1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô tại việt nam thực trạng và giải pháp,đề tài nghiên cứu khoa học

95 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyển Đổi Các Tổ Chức Tài Chính Vi Mô Tại Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp
Tác giả TS. Nguyễn Đức Hải, ThS. Nguyễn Hồng Hiệp, ThS. Đào Duy Hà
Trường học Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Học Viện Ngân Hàng
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mới đây, chính phủ đã ban hành Quyết định 20/2017/QĐ-TTg và NHNN vào đầu 2018 đã ra Thông tư 03/2018/TT-NHNN sẽ tạo điều kiện cho các dự án và chương trình TCVM chuyển đổi hoạt động m

Trang 1

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG -

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ NĂM 2017

Trang 2

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG -

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ NĂM 2017

CHUYỂN ĐỔI CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

MÃ SỐ: DTHV.42/2017

Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Đức Hải

Thư ký đề tài: ThS Nguyễn Hồng Hiệp Thành viên tham gia: ThS Đào Duy Hà

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

STT

Học hàm, học vị

Họ tên

Vai trò Chức vụ, Đơn vị công tác

Tài chính vi mô

2 ThS Nguyễn Hồng Hiệp Thư ký đề tài

Phó trưởng Bộ môn Định giá tài sản & MBSNDN – Khoa Tài chính

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1

2 Tính cấp thiết của đề tài 4

3 Mục tiêu của đề tài: 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 6

5 Phương pháp nghiên cứu: 6

CHƯƠNG 1 TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ CHUYỂN ĐỔI TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ 7

1.1 Tài chính vi mô và hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô 7

1.1.1 Khái niệm về tài chính vi mô và các tổ chức tài chính vi mô 7

1.1.2 Các loại hình tổ chức cung cấp tài chính vi mô 8

1.1.3 Hoạt động tài chính vi mô 12

1.2 Chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô 14

1.2.1 Khái niệm về chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô 14

1.2.2 Mục tiêu của việc chuyển đổi 16

1.2.3 Các nội dung chuyển đổi 17

1.2.4 Các tiêu chí đánh giá quá trình chuyển đổi thành công 23

1.3 Kinh nghiệm chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô trên thế giới 23

1.3.1 Về mô hình chuyển đổi 24

1.3.2 Về thủ tục pháp lý 24

1.3.3 Về hoạt động 26

1.3.4 Các kinh nghiệm khác 27

1.3.5 Bài học rút ra cho chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam 27

Trang 5

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI

MÔ TẠI VIỆT NAM 30

2.1 Khái quát sự hình thành và phát triển tài chính vi mô tại Việt Nam 30

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 30

2.1.2 Các loại hình tổ chức cung cấp tài chính vi mô tại Việt Nam 31

2.2 Thực trạng chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam 36

2.2.1 Cơ sở pháp lý cho việc chuyển đổi 36

2.2.2 Quá trình chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô 42

2.3 Đánh giá chung về chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam 72

2.3.1 Những mặt đạt được 72

2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân 74

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM 77

3.1 Định hướng phát triển tài chính vi mô ở Việt Nam trong thời gian tới 77

3.1.1 Định hướng chung 77

3.1.2 Một số định hướng cụ thể 78

3.2 Giải pháp thúc đẩy quá trình chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam 80

3.2.1 Các giải pháp trọng tâm 80

3.2.2 Các giải pháp hỗ trợ 82

3.3 Một số kiến nghị 83

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 83

3.3.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính 83

3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 84

KẾT LUẬN 85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

STT

Bảng 1.2 Ưu điểm và hạn chế của các tổ chức cung cấp tài chính vi mô 11 Bảng 1.3 Các giai đoạn phát triển của các tổ chức tài chính vi mô 13

Bảng 2.2 Phân loại các tổ chức cung cấp TCVM bán chính thức tại Việt

Hình 2.2 Tăng trưởng số lượng nhân viên của TYM giai đoạn 2007 –

Hình 2.4 Số lượng cán bộ của Thanh Hóa MFI giai đoạn 2007 - 10/2015 67

Hình 3.1 Một số định hướng phát triển hoạt động của TCTCVM tại Việt

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NHNN&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp & phát triển nông thôn

