1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại công ty cổ phần dịch vụ hàng hóa nội bài,luận văn thạc sỹ kinh tế

91 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn Thiện Công Tác Phân Tích Tài Chính Tại Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Hàng Hóa Nội Bài
Tác giả Đinh Thị Thu Thảo
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Xuân Thắng
Trường học Học Viện Ngân Hàng
Chuyên ngành Tài Chính – Ngân Hàng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song, trên thực tế, công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài vẫn chưa thực sự được quan tâm, còn vướng mắc về nội dung hệ thống chỉ tiêu và phương pháp p

Trang 1

ĐINH THỊ THU THẢO

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ HÀNG HÓA NỘI BÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

ĐINH THỊ THU THẢO

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ HÀNG HÓA NỘI BÀI

Chuyên ngành : Tài chính – Ngân Hàng

Mã số : 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN XUÂN THẮNG

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung trong Luận văn là công trình độc lập nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất cứ tài liệu hay trong các công trình tương tự nào khác Số liệu và tư liệu được trích dẫn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả luận văn

Đinh Thị Thu Thảo

Trang 4

Tác giả luận văn

Đinh Thị Thu Thảo

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐÔ, SƠ ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 6

1.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÕ CỦA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp 9

1.2 TỔ CHỨC VÀ QUY TRÌNH THỰC HIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 12

1.2.1 Lập kế hoạch phân tích 13

1.2.2 Tiến hành phân tích 15

1.2.3 Kết thúc phân tích 16

1.3 NGUỒN THÔNG TIN SỬ DỤNG TRONG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 16

1.3.1 Thông tin bên ngoài 16

1.3.2 Thông tin bên trong 17

1.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH 18

1.4.1 Phương pháp so sánh 18

1.4.2 Phương pháp tỷ số 19

1.4.3 Phương pháp phân tích tài chính Dupont 20

1.4.4 Phương pháp dự báo 22

Trang 6

1.5 NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 23

1.5.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp 23

1.5.2 Phân tích khái quát các chỉ tiêu trung gian và cuối cùng trong báo cáo kết quả kinh doanh 26

1.5.3 Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính 27

1.5.4 Các chỉ số tính trong bảng lưu chuyển tiền tệ 34

1.6 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỚNG ĐẾN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP… 35

1.6.1 Nhân tố chủ quan 35

1.6.2 Nhân tố khách quan 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ HÀNG HÓA NỘI BÀI 38

2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ HÀNG HÓA NỘI BÀI 38

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài 38

2.1.2 Vị thế của Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài trong ngành……… 39

2.1.3 Cơ chế quản lý tài chính của Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài.… 41

2.1.3 Tổ chức bộ máy kế toán của Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài.… 42

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ HÀNG HÓA NỘI BÀI 45

2.2.1 Tổ chức phân tích tài chính 45

2.2.2 Phương pháp phân tích tài chính 45

2.2.3 Nội dung phân tích 46

Trang 7

2.4 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ

PHẦN DỊCH VỤ HÀNG HÓA NỘI BÀI 55

2.4.1 Những kết quả đạt được 55

2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 56

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ HÀNG HÓA NỘI BÀI 61

3.1 ĐỊNH HƯỚNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH VÀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ HÀNG HÓA NỘI BÀI 61

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ HÀNG HÓA NỘI BÀI 62

3.2.1 Về tần suất thực hiện công tác phân tích tài chính 62

3.2.2 Về quy trình phân tích 63

3.2.3 Về công tác thu thập thông tin 64

3.2.4 Về phương pháp phân tích 68

3.2.5 Về nội dung phân tích tài chính 70

3.2.6 Về tổ chức và nhân sự cho công tác phân tích tài chính 76

3.2.7 Về công tác kế toán, kiểm toán, thống kê 78

3.3 KIẾN NGHỊ 78

KẾT LUẬN 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Tên viết tắt Nội dung

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐÔ, SƠ ĐỒ

1 Danh mục bảng

Bảng 1.1: Tình hình diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn 25Bảng 2.1: So sánh các doanh nghiệp phục vụ hàng hóa phục vụ tại Cảng Hàng không Quốc tế Nội Bài 40Bảng 2.2: Bảng phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài giai đoạn 2013-2017 47Bảng 2.3: Các khoản phải thu của Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài giai đoạn 2013-2017 48Bảng 2.4: Các khoản phải trả của Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài giai đoạn 2013-2017 49Bảng 2.5: Bảng báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài trong giai đoạn 2013-2017 50Bảng 2.6: Bảng báo cáo tình hình thực hiện theo kế hoạch của Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài giai đoạn 2013-2017 52Bảng 2.7: Bảng đánh giá khả năng thanh toán của Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài giai đoạn 2013-2017 53Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành tại thời điểm 31/12/2016 66Bảng 3.2: Sản lƣợng và thị phần các doanh nghiệp phục vụ hàng hóa tại Cảng hàng không Quốc tế Nội Bài 67Bảng 3.3: Các chỉ tiêu trong phân tích Dupont 69Bảng 3.4: Bảng chỉ tiêu tài chính về hiệu quả hoạt động của NCT giai đoạn 2013-2017 70Bảng 3.5: Bảng đánh giá chỉ tiêu cơ cấu vốn của Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài giai đoạn 2013-2017 72

Trang 10

Bảng 3.6: Đánh giá chỉ tiêu cơ cấu vốn của Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài giai đoạn 2013-2017 73Bảng 3.7: Các chỉ tiêu thị trường về cổ phiếu NCT 74Bảng 3.8: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ của Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài giai đoạn 2013-2017 75

2 Danh mục biểu đồ

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu tài sản và nguồn vốn của NCT giai đoạn 2013-2017 47 Biểu đồ 2.2: Tình hình doanh thu, chi phí, lợi nhuận sau thuế của Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài giai đoạn 2013-2017 51

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trên lý thuyết cũng như thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, phân tích tài chính đóng vai trò hết sức cần thiết, phục vụ cho nhiều đối tượng khác nhau Mục đích của việc phân tích tài chính là giúp người sử dụng thông tin đánh giá được sức mạnh tài chính, khả năng sinh lời và triển vọng của doanh nghiệp Đặc biệt, đối với các công ty cổ phần, công tác này đặc biệt chiếm vị trí nổi bật bởi nó ảnh hưởng rất lớn tới việc ra quyết định của các nhà đầu tư - một nhân tố giữ vai trò không nhỏ tới hoạt động của doanh nghiệp

Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ hàng không, là lĩnh vực tương đối đặc thù với tính độc quyền nhóm và rào cản gia nhập ngành cao Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập, các ngành nghề kinh doanh được mở cửa đón nhận sự tham gia của khu vực tư nhân, sự cạnh tranh là không thể tránh khỏi Phân tích tài chính không chỉ giúp Công ty đánh giá chính xác thực trạng tài chính và tiềm năng của doanh nghiệp mà còn giúp doanh nghiệp nhận được sự quan tâm nhiều hơn của nhà cho vay hay nhà đầu tư trên thị trường Song, trên thực tế, công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài vẫn chưa thực sự được quan tâm, còn vướng mắc về nội dung hệ thống chỉ tiêu và phương pháp phân tích làm hạn chế các tác động tích cực, chưa thực sự trở thành công cụ đắc lực cho việc ra quyết định của các nhà quản lý và chưa trở thành đòn bẩy để thu hút sự quan tâm của các đối tượng liên quan khác Để khắc phục những tồn tại trong công tác phân tích tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Dịch vụ

