Các định nghĩa được đưa ra khá đa dạng, chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản của RRTD như sau: “Rủi ro tín dụng là những khoản lỗ, tổn thất tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu do
Trang 1-
PHẠM NGỌC VĨNH
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2017
Trang 2-
PHẠM NGỌC VĨNH
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ THỊ KIM HẢO
HÀ NỘI - 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan: Bản luận văn Thạc sỹ này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, tình hình thực
tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đỗ Thị Kim Hảo
Các số liệu và những kết quả trong luận văn là trung thực Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu của luận văn
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên
Học viên
Phạm Ngọc Vĩnh
Trang 4Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô Trường Học Viện Ngân hàng, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS TS Đỗ Thị Kim Hảo đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn Thạc sỹ
Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Khoa sau đại học, Trường Học viện Ngân hàng đã tạo rất nhiều điều kiện để tôi học tập và hoàn thành tốt khóa học
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhật được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn
Học viên
Phạm Ngọc Vĩnh
Trang 5CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng 6
1.1.3 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng 7
1.1.4 Những thiệt hại do rủi ro tín dụng 10
1.2.QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 14 1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng 14
1.2.2 Sự cần thiết và ý nghĩa của quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng 16
1.2.3 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng 18
1.3 KINH NGHIỆM QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ BÀI HỌC CHO BIDV 38
1.3.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của một số ngân hàng thương mại 38
1.3.2 Bài học kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 44
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 45
2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 45
2.1.1 Sự hình thành và phát triển 45
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ và Cơ cấu tổ chức của BIDV 46
Trang 62.2.1 Thực trạng rủi ro tín dụng tại BIDV 52
2.2.2 Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV 66
2.3 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI BIDV 83
2.3.1 Những kết quả đã đạt được 83
2.3.2 Những hạn chế còn tồn đọng 86
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 89
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 91
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BIDV 92
3.1 MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN 92
3.1.1 Định hướng phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 92
3.1.2 Đối với Ngân hàng BIDV 95
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 97
3.2.1 Giải pháp về tổ chức 97
3.2.2 Giải pháp về chính sách tín dụng 97
3.2.3 Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng 98
3.2.4.Tăng cường kiểm tra, quản lý, giám sát nợ vay và tài sản bảo đảm 99
3.2.5 Xây dựng và khai thác có hiệu quả thông tin trong hoạt động tín dụng 101
3.2.6 Đẩy mạnh các biện pháp xử lý nợ với các khách hàng có dấu hiệu rủi ro, nợ xấu 102
3.2.7 Nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng 104
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 105
3.3.1 Hệ thống ngân hàng 105
3.3.2 Đối với Ngân hàng nhà nước 106
3.3.3 Kiến nghị đối với Chính Phủ 108
Trang 7DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 8Viết tắt Nguyên nghĩa
BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam DPRR Dự phòng rủi ro
Trang 9Bảng 2.2: Tỷ lệ nợ quá hạn BIDV 52
Bảng 2.3: Cơ cấu nhóm nợ của BIDV 52
Bảng 2.4: Tỷ lệ dự phòng RRTD và tỷ lệ mất vốn của BIDV 57
Bảng 2.5: Tỷ lệ dự phòng rủi ro cho vay khách hàng trên lợi nhuận kinh doanh của các ngân hàng năm 2016 59
Bảng 2.6: Dư nợ tín dụng theo kỳ hạn vay của BIDV 2015-1017 60
Bảng 2.7: Cơ cấu cho vay theo thành phần kinh tế 61
Bảng 2.8: Cơ cấu cho vay theo ngành nghề kinh doanh 63
Bảng 2.9: Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng 65
Bảng 2.10: Số liệu xử lý rủi ro của BIDV từ năm 2015-2017 81
Bảng 2.11: Kết quả thu nợ ngoại bảng của BIDV từ năm 2015-2017 82
Bảng 2.12: Kết quả thu nợ VAMC của BIDV từ năm 2015-2017 82
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu dư nợ cho vay tại ngày 31/12/2016 của các ngân hàng 55
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn các ngân hàng 57
Biểu đồ 2.4: Dự phòng rủi ro được trích lập của các NHTM 58
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của BIDV 47
Hình 2.2: Cơ cấu bộ máy quản lý 48
Hình 2.3: Cơ cấu tổ chức tại chi nhánh 50
Hình 2.4: Cơ cấu khối quản trị rủi ro tại hội sở BIDV 67
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, hoạt động tín dụng Ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đã đạt được những thành tựu không nhỏ đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước Đối với hầu hết các NHTM, hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu, mang lại thu nhập chính Tuy nhiên, hoạt động tín dụng chứa đựng rủi ro rất cao, gây ra hậu quả nặng nề không chỉ đối với bản thân ngân hàng mà còn đối với cả doanh nghiệp và nền kinh tế Vì vậy, tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM thực sự cần thiết đối với sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) - một trong những NHTM ra đời sớm nhất Việt Nam Tuy nhiên sự phát triển và thay đổi mạnh mẽ của hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam theo hướng hòa nhập với thông lệ quốc tế khiến các ngân hàng Việt Nam bộc lộ nhiều mặt hạn chế Trong đó, chất lượng tín dụng nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm và lo ngại
mà nguyên nhân chính là từ những hạn chế trong công tác quản trị rủi ro tín dụng Thực tế, tỷ lệ nợ xấu, nợ xử lý rủi ro của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam vẫn đang ở mức cao và có xu hướng tăng Điều này cho thấy công tác quản trị rủi ro tín dụng trong hệ thống Ngân hàng TMCP Đầu tư
và Phát triển Việt Nam đang thực hiện có những nội dung chưa phù hợp với điều kiện thực tế Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng và tìm ra các giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro tín dụng là hết
sức cần thiết Do vậy, đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP
Đầu tư và Phát triển Việt Nam” được lựa chọn nghiên cứu
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu của đề tài
Trong xu hướng hội nhập quốc tế như hiện nay đã đặt các NHTM đứng trước những khó khăn rất lớn về môi trường cạnh tranh, mức độ rủi ro trong