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu đáng chú ý về vấn đề chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô (transforming micro-finance institutions), đặc biệt là nghiên cứu về thực trạng chuyển đổi tại các nước đang phát triển:

Sriram and Upadhyayula (2004) đã nghiên cứu về quá trình phát triển và chuyển đổi của các TCTCVM tại Ấn Độ Các vấn đề thúc đẩy việc chuyển đổi được chỉ ra bao gồm: quy mô, sự đa dạng hóa, tính bền vững, tính tập trung và vấn đề thuế Việc chuyển đổi diễn ra tại Ấn Độ không nhiều Để được công nhận chính thức, các TCTCVM có thể chọn một trong ba loại hình tổ chức: công ty tài chính phi ngân hàng, ngân hàng hay các hợp tác xã Những thay đổi về pháp lý là cần thiết để cho phép các TCTCVM được chuyển sang loại hình khác như một sự tiến hóa tự nhiên Các tổ chức phi chính phủ cần được cho phép đầu tư vốn vào các TCTCVM, như những gì đã diễn

ra tại Bolivia và Châu Phi

Felipe (2011) trong bài hội thảo “MFI Transformations: The LAC Experience” đã chỉ

ra những thuận lợi và khó khăn của quá trình chuyển đổi, các nhân tố chính giúp quá trình chuyển đổi thành công, đề xuất kế hoạch chuyển đổi và cuối cùng đưa ra bài học

về chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô tại khu vực Châu Mỹ La-tinh và Ca-ri-bê

Mboya and Ndulu (2015) trong bài nghiên cứu “Factors affecting institutional transformation for regulated MFIs” đã chỉ ra sự cần thiết chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô từ phi chính thức sang chính thức Mục đích của sự chuyển đổi nhằm tránh các bê bối tài chính liên quan tới các tổ chức vi mô như đã từng xảy ra tại Kenya Bằng việc tổng hợp và phân tích các số liệu thực tế trong quá trình chuyển đổi các TCTCVM tại Kenya, các tác giả cũng dã chỉ ra các nhân tố tác động tới quá trình chuyển đổi bao gồm: khả năng gây quỹ phục vụ chuyển đổi, tăng tỷ lệ đóng góp tối thiểu, khả năng mua và vận hành hệ thống thông tin phù hợp, đáp ứng yêu cầu vốn tối thiểu, tái cơ cấu quyền sở hữu, thu hút các nhà đầu tư phù hợp, quy mô và nguồn lực của TCTCVM, động cơ chuyển đổi, sự sẵn sàng chuyển đổi, sự trì trệ trong quản lý, thủ tục chuyển đổi, các vấn đề quản trị và cuối cùng là “thái độ chờ đợi” của bên thực hiện chuyển đổi

Trang 9

Wagenaar (2012) trong bài “Institutional transformation and mission drift in microfinance” đã phân tích dữ liệu bảng lấy trên MIX (một cơ sở dữ liệu nền web về TCVM) để đưa ra kết luận rằng việc chuyển đổi từ các NGO sang các TCTCVM chính thức có thể dẫn đến xê dịch mục tiêu, nhiệm vụ Việc chuyển đổi dẫn đến quy mô cho vay tăng lên song lại khiến tỷ trọng khách hàng là nữ giới sụt giảm đáng kể Tựu chung lại, nghiên cứu kết luận việc chuyển đổi không dẫn đến sự phát triển tích cực Tại Việt Nam, hiện đã có một số nghiên cứu nhắc đến vấn đề chuyển đổi các TCTCVM nhưng chưa nhiều:

Trong bài viết hội thảo với tiêu đề “Cơ hội, thách thức và những vấn đề pháp lý cần lưu ý khi chuyển đổi”, Hoàng Quốc Mạnh (2010) đã chỉ ra cơ hội và thách thức của các TCTCVM tại Việt Nam Theo đó, việc chuyển đổi sẽ giúp các TCTCVM tăng khả năng tiếp cận với các nguồn vốn thương mại, mở rộng nội dung hoạt động và đa dạng hóa sản phẩm; TCTCVM chính thức có thể nhận tiết kiệm tự nguyện, chuyển tiền, thu