Hàng hóa Nội Bài, tôi đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài”

Trang 12

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Các vấn đề liên quan đến phân tích tài chính doanh nghiệp nói chung được nhiều tác giả quan tâm, và cũng được đề cập đến trong nhiều sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu Có thể khái quát các vấn đề này thành hai loại, đó là các công trình chuyên về phân tích tài chính và các công trình chứa nội dung phân tích tài chính theo từng lĩnh vực hoạt động

Loại thứ nhất, các công trình chuyên về phân tích tài chính đề cập tới những vấn đề cơ bản như hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính, cơ sở dữ liệu, nội dung và phương pháp phân tích tài chính, tổ chức công tác phân tích tài chính Ngô Thế Chi, Đoàn Xuân Tiên, Vương Đình Huệ (1995) với công trình

“Kế toán, kiểm toán và phân tích tài chính doanh nghiệp” đã đề cập đến nội dung và các chỉ tiêu phân tích các báo cáo tài chính bên cạnh các nội dung về

kế toán và kiểm toán Nguyễn Trọng Cơ (1999) đã nghiên cứu luận án Tiến sĩ với đề tài “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong doanh nghiệp cổ phần phi tài chính ở Việt Nam” Nguyễn Văn Công, Nguyễn Năng Phúc, Trần Quý Liên (2002) trong tác phẩm “Lập, đọc, kiểm tra và phân tích báo cáo tài chính” bên cạnh các vấn đề về nội dung, cách lập báo cáo tài chính còn đề cập đến nội dung, phương pháp và các chỉ tiêu được sử dụng trong phân tích tài chính Nguyễn Viết Lợi (2003) trong luận án “Hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho phân tích tài chính doanh nghiệp ở Việt Nam” đã nghiên cứu về cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc phân tích

Loại thứ hai, các công trình nghiên cứu về phân tích tài chính theo lĩnh vực hoạt động cũng đã khai thác ở nhiều lĩnh vực kinh doanh của các doanh nghiệp Trần Thị Minh Hương (2008) nghiên cứu luận án tiến sĩ với đề tài “ Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính tại Tổng Công ty Hàng Không Việt Nam” Trong lĩnh vực xây dựng, Nguyễn Ngọc Quang (2002)

Trang 13

nghiên cứu luận án “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các doanh nghiệp xây dựng của Việt Nam”, Phạm Xuân Kiên (2011) với đề tài

“Phân tích tài chính trong các doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam”

và gần đây nhất là Mai Khánh Vân (2016) với đề tài “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính cho các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” Về lĩnh vực thương mại, Nguyễn Văn Hậu (2009) cũng đóng góp đề tài “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong doanh nghiệp thương mại phục vụ quản trị kinh doanh” Trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, Nghiêm Thị Thà và tập thể các tác giả (2014) đã nghiên cứu thành công đề tài nghiên cứu cấp cơ sở “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính cho các ngân hàng thương mại” Đối với lĩnh vực bất động sản, Đào Thị Thanh Hương (2015) cũng đã bảo vệ thành công Luận văn Thạc

sĩ với đề tài “Phân tích tài chính các công ty cổ phần bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”

Các công trình nghiên cứu về phân tích tài chính doanh nghiệp mặc dù

đã đưa ra cách thức, cơ sở và ý nghĩa của các doanh nghiệp nói chung và các lĩnh vực cụ thể nói riêng, tuy nhiên, các nghiên cứu ở trên chưa phản ánh đầy

đủ những vấn đề phát sinh thực tiễn hiện nay, chưa cập nhật được những vấn

đề mới cũng như nêu ra thực trạng phân tích tài chính đang tồn tại của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ hàng không, trong đó có Công

ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài

Chính vì vậy, tác giả hy vọng với đề tài “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài” sẽ góp phần khắc phục được những hạn chế và làm phong phú thêm tài liệu liên quan đến nội dung phân tích tài chính

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là góp phần làm rõ những vấn đề lý luận

Trang 14

của doanh nghiệp nói chung và thực tiễn công tác phân tích tài chính tại Công

ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài Trên cơ sở đánh giá hiệu quả của công tác này tại Công ty, đề tài đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác phân tích tài chính doanh nghiệp

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác phân tích tài chính tại Công

ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài từ năm 2013 đến năm 2017

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Phương pháp luận: phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện

chứng và duy vật lịch sử

Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: trên cơ sở phân tích lý thuyết và thực tiễn công tác phân tích tài chính tại doanh nghiệp, đề tài khái quát hoá bản chất của công tác phân tích tài chính tại Công ty, trên cơ sở đánh giá đó nhằm đưa ra những giải pháp cần thiết cho việc hoàn thiện công tác này tại Công ty

- Phương pháp so sánh: Đề tài sử dụng phương pháp so sánh để đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của Công ty qua các năm và trong mối quan

hệ với các doanh nghiệp cùng ngành – đây là một nội dung quan trọng của công tác phân tích tài chính

Phương pháp thu thập và xử lý thông tin:

- Phương pháp thu thập thông tin:

+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu tài liệu để tìm hiểu những thông tin sau:

 Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài (trong các tài liệu, giáo trình

Trang 15

về lý thuyết phân tích tài chính )

 Chủ trương, chính sách liên quan tới nội dung nghiên cứu (chủ yếu là các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước điều chỉnh các nội dung liên quan tới tài chính doanh nghiệp)

 Số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài (chủ yếu là các báo cáo tài chính của doanh nghiệp qua các năm, số liệu thống kê ngành,.v.v)

- Phương pháp xử lý thông tin:

+ Phương pháp xử lý toán học đối với các thông tin định lượng: Sử dụng phương pháp thống kê toán để xác định xu hướng diễn biến của các số liệu, xác định được quy luật của tập hợp số liệu

+ Phương pháp xử lý logic đối với các thông tin định tính: Đưa ra những phán đoán về bản chất các sự kiện và thể hiện liên hệ logic của các sự kiện

6 Kết cấu của đề tài

Đề tài với tên gọi: ”Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty

Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài”, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt và các phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về công tác phân tích tài chính doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng về công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ

phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công

ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể kinh doanh sau đây:

Trang 17

+ Các thành viên chính thức có trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ Mỗi thành viên có trách nhiệm đối với phần tương ứng với phần vốn góp Nếu như một thành viên không hoàn thành trách nhiệm trả nợ của mình, phần còn lại sẽ do các thành viên khác hoàn trả

+ Doanh nghiệp tan vỡ khi một trong các thành viên chính thức chết hay rút vốn

+ Khả năng về vốn hạn chế

+ Lãi từ hoạt động kinh doanh của các thành viên phải chịu thuế thu nhập cá nhân

 Kinh doanh công ty

Công ty là loại hình doanh nghiệp mà ở đó có sự kết hợp ba loại lợi ích: các

cổ đông (chủ sở hữu), của hội đồng quản trị và của các nhà quản lý Theo truyền thống, cổ đông kiểm soát toàn bộ phương hướng, chính sách và hoạt động của công ty Cổ đông bầu nên hội đồng quản trị, sau đó hội đồng quản trị lựa chọn ban quản lý Các nhà quản lý quản lý hoạt động của công ty theo cách thức mang lại lợi ích tốt nhất cho cổ đông Việc tách rời quyền sở hữu khỏi các nhà quản lý mang lại cho công ty các ưu thế so với kinh doanh cá thể và góp vốn

+ Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển cho cổ đông mới

+ Sự tồn tại của công ty không phụ thuộc vào sự thay đổi số lượng cổ đông + Trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạn ở phần vốn mà cổ đông góp vào công ty (trách nhiệm hữu hạn)

Mỗi loại hình doanh nghiệp có những ưu, nhược điểm riêng và phù hợp với quy mô, trình độ phát triển nhất định Hầu hết các doanh nghiệp lớn hoạt động với

tư cách là các công ty Đây là loại hình phát triển nhất của doanh nghiệp

1.1.1.2 Tài chính doanh nghiệp

Theo Lưu Thị Hương (2005), tài chính doanh nghiệp được hiểu là tổng thể những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế

Trang 18

Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm:

 Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Đây là mối quan hệ

phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp

 Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ này

được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn, để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn Ngược lại, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán và số tiền tạm thời chưa sử dụng

 Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Trong nền kinh tế, doanh nghiệp

có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thi trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường sức lao động Đây là những thị trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc, thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động,.v.v Điều quan trọng

là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường

Các quan hệ tài chính doanh nghiệp còn được thể hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để thực hiện sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần giải quyết 3 vấn đề quan trọng, đó là:

Thứ nhất, nên đầu tư dài hạn vào đâu và bao nhiêu cho phù hợp với loại

hình sản xuất kinh doanh đã lựa chọn? Đây là chiến lược đầu tư dài hạn cho doanh nghiệp và là cơ sở để dự toán vốn đầu tư

Thứ hai, nguồn vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp

có thể tiếp cận, khai thác và sử dụng xuất phát từ những nguồn nào?

Thứ ba, doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính như thế nào,

chẳng hạn sử dụng lợi nhuận như thế nào? Cân bằng thu chi thế nào? Phân

Trang 19

tích, đánh giá hoạt động tài chính sao cho hiệu quả? Đây là các quyết định trong ngắn hạn và liên quan mật thiết đến hoạt động quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp

1.1.1.3 Phân tích tài chính doanh nghiệp

Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2008) nêu rõ phân tích tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho nhà quản lý đưa ra được quyết định quản lý chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp, từ đó giúp những đối tượng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp, qua đó có những quyết định phù hợp với lợi ích của chính họ Có rất nhiều đối tượng quan tâm đến và sử dụng thông tin kinh tế tài chính của doanh nghiệp Mỗi đối tượng lại quan tâm theo giác độ và với mục tiêu khác nhau Do nhu cầu về thông tin tài chính doanh nghiệp rất đa dạng, đòi hỏi phân tích tài chính doanh nghiệp phải được tiến hành bằng nhiều phương pháp khác nhau để từ đó đáp ứng nhu cầu của các đối tượng quan tâm Chính điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho phân tích tài chính ra đời, ngày càng hoàn thiện và phát triển, đồng thời cũng tạo ra sự phức tạp của phân tích tài chính

1.1.2 Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp

Các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp có thể tập hợp thành các đối tượng chính sau đây: nhà quản lý; các cổ đông hiện tại và người đang muốn trở thành cổ đông của doanh nghiệp; người lao động; những người tham gia vào ”đời sống” của doanh nghiệp; những người cho doanh nghiệp vay tiền như ngân hàng, các tổ chức tài chính, người mua tín phiếu của doanh nghiệp, các doanh nghiệp khác.v.v ; Nhà nước; nhà phân tích tài chính;.v.v Các đối tượng sử dụng thông tin tài chính khác nhau sẽ đưa ra các quyết định với mục đích khác nhau Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2008) đã phân loại các đối tượng với mục đích sử dụng thông tin phân tích tài chính như sau:

Trang 20

1.1.2.1 Đối với nhà quản trị

Thông thường, nhà quản trị sẽ sử dụng kết quả từ hoạt động phân tích tài chính nội bộ cho mục đích của mình (khác với hoạt động phân tích tài chính bên ngoài doanh nghiệp) Thông tin từ hoạt động phân tích tài chính nội

bộ là đầy đủ các nhà phân tích trong doanh nghiệp có nhiều lợi thế để có kết quả phân tích chính xác nhất Nhà quản trị sẽ dùng kết quả hoạt động phân tích tài chính cho những mục đích sau:

Thứ nhất, hoạt động phân tích tài chính tạo ra chu kỳ đánh giá đều đặn

về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở quá khứ Từ đó theo sát được các biến động về khả năng cân đối tài chính, khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động và mức độ rủi ro tài chính của doanh nghiệp

Thứ hai, phân tích tài chính định hướng các quyết định của Ban Tổng

Giám đốc về các hoạt động đầu tư, tài trợ, chia cổ tức, mua bán sát nhập,.v.v

Thứ ba, kết quả của hoạt động phân tích tài chính là cơ sở cho các dự

báo tài chính: về dự báo hoạt động kinh doanh các năm tới, kế hoạch đầu tư cho sản xuất kinh doanh,.v.v

Cuối cùng, phân tích tài chính là công cụ để nhà quản trị kiểm soát các

công cụ quản lý

1.1.2.2 Đối với nhà đầu tư

Họ quan tâm đến lợi nhuận và khả năng trả nợ, sự an toàn trong sử dụng vốn Thông qua hoạt động phân tích tài chính, chủ đầu tư có thể đánh giá hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng điều hành hoạt động của nhà quản trị để ra quyết định tiếp tục sử dụng hoặc bãi nhiệm nhà quản trị, cũng như quyết định việc phân phối kết quả kinh doanh

Họ cũng là đối tượng quan tâm đến tài chính doanh nghiệp bởi vì các nhà đầu tư là cá nhân hay tổ chức đều đã giao vốn của mình cho doanh nghiệp

và có thể phải chịu những rủi ro trong quá trình doanh nghiệp sản xuất kinh

Trang 21

doanh Thu nhập của nhà đầu tư đến từ tiền chia lợi tức cổ phần và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư Điều này chịu ảnh hưởng lớn từ lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp Trên thực tế, nhà đầu tư sẽ quan tâm đến sự an toàn của lượng vốn đầu tư, sau đó là khả năng sinh lời và thời gian hoàn vốn Câu hỏi họ đặt

ra chính là: Lợi nhuận bình quân trên mỗi cổ phiếu của Công ty là bao nhiêu? Lợi nhuận kế toán không phải là điều mà nhà đầu tư quan tâm Dự kiến trước lợi nhuận sẽ được nghiên cứu đầy đủ trong chính sách chia lợi tức cổ phần và trong nghiên cứu rủi ro để nhà đầu tư lựa chọn những cổ phiếu phù hợp nhất

Thông thường, các cổ đông cá nhân của các công ty thường ít có kinh nghiệm và kiến thức về tài chính, do đó họ dựa vào các nhà chuyên môn đến

từ các Quỹ, các công ty chứng khoán Các chuyên gia phân tích là những người thường xuyên nghiên cứu về các thông tin kinh tế tài chính, có những cuộc tiếp xúc trực tiếp với Ban Giám đốc Tài chính của các doanh nghiệp để làm rõ triển vọng phát triển của doanh nghiệp đó cũng như các rủi ro chính, qua đó đánh giá các cổ phiếu trên thị trường

