác định là một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Đặc biệt, trên thị trường trái phiếu Việt Nam thì giá trị trái phiếu chính phủ luôn chiếm khoảng 70% tổng giá trị trái phiếu đang lưu hành trên thị trường Không chỉ là một công cụ dự trữ thanh khoản có độ an toàn cao, đầu tư sinh lời, trái phiếu chính phủ còn là công cụ thực hiện chính sách quản lý nợ - có, đa dạng hóa danh mục đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi ngân hàng Tính hết năm 2016
dư nợ trái phiếu chính phủ đạt 930.528 tỷ đồng, bằng 18,8% GDP , trong khi đó Bộ tài chính đặt mục tiêu đến năm 2020 tổng dư nợ thị trường trái phiếu chính phủ đạt khoảng 22% GDP Như vậy, có thể thấy tiềm năng phát triển của thị trường trái phiếu chính phủ còn rất lớn và đây chính là cơ hội cho các ngân hàng thương mại Việt Nam nắm bắt vị trí dẫn đầu trong cạnh tranh
Tuy nhiên, với điều kiện thị trường trái phiếu chính phủ còn khá non trẻ của Việt Nam tại thời điểm hiện tại, một số ngân hàng thương mại Việt Nam tuy đã triển khai hoạt động này nhưng vẫn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế trong việc phát triển quy mô đầu tư vào trái phiếu chính phủ, công tác quản lý vốn và tạo thu nhập
từ hoạt động đầu tư trái phiếu chính phủ Do đó, câu hỏi đặt ra là các ngân hàng thương mại cần thực hiện hoạt động này như thế nào để đảm bảo tính hiệu quả và phù hợp với chiến lược phát triển chung của ngân hàng
Trang 11Qua quá trình nghiên cứu, học tập, tìm hiểu và từ yêu cầu thực tiễn đặt ra em
đã chọn đề tài: ' Giải pháp phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu
chính phủ của ngân hàng thương mại Việt Nam”.
2 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về trái phiếu chính phủ và hoạt động đầu
tư kinh doanh trái phiếu của ngân hàng thương mại
Phân tích thực trạng hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam chủ yếu giai đoạn 2013 - 2016, chỉ ra những kết quả đạt được, những tồn tại cần khắc phục và nguyên nhân của nó
Từ những kết quả nghiên cứu trên, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị phù họp nhằm góp phần phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ của ngân hàng thương mại Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp phân tích thống kê, so sánh và tổng họp và phương pháp mô hình hóa
Ngoài ra luận văn còn sừ dụng nguồn số liệu từ các báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại, ngân hàng nhà nước, bộ tài chính , các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước có liên quan
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nehiên cứu: các vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ của ngân hàng thương mại
- Phạm vi nghiên cứu: phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ tại các ngân hàng thương mại nói chung và một số ngân hàng thương mại Việt
Nam nói riêng, cụ thể bao gồm 5 ngân hàng thưong mại cổ phần có tổng tài sản
đứng đầu hệ thốngbao gồm: Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Sacombank, SCB.
- Thời gian thực hiện nghiên cứu là hoạt động đầu tư kinh doanh TPCP của 5 ngân hàng thương mại BIDV, Vietcombank, Vietinbank, SCB, Sacombank giai đoạn2013-2016
Trang 125 Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục sơ
đồ bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn bao gồm những nội dung sau :
Chưong 1: Lý luận chung về phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ của ngân hàng thưong mại
Chưong 2: Thực trạng phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ của ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ của ngân hàng thưong mại Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VÊ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐẦU T ư KINH DOANH TRÁI PHIÉU CHÍNH PHỦ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 LÝ LUẬN CO BẢN VÈ TRÁI PHIÉU CHÍNH PHỦ
1.1.1 Khái niệm trái phiếu chính phủ
Trái phiếu là một chứng chỉ vay nợ của Chính phủ, chính quyền địa phương hoặc doanh nghiệp, thể hiện nghĩa vụ của chủ thể phát hành phải trả nợ cho người nắm giữ trái phiếu một số tiền nhất định, vào những khoảng thời gian nhất định và phải trả lại khoản tiền gổc khi khoản tiền vay đến hạn Khác với cổ phiếu là một chứng khoán vốn, trái phiếu là loại chứng khoán nợ, tổ chức phát hành với tư cách
là người đi vay, người mua trái phiếu là người cho vay, hay còn gọi là nhà đầu tư Đối với người thiểu vốn, trái phiếu là phương tiện vay vốn qua thị trường Đối với người đầu tư, trái phiếu cũng là một phương tiện đầu tư để thu lời Trái phiếu thể hiện sự ràng buộc pháp lý giữa người đi vay và người cho vay Người đi vay có trách nhiệm phải trả cho chủ nợ một khoản tiền gốc và lãi nhất định, đây là một hình thức tín dụng có nét đặc thù riêng, nó ra đời muộn hơn các hình thức tín dụng khác và phát triển mạnh trong nền kinh tế hàng hóa, đặc biệt là ở những quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển
Theo Khoản 3, Điều 6 Luật Chứng Khoán ban hành năm 2006 “Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành.”[l 1, tr2]
Theo giáo trình Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán (2013) của Ưỷ ban chứng khoán nhà nước: “Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản vay ban đầu khi nó đáo hạn.”[16, tr67]
Theo giáo trình Phân tích và đầu tư chứng khoán (2014) của Học viện ngân
Trang 14hàng: “Trái phiếu là một loại chứng khoán được phát hành liên quan đến một dàn xếp vay mượn Công cụ này quy định nghĩa vụ cho người phát hành là thực hiện những khoản thanh toán xác định cho người có trái phiếu tại những thời hạn xác định.” [7, trl 17].
Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về trái phiếu Tuy nhiên, nhìn chung
nó thường được đề cập đến như là sự thể hiện cam kết của người phát hành sẽ thanh toán cho người nắm giữ trái phiếu một số tiền nhất định vào những khoảng thời gian nhất định và phải trả lại khoản tiền gốc khi khoản tiền vay đó đến hạn
Trái phiếu có nhiều loại khác nhau, có loại do Chính phủ phát hành, có loại do chính quyền địa phương phát hành, có loại do công ty phát hành, có loại do ngân hàng hoặc do các định chế tài chính phát hành
Theo Khoản 17, Điều 3 Luật Quản lý nợ công ban hành năm 2009: “Trái phiếu chính phủ là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho công trình, dự án đầu tư cụ thể.” [13, tr2]
Theo giáo trình Phân tích và đầu tư chứng khoán (2014) của Học viện ngân hàng: “Trái phiếu chính phủ, hiểu theo nghĩa rộng, được phát hành theo kế hoạch của Chính phủ nhàm bù đắp thiếu hụt ngân sách trung ương (hoặc địa phương), tài trợ vốn cho các công trình trọng điểm Trái phiếu chính phủ có thể được phát hành bởi chính phủ trung ương, chính quyền địa phương hoặc bởi các tổ chức tài chính thuộc Chính phủ.” [7, trlO]
Thị trường trái phiếu là thị trường phát hành và giao dịch các loại trái phiếu của Chính phủ, doanh nghiệp và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật Trái phiếu sẽ được phát hành lần đầu trên thị trường sơ cấp qua nhiều phương thức khác nhau như bảo lãnh phát hành, đấu thầu Sau đó, các trái phiếu này sẽ tiến hành giao dịch trên thị trường thứ cấp Thành viên tham gia trên thị trường trái phiếu bao gồm chủ thể phát hành, chủ thể đầu tư, các tổ chức trung gian tài chính
Thị trường TPCP là nơi phát hành và giao dịch các trái phiếu Chính phủ Thị trường trái phiếu Chính phủ là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính,
Trang 15thông qua đó Chính phủ có thể huy động được nguồn vốn để bù đắp thâm hụt ngân sách tạm thời và đầu tư vào các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.Trong các chủ thê tham gia trên thị trường TPCP, Ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người phát hành trái phiếu nhằm huy động vốn phục vụ cho hoạt động của mình, và đặc biệt vừa là tổ chức đầu tư kinh doanh trái phiếu hoặc trung gian tài chính nhằm tìm kiếm lợi nhuận, đảm bảo thanh khoản và nâng cao thương hiệu của mình trên thị trường.