hộ và chi hộ cho khách hàng quy mô nhỏ; làm đại lý bảo hiểm, dịch vụ tư vấn hỗ trợ cho khách hàng; tăng quy mô tiếp cận khách hàng, tăng tính chuyên nghiệp Tuy nhiên việc chuyển đổi cũng đặt ra những thách thức như: thay đổi cơ bản về cơ cấu tổ chức

và phân cấp quyền hạn, trách nhiệm quản trị, điều hành; thay đổi sản phẩm dịch vụ, thay đổi về nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của pháp luật; thay đổi hệ thống công nghệ thông tin; chi phí hoạt động gia tăng khi tiến hành chuyển đổi và hoạt động với

tư cách là một TCTCVM chuyên nghiệp

Lê Thị Lân (2010) đã nghiên cứu kinh nghiệm chuyển đổi của một trong những TCTCVM chính thức đầu tiên là Trung tâm Hỗ trợ phát triển Nguồn lực tài chính cộng đồng M7 trong giai đoạn chuyển đổi đầu tiên của tổ chức này thành Quỹ xã hội Sau khi tổng kết kinh nghiệm của M7, tác giả đánh giá cao vai trò của đơn vị tư vấn và rút

ra một số bài học hữu ích từ quá trình thành lập tổ chức TCVM TNHH nhiều thành viên

Hoàng Văn Thành (2012) trong luận văn thạc sỹ của mình về “Đánh giá chính sách về tổ chức hoạt động của các TCTCVM” đã nghiên cứu một số mô hình TCVM thành công trên thế giới và khuyến nghị mô hình phù hợp cho các TCTCVM tại Việt Nam Qua phân tích đánh giá các quy định, minh họa bằng những dẫn chứng thực tế và tham khảo một sô mô hình TCTCVM thành công trên thế giới, tác giả đề xuất một số điều

Trang 10

chỉnh, bổ sung chính sách như: mở rộng đối tượng chủ thể được phép thành lập TCTCVM một cách độc lập như NHTM, cá nhân và tổ chức có nguồn lực khác Cần chấp nhận hai mô hình song song tồn tại: doanh nghiệp thông thường và doanh nghiệp

xã hội, hoạt động TCVM phi lợi nhuận nhưng có nhu cầu huy động vốn từ công chúng

để mở rộng phạm vi phục vụ cho nhiều người nghèo hơn

Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2014) đã thực hiện báo cáo nghiên cứu về chuyển đổi các TCTCVM dựa trên kinh nghiệm thực tiễn của ba tổ chức lớn: TYM, M7 và Thanh Hóa Các tác giả đã tiến hành thu thập thông tin, tổng hợp kinh nghiệm, phỏng vấn trực tiếp đại diện lãnh đạo quản trị, điều hành của các TCTCVM, các cá nhân đã tham gia quá trình chuyển đổi trong nhiều thời kỳ Báo cáo nghiên cứu đã tập trung phân tích, đánh giá, tổng hợp kinh nghiệm chuyển đổi của các TCTCVM theo 3 mục tiêu (i) Khái quát tác động từ việc chuyển đổi thành TCTCVM chính thức; (ii) Làm sáng tỏ những những khó khăn, vướng mắc trong quá trình chuyển đổi thành TCTCVM Từ

đó, giúp các chương trình, dự án TCVM sớm có sự chủ động, kế hoạch, giải pháp phù hợp trong quá trình chuyển đổi; (iii) Đề xuất biện pháp và khuyến nghị với TCTCVM,

Cơ quan quản lý Nhà nước, các bên liên quan nhằm tạo dựng môi trường thuận lợi hỗ trợ quá trình chuyển đổi

Nguyễn Quỳnh Phương (2017) đã phân tích thực trạng phát triển hoạt động của các TCTCVM tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015 dựa trên hai nhóm tiêu chí là mức độ tiếp cận và độ bền vững của TCTCVM Mặt khác, bằng việc sử dụng mô hình phân tích định lượng, nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa sự phát triển về mức độ tiếp cận và độ bền vững, những yếu tố ảnh hưởng đến sự bền vững của các TCTCVM tại Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2015 Từ đó tác giả rút ra 05 kết luận: (1) các TCTCVM tại Việt Nam đang phát triển mức độ tiếp cận đến đối tượng khách hàng vi mô; (2) nhóm TCTCVM chính thức và TCTCVM bán chính thức hoạt động với quy