1.1.2.3 Đối với chủ nợ

Chủ nợ của doanh nghiệp sẽ quan tâm đến khả năng trả nợ và khả năng sinh lời của doanh nghiệp để đưa ra những quyết định cho vay hợp lý dựa vào tình hình tài chính của doanh nghiệp Phân tích tài chính không chỉ được phát triển trong các ngân hàng khi các ngân hàng muốn đảm bảo khả năng trả nợ của khách hàng mà còn nhận được sự quan tâm từ các doanh nghiệp cho vay, ứng trước, bán chịu

Việc phân tích tài chính đối với các khoản nợ là khác nhau Nếu đối với những khoản cho vay ngắn hạn, chủ nợ đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp thì ở những khoản cho vay dài hạn, chủ nợ quan tâm nhiều hơn đến khả năng sinh lời, là căn cứ để đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp Chi phí cho vay thay đổi theo số tiền cho vay và theo kỳ hạn vay

Trang 22

nhưng dù là khoản vay dài hạn hay ngắn hạn thì chủ nợ cũng đều quan tâm đến

cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay

1.1.2.4 Đối với cơ quan quản lý nhà nước

Dựa vào các thông tin tài chính của doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhà nước sẽ đánh giá, kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính, tình hình hạch toán của doanh nghiệp có tuân thủ đúng chính sách, chế độ và quy định của pháp luật không Đối với cơ quan Thuế, thông qua thông tin tài chính từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp sẽ xác định nghĩa vụ của đơn vị với ngân sách nhà nước Đối với cơ quan Thống kê, họ dựa vào các thông tin tài chính của doanh nghiệp để tổng hợp, phân tích thành

số liệu thống kê, chỉ số thống kê,.v.v

1.1.2.5 Đối với người lao động

Người lao động cũng là đối tượng quan tâm đến hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp, đặc biệt là khả năng sinh lời Bởi vì kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập từ tiền lương Như vậy, lợi ích của người lao động gắn liền trực tiếp với tình hình tài chính của doanh nghiệp

Ngoài ra, trong một số doanh nghiệp, người lao động cũng có thể tham gia vào việc góp vốn mua cổ phần (thông qua chương trình ESOP hoặc giao dịch cổ phiếu bên ngoài) Khi đó họ trở thành những cổ đông của công ty và mối quan tâm của họ đến tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ trở nên mật thiết hơn

1.2 TỔ CHỨC VÀ QUY TRÌNH THỰC HIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Theo Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2008), tổ chức phân tích tài chính trong doanh nghiệp là việc thiết lập trình tự các bước công việc cần tiến hành trong quá trình phân tích tài chính Để phân tích tài chính trong doanh nghiệp thực sự phát huy tác dụng trong quá trình ra quyết định, phân tích tài chính phải được tổ chức khoa học, hợp lý, phù hợp đặc điểm kinh doanh, cơ

Trang 23

chế hoạt động, cơ chế quản lý kinh tế tài chính của doanh nghiệp và phù hợp với mục tiêu quan tâm của từng đối tượng Mỗi đối tượng quan tâm với những mục đích khác nhau nên việc phân tích đối với mỗi đối tượng cũng có những nét riêng Song, nói chung, phân tích tài chính trong doanh nghiệp thường được tiến hành qua các giai đoạn sau

Sơ đồ 1.1: Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp

Nguồn: Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2008, tr.38-39)

Lập kế hoạch phân tích bao gồm việc xác định mục tiêu, xây dựng chương trình phân tích Kế hoạch phân tích phải xác định rõ nội dung phân tích, phạm vi phân tích, thời gian tiến hành, những thông tin cần thu thập, tìm hiểu

+ Dựa vào phạm vi phân tích, phân tích tài chính được chia thành phân tích toàn bộ (phân tích toàn diện) và phân tích bộ phận (phân tích chuyên đề) Phân tích toàn bộ là việc phân tích toàn bộ hoạt động tài chính trên tất cả các khía cạnh nhằm làm rõ các mặt của tài chính trong mối quan hệ nhân quả giữa chúng cũng như dưới tác động của các nguyên nhân, nhân tố bên ngoài Phân tích bộ phận hay là phân tích chuyên đề là việc tập trung vào một hay một vài khía cạnh cụ thể, trong phạm vi nào đó trong hoạt động tài chính

Trang 24

+ Dựa vào thời điểm tiến hành phân tích tài chính, phân tích tài chính được chia thành phân tích dự đoán, phân tích thực hiện và phân tích hiện hành Phân tích dự đoán (phân tích trước, phân tích dự báo) là việc phân tích hướng vào dự đoán các hiện tượng có thể xảy ra, các mục tiêu có thể đạt được trong tương lai Phân tích thực hiện (phân tích đánh giá, phân tích quá khứ) là việc phân tích tình hình đã và đang diễn ra trong quá trình tiến hành các hoạt động tài chính nhằm đánh giá thực hiện, kiểm tra thường xuyên trên cơ sở đó điều chỉnh những sai lệch, phát hiện nguyên nhân giúp nhận thức được tình hình thực hiện làm căn cứ đưa ra các quyết định Phân tích hiện hành là việc phân tích các nghiệp vụ hay kết quả thuộc hoạt động tài chính đang diễn ra nhằm xác minh tính đúng đắn của các

kế hoạch hay dự toán tài chính để có biện pháp điều chỉnh kịp thời những bất hợp

lý trong các dự toán, kế hoạch tài chính

+ Dựa vào thời điểm lập báo cáo phân tích, phân tích tài chính được chia thành phân tích thường xuyên và phân tích định kỳ Phân tích thường xuyên được đặt ngay trong qúa trình thực hiện, kết quả phân tích là tài liệu để điều chỉnh các hoạt động một cách thường xuyên Phân tích định kỳ được đặt

ra sau mỗi kỳ hoạt động, thường được thực hiện sau khi kết thúc hoạt động Kết quả phân tích của từng kỳ là cơ sở để xây dựng mục tiêu và ra quyết định cho kỳ sau

Bên cạnh việc lập kế hoạch phân tích, cần phải tiến hành sưu tầm và kiểm tra tài liệu, bảo đảm yêu cầu đủ, không thiếu, không thừa Nếu thiếu, kết luận phân tích sẽ không xác đáng, nếu thừa sẽ lãng phí thời gian, công sức và tiền của Tuỳ theo yêu cầu, nội dung, phạm vi và nhiệm vụ từng đợt phân tích cụ thể

để tiến hành thu thập, lựa chọn, xử lý tài liệu Tài liệu phục vụ cho việc phân tích bao gồm toàn bộ hệ thống báo cáo tài chính liên quan, kể cả các báo cáo kế hoạch, dự toán, định mức, các biên bản kiểm tra, xử lý có liên quan,.v.v Các tài liệu trên cần được kiểm tra tính chính xác, tính hợp pháp, kiểm tra các điều kiện

Trang 25

có thể so sánh được rồi mới sử dụng để tiến hành phân tích

1.2.2 Tiến hành phân tích

Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2008) làm rõ đây là giai đoạn triển khai, thực hiện các công việc đã ghi trong kế hoạch Tiến hành phân tích bao gồm các công việc cụ thể sau:

+ Sưu tầm tài liệu, xử lý số liệu

+ Tính toán các chỉ tiêu phân tích: Dựa vào chỉ tiêu phân tích đã xác định theo từng nội dung phân tích, các nhà phân tích sử dụng phương pháp so sánh để xác định đối tượng phân tích cụ thể, có thể so sánh tổng thể kết hợp với việc so sánh trên từng bộ phận cấu thành của chỉ tiêu ở kỳ phân tích với

kỳ gốc từ đó đánh giá chung tài chính của doanh nghiệp, xu hướng phát triển

và mối quan hệ biện chứng giữa các hoạt động kinh doanh với nhau

+ Xác định nguyên nhân và tính toán cụ thể mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích: Hoạt động tài chính của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nguyên nhân, có những nguyên nhân mà nhà phân tích có thể xác định được mức độ ảnh hưởng và có những nguyên nhân không thể xác định được mức độ ảnh hưởng của chúng đến sự biến động của đối tượng nghiên cứu Những nguyên nhân mà các nhà phân tích có thể tính toán được, lượng hóa được mức độ ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu gọi là nhân tố Vì thế, sau khi đã định lượng nhân tố cần thiết ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu bằng phương pháp thích hợp (thay thế liên hoàn, số chênh lệch, số cân đối ) để phân tích thực chất ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự thay đổi của đối tượng nghiên cứu nhằm làm rõ các quá trình, hiện tượng tài chính của doanh nghiệp

+ Tổng hợp kết quả, rút ra nhận xét, kết luận về tình hình tài chính của doanh nghiệp: Trên cơ sở kết quả tính toán, xác định ảnh hưởng của các nhân

tố đến sự biến động của chỉ tiêu nghiên cứu, các nhà phân tích cần tiến hành

Trang 26

liên hệ, tổng hợp mức độ biến động của các nhân tố đến đối tượng nghiên cứu

cụ thể nhằm khắc phục tính rời rạc, tản mạn Từ đó, rút ra các nhận xét, chỉ rõ những tồn tại, nguyên nhân dẫn đến thiếu sót, sai lầm; đồng thời, vạch ra các tiềm năng chưa được khai thác, sử dụng để có các quyết định phù hợp với mục tiêu đặt ra

1.2.3 Kết thúc phân tích

Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2008) chỉ ra đây là giai đoạn cuối cùng của việc phân tích Trong giai đoạn này cần tiến hành những công việc

cụ thể như sau:

+ Viết báo cáo phân tích

+ Hoàn chỉnh hồ sơ phân tích

1.3 NGUỒN THÔNG TIN SỬ DỤNG TRONG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thông tin: Từ những thông tin nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài doanh nghiệp, từ thông tin số lượng đến thông tin giá trị Những thông tin đó đều giúp cho nhà phân tích có thể đưa ra được những nhận xét, kết luận tinh tế và thích đáng (Lưu Thị Hương, 2005)

1.3.1 Thông tin bên ngoài

Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2008) cho rằng phân tích tài chính

có mục tiêu đi tới những dự đoán tài chính, dự đoán kết quả tương lai của doanh nghiệp, trên cơ sở đó đưa ra những quyết định phù hợp Như vậy, không thể chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu những báo biểu tài chính mà phải tập hợp đầy đủ các thông tin liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, như các thông tin chung về kinh tế, tiền tệ, thuế khóa, các thông tin về ngành kinh tế của doanh nghiệp, thông tin pháp lý, kinh tế đối với doanh nghiệp Cụ thể là:

Trang 27

+ Thông tin liên quan đến môi trường kinh tế chung

Đây là các dữ liệu về tình hình kinh tế có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Những thông tin liên quan bao gồm: trạng thái của nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi suất,.v.v Khi các tác động diễn ra theo chiều hướng tích cực, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng nhờ hoạt động kinh doanh phát triển, ngược lại khi những biến động của nền kinh tế là bất lợi, thiệt hại của doanh nghiệp là không thể tránh khỏi

+ Thông tin liên quan đến ngành

Việc phân tích tài chính cần phải đặt sự phát triển của doanh nghiệp trong mối liên hệ với các hoạt động chung của ngành Đó là các thông tin về ngành kinh doanh, bao gồm vị trí của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, thị phần, tình trạng công nghệ, cùng những thông tin về phương diện pháp lý đối với doanh nghiệp cần báo cáo cho các cơ quan quản lý nhà nước Dữ liệu theo ngành kinh tế đặc biệt là hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành là cơ sở tham chiếu để người phân tích có thể đánh giá, kết luận chính xác về tình hình tài chính của doanh nghiệp

1.3.2 Thông tin bên trong

Tuy nhiên, để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp, có thể sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn thông tin quan trọng bậc nhất Với những đặc trưng hệ thống, đồng nhất và phong phú, kế toán hoạt động như một nhà cung cấp quan trọng những thông tin đáng giá cho phân tích tài chính Vả lại, các doanh nghiệp cũng có nghĩa vụ cung cấp các thông tin kế toán cho các đối tác bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Thông tin kế toán được phản ánh khá đầy đủ trong các báo cáo kế toán Phân tích tài chính được thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài chính – được hình thành thông qua việc xử lý các báo cáo kế toán chủ yếu:

Đó là Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Ngân quỹ (Báo cáo

Trang 28

lưu chuyển tiền tệ) – (theo Lưu Thị Hương, 2005)

1.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH

Về cơ bản có nhiều phương pháp và công cụ để xử lý các thông tin trong phân tích tài chính, nhưng trên thực tế, các phương pháp chính được sử dụng

để xử lý thông tin bao gồm: phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp so sánh, phương pháp chỉ số và phương pháp phân tích tài chính Dupont (Lưu Thị Hương, 2005)

1.4.1 Phương pháp so sánh

Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2008) chỉ ra so sánh là phương pháp được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong phân tích kinh tế nói chung và phân tích tài chính nói riêng Mục đích của so sánh là làm rõ sự khác biệt hay những đặc trưng riêng có và tìm ra xu hướng, quy luật biến động của đối tượng nghiên cứu; từ đó, giúp cho các chủ thể quan tâm có căn cứ để đề ra quyết định lựa chọn Khi sử dụng phương pháp so sánh, các nhà phân tích cần chú ý một số vấn đề sau đây:

+ Điều kiện so sánh được của chỉ tiêu: Chỉ tiêu nghiên cứu muốn so sánh được phải đảm bảo thống nhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian và đơn vị đo lường

+ Gốc so sánh: Gốc so sánh được lựa chọn có thể là gốc về không gian hay thời gian, tuỳ thuộc vào mục đích phân tích Về không gian, có thể so sánh đơn vị này với đơn vị khác, bộ phận này với bộ phận khác, khu vực này với khu vực khác Việc so sánh về không gian thường được sử dụng khi cần xác định vị trí hiện tại của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh, so với số bình quân ngành, bình quân khu vực Cần lưu ý rằng, khi so sánh về mặt không gian, điểm gốc và điểm phân tích có thể đổi chỗ cho nhau mà không ảnh hưởng đến kết luận phân tích Về thời gian, gốc so sánh được lựa chọn là các kỳ đã qua (kỳ trước, năm trước) hay kế hoạch, dự toán Cụ thể:

Trang 29

- Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích, gốc so sánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước hoặc hàng loạt kỳ trước (năm trước) Lúc này sẽ so sánh trị số chỉ tiêu giữa kỳ phân tích với trị số chỉ tiêu ở các kỳ gốc khác nhau;

- Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, gốc so sánh là trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích Khi đó, tiến hành so sánh giữa trị số thực tế với trị số kế hoạch của chỉ tiêu nghiên cứu

- Khi đánh giá vị thế của doanh nghiệp trong ngành, đánh giá năng lực cạnh tranh thường so sánh chỉ tiêu thực hiện của doanh nghiệp với bình quân chung của ngành hoặc so với chỉ tiêu thực hiện của đối thủ cạnh tranh + Các dạng so sánh: Các dạng so sánh thường được sử dụng trong phân tích là so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối

- So sánh bằng số tuyệt đối: phản ánh qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu nên khi so sánh bằng số tuyệt đối, các nhà phân tích sẽ thấy rõ được sự biến động

về qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ (điểm) phân tích với kỳ (điểm) gốc

- So sánh bằng số tương đối: Khác với số tuyệt đối, khi so sánh bằng

số tương đối, các nhà quản lý sẽ nắm được kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, xu hướng biến động, quy luật biến động của các chỉ tiêu kinh tế

1.4.2 Phương pháp tỷ số

Theo Lưu Thị Hương (2005), phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để phân tích Đó là các tỷ số được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều

kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện Bởi lẽ: thứ nhất: Nguồn

thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và được cung cấp đầy đủ hơn Đó là

cơ sở để hình thành những tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ số

của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp; thứ hai, Việc áp dụng

công nghệ tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính

Trang 30

toán hàng loạt các tỷ số; thứ ba: Phương pháp phân tích này giúp nhà phân tích

khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ

số theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn

Về nguyên tắc, với phương pháp tỷ số, cần xác định được các ngưỡng, các

tỷ số tham chiếu Để đánh giá tình trạng tài chính của một doanh nghiệp cần so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với các tỷ số tham chiếu Như vậy, phương pháp so sánh luôn được sử dụng kết hợp với các phương pháp phân tích tài chính khác Khi phân tích, nhà phân tích thường so sánh theo thời gian (so sánh

kỳ này với kỳ trước) để nhận biết xu hướng thay đổi tình hình tài chính của doanh nghiệp, theo không gian (so sánh với mức trung bình ngành) để đánh giá

vị thế của doanh nghiệp trong ngành

1.4.3 Phương pháp phân tích tài chính Dupont

Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2008) chỉ ra phương pháp Dupont dựa trên cơ sở kiểm soát các chỉ tiêu phân tích tài chính phức tạp Mỗi chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ tài chính dưới dạng các tỷ số, khi tỷ số tài chính tăng hay giảm tùy thuộc vào mẫu số và tử số của tỷ số đó Mặt khác, mỗi tỷ số tài chính còn ảnh hưởng bởi các quan hệ tài chính của doanh nghiệp với các bên

có liên quan và quan hệ nội tại của các hoạt động tài chính mà nó phản ánh Chính vì vậy, việc thiết lập quan hệ của mỗi tỷ số tài chính với những nhân tố ảnh hưởng đến nó theo một trình tự logic, chặt chẽ và nhìn rõ ràng hơn các hoạt động tài chính của doanh nghiệp để có cách thức tác động vào từng nhân

tố một cách hợp lý và hiệu quả nhất

Phương pháp Dupont là phương pháp phân tích nhằm đánh giá sự tác động tương hỗ giữa các tỷ số tài chính: tỷ suất hoạt động và tỷ suất doanh lợi tiêu thụ để xác định khả năng sinh lời của vốn đầu tư

Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận ròng, doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) là chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiện của mục tiêu

Trang 31

này Công thức xác định như sau:

ROE = Lợi nhuận sau thuế

Vốn chủ sở hữu

ROE phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, tăng mức doanh lợi của vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản

lý tài chính doanh nghiệp

Ngoài ra, còn có chỉ tiêu doanh lợi tài sản (ROA) được tính theo công thức:

ROA = Lợi nhuận trước thuế & lãi

Khi sử dụng phương pháp phân tích tài chính Dupont nhằm đánh giá tác động tương hỗ giữa các tỷ số tài chính, nhà phân tích có thể thực hiện việc tách tỷ số ROE:

Trang 32

giá trị tài sản cho các chủ sở hữu Còn ROA phản ánh mức sinh lời của toàn

bộ danh mục tài sản của doanh nghiệp – khả năng quản lý tài sản của các nhà quản lý EM là hệ số nhân vốn chủ sở hữu, nó phản ánh mức độ huy động vốn

từ bên ngoài của doanh nghiệp Nếu EM tăng, điều đó chứng tỏ doanh nghiệp tăng vốn huy động từ bên ngoài

Tách ROA:

PM: Doanh lợi tiêu thụ phản ánh tỷ trọng lợi nhuận sau thuế trong doanh thu của doanh nghiệp

AU: hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp

Khi PM tăng thể hiện doanh nghiệp quản lý doanh thu và quản lý chi phí có hiệu quả

Như vậy, doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) có thể được biến đổi như sau:

ROE = PM x AU x EM

Có thể tóm tắt các yếu tố cơ bản tác động đến ROE của một doanh nghiệp đó là khả năng tăng doanh thu, công tác quản lý chi phí, quản lý tài sản và đòn bẩy tài chính

1.4.4 Phương pháp dự báo

Phan Đức Dũng (2010) bổ sung thêm phương pháp phân tích dự báo được áp dụng theo các cách sau đây:

+ Phương pháp dự báo theo dạng bình phương nhỏ nhất: Đây là

phương pháp toán học được vận dụng trong phân tích kinh tế Việc sử dụng phương pháp này giúp nhận biết xu hướng biến động của các khoản mục, chỉ

số qua các năm, đồng thời phục vụ cho công tác dự báo các số liệu tương lai

+ Phương pháp dự báo theo tỷ lệ % so với doanh thu: Một cách đơn

giản để dự báo hoạt động tài chính của công ty là đặt trong mối quan hệ giữa

Trang 33

báo cáo thu nhập và bảng cân đối kế toán với doanh thu dự kiến trong tương lai Các hệ số của tỷ lệ phần trăm so với doanh thu, biến phí và hầu hết đối với tài sản lưu động và nợ ngắn hạn đều chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự biến động của doanh thu Tất nhiên không phải toàn bộ các khoản mục đều chịu ảnh hưởng này và chắc chắn là một vài dự báo cần tính toán một cách độc lập

Dù vậy, phương pháp tỷ lệ phần trăm so với doanh thu là một phương pháp đơn giản, cho phép dự báo hầu hết các biến số tài chính quan trọng