1.1.2 Đặc trưng cơ bản của trái phiếu chính phủ
Một trái phiếu chính phủ điển hình thường có những đặc trưng chính sau đây
- Ngirời phát hành Trái phiếu chính phủ có thể được phát hành bởi Chính
phủ trung ương, chính quyền địa phương hoặc bởi các tổ chức tài chính thuộc Chính phủ Các cấp Chính phủ khác nhau phát hành sẽ làm cho các trái phiếu chính phủ có mức độ rủi ro khác nhau do mức độ đảm bảo và nguồn trả nợ khác nhau Trái phiếu chính phủ trung ương phát hành được đảm bảo bằng uy tín của Chính phủ quốc gia và vì thế là loại trái phiếu có mức độ rủi ro tín dụng là zero Trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành được đảmbảo bằng tiềm lực kinh tế địa phương và vì thế mà mức độ rủi ro là không thống nhất và được đánh giá khác nhau ở từng địa phương
- Mệnh giá: mệnh giá là giá trị khoản vay gốc, sẽ được chính phủ hoàn trả khi
đáo hạn
- Lãi suất cuống phiếu: đây là mức lãi suất hàng năm, tính thành tỷ lệ phần
trăm của mệnh giá và là cố định trong suốt thời gian lưu hành của trái phiếu chính phủ Lãi suất cuống phiếu có thể được trả định kỳ một hay nhiều lần trong một năm
và thông thường là hai lần
- Thời hạn: đây là khoảng thời gian từ khi trái phiếu được phát hành cho tới
khi nó đáo hạn, tức là thời điểm người phát hành phải hoàn tất các nghĩa vụ thanh toán gổc và lãi của món nợ Trái phiếu chính phủ với tư cách là công cụ nợ của thị trường vổn thường có thời hạn từ một năm trở lên
1.1.3 Phân loại trái phiếu chính phủ
Trang 161.1.3.1 Phân loại theo mục đích phát hành
Theo mục đích phát hành, trái phiếu chính phủ bao gồm:
- Trái phiếu kho bạc: là loại trái phiếu có kỳ hạn từ một năm trở lên, được phát hành với mục đích huy động vốn theo kế hoạch của ngân sách nhà nước hàng năm được Quổc hội thông qua
- Trái phiếu đầu tư: là loại trái phiếu chính phủ có kỳ hạn từ một năm trở lên
do các tổ chức tài chính nhà nước hoặc các tổ chức tài chính, tín dụng được thủ tướng chính phủ chỉ định phát hành nhằm huy động vốn để đầu tư theo chính sách của Chính phủ Hằng năm bộ tài chính chịu trách nhiệm xây dựng phương án về phương thức phát hành trái phiếu, kế hoạch sử dụng vốn vay và phương thức hoàn trả nợ vay trình Chính phủ quyết định
- Trái phiếu công trình trung ương: là loại trái phiếu chính phủ có kỳ hạn một năm trở lên do Kho bạc nhà nước phát hành nhàm huy động vốn theo quyết định của thủ tướng chính phủ cho các dự án thuộc nguồn vốn đầu tư ngân sách trung ương đã ghi trong kế hoạch nhưng chưa được bố trí vốn ngân sách trong năm Trái phiếu loại này chỉ được phát hành cho các công trình nằm trong danh mục đầu tư trọng điểm hàng năm của Chính phủ
- Công trái xây dựng tổ quốc được xếp là một trong những loại TPCP do Chính phủ phát hành nhằm huy động vốn trong nhân dân để đầu tư xây dựng những công trình quan trọng quốc gia và các công trình thiết yếu khác phục vụ sản xuất, đời sống, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho đất nước
- Trái phiếu ngoại tệ là loại TPCP có kỳ hạn từ một năm trở lên do Bộ tài chính phát hành cho các mục tiêu theo chỉ định của Chính phủ Trên cơ sở đó Bộ tài chính sẽ quyết địnhloại ngoại tệ cụ thể cho từng đợt phát hành
- Trái phiếu chính phủ dạng STRIPS (Separate tradings of registered interest and principal sysem): đây là các chứng khoán được tách từ một trái phiếu Chính phủ (loại trái phiếu có lợi tức) bằng cách giao dịch độc lập các quyền hưởng lợi tức định kỳ và gốc của trái phiếu ban đầu Các quyết định giao dịch tách và nhập trái phiếu dựa vào hình dạng đường cong lãi suất chuẩn Thông thường khi đường cong
Trang 17lãi suất có xu hướng dổc lên thì việc thực hiện giao dịch theo dạng Strips đem lại lợi nhuận cho người sở hữu và ngược lại Một đường cong lãi suất nằm ngang sẽ không khuyến khích các giao dịch STRIPS Thị trường trái phiếu chính phủ dạng STRIPS rất phát triển ở Mỹ, Pháp, Canada, Anh.
1.1.3.2 Phân loại theo lọi tức trái phiếu
- Trái phiếu có lãi suất cổ định' Là loại trái phiếu mà lợi tức được xác định
theo một tỷ lệ phần trăm (%) cố định theo mệnh giá
- Trái phiếu cỏ lãi suất thay đổi (thả nổi): Là loại trái phiếu mà lợi tức của trái
phiếu được trả trong các kỳ có sự khác nhau được tính theo một lãi suất có sự biến đổi theo một lãi suất tham chiếu
- Trái phiếu có lãi suất bằng không (zero - coupon Bonds): Là loại trái phiếu
mà người mua không nhận được lãi, nhưng được mua với giá thấp hơn mệnh giá (mua chiết khấu) và được hoàn trả bằng mệnh giá khi trái phiếu đó đáo hạn
1.1.3.3 Phân loại theo phương thức trả gốc và lãi
- Trải phiếu coupon: Đây là loại trái phiếu mà tiền lãi được thanh toán đều đặn
theo kỳ, còn tiền gốc thanh toán tại ngày đáo hạn
- Trái phiếu chiết khấu: Là loại trái phiếu mà tiền lãi thanh toán trước, tiền gốc
thanh toán gọn tại ngày đáo hạn
- Trái phiếu hoàn trả theo niên kim cồ định: Tiền lãi và gốc của trái phiếu
được hoàn trả bàns những khoản đều đặn hàng năm
1.1.3.4 Phân loại theo khả năng chuyển nhượng
- Trải phiếu vô danh: Là loại trái phiếu xác nhận quyền đòi nợ không ghi tên
chủ sở hữu Loại trái phiếu này được chuyển nhượng dễ dàng, không cần những thủ tục xác nhận
- Trái phiếu ghi danh: Là loại trái phiếu xác nhận quyền đòi nợ có ghi tên chủ
sở hữu Hình thức ghi danh có thể chỉ thực hiện cho phần vốn gốc, cũng có thể là ghi danh toàn bộ, cả gốc lẫn lãi
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu chính phủ
v ề cơ bản giá trị thị trường của bất cứ loại chứng khoán nào cũng phụ thuộc
Trang 18vào cung và cầu, vì thế khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới giá trái phiếu chính phủ ta cần tìm hiểu nhân tố nào đứng sau cung và cầu.