mô lớn và thời gian hoạt động lâu dài có sự bền vững hơn so với các tổ chức quy mô nhỏ (3) có mối quan hệ tích cực giữa mức độ tiếp cận và sự bền vững của tổ chức; sự nâng cao về năng suất lao động và sự tăng trưởng nguồn vốn chủ sở hữu có thể cải thiện sự bền vững của các TCTCVM tại Việt Nam; (4) hoạt động của các TCTCVM tại Việt Nam vẫn giữ vững được giá trị cốt lõi, sứ mệnh là cung cấp tài chính cho người nghèo, đặc biệt là phụ nữ nghèo; (5) sự thiếu khuyết một cơ chế chính sách hoàn

Trang 11

thiện và sự cạnh tranh với các loại hình TCTD khác đang là yếu tố tác động mạnh mẽ đến sự phát triển hoạt động của các TCTCVM Từ những kết luận được tìm thấy, tác giả đề xuất những khuyến nghị cho các TCTCVM và những cơ quan Nhà nước nhằm ban hành chính sách thúc đẩy sự phát triển hoạt động của các TCTCVM Việt Nam

Có thể thấy, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về cả lý luận và thực tiễn chuyển đổi các TCTCVM tại Việt Nam

2 Tính cấp thiết của đề tài

Tài chính vi mô (TCVM) bắt đầu xuất hiện trên thế giới từ những năm 70 của thế kỷ

XX sau khi giáo sư Muhammad Yunnus (giải Nobel hòa bình 2006) thành lập ngân hàng Grameen ở Bangladesh Đến nay, sau hơn bốn mươi năm, đã có trên 10.000 TCTCVM trên khắp thế giới TCVM ngày càng chứng tỏ là một công cụ quan trọng trong xóa đói giảm nghèo ở các nước đang phát triển thông qua việc mang đến cho người nghèo cơ hội tiếp cận các dịch vụ tài chính (tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm) và cả những dịch vụ phi tài chính như: giáo dục đào tạo, tư vấn kinh doanh…

TCVM bắt đầu được du nhập vào Việt Nam từ những năm 1980 thông qua hoạt động của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ và các chương trình viện trợ phát triển song phương và đa phương Các chương trình, dự án TCVM ở Việt Nam đã có những đóng góp nhất định trong công cuộc xóa đói giảm nghèo của nước ta Nghiên cứu của Nguyễn Kim Anh và các cộng sự (2011) dựa trên số liệu thực tế và điều tra sơ cấp 971 khách hàng TCVM tại 2 tỉnh Tiền Giang và Hải Dương đã khẳng định TCVM có tác động tích cực đến thu nhập và mức sống của những người sử dụng dịch vụ, giảm đáng

kể tỷ lệ hộ nghèo trên tổng số khách hàng

Mạng lưới cung ứng dịch vụ TCVM ở Việt Nam thường được phân loại theo ba khu vực: khu vực chính thức, khu vực phi chính thức và khu vực bán chính thức Sự tồn tại của các TCTCVM bán chính thức ở Việt Nam xuất phát từ các chương trình, dự án mang tính xã hội, từ thiện nhằm mục đích phát triển bền vững, chủ yếu được cung cấp bới các đối tác, nhà tài trợ nước ngoài Trong quá trình hoạt động, các chương trình, dự án này cung ứng dịch vụ TCVM như một phần trong các hoạt động để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững Sau khi kết thúc thời gian hoạt động, dư nợ hoặc vốn của

Trang 12

tổ chức duy trì chương trình, dự án đó còn tồn tại hoặc thậm chí tăng lên, làm phát sinh nhu cầu kéo dài dự án và có thể dẫn đến sự chuyển giao cho các tổ chức khác tiếp quản các hoạt động còn diễn ra và từ đó, các TCTCVM bán chính thức ra đời