+ Phương pháp dự báo cảm tính: Căn cứ vào những dự báo khách

quan về sự thay đổi của thị trường trong tương lai và bằng cảm tính chúng ta

có thể ước đoán mức độ thay đổi của các khoản mục trong năm tiếp theo

1.5 NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.5.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp

Theo Phan Đức Dũng (2010), khi phân tích tài chính, nhà phân tích cần phải phân tích một cách khái quát các báo cáo tài chính của công ty Để làm được điều này, cần phải xem xét trước hết ở sự thay đổi của bảng cân đối kế toán, tức là

sự tăng giảm về mặt tổng số của tài sản và nguồn vốn Sự thay đổi này nói lên sự thay đổi về quy mô hoạt động của công ty Tuy nhiên, khi xem xét sự thay đổi trên bảng cân đối kế toán cần chú ý rằng sự tăng giảm đó chỉ đơn thuần là sự thay đổi

về số lượng, chưa thể giải thích điều gì về hiệu quả tài chính của công ty

 Phân tích tình hình kết cấu và biến động tài sản

Phân tích cơ cấu tài sản giúp người phân tích tìm hiểu sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của tài sản qua các thời kỳ như thế nào, sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp với việc nâng cao năng lực kinh tế để phục vụ cho chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không Ngoài ra, việc phân tích này còn cung cấp cho nhà phân tích nhìn về quá khứ tìm kiếm

một xu hướng, bản chất sự biến động tài sản của doanh nghiệp

Trang 34

Khi phân tích cơ cấu tài sản, ngoài việc so sánh sự biến động trên tổng số tài sản và từng loại tài sản (tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho,.v.v.) giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, các nhà phân tích còn tính ra và so sánh tỷ trọng của từng loại tài sản chiếm trong tổng số, từ đó thấy được xu hướng biến động và mức độ hợp lý của việc phân bổ

Tỷ trọng của từng bộ phận

Tài sản =

Giá trị của từng bộ phận tài sản

X 100 Tổng tài sản

 Phân tích cơ cấu nguồn vốn

Phân tích cơ cấu nguồn vốn nhằm giúp nhà phân tích tìm hiểu được sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của nguồn vốn qua các thời kỳ Sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp với việc nâng cao năng lực tài chính, tính tự chủ tài chính, khả năng tận dụng, khai thác nguồn vốn trên thị trường cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay không cũng như có phù hợp với chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không? Phân tích cơ cấu nguồn vốn cung cấp thông tin cho người phân tích sự thay đổi nguồn vốn, một xu hướng cơ cấu nguồn vốn hợp lý trong tương lai

Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng được tiến hành tương tự như việc phân tích cơ cấu tài sản Cùng với việc so sánh tổng nguồn vốn cũng như từng loại nguồn vốn giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, các nhà phân tích còn tính ra và so sánh tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số, từ đó thấy được

xu hướng biến động, mức độ hợp lý và tính tự chủ tài chính của doanh nghiệp

Tỷ trọng của từng bộ phận

nguồn vốn =

Giá trị của từng bộ phận nguồn vốn

X 100 Tổng nguồn vốn

Phân tích diễn biến tạo nguồn vốn và sử dụng vốn trong doanh nghiệp

Trong phân tích nguồn vốn và sử dụng vốn, người ta thường xem xét sự thay đổi của các nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của một doanh nghiệp

Trang 35

trong một thời kỳ theo số liệu giữa hai thời điểm lập Bảng cân đối kế toán Một trong những công cụ hữu hiệu của nhà quản lý tài chính là bảng kê nguồn vốn và

sử dụng vốn (Bảng tài trợ) Nó giúp các nhà phân tích xác định rõ các nguồn cung ứng vốn và việc sử dụng các nguồn vốn đó (theo Lưu Thị Hương, 2005)

Bảng 1.1: Tình hình diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn

3 Lợi nhuận để lại

Nguồn: Lưu Thị Hương (2005, tr.56)

Tổng Tạo vốn = Tổng Sử dụng vốn

Trang 36

Nội dung phân tích này cho biết trong một kỳ kinh doanh, vốn tăng giảm bao nhiêu, tình hình sử dụng vốn như thế nào, những chỉ tiêu nào là chủ yếu ảnh hưởng đến sự tăng giảm nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp, tỷ trọng của những yếu tố đó trên tổng tạo vốn và sử dụng vốn là bao nhiêu, từ đó có giải pháp khai thác các nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

1.5.2 Phân tích khái quát các chỉ tiêu trung gian và cuối cùng trong báo cáo kết quả kinh doanh

Theo Lưu Thị Hương (2005), trong phân tích tài chính, các nhà phân tích thường kết hợp chặt chẽ những đánh giá về trạng thái tĩnh với những đánh giá về trạng thái động để đưa ra một bức tranh toàn cảnh về tình hình tài chính của doanh nghiệp Khi phân tích trạng thái động, trong một số trường hợp, người ta chủ trọng tới các chỉ tiêu quản lý trung gian nhằm đánh giá chi tiết hơn tình hình tài chính và dự báo những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp Những chỉ tiêu này là cơ sở để xác lập nhiều hệ số có ý nghĩa

về hoạt động, cơ cấu vốn,.v.v của doanh nghiệp, ví dụ như:

Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là kết quả của

doanh thu thuần trừ đi giá vốn hàng bán Đây là chỉ tiêu trung gian rất có ý nghĩa, vì đó là khoản tiền dùng để chi trả tất cả các chi phí (trừ giá vốn hàng bán) Chỉ số này phản ánh khả năng sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh thu thuần cao và giá vốn hàng bán thấp thì lợi nhuận gộp sẽ cao Khoản mục này cùng với doanh thu từ hoạt động tài chính và thu nhập khác

sẽ dùng để trang trải các chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh

Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh (EBIT): Là chỉ số được sử

dụng để tính toán các chỉ số khác trong tài chính Nếu EBIT dương chứng tỏ mức thu nhập doanh nghiệp đủ sức chi trả cho các khoản chi phí phục vụ cho

Trang 37

hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu EBIT âm chứng tỏ doanh nghiệp đang hoạt động không hiệu quả, các khoản thu được không đủ để bù đắp cho các khoản chi phí phải bỏ ra

Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (EAT): Là kết quả của lợi

nhuận trước thuế trừ đi thuế phải nộp cho nhà nước Đây là chỉ tiêu được sử dụng rất nhiều để tính toán các chỉ số tài chính như tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS), tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn cổ phần (ROE) Khi EAT dương chứng tỏ tổng các khoản doanh thu và thu nhập khác của doanh nghiệp đủ sức chi trả cho chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh, nghĩa là doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả và có lãi EAT sẽ dùng

để trích lập các quỹ và chia cổ tức cho cổ đông

Trên cơ sở đó, nhà phân tích có thể xác định mức tăng tuyệt đối và mức tăng tương đối của các chỉ tiêu qua các thời kỳ để nhận biết tình hình hoạt động của doanh nghiệp Đồng thời, nhà phân tích cũng cần so sánh chúng với các chỉ tiêu cùng loại của các doanh nghiệp cùng ngành để đánh giá vị thế của doanh nghiệp

1.5.3 Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính

Lưu Thị Hương (2005) đã chỉ ra trong phân tích tài chính, các tỷ số tài chính chủ yếu thường được phân thành các nhóm chính bao gồm:

 Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán

Nhiều doanh nghiệp bị rơi vào tình trạng phá sản vì thiếu vốn, vì vậy cần phải kiểm tra khả năng của doanh nghiệp có thể trả được các khoản nợ thương mại và hoàn trả vốn vay hay không là một trong những cơ sở đánh giá

sự ổn định, vững vàng về tài chính của doanh nghiệp, thông qua các chỉ tiêu:

+ Chỉ số thanh toán hiện hành: Đây là chỉ số đo lường khả năng doanh

nghiệp đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn Nói chung thì chỉ số này ở mức 2-3 được xem là tốt Chỉ số này càng thấp ám chỉ doanh nghiệp sẽ gặp