Trang 11hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày càng tăng, đặc biệt là rủi ro tín dụng Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng vì thế là một vấn đề đang trở lên rất nóng Đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu về hoạt động tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng được đăng trên các tạp chí và một số đề tài nghiên cứu trong những năm gần đây như:
Luận văn thạc sỹ của tác giả Ngô Thị Thanh Trà (2010): “Phân tích rủi
ro tín dụng và giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông Thôn Chi nhánh Song Phú”, Trường đại học Cần Thơ Luận văn đã phân tích cụ thể RRTD trong hoạt động Ngân hàng và đưa
ra một số giải pháp để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Ngọc Lý (2012): “Rủi ro tín dụng tại VPBank – CN Thái Nguyên”, Trường đại học kinh tế - ĐHQG Hà Nội Luận văn phân tích những nghiệp vụ ngân hàng được VPBank – Thái Nguyên thực hiện nhằm kiểm soát tình hình RRTD tại Chi nhánh
Luận văn Thạc sỹ, đề tài “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng – Thực trạng và giải pháp” của tác giả Trần Văn Kiểm (2014) Luận văn đi sâu vào phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng trong giai đoạn 2010 - 2013, từ đó đề ra các giải pháp giúp hoàn thiện hoạt động quản lý rủi ro tín dụng, giảm thiểu rủi ro tín dụng tại Chi nhánh
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Đoàn Ngọc Hòa (2017) đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam ”
Trên thực tế, hầu hết những bài nghiên cứu đều nêu lên được tính cấp thiết của đề tài, làm rõ những lý luận về hoạt động tín dụng cũng như rủi ro tín dụng, phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh tín dụng tại ngân hàng,
đề ra những giải pháp hay nhằm quản trị rủi ro tín dụng
Trang 12Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng của các NHTM nói chung cũng như của Ngân hàng TMCP
Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói riêng Tuy nhiên đề tài: “Quản trị rủi ro
tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam” vẫn tiếp tục
nghiên cứu và đưa ra những giải pháp và kiến nghị riêng của tác giả nhằm tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng của BIDV
- Đề xuất giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng của NHTM
- Phạm vi: Nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV từ năm 2014
đến năm 2016
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở của phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn là: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp điều tra nghiên cứu, phương pháp chuyên gia và một số phương pháp khác
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
Trang 13NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm
Rủi ro là vấn đề không được mong đợi trong tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội Rủi ro có thể được hiểu một cách khái quát đó là khả năng xảy ra các biến cố không lường trước, khi xảy ra sẽ làm cho kết quả thực tế khác kết quả kỳ vọng theo kế hoạch Rủi ro luôn xuất hiện bất ngờ và đe dọa
sự sống còn của doanh nghiệp, tuy nhiên muốn có lợi nhuận thì phải chấp nhận nó Vì vậy, để tồn tại và phát triển, để đứng vững trong cạnh tranh các doanh nghiệp phải đương đầu với rủi ro có thể xảy ra bằng cách tiên liệu phán đoán các rủi ro có thể xảy ra để tìm biện pháp phòng ngừa, hạn chế nhằm giảm thiểu thiệt hại do rủi ro gây ra
Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro phổ biến nhất trong hoạt động NHTM Rủi ro tín dụng cũng là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy
ra và gây hậu quả nặng nề nhất đối với hoạt động của ngân hàng vì các khoản cho vay thường chiếm quá 50% giá trị tổng tài sản và tạo ra nguồn thu chủ yếu của ngân hàng Hoạt động tín dụng tạo ra phần lớn nguồn thu cho ngân hàng song cũng tiềm ẩn rủi ro có thể gây ra những thiệt hại nặng nề thậm chí dẫn đến phá sản ngân hàng Rủi ro tín dụng là rủi ro phức tạp nhất, quản trị và phòng ngừa khó khăn nhất Nó đòi hỏi ngân hàng phải có những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu mới có thể hạn chế, ngăn ngừa bớt rủi ro, giảm tối thiểu những thiệt hại có thể xảy ra
Theo khoản 1 điều 3 Thông tư 02 ban hành ngày 21/01/2013, RRTD là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng
Trang 15thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Các định nghĩa được đưa ra khá đa dạng, chúng ta có thể rút ra các nội
dung cơ bản của RRTD như sau: “Rủi ro tín dụng là những khoản lỗ, tổn thất tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu do người vay vốn hay người sử dụng vốn của ngân hàng không trả đúng hạn, không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng với bất kỳ lý do nào”.
1.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục:
- Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên
nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt hồ
sơ cho vay, đánh giá khách hàng
Rủi ro giao dịch gồm ba loại chính là: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm
và rủi ro nghiệp vụ
+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình thẩm định, đánh
giá, phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay
+ Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như
các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo, mức
độ an toàn của tài sản
+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến quản trị hoạt động cho vay,
bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề
- Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên
nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại rủi ro là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
Trang 16+ Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, các đặc trưng riêng
có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Loại rủi ro này xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
+ Rủi ro tập trung: là rủi ro xảy ra khi ngân hàng tập trung vốn cho vay
quá nhiều đối với một đối tượng khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một đơn vị địa lý nhất định, cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
1.1.3 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
Đối với ngân hàng có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng nhưng tựu chung lại có thể phân ra làm các nhóm nguyên nhân sau:
Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Chính sách tín dụng của ngân hàng không hợp lý: chính sách tín dụng
là hệ thống các chủ trương, định hướng quy định chi phối hoạt động tín dụng nhằm sử dụng vốn hiệu quả nhất Nếu chính sách tín dụng không phù hợp sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng và có thể tạo ra nhiều rủi ro Thí