Trên thế giới, xu hướng phát triển đối với các TCTCVM bán chính thức thường là nâng cấp, chuyển đổi thành TCTCVM chính thức để có thể tiến tới cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tài chính đa dạng hơn, với đối tượng khách hàng mở rộng hơn Sự phát triển của hoạt động TCVM ở Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng này Tuy nhiên, một vấn đề khó khăn nổi cộm trong quá trình chuyển đổi đối với các TCTCVM bán chính thức ở Việt Nam là vấn đề thể chế và khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của họ Từ năm 2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định 28/2005/NĐ-CP về hoạt động tài chính quy mô nhỏ, một nghị định mà nội dung thực chất của nó là nhằm điều chỉnh hoạt động của các TCTCVM Tiếp sau đó là các Nghị định 165/2007/NĐ-CP bổ sung, sửa đổi Nghị định 28/2005/NĐ-CP và một loạt các thông tư hướng dẫn nghiệp vụ, tổ chức, mạng lưới… được ra đời Năm 2010, Quốc hội đã ban hành Luật các TCTD mới

và chính thức đưa hoạt động TCVM vào điều chỉnh Mới đây, chính phủ đã ban hành Quyết định 20/2017/QĐ-TTg và NHNN vào đầu 2018 đã ra Thông tư 03/2018/TT-NHNN sẽ tạo điều kiện cho các dự án và chương trình TCVM chuyển đổi hoạt động một cách hợp pháp và cung cấp dịch vụ cho những khách hàng chưa tiếp cận được với ngân hàng Hiện nay tuy có đến 50 tổ chức hoạt động TCVM ở Việt Nam nhưng trong

số đó chỉ có 4 TCTCVM chính thức, được Ngân hàng Nhà nước cấp phép và hoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng

Như vậy có thể thấy sự cần thiết phải có một nghiên cứu tập trung phân tích, đánh giá thực tiễn chuyển đổi các TCVM từ bán chính thức sang chính thức tại Việt Nam Đề tài:“Chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam: Thực trạng và Khuyến nghị” không những cung cấp một bức tranh tổng thể về thực tế chuyển đổi TCTCVM bán chính thức cũng như thực trạng quản lý Nhà nước đối với các hoạt động này ở Việt Nam mà còn đóng góp vào việc xây dựng định hướng phát triển, xây dựng các văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động của các TCTCVM

3 Mục tiêu của đề tài:

- Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về chuyển đổi TCTCVM

Trang 13

- Khái quát sự phát triển và thực trạng quá trình chuyển đổi của các TCTCVM tại Việt Nam, phân tích ưu điểm và hạn chế

- Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị cho các TCTCVM thực hiện quá trình chuyển đổi

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu là sự chuyển đổi từ các TCTCVM không chính thức/bán chính thức thành các TCTCVM chính thức, hoạt động theo khung khổ pháp luật của nhà nước

5 Phương pháp nghiên cứu:

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm: Phân tích tổng hợp; thống kê so sánh, điều tra khảo sát, phương pháp chuyên gia

Các số liệu bao gồm: số liệu thu thập từ các tổ chức tài chính vi mô thông qua Nhóm công tác tài chính vi mô, các tổ chức tài chính vi mô chính thức và các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô (NHNo&PTNT, NHCSXH, QTDND), số liệu từ điều tra, khảo sát thực tế các tổ chức tài chính vi mô tại các tỉnh, thành phố

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ CHUYỂN ĐỔI TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ

1.1 Tài chính vi mô và hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô

1.1.1 Khái niệm về tài chính vi mô và các tổ chức tài chính vi mô

 Khái niệm về tài chính vi mô

Theo quan điểm của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) “TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ của họ” Theo Nhóm tư vấn hỗ trợ những người nghèo nhất (CGAP)-Cơ quan thuộc Ngân hàng thế giới (WB), “TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu của người nghèo bao gồm: dịch vụ gửi tiết kiệm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền, bảo hiểm ”

Ở Việt Nam, theo Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg, TCVM “bao gồm việc cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng tài chính vi mô, nhận tiền gửi tiết kiệm của khách hàng tài chính vi mô dưới hình thức tiền gửi tiết kiệm bắt buộc, tiền gửi tiết kiệm tự nguyện”

Như vậy, có thể hiểu TCVM là một trong những cách thức phát triển kinh tế, nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính, dịch vụ khác cho các đối tượng có thu nhập thấp trong

xã hội để phục vụ nhu cầu chi tiêu và đầu tư (Hải, 2012) Do vậy, hoạt động TCVM vừa mang ý nghĩa kinh tế vừa mang ý nghĩa xã hội và đồng thời là một công cụ phát triển kinh tế (Ledgerwood, Earne, & Nelson, 2013)