- Khả năng tài chính của ngưòi phát hành trái phiếu
Cung cấp trái phiếu là một chức năng của người đi vay nhàm giải quyết vấn đề vốn Do đó, nhà đầu tư rất quan tâm đến khả năng thanh toán lãi và vốn gốc của người phát hành trái phiếu.Nếu có những biến động bất lợi về khả năng tài chính của chủ thể phát hành, thì lập tức giá trái phiếu đó sẽ tụt giảm trên thị trường chứng khoán Mặc dù lãi suất trái phiếu hứa hẹn đem lại lợi nhuận lớn nhưng độ rủi ro hàm chứa lại cao hơn
- Thời gian đáo hạn
Một trái phiếu có thời gian đáo hạn càng gần thì giá của nó càng tăng trên thị trường bởi vì độ rủi ro càng thấp Ví dụ, giá 01 trái phiếu sẽ được thanh toán theo đúng mệnh giá vào cuối năm thứ 10 kể từ ngày phát hành, nếu không có biến động xấu về khả năng tài chính của đơn vị phát hành và lãi suất thị trường bình ổn, thì giá trái phiếu kể từ năm thứ 5 trở đi sẽ có khuynh hướng ngày càng cao so với giá các năm đầu tiên Trên thực tế, người ta gọi hiện tượng này là “kéo giá tới thời hạn”
- Dự kiến về lạm phát
Nếu lạm phát có dự kiến tăng thì các chứng khoán có lãi suất cố định trả theo lãi trái phiếu chỉ được thanh toán theo danh nghĩa, và như vậy sẽ kém hấp dẫn hơn các tài sản khác có khả năng loại trừ yếu tố lạm phát Dần đến kết quả là giá thị trường của các chứng khoán có lãi suất cố định bị giảm và điều này cũng buộc phải tăng lãi cho các chứng khoán đó, phần lãi tăng này sẽ đền bù cho thiệt hại của những người giữ trái phiếu trong tương lai bị ảnh hưởng của lạm phát.Sự vận động của giá trái phiếu với các loại thời hạn khác nhau sẽ vẽ nên một phác thảo về thị trường trái phiếu và khả năng diễn biến của lạm phát
- Biến động của lãi suất thị trường
Lãi suất thị thị trường là một yểu tố cực kỳ quan trọng trong việc định giá của các chứng khoán có lãi suất cố định Nếu lãi suất bắt đầu tăng thì lợi tức đối với các trái phiếu đang tồn tại chắc chắn thay đổi Trong trường họp này, vốn sẽ chảy vào
Trang 19thị trường nào hứa hẹn lợi nhuận cao hơn Như vậy giá của trái phiếu có lợi tức cố định sẽ giảm Nhìn ở khía cạnh khác, nếu giá trái phiếu giảm do người ta dự đoán lạm phát tăng, thì việc tăng lãi suất (chính việc này làm giảm giá trái phiếu) có thể được coi là dấu hiệu của Chính phủ quyết định đẩy lùi lạm phát Ảnh hưởng tích cực của việc tăng lãi suất được đền bù bởi tác động tích cực của triển vọng lạm phát được cải thiện.
- Thay đôi tỉ giá hôi đoái
Yếu tố này ảnh hưởng đến các loại trái phiếu được thanh toán bằng nội tệ hoặc bằng đồng ngoại tệ Ví dụ, đồng dollar Mỹ có giá trị tăng cao hơn so với đồng bảng Anh thì sẽ làm tăng giá trị của loại trái phiếu được thanh toán bằng đô la Mỹ
1.2 PHÁT TRIẺN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ KINH DOANH TRÁI PHIÉU CHÍNH PHỦCỦA NGÂN HÀNG THƯONG MẠI
1.2.1 Quan niệm về phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ của ngân hàng thưong mại
a về phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của ngân hàng thương mại
- v ề khái niệm “phát triển”
Trước hết cần làm rõ khái niệm “phát triển”, “phát triển” tuy ban đầu được các nhà kinh tế học định nghĩa là “tăng trưởng kinh tể”, nhưng nội hàm của nó từ lâu đã vượt khỏi phạm vi này, được nâng cấp sâu sắc hơn và chính xác hơn Theo Từ điển Tiếng Việt “phát triển” được hiểu là quá trình vận động, tiến triển theo hướng tăng lên, ví dụ phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, phát triển xã hội,
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới Phát triển là một thuộc tính của vật chất Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong, nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập”
Trang 20Như vậy, “phát triển” là phạm trù kinh tế xã hội rộng lớn, trong khuôn khổ một định nghĩa hay một khái niệm ngắn gọn không thể bao hàm hết được nội dung rộng lớn của nó.Song trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM được định nghĩa là phản ảnh sự tăng lên về quy
mô đầu tư kinh doanh TPCP của các NHTM, làm tăng thêm giá trị lợi nhuận cho ngân hàng, có sự biến đổi tích cực về cơ cấu đầu tư kinh doanh TPCP, tạo ra một cơ cẩu họp lý, có khả năng tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu rủi ro cho ngân hàng
- v ề khái niệm “đầu tư” và “kinh doanh” chứng khoán
Theo giáo trình Phân tích và đầu tư chứng khoán (2014) của Học viện ngân hàng: “Đầu tư chứng khoán hay còn gọi là đầu tư tài chính được thể hiện dưới hình thức người đầu tư bỏ tiền mua các công cụ tài chính nhằm mục đích hưởng các khoản thu nhập định kỳ hoặc kiếm lợi do việc tăng giá của các công cụ đó.” [7, tr7]
Theo giáo trình Nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán (2015) của Đại học kinh doanh và công nghệ Hà Nội: “Kinh doanh chứng khoán là việc tổ chức, cá nhân tham gia một trong các hoạt động môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, lưu
ký chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý tài sản, tư vấn tài chính
và đâu tư chứng khoán, hoặc các hoạt động có liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng khoán” [1, tr2]
Tại khoản 19, điều 6 Luật Chứng Khoán ban hành năm 2006 giải thích về khái niệm “kinh doanh chứng khoán” là: “Kinh doanh chứng khoán là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán” [11, tr4]
Trên cơ sở phân tích các khái niệm trên đây, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm hoạt động đầu tư kinh doanh trải phiếu chính phủ của Ngăn hàng thương mại được hiểu là việc Ngân hàng thương mại bỏ vốn mua trái phiếu chính phủ để giữ đến ngày đảo hạn hoặc bản ra trên thị trường thứ cấp, hoặc thực hiện các hoạt động liên quan ãếntrái phiếu chỉnh phủ nhằm mục đích chính là tăng
Trang 21cường khả năng thanh khoản, sinh lời, đa dạng hóa hoạt động đầu tư kinh doanh để phân tán rủi ro và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng,
b Mục đích của hoạt động đầu tư kình doanh trải phiếu chính phủ của ngân hàng thương mại
- Hỗ trợ nguồn thanh khoản và đảm bảo thanh toán: Trong quá trình hoạt
động, có những thời điểm khó khăn trong thanh khoản ngắn hạn, việc huy động vốn
từ cá nhân, tổ chức và các ngân hàng khác không dễ dàng, thì kênh huy động vốn từ việc tham gia nghiệp vụ thị trường mở, cầm cố thế chấp trái phiếu vay vốn với NHNN, hoặc thực hiện vay vốn các tổ chức khác có đảm bảo bằng trái phiếu, hoặc bán hẳn trái phiếu trên thị trường thứ cấp được các NHTM áp dụng phổ biến Bên cạnh đó, NHTM cũng có thể cầm cố trái phiếu chính phủ tại NHNN để thiết lập hạn mức thấu chi tài khoản hoặc đảm bảo cho việc thanh toán tập trung một tài khoản tại NHNN trong thời gian ngắn nhất
- Tìm kiếm lợi nhuận: So với hoạt động tín dụng, hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ có quy mô và tỷ trọng nhỏ hơn song cũng có ý nghĩa rất quan trọng về mặt thu nhập và tạo điều kiện cho các ngân hàng thâm nhập sâu rộng vào nền kinh tế Bên cạnh đó, hoạt động này nhằm tạo cân bằng về thu nhập cho ngân hàng trong chu kỳ kinh doanh Khi thu nhập từ các khoản tín dụng giảm xuống thì thu nhập trái phiếu chính phủ có thể bù đắp lại