dụ như nhiều ngân hàng lại quá chú trọng vào cho vay dựa trên tài sản thế chấp, chỉ đặt ra yêu cầu có thế chấp đầy đủ là được nhận tín dụng, dẫn đến việc nới lỏng trong thẩm định cũng như giám sát thực hiện hợp đồng; có khi một tài sản thế chấp được quay vốn nhiều lần để rút vốn ngân hàng mà không bị phát hiện, nhất là khi vài ngân hàng cùng cho vay một khách hàng
mà khách hàng đó không trung thực Việc tập trung tín dụng cho một số khách hàng truyền thống thoạt xem có thể an toàn nhưng thực ra một danh mục cấp tín dụng thiếu đa dạng lại hàm chứa rất nhiều rủi ro khi “ bỏ tất cả trứng vào một giỏ” Các ngân hàng có xu hướng muốn nhanh chóng tăng số
dư nợ nhưng việc mở rộng tín dụng quá nhanh cũng đe doạ gây tình trạng quá tải, vượt quá khả năng quản lý của ngân hàng Như vậy, một chính sách
Trang 17tín dung thiếu linh hoạt, không phù hợp cũng là nguyên nhân quan trọng làm
tăng nguy cơ rủi ro tín dụng
Do đạo đức và trình độ của cán bộ ngân hàng chưa tốt: Việc lựa chọn,
bố trí sử dụng cán bộ, không đánh giá đúng năng lực cũng như phẩm chất tư cách đạo đức nghề nghiệp thì sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng Rủi ro đội ngũ cán
bộ ngân hàng có thể từ việc:
Trình độ của cán bộ ngân hàng còn yếu kém do đó không phân tích đầy
đủ khả năng quản lý kinh doanh của doanh nghiệp, phân tích báo cáo tài chính không chính xác, không biết đánh giá món vay có hiệu quả thật hay sẽ
có nhiều rủi ro, kiến thức về mặt kinh tế xã hội luật pháp của nhân viên ngân hàng hạn chế, không nắm vững được quy chế thể lệ tín dụng cũng dẫn đến rủi ro, định kỳ hạn trả nợ không chính xác, sau khi cho vay ngân hàng thiếu
sự giám sát theo dõi để người vay sử dụng vốn sai mục đích, không có biện pháp xử lý kịp thời cũng dẫn đến rủi ro tín dụng
Tư chất đạo đức của cán bộ ngân hàng kém, thiếu tinh thần trách nhiệm, cố tình không tuân thủ các chính sách tín dụng, quy trình cho vay, vi phạm đạo đức nghề nghiệp,
Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ chưa hiệu quả: kiểm tra, kiểm soát
nội bộ có ưu điểm là có thể nhanh chóng, kịp thời phát hiện rủi ro ngay khi vừa phát sinh khoản cho vay Hiện nay, đa số tất cả các NHTM đều tổ chức công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ tuy nhiên ở một số ngân hàng còn chưa được chú trọng, chỉ tồn tại trên hình thức, hiệu quả của công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ chưa cao
Công tác giám sát, quản lý sau khi cho vay chưa thực sự được chú trọng: việc giám sát, kiểm tra đồng vốn sau khi giải ngân của ngân hàng còn
lới lỏng, chưa được chú trọng Mặc dù các ngân hàng đã tập trung nhiều công sức để thẩm định, đánh giá trước khi cho vay nhưng ngân hàng cũng cần chú
Trang 18trọng đến việc quản lý khoản vay sau khi giải ngân để đảm bảo sẽ hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn
Sự phối kết hợp của các NHTM còn lỏng lẻ, hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) còn chưa thực sự hiệu quả: Các NHTM chưa hợp tác
chặt chẽ trong việc quản lý các khách hàng vay vốn để quản trị rủi ro tín dụng Khách hàng có thể cùng một lúc vay vốn nhiều ngân hàng Nếu không
có sự trao đổi, cung cấp thông tin thì rủi ro có thể xảy ra khi khách hàng vay vượt mức tối giới hạn tối đa theo quy định hoặc tài sản bảo đảm được thế
chấp, cầm cố ở nhiều ngân hàng,
Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng luôn có hai chủ thể là ngân khách hàng và NHTM Theo thống kê cho thấy, khả năng xảy ra rủi ro tín dụng xuất phát từ khách hàng là phổ biến nhất bởi khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay Nhân tố này rất đa dạng bao gồm:
Do năng lực quản lý kinh doanh của khách hàng yếu kém Nếu chiến lược
kinh doanh không được quản lý hoạch định tốt sẽ ảnh hưởng đến nguồn trả nợ Ngân hàng cho vay dựa trên kế hoạch, chiến lược kinh doanh vì đấy là nguồn trả
nợ tốt nhất, tuy nhiên nếu sự quản lý hoạch định ấy yếu kém, sẽ làm cho phương
án kinh doanh có thể đi vào phá sản Hoặc khách hàng mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh vượt quá khả năng kiểm soát trong khi đó chưa chú trọng tới phát triển theo chiều sâu thì khách hàng đó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro
Do khách hàng không tuân thủ các cam kết, không có thiện chí trong việc trả nợ vay, cố tình lừa đảo để chiếm dụng vốn ngân hàng: Nhiều trường
hợp khách hàng chủ ý cung cấp các báo cáo tài chính sai lệch, làm cho ngân hàng đánh giá sai về năng lực tài chính của họ; thậm chí có khách hàng đủ năng lực tài chính để thực hiện các điều khoản cam kết trong hợp đồng nhưng vẫn cố tình chây ỳ không chịu thực hiện nghĩa vụ Khi đi vay, các doanh
Trang 19nghiệp, khi vay vốn đều có mục đích rõ ràng, phương án kinh doanh cụ thể và khả thi; đối với các thể nhân thì có kế hoạch trả nợ cụ thể và khả thi Tuy nhiên khách hàng sau khi vay lại sử dụng vốn sai mục đích, vốn có thể được đem đầu tư vào những lĩnh vực mạo hiểm, nhiều rủi ro và khi xảy ra rủi ro thì người vay không có nguồn để trả nợ ngân hàng
Như vậy, khách hàng vừa là người mang lại thu nhập cho ngân hàng đồng thời đưa lại cho ngân hàng cả những nguy cơ rủi ro Cho nên nếu hạn chế được những nguy cơ đó sẽ làm tăng đáng kể lợi nhuận cho ngân hàng
Nguyên nhân khách quan
Nhóm nguyên nhân này bao gồm các nguyên nhân xuất phát từ môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường xã hội, môi trường tự nhiên Hoạt động của ngân hàng và của các khách hàng chịu sự tác động trực tiếp của nhân tố này Khi chính sách kinh tế vĩ mô không ổn định khách hàng sẽ gặp phải khó khăn trong việc thực hiện các phương án kinh doanh đồng thời gây khó khăn cho ngân hàng trong việc phân tích, dự đoán hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của khách hàng trong tương lai và các rủi ro khác mà khách hàng gặp phải Ngoài ra các nhân tố như khủng hoảng kinh tế thế giới, động đất, thiên tai, bão lũ nằm ngoài tầm kiểm soát của cả ngân hàng
và người đi vay, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ của khách hàng
Sự tiếp cận các yếu tố, nguyên nhân gây rủi ro trên đây giúp chúng ta nhìn nhận một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan hơn, từ đó có được đề xuất phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh của NHTM một cách hữu ích, thiết thực hơn
1.1.4 Những thiệt hại do rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn trong kinh doanh ngân hàng và nếu xẩy ra sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế -
xã hội của mỗi quốc gia, thậm chí có thể lan rộng trên phạm vi toàn cầu
Trang 20Đối với Ngân hàng thương mại
Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng: Khi rủi ro tín dụng
xảy ra sẽ phát sinh các khoản nợ khó đòi, sự ứ đọng vốn dẫn đến giảm vòng quay vốn ngân hàng Mặt khác, nó cũng làm phát sinh tăng các khoản chi phí quản lý, giám sát, thu nợ Trong khi các khoản thu nhập từ việc tăng lãi suất