 Khái niệm về các tổ chức tài chính vi mô

TCTCVM là đơn vị cung cấp các dịch vụ TCVM Theo thông lệ quốc tế, một tổ chức tài chính, ngân hàng được gọi là TCTCVM khi dư nợ cho vay hộ nghèo, các doanh nghiệp nhỏ chiếm một tỷ lệ đáng kể trên tổng dư nợ của tổ chức đó (CGAP)

Theo Luật các Tổ chức tín dụng 2010, “Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ”

Trang 15

Các TCTCVM gồm nhiều hình thức tổ chức khác nhau như: ngân hàng, tổ chức phi chính phủ, hợp tác xã, công ty tư nhân hay các dự án… Sự lựa chọn hình thức tổ chức khi thành lập sẽ quyết định loại hình doanh nghiệp, cách thức ra quyết định và từ đó người lãnh đạo sẽ đưa ra phương hướng phát triển phù hợp Theo ADB, TCTCVM ở Việt Nam gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam, Hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân, Tổ chức TCVM (MFI), Chương trình dự án TCVM (MFO)…

Tổ chức cung cấp TCVM là một khái niệm rộng hơn, bao gồm tất cả các nhà cung cấp dịch vụ TCVM cho đối tượng nghèo, thu nhập thấp Ở Việt Nam, tổ chức cung cấp TCVM không chỉ bao gồm các TCTCVM mà còn các tổ chức tín dụng, các loại hình doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ, công ty tài chính tham gia thị trường hoặc cung cấp một phần sản phẩm TCVM, tương tự như TCTCVM theo quan điểm của ADB

1.1.2 Các loại hình tổ chức cung cấp tài chính vi mô

Theo Legerwood (1998), các Tổ chức cung cấp TCVM được chia thành ba nhóm: (i) nhóm chính thức, (ii) nhóm bán chính thức, (iii) nhóm phi chính thức

Bảng 1.1 Các tổ chức cung cấp tài chính vi mô

Các ngân hàng thương mại, đầu

tư, tiết kiệm, phát triển

Các ngân hàng nông thôn

Các NH theo mô hình HTX

Các tổ chức phi NH khác

Các công ty tài chính

Các tổ chức tiết kiệm theo hợp

đồng, quỹ hưu trí

Các công ty bảo hiểm

Các thị trường chứng khoán

Các TCTCVM chính thức

Các hợp tác xã tín dụng

và tiết kiệm Các hiệp hội tín dụng Các ngân hàng nhân dân Các ngân hàng HTX Các quỹ tiết kiệm tạo việc làm

Các ngân hàng làng xã Các dự án phát triển, các tổ chức phi chính phủ Các nhóm tương hỗ

Các hiệp hội tiết kiệm Các hiệp hội tín dụng và tiết kiệm quay vòng Các công ty tài chính, đầu tư phi chính thức

Những người cho vay cá nhân thương mại (người cho vay nặng lãi) và phi thương mại (họ hàng, bạn

bè, hàng xóm…) Thương gia và chủ hiệu

Nguồn: Legerwood (2013)

Trang 16

 Tổ chức cung cấp TCVM chính thức

Nói chung, các tổ chức cung cấp TCVM chính thức không những phải tôn trọng và thi hành theo các điều luật chung mà còn phải chấp hành theo một số quy định cụ thể riêng, đặc thù mà được Ngân hàng Trung ương, Bộ Tài chính và cơ quan chủ quản yêu cầu (Munyua, 2016) Ngày càng có nhiều các ngân hàng thương mại coi việc cung cấp các dịch vụ TCVM như một thị trường tiềm năng và các ngân hàng này hiện nay cũng