Việc đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ sẽ đem lại cho ngân hàng thu nhập từ việc hưởng lãi Coupon, chênh lệch giá mua và giá bán TPCP Bên cạnh
đó, NHTM có thể sử dụng nguồn vổn vay từ NHNN thông qua nghiệp vụ thị trườngmở, cầm cổ chiết khấu TPCP với lãi suất thấp để cho vay lại các tổ chức khác với lãi suất cao hơn Hơn nữa, hoạt động này cũng giúp giảm nhẹ mức độ tác động của thuế tới hoạt động ngân hàng, đặc biệt là bù đắp cho các khoản thu nhập từcho vay bị đánh thuế
- Đa dạng hóa danh mục đầu tư: hoạt động đầu tư kinh doanh TPCP cũng góp phần đa dạng hóa danh mục đầu tư, bên cạnh các nghiệp vụ truyền thống và cổ điển như tín dụng, góp vốn liên doanh liên kết Việc đa dạng hóa danh mục đầu tư giúp
Trang 22NHTM phân chia rủi ro trong hoạt động cho vay, đầu tư, đa dạng hóa lợi nhuận từ nhiều nguồn khác nhau.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh và thương hiệu ngân hàng: Hiện nay một trong những chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM là hệ số CAR Đây làtỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có rủi ro chuyển đổi Theo chuẩn quốc tể thì CAR tối thiểu phải đạt 9% Trên cơ sở đó, hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu
có mức độ rủi ro thấp như Trái phiếu Chính phủ, Tín phiếu NHNN cũng góp phần làm tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của NHTM trên cơ sở giảm tổng tài sản có rủi ro chuyển đổi, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh và thương hiệu của ngân hàng
- Tạo ra tuyến phòng thủ cho ngân hàng: Nhằm ngăn ngừa những thiệt hại mà
có thể là hậu quả của lãi suất thay đổi trên thị trường
- Đem lại tính năng động cho danh mục tài sản: Không như phần lớn các khoản vay, TPCP có thể mua được mua và bán nhanh chóng nhằm mục đích tái cơ cấu các tài sản của ngân hàng để phù hợp với điều kiện thị trường hiện tại
- Tăng cường hiệu quả của ngân hàng: Những TPCP có chất lượng và hầu như không gặp rủi ro mà ngân hàng đang nắm giữ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của ngân hàng
- Là công cụ thực hiện chính sách quản lý tài sản của NHTM: TPCP được đầu tư kinh doanh sẽ nằm trong danh mục tài sản sinh lời của NHTM Khi hoạt động mua - bán TPCP diễn ra nó sẽ tác động lên bảng cân đối kế toán của nsân hàng, nó làm thay đổi cấu trúc của danh mục tài sản Do đó, hoạt động này cũng được coi là một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện chính sách quản lý tài sản của NHTM
1.2.2 Phân loại và chiến lược thực hiện đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ của ngân hàng thương mại
Nhìn chung nghiệp vụ đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM bao gồm nhiều hoạt động cụ thể, có thể phân loại theo các tiêu chí cơ bản khác nhau, tương ứng với các chiến lược đầu tư kinh doanh khác nhau Mặt khác, tùy thuộc vào từng chiến lược đầu tư kinh doanh khác nhau thì sẽ có phương thức, điều kiện, loại hình và thị
Trang 23trường đầu tư kinh doanh tương ứng Cụ thể:
1.2.2.1 Phăn loại theo kỳ hạn đảo hạn của trải phiếu
a Chiến lược bậc thang
Biểu đồ 1.1: Mô tả chiến lược bậc thang
Đây là chiến lược được áp dụng khá phổ biến, nhất là đối với những ngân hàng thương mại qui mô nhỏ, theo chiến lược này: trước hết, ngân hàng sẽ phải chọn kỳ hạn tối đa có thể chấp nhận được và kế đến đầu tư theo những phần giá trị trái phiếu bằng nhau vào mỗi trong số những khoảng cách kỳ hạn cho tới khi đạt tới
kỳ hạn tối đa đã xác định trước.
Chẳng hạn, ngân hàng quyết định ràng họ không muốn đầu tư vào bất kỳ trái phiếu nào mà có kỳ hạn dài hơn 5 năm Ngân hàng có thể quyết định đầu
tư 20% danh mục đầu tư của họ vào những trái phiếu có thời gian đáo hạn 1 năm hoặc ngắn hạn, 20% khác vào những trái phiếu có thời hạn đáo hạn vào phạm vi 2 năm nhưng lớn hơn 1 năm, 20% tiếp theo nằm trong khoảng 2 tới 3 năm, và cứ thế cho tới khi đạt đến thời điểm 5 năm.
Chiến lược này có thể không tối đa hóa thu nhập đầu tư, nhưng có lợi thế là làm giảm những dao động về thu nhập và không đòi hỏi nhiều chuyên môn quản trị
để thực hiện Hơn nữa, phương pháp bậc thang hướng tới tạo dựng một sự năng động trong đầu tư, vì một số chứng khoán phải luôn ở trong trạng thái sẵn sàng chuyển đổi thành tiền để ngân hàng có thể sử dụng bất cứ cơ hội đầu tư hứa hẹn nào
đó mà có thể xuất hiện đột xuất.
Trang 24b Chiến lược đầu tư chuyển đáo hạn về phía trước
Biểu đồ 1.2: Mô tả chiến lược đầu tư chuyển đáo hạn về phía trước
□ Von dau tu
Một chiến lược thông dụng khác, đặc biệt dành cho các ngân hàng thương mại
có quy mô nhỏ, thanh khoản không ổn định, chỉ mua những chứng khoán ngắn hạn
và đặt tất cả số tiền đầu tư trong một khoảng thời gian ngắn Ví dụ, ngân hàng quyết định đầu tư 100% số vốn nằm ngoài nhu cầu cho vay hoặc phải dự trữ vào các trái phiếu có kỳ hạn 2 năm hoặc ngắn hơn Phương pháp này nhấn mạnh việc sử dụng danh mục đầu tư về cơ bản như là nguồn thanh khoản hơn là nguồn tạo ra thu nhập.
c Chiến lược đầu tư chuyển đáo hạn về phía sau
Biểu đồ 1.3: Mô tả chiến lưực đầu tư chuyển đáo hạn về phía sau
Bằng cách quan tâm đầu tư vào những chứng khoán dài hạn, ngân hàng nhấn
Trang 25mạnh danh mục đầu tư như là nguồn tạo ra thu nhập Chiến lược này tập trung vào mục đích tối đa hóa lợi nhuận đặc biệt là trong điều kiện lãi suất cho vay giảm tuy nhiên, rất có thể ngân hàng sẽ phải phụ thuộc nặng nề vào việc vay mượn trên thị trường tiền tệ để hỗ trợ đáp ứng nhu cầu thanh khoản của họ.
d Chiến lược Barbell
Biểu đồ 1.4: Mô tả chiến lược Barbell
Chiến lược này được tạo ra trên cơ sở kết hợp chiến lược chuyển đáo hạn về phía trước với chiến lược chuyển đáo hạn về phía sau.Theo đó, ngân hàng đặt phần lớn nguồn quỹ của họ vào danh mục gồm các chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao ở một cực, tại cực còn lại là danh mục gồm những chứng khoán dài hạn, ngân hàng sẽ đầu tư rất ít, thậm chí không đầu tư vào trái phiếu trung hạn Danh mục ngắn hạn cung cấp nguồn thanh khoản cho ngân hàng, trong khi đó danh mục dài hạn được thiết kế để đem lại nguồn thu nhập cho ngân hàng.
Sử dụng chiến lược này yêu cầu sự chú ý liên tục từ nhà quản trị ngân hàng Những trái phiếu có thời gian đáo hạn ngắn cần được chuyển sang trái phiếu ngắn hạn mới ngay khi đáo hạn Khi trái phiếu dài hạn ở giữa thời gian đáo hạn, chúng cần được chuyển sang những trái phiếu dài hạn mới.
Một điểm bất lợi của chiến lược Barbell chính là chi phí giao dịch Thêm vào
đó, những trái phiếu dài hạn thường nhạy cảm hơn với những thay đổi lãi suất Vì thế, phía gồm những trái phiếu dài hạn của danh mục đầu tư thường không ôn định hơn phía gồm những trái phiếu ngắn hạn.