nợ quá hạn không được bao nhiêu, vì đây chỉ là những khoản thu nhập ảo, thực tế ngân hàng rất khó có thể thu hồi đầy đủ chúng Bên cạnh đó, ngân hàng vẫn phải trả lãi cho các khoản tiền huy động trong khi một bộ phận tài sản của ngân hàng không thu được lãi cũng như không chuyển được thành tiền cho người khác vay và thu lãi Ngoài ra, hoạt động tín dụng có liên quan mật thiết với nhiều hoạt động khác, ví dụ như các dịch vụ của ngân hàng, do
đó rủi ro tín dụng xảy ra không chỉ làm giảm thu nhập của ngân hàng từ hoạt động tín dụng, mà còn làm giảm thu nhập từ các hoạt động khác Hơn nữa, rủi
ro tín dụng cao dẫn đến ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng rủi ro (DPRR) Kết quả là lợi nhuận của ngân hàng sẽ bị giảm sút
Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của Ngân hàng: Ngân
hàng thường lập kế hoạch cân đối dòng tiền ra (trả lãi và gốc tiền gửi, cho vay, đầu tư mới,…) và dòng tiền vào (tiền nhận gửi, tiền thu nợ gốc và lãi cho vay,…) tại các thời điểm trong tương lai Khi các hợp đồng vay không được thanh toán đầy đủ và đúng hạn sẽ dẫn đến sự không cân đối giữa hai dòng tiền Ngân hàng vẫn phải thanh toán đầy đủ và đúng hạn các khoản tiền gửi tiết kiệm nhưng lại không thu được tiền từ những hợp đồng cho vay Nếu ngân hàng không đi vay hoặc bán các tài sản của mình thì khả năng chi trả của ngân hàng sẽ bị suy yếu, gặp phải vấn đề lớn trong rủi ro thanh khoản
Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của Ngân hàng: Một khi một ngân
hàng có mức độ rủi ro của các tài sản có là cao thì ngân hàng đó thường đứng trước nguy cơ mất uy tín của mình trên thị trường Không một ai muốn gửi tiền
Trang 21vào một ngân hàng mà ngân hàng đó có tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu vượt quá mức cho phép, có chất lượng tín dụng không tốt và gây ra nhiều vụ thất thoát lớn Thông tin về việc một ngân hàng có mức độ rủi ro cao thường được báo chí nêu lên và lan truyền trong dân chúng, điều này sẽ khiến cho việc huy động vốn của ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn Bên cạnh đó, việc giảm uy tín còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng đó, đây là cơ hội tốt cho các đối thủ cạnh tranh giành giật lấy thị trường và khách hàng, càng làm cho hoạt động của ngân hàng gặp nhiều khó khăn hơn
Rủi ro tín dụng có thể làm phá sản Ngân hàng: Rủi ro tín dụng xảy ra
thường tạo cho ngân hàng những tổn thất về tài chính, nhưng những thiệt hại
về uy tín, về mất lòng tin của xã hội là những tổn thất còn lớn hơn nhiều Vấn
đề giữ uy tín là điều tối quan trọng, chỉ cần mất niềm tin vào ngân hàng thì người gửi tiền sẽ có thể kéo đến ngân hàng rút tiền Nếu rủi ro xảy ra ở mức
độ ngân hàng không có khả năng ứng phó thì sẽ gây phản ứng dây chuyền trong dân chúng, dân chúng sẽ đổ xô đến ngân hàng rút tiền gửi Đối với những khoản cho vay dài hạn ngân hàng không thể thu hồi vốn ngay, đồng thời rủi ro tín dụng đã làm mất một phần vốn của ngân hàng, như vậy ngân hàng không còn khả năng thanh toán và sẽ đi đến phá sản
Đối với hệ thống ngân hàng
Hoạt động của một ngân hàng trong một quốc gia có liên quan đến hệ thống ngân hàng và các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân trong nền kinh tế Sự
đổ vỡ của một ngân hàng có thể kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây mất lòng tin ở dân chúng và có thể dẫn tới khủng hoảng của cả nền kinh tế Nếu một ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, thậm chí dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản thì sẽ có những tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu các ngân hàng và các bộ phận kinh tế khác Nếu không có sự can thiệp kịp thời của NHNN và Chính phủ thì tâm lý sợ mất tiền sẽ lây lan đến toàn bộ người gửi
Trang 22tiền và họ sẽ đồng loạt rút tiền tại các NHTM làm cho các ngân hàng khác vô hình chung cũng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán
Đối với khách hàng
Rủi ro tín dụng không chỉ gây hậu quả nghiêm trọng đối với ngân hàng
mà nó còn có tác động xấu đối với khách hàng
Đối với người gửi tiền: khi ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng, tức là ngân hàng không thu hồi được gốc và lãi của những khoản đã cho vay Vốn để ngân hàng tài trợ các doanh nghiệp lại chính là từ nguồn tiền gửi của người gửi tiền Bên cạnh đó, khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng dẫn đến khách hàng kéo đến rút tiền ồ ạt, vì vậy ngân hàng sẽ mất khả năng thanh toán Khách hàng cũng phải đối mặt với rủi ro là họ không thể thu hồi lại khoản tiền đã gửi ngân hàng
Đối với người vay tiền: khi ngân hàng có rủi ro tín dụng ở mức độ cao ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng, người gửi tiền tới ngân hàng sẽ ít
đi và ngân hàng sẽ phải trả cho họ một lãi suất cao đồng thời ngân hàng áp dụng chính sách thận trọng hơn khi cho vay Như vậy, ngân hàng sẽ hạn chế cho vay và áp dụng các điều khoản cho vay chặt chẽ hơn, đồng thời phải áp dụng với lãi suất cao hơn để đủ bù đắp lãi suất cao từ các khoản tiền gửi Do đó, người đi vay sẽ gặp khó khăn trong việc huy động vốn và phải huy động vốn với lãi suất cao hơn, ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Đối với người khách hàng gây ra nợ xấu, nợ quá hạn đối với ngân hàng: khách hàng sẽ bị áp dụng một mức lãi suất phạt cao hơn đồng thời cơ hội để khách hàng tìm các nguồn tài trợ sẽ giảm đi rất nhiều
Đối với nền kinh tế
Hoạt động của ngân hàng có tính chất xã hội hoá cao, nó liên quan đến nhiều ngành nghề NHTM được coi là trung gian tài chính quan trọng của nền
Trang 23kinh tế có quan hệ trực tiếp và thường xuyên với tất cả các tổ chức kinh tế và mọi thành phần trong nền kinh tế Do đó khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ gây tổn thất lan truyền đến mọi tổ chức kinh tế và cá nhân khác Người gửi tiền sẽ bị mất tiền, người vay tiền sẽ gặp khó khăn trong việc huy động vốn dẫn tới tăng chi phí huy động vốn hoặc thiếu vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh Các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, khó có thể thanh toán nợ vay sẽ ảnh hưởng tới cả nền kinh tế làm cho nền kinh tế bị rối loạn, hoạt động kinh tế bị mất ổn định và ngưng trệ, mất bình ổn về quan hệ cung cấu, lạm phát, thất nghiệp, tệ nạn xã hội gia tăng, tình hình an ninh chính trị bất ổn…Có thể thấy rủi ro tín dụng và đầu mối của nhiều cuộc khủng hoảng tài chính hoặc khủng hoảng kinh tế- xã hội Sự tác động này không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế của các nước có liên quan mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn thế giới
Tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra sẽ gây ảnh hưởng