đã cung ứng một số các dịch vụ cho các khách hàng là doanh nghiệp vi mô, thậm chí

cả khách hàng cá nhân với các món vay nhỏ

Trong thực tế, các NHTM cũng đã cung cấp các dịch vụ tài chính cho khu vực nông nghiệp, nông thôn thông qua các chương trình, dự án cho vay của Chính phủ nên cũng

từ lâu tham gia vào việc cung cấp TCVM Ngoài việc cung cấp tín dụng NHTM còn đáp ứng nhu cầu quản lý rủi ro khác nữa như bảo hiểm (nhân thọ, phi nhân thọ) cho khách hàng để đảm bảo sử dụng hiệu quả các khoản vốn vay Để triển khai hoạt động TCVM, mô hình hoạt động của NHTM đã có sự phù hợp với khách hàng thu nhập thấp, chẳng hạn như mô hình của các NHTM được tổ chức theo cách thức đến tận làng

xã, khu dân cư để phục vụ cho khách hàng của họ hay mô hình thông qua tổ, nhóm để

từ đó vốn sẽ được chuyển tải đến khách hàng

Các Ngân hàng Chính sách và Ngân hàng Phát triển là những nhà cung cấp dịch vụ TCVM lớn Đây là một trong những sự quan tâm của Chính phủ đối với khu vực tư nhân trong nền kinh tế, thông qua những chính sách phát triển, những chương trình, dự

án, hai Ngân hàng này trở thành những đầu mối dẫn nguồn tài chính đến với người nghèo chính trong xã hội với những điều kiện vay vốn, lãi suất cho vay và những điều kiện ưu đãi Ngoài ra, các tổ chức tiết kiệm khác được thành lập dựa trên sự đóng góp nguồn lực của các cá nhân và cộng đồng dân cư Các tổ chức trên được thành lập nhằm đáp ứng chủ yếu cho nhu cầu của các hộ gia đình, cộng đồng nhỏ thuộc địa phương, làng xã, có một thế mạnh mà các nhà cung cấp tài chính khác khác không có được là một mạng lưới phân phối rất gần khu vực dân cư sinh sống

 Tổ chức cung cấp TCVM bán chính thức

Trong lĩnh vực TCVM, có khá nhiều tổ chức tài chính bán chính thức hoạt động Đây

là những tổ chức chưa được cấp phép và không có giám sát nhưng có thể vẫn hoạt động theo pháp luật và các quy định chung (Robinson, 2002) Các tổ chức bán chính

Trang 17

thức thường đã đăng ký một phần, nhưng lại chưa phải là chủ thể chịu sự giám sát của ngân hàng hay một cơ quan có thẩm quyền nào (Munyua, 2016) Hầu hết các tổ chức tài chính bán chính thức là hợp tác xã tín dụng (chẳng hạn như Tổ chức công đoàn với hợp tác xã tiết kiệm và cho vay), tổ chức tài chính phi chính phủ, ngân hàng làng xã và các nhóm tương hỗ Đặc biệt, các nhóm tương hỗ này hoạt động khá thành công ở Ấn

Độ, mỗi nhóm có khoảng 15 người cùng nhận được sự hướng dẫn của các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan chính phủ và ngân hàng khu vực nông thôn để tiết kiệm các khoản nhỏ một cách thường xuyên rồi từng thành viên có thể được vay lại các khoản vay nhỏ đấy Nhờ việc quản lý nhóm thành công, ngân hàng cấp các khoản tín dụng tới các nhóm tương hỗ để họ gia tăng được nguồn vốn hỗ trợ của mình (Dichter & Harper, 2007)

Các Tổ chức cung cấp TCVM bán chính thức bao gồm các tổ chức phi chính phủ (NGOs), các tổ chức tài chính hợp tác xã như hợp tác xã tín dụng NGOs cung cấp TCVM là những tổ chức quốc tế được thành lập nhằm hỗ trợ các dịch vụ tài chính và các dịch vụ kĩ thuật khác cho dân cư có thu nhập thấp ở các nước đang phát triển không vì mục tiêu lợi nhuận Tài chính hợp tác xã là một hình thức tài chính trong đó những khách hàng vay vốn đồng thời là người chủ sở hữu một phần hợp tác này, không có nguồn vốn từ bên ngoài Các hình thức phổ biến của HTX trên thế giới là các hiệp hội tín dụng, ngành nghề như xây dựng, doanh nghiệp nhỏ, HTX tiết kiệm Khi cung cấp các dịch vụ tài chính tới các thành viên của hợp tác, HTX đã đảm nhận vai trò là các trung gian tài chính hiệu quả, tích cực để chuyển tải các luồng tài chính từ những khu vực có điều kiện sống, mức sống khấm khá hơn sang khu vực khó khăn hơn