Trang 26e Phương pháp dự kiến lãi suất
Biểu đồ 1.5: Mô tả phương pháp dự kiến lãi suất
chuyển các kỳ hạn của chứng khoán đã nắm giữ sao cho phù họp với những dự báo hiện thời về các mức lãi suất và trạng thái của nền kình tế Phương pháp dự kiến lãi suất này yêu cầu dịch chuyển các khoản tiền đầu tư vào chứng khoán hướng tới sự kết thúc nhanh kỳ hạn khi lãi suất được dự kiến tăng, và hướng tới sự kết thúc chậm khi lãi suất dự kiến giảm Phương pháp này, một mặt có khả năng đem lại thu nhập vốn khá lớn, nhưng mặt khác, cũng làm tăngnỗi ám ảnh về tổn thất vốn đáng kể một khi những dự kiến ban đầu về xu hướng vận động của lãi suất trái với diễn biến thực tế
Ngoài ra, đây cũng là phương pháp khá tốn kém về chi phí giao dịch, bởi vì nó đòi hỏi việc mua bán và xoay chuyển chứng khoán thường xuyên
Các ngân hàng không ngần ngại trong việc nắm giữ chứng khoán không được đảm bảo một khi chúng hứa hẹn kiếm được tiền lời đáng kể hoặc tạo ra cơ hội để giảm rủi ro tài sản mà không có bất cứ sự mất mát về lợi suất kỳ vọng Việc đầu tư như thế trở nên cần thiết hơn một khi thu nhập cho vay suy giảm và doanh sổ bán những chứng khoán mà có giátrị thị trường đã và đang tăng lên sẽ thúc đẩy thu nhập ròng và lợi tức của các cổ đông Tuy nhiên, vì sự tổn thất đối với kinh doanh chứng
HỌ C VIÊN NGẦN HÀNG TRUNG TÂM THÒNG TIN - THƯ VIỆN
SS: LV.1M 1.
Trang 27khoán làm giảm lợi nhuận ròng trước thuế, cho nên các viên chức đầu tư của ngân hàng không thích tiếp nhận những tổn thất như thế trừ khi họ có thể biểu thị cho ban giám đốc ngân hàng thấy sự tổn thất sẽ được bù đắp nhiều hơn bởi lợi nhuận kỳ vọng cao hơn trên những tài sản mới nhận được từ số thu nhập bán chứng khoán Nhìn chung, các ngân hàng có khuynh hướng muốn kinh doanh chứng khoán nếu:
+ Lợi nhuận sau thuế của họ có thể được cải thiện thông qua các chiến lượng quản lý thuế hiệu quả
+ Lợi suất cao hơn có thể bị cố định ở đoạn cuối của đường biểu diễn lợi suất dài hạn một khi sự tiên đoán lãi suất đang có chiều hướng giảm
+ Việc kinh doanh sẽ góp phần cải thiện toàn bộ chất lượng tài sản mà ngân hàng được phép khắc phục tình hình suy thoái kinh tế tốt hơn
+ Danh mục đầu tư có thể được chuyển dịch hướng tới những chứng khoán chất lượng cao mà không có sự tổn thất đáng kể về lợi nhuận kỳ vọng, đặc biệt khi danh mục cho vay đang phát sinh nhiều vấn đề bất ổn đối với ngân hàng
1.2.2.2 Phân loại theo loại hình đầu tư kinh doanh trái phiếu
a Các loại hình đầu tư kinh doanh
- Hoạt động mua và giữ đến ngày đáo hạn: Ngân hàng thực hiện hoạt động mua và nắm giữ trái phiếu đến ngày trái phiếu đáo hạn, không quan tâm nhiều đến các biến động giá cả ngắn hạn hay các chỉ số kĩ thuật Đây được đánh giá là hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu theo chiến lược thụ động Hoạt độne này được ngân hàng thực hiện trên cả hai thị trường trái phiếu sơ cấp và thứ cấp
- Hoạt động mua và bán hẳn: Ngân hàng thực hiện hoạt động mua và thực hiện bán hẳn trái phiếu nhằm tìm kiếm lợi nhuận hoặc hỗ trợ thanh khoản hệ thống ngân hàng khi cần thiết
- Hoạt động mua bán lại (reverse repo) và bán mua lại (repo) trái phiếu: Nghiệp vụ repo trái phiếu được sử dụng rộng rãi trong đầu tư kinh doanh trái phiếu tại các thị trường phát triển Giao dịch repo trở thành trung tâm đối với các hoạt động đầu tư kinh doanh, giảm thiểu rủi ro (hedging), cũng như các chiến thuật khai thác lợi nhuận chênh lệnh (arbitrage) trên thị trường
Trang 28Repo (repurchase agreement) hay họp đồng bán và cam kết mua lại thực chất
là việc sử dụng trái phiếu có thanh khoản và chất lượng tốt làm tài sản cầm cố đi vay trên thị trường Bên đi vay (người bán) sẽ ký cam kết họp đồng bán và cam kết mua lại trái phiếu với bên cho vay (người mua) tại mức giá nhất định Giao dịch này đứng ở góc độ người bán trái phiếu (đi vay) được gọi là repo Trong khi đó, nếu đứng ở góc độ người mua (cho vay) thì được gọi là giao dịch mua và cam kết bánlại (reverserepo)
Hoạt động repo cũng là một công cụ quan trọng của nghiệp vụ thị trường mở, qua đó hệ thống NHTM sẽ hồ trợ NHNN trong việc bơm hoặc hút lượng tiền lưu thông trong hệ thống ngân hàng
- Các hoạt động khác bao gồm hoạt động cầm cố, chiết khấu trái phiếuđược NHTM thực hiện nhằm tạo ra nguồn vốn với mục đích tăng khả năng đảm bảothanh khoản hoặc tìm kiếm thu nhập thông qua việc thực hiện cho vay lại nguồnvổnnày
Nhìn chung việc NHTM thực hiện các hoạt động mua bán hẳn, hoặc mua bán
có kỳ hạn hoặc các hoạt động cầm cổ chiết khấu được đánh giá là chiến lược đầu
tư kinh doanh chủ động
b Chiến lược thực hiện
- Chiến lược thụ động
Chiến lược đầu tư thụ động bao gồm việc mua và nắm giữ các trái phiếu cho đến khi đáo hạn và đầu tư vào nhữne quỹ trái phiếu hoặc những danh mục mô phỏng các chỉ số trái phiếu Cách tiếp cận thụ động có thể phù họp với những ngân hàng tìm kiếm những lợi ích truyền thống từ trái phiếu như bảo toàn vốn, thu nhập
và đa dạng hóa, tuy nhiên họ không hướng đến vốn hóa trên phần lãi suất, tín nhiệm hoặc môi trường đầu tư
Những ngân hàng mong muốn bảo toàn vốn, thu nhập hoặc đa dạng hóa có thể chỉ đơn giản mua trái phiếu và nắm giữ chúng cho đến khi đáo hạn
Đối với ngân hàng mua và nắm giữ trái phiếu đến khi đáo hạn, giá của trái phiếu chịu tác động của môi trường lãi suất khi họ mua trái phiếu lần đầu và khi
có nhu cầu tái đầu tư khi trái phiếu đáo hạn.Các chiến lược đã được đề cập có thể
Trang 29giup các nhà đâu tư mua và năm giữ trái phiêu đên khi đáo hạn quản lý rủi ro vốn có về mặt lãi suất Hình thức phổ biến nhất là phân bố trái phiếu dạng bậc thang.Danh mục trái phiếu phân bổ dạng bậc thang đầu tư bằng nhau vào các trái phiêu có thời gian đáo hạn định kỳ thường là hàng năm hoặc cách nhau mỗi năm.Khi các trái phiếu đáo hạn, tiền được tái đầu tư để duy trì thời gian đáo hạn dạng bậc thang.Các ngân hàng thường sử dụng hình thức phân bổ bậc thang để đáp ứng dòng tiền trả nợ định kỳ và giảm rủi ro khi phải tái đầu tư một khoản tiền lớn trong tình hình lãi suất thấp.