ở các mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi phải trích lập dự phòng, không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn gốc và lãi vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung
và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay
1.2.QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Khi bắt đầu xem xét một khoản tín dụng, ngân hàng cần lường trước những rủi ro có thể xảy ra Đây cũng chính là xuất phát điểm hình thành nên những ý tưởng quản trị rủi ro tín dụng của NHTM Mặc dù rủi ro tín dụng là một hiện tượng tiềm ẩn, nhưng do tính lặp lại của rủi ro nên có thể nhận biết
Trang 24được quy luật của nó, chính vì điều này mà ngân hàng có thể tìm ra những biện pháp quản lý nhằm hạn chế khả năng xảy ra rủi ro tín dụng và giảm thiểu nó một cách tối đa
Như vậy, quản trị rủi ro tín dụng là: quá trình nhận biết và đánh giá mức độ rủi ro, thực thi các biện pháp hạn chế khả năng xảy ra rủi ro và giảm thiểu tổn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra Quản trị rủi ro tín dụng bao gồm toàn
bộ quá trình thẩm định đánh giá trước khi khoản vay được phê duyệt cùng với toàn bộ quá trình giám sát và báo cáo việc tuân thủ những cam kết tín dụng Công tác quản trị này được thực hiện ngay từ khi xem xét hồ sơ xin vay vốn, thẩm định khách hàng, ký kết hợp đồng tín dụng và việc thực hiện giải ngân
và kiểm soát khi cho vay đến việc thu nợ và xử lý nợ xấu
Quản trị rủi ro tín dụng có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng vì rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp, đa dạng, phức tạp, mang tính tất yếu, luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Mặt khác, hiệu quả kinh doanh lại phụ thuộc vào mức độ rủi ro Mức thu nhập ngày càng cao thì mức độ rủi ro tiềm ẩn sẽ ngày càng lớn và ngược lại, điều đó được đúc kết qua thực tế, nhưng cho tới nay vẫn chưa có lời giải nào chính xác cho bài toán đó Vì vậy, các NHTM mong muốn đạt được kết quả kinh doanh cao với mức độ rủi ro có thể kiểm soát được, tuỳ từng thời kỳ
mà mỗi ngân hàng sẽ đề ra những kế hoạch và chiến lược khác nhau để giải quyết được cả hai vấn đề luôn tồn tại song hành thu nhập và rủi ro
Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng
Việc quản trị rủi ro tín dụng phải đạt được các mục tiêu sau:
Tạo lập được một danh mục tín dụng hợp lý, có khả năng sinh lời cao, ít rủi ro
Tạo sự chủ động, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các bộ phận tác nghiệp nhằm tìm kiếm các khoản vay có khả năng sinh lời cao và ít rủi ro
Trang 25Có những quy định để thực hiện thống nhất, minh bạch các bước công việc trong quá trình cho vay; có các quy định hợp lý về cơ cấu, tỷ lệ
Đảm bảo phản ánh minh bạch, chính xác chất lượng danh mục tín dụng, trích đủ dự phòng để bù đắp những rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay
Có hệ thống kiểm tra, kiểm soát thích hợp để phát hiện, ngăn ngừa và
xử lý kịp thời các rủi ro phát sinh đối với danh mục tín dụng
1.2.2 Sự cần thiết và ý nghĩa của quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng
Đối với các NHTM, quản trị RRTD thực sự cần thiết, bởi vì:
Thứ nhất: RRTD là một trong những vấn đề mà tất cả các NHTM phải
đương đầu Phòng ngừa hạn chế RRTD là vấn đề khó khăn phức tạp, bởi lẽ RRTD mang tính tất yếu khách quan, luôn gắn liền với hoạt động tín dụng, đồng thời lại rất đa dạng phức tạp, RRTD thường khó kiểm soát và dẫn đến những thiệt hại, thất thoát về vốn và thu nhập của ngân hàng
Thứ hai: Nếu như hoạt động phòng ngừa hạn chế RRTD được thực
hiện tốt thì sẽ đem lại những lợi ích cho ngân hàng như: (1) giảm chi phí, nâng cao được thu nhập, bảo toàn vốn cho NHTM; (2) tạo niềm tin cho khách hàng gửi tiền và nhà đầu tư; (3) tạo tiền đề để mở rộng thị trường và tăng uy tín, vị thế, hình ảnh, thị phần cho ngân hàng
Thứ ba: Hoạt động phòng ngừa hạn chế rủi ro tín dụng tốt sẽ đem lại
lợi ích cho cả nền kinh tế Trong thời đại nền kinh tế như hiện nay, các định chế tài chính có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nếu như một NHTM gặp vấn
đề thì ngay lập tức sẽ ảnh hưởng dây chuyền đến các ngân hàng khác Vì vậy, quản trị RRTD đem lại sự an toàn, ổn định cho thị trường
Thứ tư: Do vốn chủ sở hữu của ngân hàng so với tổng giá trị tài sản là
rất nhỏ nên chỉ cần một tỷ lệ nhỏ danh mục cho vay có vấn đề sẽ đẩy một ngân hàng tới nguy cơ phá sản Đặc biệt với những khoản vay doanh nghiệp
Trang 26do thường có giá trị lớn nên tổn thất xảy ra nếu khoản vay không thu hồi được
sẽ gây thiệt hại tới ngân hàng hết sức nặng nề
Thứ 2: Đảm bảo an toàn tài sản cho người gửi tiền và các doanh nghiệp Rủi ro là yếu tố gắn liền với mọi hoạt động đầu tư nói chung, trong đó
có hoạt động cho vay của ngân hàng Trong nỗ lực nhằm thu được lợi nhuận, các ngân hàng không thể chối bỏ rủi ro, nghĩa là không thể không cho vay, mà
có thể tìm cách làm cho hoạt động này trở nên an toàn và hạn chế tối đa tổn thất có thể có bằng cách đề ra cho mình một chiến lược quản trị rủi ro thích hợp Như vậy ngân hàng mới có thể bảo đảm an toàn tài sản cho người gửi tiền và các doanh nghiệp
Thứ 3: góp phần ổn định kinh tế-xã hội: hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động các doanh nghiệp, các nghành và các cá nhân, vì vậy khi một ngân hàng gặp rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửi tiền ở các ngân hàng khác hoang mang, lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các ngân hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống các ngân hàng gặp khó khăn Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, không
có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân gặp khó khăn Hơn nữa sự
Trang 27hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng,
xã hội mất ổn định
1.2.3 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng
1.2.3.1 Xây dựng chiến lược, chính sách và quy trình quản trị rủi ro tín dụng
Chiến lược quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng bao gồm các quan điểm, mục đích và mục tiêu cơ bản, giải pháp nhằm sử dụng một cách tốt nhất các nguồn lực của NHTM nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng của ngân hàng Việc xây dựng chiến lược quản trị rủi ro phù hợp với khẩu vị rủi ro và xác định rõ lượng rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận dựa trên cơ sở khả năng chịu đựng của ngân hàng trong từng thời kỳ
Việc xây dựng chiến lược quản trị rủi ro của ngân hàng phụ thuộc vào từng thời kỳ nhất định, điều kiện bên trong và bên ngoài của ngân hàng, dựa trên một số căn cứ sau:
Căn cứ vào môi trường hoạt động của ngân hàng, gồm: tình hình kinh
tế xã hội trên địa bàn hoạt động của ngân hàng, tính chất lĩnh vực mà ngân hàng cấp tín dụng, khả năng của các đối thủ cạnh tranh của ngân hàng và các quy định của cơ quan quản lý…