Trang 38

khó khăn đối với việc thực hiện các nghĩa vụ của mình nhưng một chỉ số thanh toán hiện hành quá cao cũng không luôn là dấu hiệu tốt, bởi vì nó cho thấy tài sản của doanh nghiệp bị cột chặt vào “tài sản lưu động” quá nhiều và như vậy thì hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là không cao

Chỉ số thanh toán hiện hành = Tài sản lưu động

Nợ ngắn hạn + Chỉ số thanh toán nhanh: Chỉ số thanh toán nhanh đo lường mức

thanh khoản cao hơn Chỉ những tài sản có tính thanh khoản cao mới được đưa vào để tính toán Hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác được bỏ ra vì

khi cần tiền để trả nợ, tính thanh khoản của chúng rất thấp

Nợ ngắn hạn

Chỉ số này phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng tiền và các chứng khoán ngắn hạn có thể chuyển đổi nhanh thành tiền mặt Chỉ số này cho biết khả năng huy động các nguồn vốn bằng tiền để trả nợ vay ngắn hạn trong thời gian gần như tức thời

Chỉ số này càng lớn thì khả năng hoàn trả nợ ngắn hạn càng tốt Ngược lại, hệ số này nhỏ hơn giới hạn cho phép cho thấy trong trường hợp rủi ro bất ngờ, khả năng trả nợ ngay các khoản nợ ngắn hạn thấp

 Nhóm chỉ tiêu về đòn bẩy tài chính (cơ cấu vốn)

+ Hệ số tự tài trợ: Đánh giá mức độ tự chủ về tài chính của DN và khả

năng bù đắp tổn thất bằng vốn chủ sở hữu Thông thường, hệ số càng cao thì

mức độ an toàn càng cao

Hệ số tự tài trợ = Vốn chủ sở hữu

Tổng nguồn vốn

+ Hệ số đòn bẩy tài chính: thể hiện mối quan hệ giữa nguồn vốn vay và

vốn chủ sở hữu, thể hiện khả năng tự chủ về tài chính của DN Hệ số này

Trang 39

cũng cho phép đánh giá tác động tích cực hoặc tiêu cực của việc vay vốn đến ROE Hệ số này cho thấy mức ổn định của việc đầu tư tài sản bằng nguồn vốn chủ sở hữu, những khoản đầu tư vào tài sản cố định có thể được tái tạo như mong muốn từ vốn chủ sở hữu vì những khoản đầu tư như vậy thường cần một khoản thời gian dài để tái tạo; hệ số càng nhỏ càng an toàn, phản ánh sự chủ động định đoạt về tài sản của chủ đầu tư

Hệ số đòn bẩy tài chính = Tổng tài sản

Vốn chủ sở hữu

+ Hệ số nợ: Xác định hệ số này để đánh giá mức độ đảm bảo nợ vay

bằng nguồn vốn chủ sở hữu Hệ số này cho thấy khả năng thanh toán nợ bằng nguồn vốn chủ sở hữu; hệ số này càng nhỏ thì giá trị của vốn chủ sở hữu càng lớn vì nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn không phải hoàn trả, cho thấy khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp càng tốt Tuy nhiên nếu tỷ lệ này càng cao thì có một khả năng lớn là doanh nghiệp đang không thể trả được các khoản nợ theo điều kiện tài chính thắt chặt hoặc có sự kém cỏi trong quản

lý, hoặc dòng tiền của doanh nghiệp sẽ kém đi do gánh nặng từ việc thanh toán các khoản lãi vay Trong trường hợp giải thể doanh nghiệp, hệ số này cho biết mức độ được bảo vệ của các chủ nợ

Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu = Nợ phải trả

Vốn chủ sở hữu + Hệ số vốn chủ sở hữu: Hệ số vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn

dùng để đo lường sự ổn định của việc tăng vốn Bổ sung vào vốn góp bởi các

cổ đông và các khoản dự trữ vốn thì vốn chủ sở hữu cũng góp phần tạo ra dự trữ cho vốn điều lệ và phần thặng dư (kể cả thu nhập giữ lại của doanh nghiệp) Nguồn vốn này không cần được hoàn trả lại, vì vậy hệ số này càng cao, doanh nghiệp càng được đánh giá cao Về cơ bản hệ số này có mục đích đánh giá như hệ số nợ

Trang 40

Hệ số vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu

Tổng nguồn vốn

 Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động

+ Hiệu quả sử dụng tài sản: Hệ số này cho thấy kết quả mà doanh

nghiệp đạt được trong năm thông qua việc tạo thu nhập trên tổng tài sản đã

đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh

Vòng quay tổng tài sản = Doanh thu

+ Vòng quay hàng tồn kho: Hệ số vòng quay hàng tồn kho đánh giá hiệu

quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán

Hàng tồn kho bình quân

Giá trị vòng quay hàng tồn kho càng lớn cho biết doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động càng hiệu quả, góp phần nâng cao tính năng động trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vòng quay thấp là do doanh nghiệp lưu giữ quá nhiều hàng tồn kho, dòng tiền sẽ giảm đi do vốn kém hoạt động và gánh nặng trả lãi tăng lên, tốn kém chi phí lưu giữ và rủi ro khó tiêu thụ do không phù hợp với nhu cầu tiêu dùng hoặc thị trường kém đi Vòng quay hàng tồn kho của các doanh nghiệp có quy mô lớn có xu hướng cao hơn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ Riêng các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực thương mại

Ngày đăng: 14/12/2023, 22:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tấn Bình (2004), “Phân tích hoạt động doanh nghiệp”, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phân tích hoạt động doanh nghiệp”
Tác giả: Nguyễn Tấn Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2004
2. Ngô Thế Chi, Đoàn Xuân Tiên, Vương Đình Huệ (1995), “Kế toán – Kiểm toán và Phân tích tài chính doanh nghiêp”, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kế toán – Kiểm toán và Phân tích tài chính doanh nghiêp”
Tác giả: Ngô Thế Chi, Đoàn Xuân Tiên, Vương Đình Huệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 1995
3. Ngô Thế Chi, Vũ Công Ty (2002), “Đọc, lập, phân tích báo cáo tài chính”, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đọc, lập, phân tích báo cáo tài chính”
Tác giả: Ngô Thế Chi, Vũ Công Ty
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2002
4. Ngô Thế Chi, Nguyễn Trọng Cơ (2008), “Giáo trình Phân tích Tài chính Doanh nghiệp”, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Phân tích Tài chính Doanh nghiệp”
Tác giả: Ngô Thế Chi, Nguyễn Trọng Cơ
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2008
5. Nguyễn Văn Công (2005), “Chuyên khảo về Báo cáo tài chính và lập, đọc, kiểm tra, phân tích báo các tài chính”, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chuyên khảo về Báo cáo tài chính và lập, đọc, kiểm tra, phân tích báo các tài chính”
Tác giả: Nguyễn Văn Công
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2005
9. Phan Đức Dũng (2010), “Phân tích báo cáo tài chính”, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phân tích báo cáo tài chính”
Tác giả: Phan Đức Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2010
10. Lưu Thị Hương (2005), “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”
Tác giả: Lưu Thị Hương
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2005
6. Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài, Báo cáo tài chính, Báo cáo thường niên các năm từ 2013 đến 2017 Khác
7. Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng hóa Sài Gòn, Báo cáo thường niên năm 2016 Khác
8. Công ty Cổ phần Dịch vụ Hàng không Sân bay Tân Sơn Nhất, Báo cáo thường niên năm 2016 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w