Một cách tiếp cận khác đổi với việc mua và nắm giữ trái phiếu đến khi đáo hạn là chiên lược Barbell, theo đó tiên được đâu tư vào tô họp trái phiếu ngắn và dài hạn Khi trái phiếu ngắn hạn đáo hạn, ngân hàng có thể tái đầu tư để tận dụng các
cơ hội trên thị trường trong khi các trái phiếu dài hạn mang lại trái tức hấp dẫn.Đối với chiến lược đầu tư kinh doanh thụ động nhà quản trị ngân hàng cố gắng đưa ra càng ít quyêt định đâu tư đê giảm thiêu chi phí giao dịch, bao gồm cả thuế thu nhập tài chính Tuy nhiên khi thực hiện theo chiến lược này, ngân hàng không tạo ra tính năng động trong hoạt động đầu tư kinh doanh trên cơ sở phân tích sự biến động của lãi suất và tình hình kinh tế - xã hội
- Chiến lược năng động
Chiên lược đâu tư năng động là cách tiếp cận đối lập với nỗ lực vượt qua các chỉ số trái phiếu, thường bằng cách mua và bán các trái phiếu để tận dụng các biến động về giá Chiến lược này có tiềm năng mang lại lợi nhuận tối đa Tuy nhiên, để thật sự vượt qua các chỉ số về lâu dài, đầu tư năng động đòi hỏi khả năng đưa ra những nhận định về nền kinh tế, xu hướng lãi suất và/hoặc môi trường tín dựng- kinh doanh trái phiếu hiệu quả dựa trên những nhận định đó và quản lý rủi ro
Các nhà đầu tư mong muốn vượt qua kết quả của các chỉ số trái phiếu sử dụng một cách năng động các chiến lược quản lý trái phiếu Các nhà quản lý quỹ năng động có thể nỗ lực tối đa hóa thu nhập hoặc thặng dư vốn (giá) hoặc cả hai điều này
từ trái phiếu Nhiều danh mục trái phiếu quản lý cho các nhà đầu tư tổ chức, nhiều quỹ trái phiêu tương hô và sô lượng lớn các quỹ hoán đổi danh mục được quản lý
Trang 30theo phương pháp năng động.
Một trong những hình thức quản lý năng động được sử dụng phổ biến nhất được biết đến là đầu tư tổng lợi nhuận vốn sử dụng nhiều chiến lược nhằm tối đa hóa thặng dư vốn Những nhà quản lý danh mục năng động tìm kiếm thặng dư giá
cố gắng mua các trái phiếu được định giá thấp, nắm giữ chúng đến khi giá tăng và sau đó bán các trái phiếu này trước khi chúng đáo hạn để ghi nhận lợi nhuận hoặc lý tưởng là “mua thấp và bán cao” Các nhà quản lý năng động có thể tận dụng nhiều
kỹ thuật khác nhau nhằm tìm kiến những trái phiếu có khả năng tăng giá
• Phân tích tín nhiệm: Những nhà quản trị năng động xác định các trái
phiếu có khả năng tăng giá nhờ vào cải thiện hạng mức tín nhiệm của nhà phát hành bằng cách sử dụng phương pháp phân tích tín dụng và hệ thống chấm điểm xếp hạng Ví dụ, giá các trái phiếu có thể tăng khi doanh nghiệp có đội ngũ lãnh đạo mới và giỏi hơn
• Phân tích vĩ mô: Các nhà quản trị danh mục sử dụng phương pháp phân tích
để tìm kiếm những trái phiếu có khả năng tăng giá nhờ vào các điều kiện kinh tế, một môi trường lãi suất thuận lợi hoặc bối cảnh tăng trưởng toàn cầu Ví dụ, do các thị trường mới nổi đã trở thành những yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu trong những năm gần đây, nhiều trái phiếu phát hành bởi những quốc gia này và những doanh nghiệp tại những quốc gia này đã tăng giá
• Luân phiên giữa các lĩnh vực: Căn cứ vào triển vọng của nền kinh tế, nhà
quản trị đầu tư vào những lĩnh vực nhất định có lịch sử tăng giá trong một giai đoạn
cụ thể trong chu kỳ kinh tế và tránh đầu tư vào những lĩnh vực không đạt được mức tăng như vậy
• Phân tích thị trường: Các nhà quản trị danh mục có thể mua và bán các trái
phiếu để tận dụng những biến động trong cung cầu dẫn đến các biến động về giá
• Quản lý kỳ hạn: để thể hiện nhận định và giúp quản lý rủi ro biển động lãi
suất, các nhà quản trị danh mục có thể điều chỉnh kỳ hạn của danh mục trái phiếu Các nhà quản trị có thể bảo vệ danh mục trái phiếu khỏi tác động tiêu cực lên giá bằng cách rút ngắn kỳ hạn khi họ dự đoán rằng lãi suất sẽ tăng thông qua việc chủ
Trang 31động bán một số trái phiếu dài hạn và mua các trái phiếu ngắn hạn Ngược lại các nhà quản trị năng động cũng có thể kéo dài kỳ hạn của các danh mục trái phiếu để tôi đa hóa ảnh hưởng tích cực khi lãi suất kỳ vọng giảm.
• Xác định đường cong lợi suất: Các nhà quản trị năng động có thể điều
chỉnh cấu trúc kỳ hạn của một danh mục trái phiếu dựa vào kỳ vọng về những thay đổi trong mối tương quan giữa trái phiếu với các kỳ hạn khác nhau vốn được minh họa thông qua đường cong lợi suất
• Roll down: Khi các lãi suất ngắn hạn thấp hơn các lãi suất dài hạn (thường
biết đến như là mội trường lãi suất bình thường), một nhà quản trị có thể nắm giữ trái phiếu trong một khoản thời gian cho đến khi giá tăng và bán trái phiếu đó trước khi đáo hạn để ghi nhận lợi nhuận Chiến lược này có lợi thế là tiếp tục đóng góp vào tổng lợi nhuận trong điều kiện môi trường lãi suất bình thường
• Các công cụ phái sinh: Các nhà quản trị có thể dùng họp đồng tương lai
quyền chọn và các công cụ phái sinh để tối đa hóa lợi nhuận, duy trì thanh khoản, đảm bảo khả năng thanh toán, đa dạng danh mục đầu tư dựa trên mức độ tín nhiệm của chủ thể phát hành cũng như xu hướng biến động của các mức lãi suất
Nhà quản lý trái phiếu năng động cũng có thể thực hiện nhiều bước để tối đa hóa hợi nhuận mà không cần gia tăng rủi ro quá mức bằng cách đầu tư vào các trái phiếu có kỳ hạn dài hơn và có xếp hạn tín nhiệm hơi thấp hơn do những trái phiếu này thường có trái tức cao hơn
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ của ngân hàng thưong mại
1.2.3.1 Quy mô đầu tư so với tổng tài sản
Trang 32Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng quy mô cũng sẽ là các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển về hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu.Thông qua số liệu này chothấy quy mô đầu tư kinh doanh trái phiếu của ngân hàng kỳ sau cao hơn kỳ trước bao nhiêu %.Chỉ tiêu trên phản ánh sự mở rộng và phát triển của hoạt động.
1.2.3.2 Cơ cấu trái phiếu nắm giữ
Chỉ tiêu này cho biết, trong quy mô đầu tư kinh doanh trái phiếu mà ngân hàng nắm giữ thì có bao nhiêu % đối với từng loại hình trái phiếu riêng biệt.Khi phân tích chỉ tiêu này, nếu tỷ trọng của từng loại hình trái phiếu không quá thấp hoặc không
có sự quá chênh lệch khi so sánh giữa tỷ trọng các loại hình trái phiếu với nhau thì NHTM được đánh giá là có sự đa dạng hóa về cơ cấu danh mục đầu tư kinh doanh trái phiếu
1.2.3.3 Thu nhập
Chỉ tiêu này cho biết, cứ một đồng thu nhập của NHTM thì có bao nhiêu %là
từ hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu đem lại Khi phân tích chỉ tiêu này, nếu tỷ trọng này càng lớn và kỳ sau lớn hơn kỳ trước là tốt
1.2.3.4 Tỷ suất sinh lời
Hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu phải gắn liền với việc nâng cao tỷ suất sinh lời từ hoạt động trái phiếu, được phản ánh qua chỉ tiêu cơ bản sau:
Chỉ tiêu này cho biết, cứ một đơn vị trái phiếu mà NHTM đầu tư kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập Khi phân tích chỉ tiêu này, nếu chỉ tiêu này càng lớn và kỳ sau lớn hơn kỳ trước là tốt
1.2.3.5 Doanh số giao dịch trên thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Doanh số giao dịch tăng dần trên cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Trang 33(bao gồm giao dịch outright và giao dịch repos) không những phản ánh sự phát triển
về hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của các NHTM mà còn cho thấy sự chủ động trong chiến lược đầu tư kinh doanh trái phiếu của các NHTM
1.2.3.6 Phương pháp quản trị rủi ro trong đầu tư kinh doanh trái phiếu
Phương pháp quản trị rủi ro trong hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu cần đảm bảo phát huy hiệu quả, trên cơ sở đưa ra các hạn mức quản trị rủi ro phù họp và dùng các công cụ đánh giá sự biến động của trái phiếu để hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất
Như vậy, khi xem xét đánh giá về hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu ta cần căn cứ vào các nhóm chỉ tiêu về mặt lượng và mặt chất, đồng thời không thể căn cứ vào một chỉ tiêu cụ thể nào mà phải sử dụng tổng họp một hệ thống các chỉ tiêu, và tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể mà người đánh giá có thể lựa chọn, kết hợp các chỉ tiêu phù họp nhằm đưa ra một kết quả phù hợp, khách quan và chính xác nhất Mặt khác, cũng cần phải có sự so sánh dữ liệu về các chỉ số này giữa các năm, hoặc với các đổi thủ cạnh tranh và bình quân ngành trên cơ sở biến động của nền kinh tế và các yếu tố khác Để từ đó, có phương hướng, giải pháp cho những vấn đề còn yếu kém trong hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của Ngân hàng mình, sao cho đạt kết quả mong muốn
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ của ngân hàng thương mại
1.2.4.1 Nhân tố chủ quan
- Cơ cẩu sở hữu và năng lực hoạt động của ngân hàng
Nhìn chung, việc thay đổi cấu trúc sở hữu của hệ thống Ngân hàng thương mại như việc thực hiện cổ phần hóa các ngân hàng quốc doanh, sự xuất hiện của sở hữu nước ngoài trong cơ cấu sở hữu ngân hàng sẽ có tác động đến cơ chế quản lý, xây dựng chiến lược và thực hiện các hoạt động ngân hàng, trong đó có hoạt động đầu
tư kinh doanh trái phiếu
Bên cạnh đó, năng lực hoạt động cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM Nhân tố này được phản ánh
Trang 34qua các chỉ tiêu như quy mô tài sản; tỷ lệ nợ xấu tín dụng Nếu chất lượng hoạt động không tốt như tỷ lệ nợ xấu cao, hiệu suất hoạt động và khả năng thu hồi vốn thấp thì tiềm lực tài chính và uy tín của ngân hàng nhanh chóng giảm sút, chất lượng hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu sẽ bị ảnh hưởng đáng kể.