Căn cứ vào chính sách tín dụng của bản thân ngân hàng: Một trong
những biện pháp quan trọng để các khoản tín dụng ngân hàng đáp ứng được các
tiêu chuẩn pháp lý và đảm bảo an toàn là việc hình thành một: “Chính sách tín dụng an toàn và hiệu quả” cung cấp cho cán bộ tín dụng và nhà quản lý một
khung chỉ dẫn chi tiết để ra các quyết định tín dụng và định hướng danh mục đầu
tư Những yếu tố quan trọng nhất thường cấu thành trong chính sách tín dụng của một ngân hàng là: Các đối tượng có thể vay vốn; Mục đích của danh mục tín dụng ngân hàng xét theo các tiêu chí như: loại tín dụng, kỳ hạn, độ lớn tín dụng, chất lượng tín dụng,…; Phân hạng thẩm quyền cho vay đối với từng cán bộ tín
Trang 28dụng và hội đồng tín dụng; Phân cấp chịu trách nhiệm trong nội bộ ngân hàng và báo cáo thông tin trong nội bộ phòng tín dụng; Các sản phẩm tín dụng khác nhau
do ngân hàng cung cấp; Nguồn vốn dùng để tài trợ cho các hoạt động tín dụng; Danh mục hồ sơ vay vốn và phương thức quản lý danh mục cho vay; Quy định chính sách và quy trình ấn định mức lãi suất tín dụng, mức phí và các điều kiện hoàn trả nợ vay; Quy định những tiêu chuẩn chất lượng áp dụng chung cho tất cả các tín dụng; Quy định giới hạn tín dụng tối đa, nghĩa là quy định về tỷ lệ tổng
dự nợ, tổng tài sản lớn nhất được phép; Các phương án ưu tiên trong việc phát hiện, phân tích và xử lý tín dụng có vấn đề
Căn cứ vào hệ thống các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng: Chiến lược quản trị rủi ro phải phù hợp với chiến lược phát triển và
chính sách tín dụng của ngân hàng; Ngân hàng cần có bộ phận quản trị rủi ro
tín dụng riêng, hoạt động độc lập với các bộ phận kinh doanh khác, đảm bảo
tính trung thực trong việc nhìn nhận và phát hiện các rủi ro tiềm ẩn ngân hàng gặp phải; Thực hiện phân cấp phân quyền hợp lý, giải quyết mối quan hệ hài hòa giữa lợi ích và trách nhiệm; Quản trị rủi ro tín dụng được đặt trong mối tương quan với các rủi ro khác; Nguyên tắc cân bằng giữa chi phí và lợi ích thu về: chi phí quản trị rủi ro tín dụng phải thấp hơn thu nhập mang lại từ việc thực hiện nó
Trên cơ sở chiến lược quản trị rủi ro tín dụng, ngân hàng xây dựng chính sách, quy trình quản trị rủi ro tín dụng Chính sách và quy trình quản trị rủi ro phải đảm bảo rằng các rủi ro trọng yếu được sớm nhận dạng, được kiểm soát đầy đủ Các chính sách và quy trình quản trị rủi ro bao gồm các nội dung như: Cơ cấu tổ chức, trách nhiệm và nhiệm vụ của quản trị rủi ro; Các phương pháp nhận dạng và đo lường rủi ro; Các phương pháp xác định các giới hạn rủi ro; Quy trình xử lý việc vi phạm các giới hạn rủi ro và các ngoại lệ với chính sách, quy trình quản trị rủi ro; Hệ thống thông tin quản lý, các mẫu biểu
Trang 29báo cáo và quy trình, cơ chế báo cáo phục vụ công việc quản trị rủi ro; Cơ chế phân cấp thẩm quyền phê duyệt các giới hạn rủi ro
1.2.3.2 Nhận dạng rủi ro tín dụng
Việc nhận dạng những dấu hiệu ban đầu của các khoản vay có vấn đề của ngân hàng là rất cần thiết từ đó giúp cho ngân hàng tìm ra được các nguyên nhân gây ra chúng đồng thời có các biện pháp phù hợp nhằm ngăn ngừa hoặc xử lý chúng Việc nhận dạng rủi ro tín dụng có thể thực hiện qua các dấu hiệu của các khoản vay có vấn đề có thể xếp theo các nhóm sau:
Nhóm các dấu hiệu phát sinh rủi ro từ phía khách hàng, gồm:
Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng như: Trì hoãn
hoặc gây khó khăn, trở ngại cho ngân hàng trong quá trình kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có lý do thuyết phục; Chậm thanh toán các khoản
nợ đến hạn, có khoản nợ phải cơ cấu lại, xuất hiện nợ quá hạn do không có khả năng hoàn trả hoặc không muốn trả; Nhu cầu vay vốn tăng cao so với doanh thu, vòng quay vốn chậm; Tài sản bảo đảm không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản bảo đảm
bị giảm sút so với định giá khoản vay Tài sản có dấu hiệu bị bán, trao đổi, mất mát;
Có dấu hiệu thực hiện không đầy đủ các quy định, vi phạm pháp luật trong quan hệ tín dụng; Khách hàng có dấu hiệu sử dụng các nguồn tài trợ ngắn hạn cho đầu tư dài
hạn, chấp nhận sử dụng các nguồn vay với giá cao và mọi điều kiện,…
Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối phương pháp quản trị, tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng: Những dấu hiệu
này xuất phát từ chính hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng do đó không dễ nhận biết nếu cán bộ ngân hàng quản lý không chặt chẽ Biểu hiện
cụ thể của nhóm dấu hiệu này là: doanh thu hoặc dòng tiền thực tế của khách hàng thấp hơn nhiều so với mức dự kiến theo phương án đề nghị vay vốn của khách hàng, sản phẩm tiêu thụ chậm, hàng tồn kho ngày càng tăng, khoản
Trang 30phải thu lớn, xuất hiện các khoản phải thu kéo dài, khó đòi, tỷ lệ thanh khoản của khách hàng giảm sút, có nhiều chi phí bất hợp lý, thay đổi thường xuyên
hệ thống quản trị hoặc ban điều hành, hệ thống quản trị hoặc ban điều hành luôn có những bất đồng về mục tiêu quản trị và phương pháp điều hành,…
Nhóm các dấu hiệu phát sinh rủi ro từ phía ngân hàng, gồm:
Sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng, ví dụ như đánh giá quá cao năng lực tài chính của khách hàng so với thực tế, thông tin đánh giá không đầy đủ,… Ngoài ra ngân hàng bỏ qua các nghi ngờ khi phân tích các dữ liệu tài chính, có dấu hiệu che đậy việc đảo nợ của khách hàng thông qua việc cấp tín dụng thường xuyên và liên tục cho khách hàng, che dấu nợ quá hạn thông qua cơ cấu nợ thiếu căn cứ xác thực,…
Ngân hàng cấp tín dụng dựa trên các cam kết thiếu chắc chắn và bảo đảm của khách hàng
Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nóng, vượt tầm kiểm soát cũng như nguồn vốn của ngân hàng
Chính sách tín dụng cứng nhắc hoặc lỏng lẻo để kẽ hở bị khách hàng lợi dụng
Hồ sơ tín dụng không đầy đủ, không tuân theo quy định hiện hành về phê duyệt tín dụng,…
1.2.3.3 Đo lường rủi ro tín dụng
a Đo lường RRTD đối với từng khoản vay
Các nhà kinh tế, các nhà phân tích ngân hàng đã sử dụng nhiều mô hình
đa dạng khác nhau để đo lường rủi ro tín dụng Bao gồm các mô hình định lượng đối với phần rủi ro mà có thể đo lường được và định tính đối với phần rủi ro không thể đo lường được Các mô hình này không phản biện lại nhau, chúng mang tác dụng bổ trợ lẫn nhau, vì thế một ngân hàng có thể áp dụng nhiều mô hình để phân tích đánh giá, đo lường mức độ rủi ro tín dụng
Trang 31* Mô hình định tính
Là mô hình truyền thống dựa vào đánh giá chủ quan của người cho vay, căn cứ vào việc trả lời một số câu hỏi để đưa ra quyết định có cấp tín dụng
không? Một kiểu mô hình định tính thường dùng là mô hình 6C (6 khía cạnh
của người cho vay):
(1)Character (tư cách người vay): Cán bộ ngân hàng phải đánh giá tính
đúng đắn và hợp lý của mục đích xin vay và có tỏ thái độ trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay, có thiện chí và nỗ lực hoàn trả nợ vay khi đến hạn Trong thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp cũng như cá nhân có khả năng trả nợ nhưng không thanh toán cho ngân hàng, mà chiếm dụng vốn với mục đích cá
nhân và các khoản đầu tư kiếm tìm lợi nhuận khác
(2) Capacity (năng lực của người cho vay): Người xin vay đủ năng lực
hành vi dân sự và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng, người đại diện đặt bút ký phải là người được ủy quyền hợp pháp của công ty, có tư cách pháp nhân
(3)Cash (thu nhập của người vay): Xác định nguồn trả nợ của các
khách hàng cho các khoản vay tại ngân hàng
(4)Collateral (bảo đảm tiền vay): khách hàng có thể dùng tài sản để bảo
đảm dưới các hình thức: cầm cố, thế chấp, tín chấp, hay bảo lãnh từ bên thứ ba,…Việc nhận bảo đảm tín dụng nhằm hai mục đích: thứ nhất là nếu người
đi vay không trả nợ theo đúng thỏa thuận, thì ngân hàng sẽ thanh lý tài sản đó
để thu hồi nợ đọng; thứ hai là để ràng buộc người vay phải có trách nhiệm nhiều hơn trong việc hoàn trả nợ vay để thu hồi tài sản bảo đảm của mình, tạo
uy tín và trở thành khách hàng thân thiết của các ngân hàng
(5)Conditions (các điều kiện): Ngân hàng cần xem xét các khía cạnh
khác như: xu hướng hiện hành về công việc kinh doanh và ngành nghề của người vay, điều kiện kinh tế thay đổi sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến công
Trang 32việc của người vay,…
(6)Control (kiểm soát): Ngân hàng đánh giá những ảnh hưởng do sự
thay đổi của luật pháp, quy chế hoạt động, khả năng khách hàng đáp ứng các
tiêu chuẩn của ngân hàng
Mô hình này tương đối đơn giản tuy nhiên có hạn chế là phụ thuộc vào nguồn thông tin thu thập, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của cán bộ ngân hàng
Mô hình định lượng
Ngày nay, một số ngân hàng đã sử dụng mô hình cho điểm để lượng hóa rủi ro tín dụng Sau đây là một số mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng cơ bản thường được sử dụng nhất:
Mô hình điểm số Z
Mô hình này do E.I.Altman xây dựng để cho điểm tín dụng đối với các công ty sản xuất của Mỹ Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối với người vay và phụ thuộc vào: (i)Trị số của các chỉ số tài chính của người vay (Xј); (ii) Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ
Từ đó, Altman đi đến mô hình cho điểm như sau:
Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + X5
Trong đó:
X1 = Tỷ số vốn lưu động ròng trên tổng tài sản
X2 = Tỷ số lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản
X3 = Tỷ số lợi nhuận trước thuế, tiền lãi trên tổng tài sản
X4 = Tỷ số giá trị cổ phiếu trên giá trị ghi sổ nợ dài hạn
X5 = Tỷ số doanh thu trên tổng tài sản
Trị số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp và ngược
lại (Trị số Z có thể âm)
Trang 33Z<1.81: khách hàng có khả năng rủi ro cao
1.81<Z<3: không xác định được
Z>3: khách hàng không có khả năng vỡ nợ
Bất cứ đơn vị nào có điểm số Z thấp hơn 1,81 được xếp vào nhóm có
nguy cơ rủi ro tín dụng cao Căn cứ vào kết luận này, ngân hàng sẽ không cấp tín
dụng cho khách hàng hay cho đến khi cải thiện được điểm số Z lớn hơn 1,81
Phương pháp này đơn giản song mô hình này chỉ cho phép phân loại khách hàng vay có rủi ro và không có rủi ro Trong thực tế mức độ rủi ro tín dụng tiềm năng của mỗi khách hàng khác nhau từ mức thấp như chậm trả lãi, không được trả lãi cho đến mất hoàn toàn cả vốn gốc và lãi vay Ngoài ra không tính đến các yếu tố khó định lượng như điều kiện kinh doanh, thị trường thay đổi, danh tiếng khách hàng, mối quan hệ gắn bó lâu dài với khách hàng, sự biến động của chu kỳ kinh tế
b Đo lường rủi ro danh mục
b1 Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro danh mục tín dụng
Các chỉ tiêu để đánh giá quản trị rủi ro tín dụng của NHTM thường được dùng như sau:
- Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn là các khoản nợ mà người vay không có khả năng thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo cam kết tại hợp đồng tín dụng Khi đó khoản vay này sẽ được chuyển sang nợ quá hạn
Trang 34cao, mức độ rủi ro tín dụng càng thấp và ngược lại
- Tỷ lệ nợ xấu
Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam “V/v ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Tổ chức tín dụng” đã đánh giá chính xác hơn chất lượng tín dụng của các
Tổ chức tín dụng thông qua chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu Dư nợ cho vay của NHTM được chia thành 5 nhóm như sau:
+ Theo phương pháp định lượng (theo Điều 6 Quyết định số NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Nhóm 2: Nợ cần chú ý
Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu và được đánh giá có khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu
Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn
Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
Các khoản nợ gia hạn nợ lần đầu;
Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
Nhóm 4: Nợ nghi ngờ
Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
Trang 35Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn
Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;
Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;
+ Theo phương pháp định tính (theo Điều 7 Quyết định số 43/2005/QĐ-NHNN ngày 24/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) căn cứ vào Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận
Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn gồm các khoản nợ được NHTM đánh giá là
có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và nợ lãi đúng hạn
Nhóm 2: Nợ cần chú ý gồm các khoản nợ được NHTM đánh giá là có
khả năng thu hồi cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ
Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn gồm các khoản nợ đựơc NHTM đánh giá
là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi lãi đến hạn Các khoản nợ này được NHTM đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi
Nhóm 4: Nợ nghi ngờ gồm các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh
giá là khả năng tổn thất cao
Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn gồm các khoản nợ được tổ chức tín
Trang 36dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi, mất vốn
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3,4,5
Tỷ lệ nợ cần chú ý cho biết cứ 100 đồng dƣ nợ thì có bao nhiêu đồng
nợ cần chú ý Tỷ lệ này càng cao thì nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng của ngân hàng càng cao và ngƣợc lại
- Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập trên tổng dư nợ
Dự phòng là khoản tiền đƣợc trích lập để dự phòng cho những tổn thất