- Công tác tô chức của ngân hàng
Khả năng tổ chức của ngân hàng ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng hoạt động đầu tư kinh doanh TPCP Tổ chức ở đây bao gồm tổ chức các phòng ban, nhân sự
và tổ chức các hoạt động trong ngân hàng Ngân hàng có cơ cấu tổ chức khoa học sẽ đảm bảo được sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban, giữa các cán
bộ nhân viên trong ngân hàng với nhau, giữa các chi nhánh trong toàn hệ thống cũng như với các cơ quan khác liên quan, đảm bảo cho hoạt động ngân hàng diễn ra trôi chảy, có hiệu quả, nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh và đáp ứng nhu cầu khách hàng nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh
- Quy trình thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trải phiếu
Quy trình ở đây là tổng họp những nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc đầu tư kinh doanh trái phiếu Trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự nhất định kể từ khi xây dựng mục tiêu kinh doanh cho tới khi lựa chọn loại trái phiếu và đo lường, định giá kết quả Đây là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn mang tính chất liên hoàn, theo một trình tự nhất định và cỏ quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Kết quả của giai đoạn trước là cơ sở để thực hiện eiai đoạn tiếp theo và tác động đến chất lượng của các giai đoạn sau
Chất lượng hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu tùy thuộc vào vào việc lập
ra một quy trình kinh doanh khoa học, logic, chặt chẽ và việc thực hiện nghiêm túc mỗi bước trong quy trình cũng như sự phối họp nhịp nhàng giữa các bước Một quy trình được xây dựng khoa học, phù họpvới điều kiện cụ thể của mỗi ngân hàng sẽ là
cơ sở để triển khai các nội dung quản lý một cách khoa học, có căn cứ lý luận và thựctiễn
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng ngân hàng
Hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM luôn có sự liên hệ chặt chẽ
Trang 35với tổc độ tăng trưởng tín dụng ngân hàng Hay nói cách khác, trong điều kiện nền kinh tế phát triển, các NHTM có xu hướng đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng tín dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận, do đó sẽ giảm bớt nguồn vốn nhàn rỗi để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu Ngược lại, trong điều kiện nền kinh tể suy thoái,các doanh nghiệp gặp khó khăn nên tác động làm giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng ngân hàng Trong điều kiện này, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và đảm bảo an toàn trong kinh doanh các NHTM thường có xu hướng phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu, đặc biệt là trái phiếu chính phủ của mình.
- Kiểm soát nội bộ
Trong điều hành kinh doanh cần đặc biệt quan tâm đến công kiểm tra, kiểm soát nội bộ để hạn chế rủi ro Thông qua kiểm soát giúp các nhà quản trị nắm được tình hình hoạt động kinh doanh đang diễn ra, những thuận lợi khó khăn, việc chấp hành những quy định pháp luật, nội quy, quy chế, chính sách kinh doanh, từ đó giúp các nhà quản trị phát hiện được những sai sót, vi phạm, những vướng mắc để kịp thời bổ sung, chỉnh sửa hợp lý
- Chất lượng đội ngũ cản bộ, nhân viên ngân hàng
Con người là nền tảng của mọi thành tựu vì vậy chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng tốt là yêu cầu hàng đầu của mọi ngân hàng, ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng hoạt động và khả năng tạo ra lợi nhuận của ngân hàng Đội ngũ nhân viên là yếu tố quyết định sự thành bại trong quản lý vốn tín dụng cũng như mọi hoạt động khác của ngân hàng Kinh tể càng phát triển, các quan hệ kinh tế càng phức tạp, cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi trình độ năng lực của nguồn nhân lực càng phải cao Đội ngũ cán bộ ngân hàng có chuyên môn nghiệp vụ giỏi,
có đạo đức, nhạy bén trong mọi tình huống là điều kiện tiền đề đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng Nếu cán bộ tín dụng có năng lực, tư cách đạo đức tốt,
có tinh thần trách nhiệm, biết đặt lợi ích của ngân hàng lên hàng đầu thì họ sẽ thực hiện tốt mọi nghiệp vụ kinh doanh nói chung và nghiệp vụ kinh doanh trái phiếu của NHTM nói riêng, giúp ngân hàng ngăn ngừa, tối thiểu hóa rủi ro có thể xảy ra trong khi thực hiện một khoản tín dụng
Trang 36- Cơ sở hạ tầng và công nghệ phục vụ hoạt động đầu tư kinh doanh TPCP
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật chính là một trong các yếu tố tiên quyếttrong việc nâng
cao chất lượng hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu Nó là công cụ giúp các giao dịch kinh doanh trái phiếucủa ngân hàng diễn ra kịp thời và nhanh chóng, chính xác, đảm bảo cập nhật dữ liệu giao dịch đầy đủ Nó cũng là phương tiện để thực hiện tổ chức, quản lý, kiểm soát nội bộ Đặc biệt với sự phát triển như vũ bão của công nghệ hiện nay, các trang thiết bị hiện đại đã giúp ngân hàng giảm chi phí bình quân của các nghiệp vụ, tiết kiệm thời gian giao dịch, có được thông tin và xử lý thông tin chính xác, kịp thời Trên cơ sở đó có quyết định đầu tư đúng đắn, không
bỏ lỡ cơ hội kinh doanh cũng như nắm bắt được các cơ hội đầu tư mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu
Ngoài ra, một số điều kiện cơ bản để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu đã được đề cập ở trên bao gồm con người, tổ chức bộ máy, công nghệ cũng được đánh giá là những nhân tố chủ quan có ảnh hưởng lớn đến hoạt động đầu
tư kinh doanh trái phiếu của NHTM Hay nói cách khác, nếu các nhân tố này được thực hiện một cách chuyên nghiệp, khoa học, hiện đại thì sẽ góp phần phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM
1.2.4.2 Nhân tố khách quan
• Một là, nhãn tổ thu nhập kỳ vọng và khả năng chịu thuế
- Ngân hàng thương mại hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận vì vậy với bất kỳ khoản đầu tư nào ngân hàng luôn hướng tới mục tiêu tối đa lợi nhuận cho mình, bao gồm cả hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ Vì vậy để lựa chọn chứng khoán đầu tư, trước hết các ngân hàng phải xác định thu nhập dự kiến tạo ra từ mỗi chứng khoán, bao gồm các khoản tiền lãi do người phát hành cam kết trả cho chứng khoán đó và khả năng có được thu nhập hoặc bị lỗ về vốn, mọi quyết định mua - bán trái phiếu đều thực hiện trên cơ sở phân tích yếu tố thu nhập mà trái phiếu đó có thể mang lại
- Mặt khác, phần lớn thu nhập lãi và vốn từ đầu tư chứng khoán của ngân hàng
là phải chịu thuế như mọi thu nhập kinh doanh thông thường khác Và do khả năng
Trang 37chịu thuế tương đối cao, các ngân hàng quan tâm đến suất sinh lợi sau thuế trên thu nhập của các khoản vay và đầu tư chứng khoán nhiều hơn là suất thu lợi trước thuế của chúng.