có thể xảy ra do khách hàng của NHTM không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Dự phòng rủi ro tín dụng đƣợc tính theo dƣ nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của Ngân hàng Tỷ lệ DPRR tín dụng đƣợc trích lập trên tổng dƣ
nợ càng cao chứng tỏ chất lƣợng tín dụng của ngân hàng không tốt và rủi ro mà ngân hàng gặp phải càng cao
Trang 37NHTM thực hiện trích lập DPRR tín dụng chung và cụ thể cho các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 theo Quyết định số 43/2005/QĐ-NHNN ngày 24/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để đảm bảo
an toàn trong hoạt động tín dụng ngân hàng Đây cũng là nguồn để NHTM sử dụng để bù đắp tổn thất đối với các khoản nợ
- Mức độ tập trung tín dụng
Mức độ tập trung tín dụng là tỷ trọng đầu tư vốn tín dụng phân theo từng đối tượng khách hàng, từng nhóm khách hàng, từng ngành, từng thời hạn, từng loại tiền và khu vực địa lý và mức độ tập trung cụ thể đối với từng chỉ tiêu là bao nhiêu thì lại tùy thuộc và chính sách tín dụng của từng ngân hàng dựa trên quy định của NHNN trong từng thời kỳ
- Mức độ tập trung tín dụng theo đối tượng khách hàng: Mức độ tập trung tín dụng theo đối tượng khách hàng được xét theo hai chỉ tiêu là theo một khách hàng và theo một nhóm khách hàng
- Mức độ tập trung tín dụng theo thời hạn: là tỷ trọng vốn tín dụng mà ngân hàng đang cấp cho các hình thức tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn trong danh mục đầu tư của ngân hàng đó Mức độ dồn vốn vào hình thức tín dụng nào càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn
- Mức độ tập trung tín dụng theo loại tiền: là tỷ trong vốn tín dụng vào VNĐ hay ngoại tê, phụ thuộc vào chính sách tín dụng của từng ngân hàng trong từng thời kỳ Mức độ dồn vốn vào loại tiền nào càng cao thì lợi nhuận đem lại cho ngân hàng từ loại tiền đó càng lớn nhưng rủi ro lại càng cao
- Mức độ tập trung tín dụng theo ngành nghề kinh doanh: là mức độ dồn vốn tín dụng theo danh mục các ngành nghề kinh tế, phụ thuộc vào chính sách đầu tư của ngân hàng trong từng thời kỳ kinh tế
- Mức độ tập trung tín dụng theo khu vực địa lý: là mức độ đầu tư vốn tín dụng cho các KH hoạt động theo khu vực nào ở trong nước và nước ngoài
Trang 38NH cho vay ở khu vực nào nhiều nhất thì có thể hiểu đây chính là đoạn thị trường mục tiêu của ngân hàng
- Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ
(Dư nợ năm nay - Dư nợ năm trước)
Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ (%) = - x 100%
Dư nợ năm trước
- Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm để đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng
- Chỉ tiêu này càng cao thì hoạt động của NH càng ổn định và có hiệu quả, ngược lại NH đang gặp khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm khách hàng
và thể hiện việc thực hiện kế hoạch tín dụng chưa hiệu quả Tuy nhiên nếu tỷ
lệ này quá cao đồng nghĩa với việc tiềm ẩn nợ xấu trong tương lai do dòng vốn bị chảy vào những chỗ rủi ro, kém hiệu quả Đối với những ngân hàng quản lý tốt nhưng tăng trưởng trên 20%/năm cũng nên đề phòng rủi ro trong tương lai
b2 Mô hình đo lường RRTD
Theo Basel II các ngân hàng sẽ sử dụng các mô hình dựa trên hệ thống
dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất hay tổn thất dự kiến EL
(Expected Loss) theo khả năng vỡ nợ PD (Probability of Default) với mức độ tổn thất khi vỡ nợ LGD (Loss Given Default) theo công thức sau:
EL = EAD x PD x LGD
Trong đó:
EAD (Exposure at Default): Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ Đối với khoản vay có kỳ hạn, EAD được xác định không quá khó khăn Tuy nhiên với khoản vay theo hạn mức tín dụng, tín dụng tuần hoàn thì lại khá phức tạp và EAD được tính như sau:
Trang 39EAD = Dư nợ bình quân + LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân
LEQ (Loan Equivalent Exposure) là tỷ trọng phần vốn chưa sử dụng
có nhiều khả năng sẽ được khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ
“LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân”: là phần dư
nợ khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ ngoài mức dư nợ bình quân
PD (khả năng vỡ nợ): cơ sở của xác suất này là các số liệu về các
khoản vay trong quá khứ của khách hàng gồm các khoản nợ đã trả, nợ trong hạn, nợ không có khả năng thu hồi
LGD (tỷ trọng tổn thất ước tính): là tỷ trọng phần vốn bị tổn thất trên tổng
dự nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ, đó chính là lãi đến hạn nhưng không được thanh toán và các chi phí hành chính có thể phát sinh
LGD có thể được tính toán theo công thức sau:
LGD = (EAD - Số tiền có thể thu hồi)/EAD
Trong đó số tiền có thể thu hồi bao gồm các khoản tiền mà khách hàng trả và các khoản tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp, cầm cố
Theo các công thức này, ta có thể xác định được một cách tương đối chính xác xác suất và mức độ bị rủi ro của từng loại tài sản của ngân hàng
Trang 40trong từng thời kỳ, từng loại hình tín dụng, từng lĩnh vực đầu tư,…Điều này
có ý nghĩa rất quan trọng chiếu theo giác độ kinh tế
Phương pháp xác định giá trị rủi ro VaR (Value at risk)
VaR của danh mục được định nghĩa là khoản lỗ tối đa trong một thời gian nhất định nếu loại trừ những trường hợp xấu nhất hiếm khi xảy ra Đây là phương pháp đánh giá rủi ro theo hai tiêu chuẩn: giá trị danh mục cho vay và khả năng chịu đựng rủi ro tín dụng của ngân hàng
VaR có thể hiểu như sau: “nếu không tồn tại sự kiện đặc biệt thì tổn thất tối đa trong X% các trường hợp sẽ không vượt quá V đồng trong vòng N ngày” V là giá trị rủi ro phụ thuộc vào độ tin cậy, thời gian đo lường VaR, và
sự phân bổ lời/lỗ trong khoảng thời gian này
1.2.3.4 Các biện pháp kiểm soát quản trị rủi ro tín dụng
Trên cơ sở nhận dạng rủi ro, áp dụng các phương pháp để đo lường và đánh giá rủi ro tín dụng, ngân hàng thực hiện các biện pháp cần thiết để quản trị rủi ro tín dụng để đảm bảo mức độ rủi ro là thấp nhất Các biện pháp nhằm quản trị rủi ro tín dụng gồm:
* Xây dựng và tuân thủ chặt chẽ chính sách và quy trình tín dụng
Để quản trị rủi ro tín dụng, các ngân hàng phải xây dựng các chính sách tín dụng, quy trình và thủ tục liên quan đến khoản vay Chính sách tín dụng phải phù hợp với mô hình kinh doanh và phù hợp với chiến lược quản trị rủi
ro tín dụng của ngân hàng, phù hợp với mức độ rủi ro, bản chất, quy mô và mức độ phức tạp của hoạt động cấp tín dụng của mình Các quy trình, thủ tục liên quan đến khoản vay phải cho toàn bộ vòng đời hoàn chỉnh của một khoản vay bao gồm bắt đầu từ quyết định tín dụng (quyết định cho vay), xử lý sau khi cho vay, quản lý các khoản vay thuộc nhóm phải tăng cường quản lý, quản lý các khoản cho vay có vấn đề, quản trị rủi ro tập trung và trích lập DPRR Ngoài ra, ngân hàng cũng cần phải xây dựng quy trình quản lý tài sảm