• Hai là, nhóm nhân tố rủi ro
Khi quan sát các chứng khoán do ngân hàng đầu tư và nắm giữ ngân hàng phải xem xét nhiều nhân tố khác nhau để quyết định chứng khoán nào cần mua và cần bán Những nhân tố cơ bản tạo nên sự lựa chọn của ngân hàng dễ thấy là các nhân tố rủi ro sau:
+ Rủi ro lãi suất
+ Rủi ro tín dụng
+ Rủi ro thanh khoản
+ Rủi ro tái đầu tư
+ Rủi ro lạm phát
+ Rủi ro kinh doanh
+ Rủi ro đảm bảo
c Ba là, nhóm nhân tổ thuộc về môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý được hiểu là một hệ thống luật và các văn bản pháp quy liên quan tới hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu nói riêng Trong nền kinh tế thị trường cỏ sự điều tiết của nhà nước, pháp luật đóng vai trò hết sức quan trọng, là hàng rào pháp lý tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng thuận lợi, bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của các chủ thể kinh
tế, nhà nước, cá nhân công dân, bắt buộc mọi chủ thể phải tuân theo
Nếu không có hệ thống luật pháp hoặc luật pháp không phù họp với các quy luật của nền kinh tế thị trường thì nền kinh tế đó sẽ xuất hiện nhiều lỗ hổng, gian lận, thiếu công bằng và mọi hoạt động kinh tế khó có thể diễn ra trôi chảy Một khung pháp lý đầy đủ sẽ tạo điều kiện cho hoạt động ngân hàng mở rộng và phát triển
Ngoài khung pháp lý chung cho hoạt động ngân hàng, các quy định của pháp luật trong các lĩnh vực khác cũng có ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân
Trang 38hàng như: luật doanh nghiệp, luật đầu tư, luật bảo vệ môi trường, Nếu luật pháp phù họp và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì cũng có nghĩa là tạo điều kiện cho hoạt động ngân hàng phát triển, đặc biệt là đối với hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM, là lĩnh vực kinh doanh có mức độ nhảy cảm cao khi yểu tố môi trường pháp lý thay đổi.
Ngoài những nhân tố cơ bản được trình bày ở trên, còn có những nhân tố khác ảnh hưởng đến việc thực hiện và quản lý hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiêu của NHTM, cụ thể như: sự phát triển của thị trường trái phiếu; thị trường tài chính; sự phát triển của hệ thống thông tin; mức độ cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh trái phiếu giữa các NHTM với nhau, giữa NHTM với các tổ chức kinh doanh trái phiếu khác; sự quan tâm của Chính phủ và bộ ngành liên quan đối với sự phát triên của thị trường trái phiếu; nhận thức của các chủ thể kinh tể vê tâm quan trọng của việc phát hành trái phiếu nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn cho hoạt động đầu tư kinh doanh
KÉT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1 nhàm làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM, luận án đã tập trung phân tích những khía cạnh sau:
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về trái phiếu chính phủ
Thứ hai,lầm rõ khái niệm hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu chính phủ
của Ngân hàng thương mại; phân tích các chiến lược kinh doanh trái phiếu chính phủ của ngân hàng thương mại; hệ thống lại các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh trái phiếu chính phủ của ngân hàng thương mại và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh trái phiếu chính phủ của ngân hàng thương mại
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐÀU T ư KINH DOANH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1 TỎNG QUAN VÈ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ VIỆT NAM
2.1.1 Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
2.1.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến dưới sự thống trị của thực dân Pháp Hệ thống tiền tệ, tín dụng được thiết lập
và hoạt động chủ yếu phục vụ chính sách thuộc địa của Nhà nước Pháp ở Việt Nam Trong suốt thời kỳ thuộc địa, sự hình thành và phát triển của hệ thống tiền tệ, tín dụng đều do Chính phủ Pháp xếp đặt, chính quyền Đông Dương thông qua Ngân hàng Đông Dương là người tổ chức thực hiện Ngay sau khi giành được chính quyền tháng 8/1945, Đảng và Chính phủ ta đã chăm lo việc phát hành tiền để tạo lập một nền tiền tệ độc lập, tự chủ của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa
Ngày 06/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam quy định: “Mọi công việc của Nha ngân khố Quốc gia và Nha tín dụng sản xuất trao cho Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã đảm nhiệm hai chức năng khác nhau: một là chức năng của Ngân khố, hai là chức năng của Ngân hàng” Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam sau đó đổi tên thành NHNN Việt Nam và được tổ chức thành hệ thống thống nhất từ Trung ương đến địa phương theo địa giới hành chính do Nhà nước độc quyền sở hữu và quản lý Hệ thống ngân hàng này tồn tại cho đến ngày Miền Nam được giải phóng Sau khi thống nhất đất nước hệ thong
NH này thay thế luôn hệ thống ngân hàng ở Miền Nam cho đến năm 1987
Ở Miền Nam, ngày 31/12/1954 Bảo Đại ký dụ số 48 thành lập Ngân hàng Quốc Gia cho Miền Nam Từ 1954 đến 1975 hệ thống ngân hàng ở Miền Nam được tổ
Trang 40chức theo hệ thống ngân hàng các nước tư bản chủ nghĩa nhưng mang nét đặc thù Việt Nam.
Trong suốt thời gian từ năm 1951 đến năm 1986, NHNN là ngân hàng duy nhất vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước và vừa kinh doanh Hệ thống NHNN thời kỳ này được tổ chức mạng lưới gần 41 chi nhánh ở các tỉnh, thành phố thị xã và
600 chi nhánh cấp huyện và một số ngân hàng chuyên doanh như Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng Ngoại thương, Quĩ tiết kiệm xã hội chủ nghĩa hoạt động dưới sự bảo trợ của nhà nước
Trước khi cải tổ, hệ thống ngân hàng Việt Nam được tổ chức như là hệ thống ngân hàng một cấp bao gồm NHNN Việt Nam và hệ thống chi nhánh từ trung ương đến địa phương phân bố theo địa giới hành chính Hệ thống này vừa đảm nhận chức năng quản lý Nhà nước về các mặt hoạt động tiền tệ, ngân hàng, tín dụng và thanh toán vừa thực hiện chức năng kinh doanh của một NHTM Kiểu tổ chức hệ thống ngân hàng như thế này thích họp với đặc thù của cơ chế quản lý kế hoạch tập trung bao cấp lúc bấy giờ nhưng khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế kinh doanh thì nó tỏ
ra kém hiệu quả và không còn phù họp nữa Năm 1986 trước sức ép của công cuộc đôi mới kinh tế đòi hỏi hệ thống ngân hàng Việt Nam phải được cải tổ sâu rộng nhằm thích ứng với tình hình và yêu cầu chuyển đổi của nến kinh tế Từ đó hệ thống ngân hàng Việt Nam bước vào thời kỳ cải tổ dần dần qua từng giai đoạn
Tháng 5/1990, Việt Nam bắt đầu triển khai hai Pháp lệnh ngân hàng, thành lập
hệ thống ngân hàng hai cấp: NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước và phát hành tiền, các NHTM thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ Sự kiện này đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam Tại thời điểm này đã có 4 NHTM nhà nước ra đời và hoạt động là: Ngân hàng Ngoại thương Việt nam; Ngân hàng Công thương Việt nam; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt nam; Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam Các NHTM cổ phần và các ngân hàng khác còn rất ít