 Tổ chức cung cấp TCVM phi chính thức

Nguồn huy động tài chính phi chính thức đầu tiên thường là từ gia đình, bạn bè, người thân quen Ưu điểm của dịch vụ tài chính phi chính thức là giúp người nghèo dễ dàng tiếp cận được được nguồn vốn, nhanh và thuận tiện Tuy nhiên, khía cạnh tiêu cực của loại hình này là “chi phí cao, chất lượng dịch vụ không tốt và bị phụ thuộc” (Churchill

& Frankiewicz, 2006) Thông thường, các nhà cung cấp dịch vụ TCVM phi chính thức thường không được gọi là các tổ chức mà cũng không phải là các chủ thể tuân thủ luật ngân hàng đặc biệt cũng như luật thương mại (Ledgerwood, 1998) Theo Sundaresan

Trang 18

(2008) nhận định rằng các khoản tín dụng phi chính thức thường được hoạt động ở bên

lề pháp luật và không phải chịu sự giám sát của chính phủ hay các cơ quan có thẩm

Ưu điểm - Được đảm bảo bằng

pháp luật nên chất lượng của dịch vụ sẽ tốt hơn

- Tiếp cận được nguồn tài trợ thương mại

- Có khả năng trong việc phục vụ khách hàng và đưa ra được các khoản vay ưu đãi hơn

- Tập trung vào các thị trường với khách hàng nghèo hơn

- Chưa phải tuân thủ pháp luật

- Có khoản trợ cấp hỗ trợ

- Tiềm năng ở những khu vực vùng sâu,

xa

- Không bị quản lý, giám sát

- Đưa ra nhiều loại dịch vụ mang tính sáng tạo

Hạn chế - Phải tuân thủ theo

trần lãi suất đã được pháp luật đề ra

- Các khoản chi phí sẽ gia tăng

- Ít có cơ hội tiếp cận được với những người nghèo hơn

- Khó có thể tiếp cận được nguồn tài trợ thương mại

- Không được thực hiện dịch vụ tiết kiệm

- Hoạt động sẽ kém hiệu quả và thiếu minh bạch

- Phụ thuộc vào nguồn sẵn có

- Hạn chế tiếp cận ở cộng đồng

Nguồn: Churchill và Frankiewicz (2006)

Trang 19

 Các công ty công nghệ tài chính (fintech)

Hiểu theo nghĩa rộng, Fintech là bất cứ đổi mới nào về mặt công nghệ trong lĩnh vực dịch vụ tài chính Hiểu một cách đơn giản, FinTech là thuật ngữ để chỉ ngành cung cấp các dịch vụ tài chính trên các nền tảng công nghệ Lĩnh vực đứng đầu là Thanh toán,

kế tiếp là Quỹ chuyển đổi, Tài chính cá nhân, Cho vay cá nhân, Gửi tiền/tiết kiệm truyền thống, Bảo hiểm, Quản lý sức khỏe

Ở Việt Nam Theo thống kê tháng 2/2017, Ngân hàng nhà nước Việt Nam cho biết từ

9 đơn vị thử nghiệm dịch vụ thanh toán trung gian vào năm 2007, 8 năm sau (2015) dịch vụ này đã chính thức được cấp phép và con số doanh nghiệp đã tăng lên thành 20 Cho đến thời điểm năm 2017, đã có hơn 40 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực FinTech tại Việt Nam

Lợi thế của FinTech là các khoản vay nhỏ vì ở nhiều nước, ngân hàng thường bỏ qua những người vay nhỏ do e ngại những rủi ro về mặt tín dụng tiêu dùng Thực tế, hiện nay, thị trường Việt Nam đang phát triển ở mảng thanh toán dịch vụ với những khoản tiền chuyển nhỏ hơn 5 triệu đồng (theo số liệu khảo sát dựa trên các bưu điện, báo cáo của Liên hợp quốc và Smartlink – đơn vị trung gian thanh toán, nay đã nhập vào Banknet) Tuy nhiên, bất lợi tại thị trường Việt Nam là tính e ngại sử dụng các phương thức thanh toán, chuyển đổi tiền “ảo”, do đó 2 cái tên nổi trội trong ngành FinTech Việt là MoMo và Payoo đã đầu tư mạnh vào hệ thống giao dịch vật lý khi MoMo có hơn 4000 điểm giao dịch trải dài rộng khắp 45 tỉnh thành và Payoo là gần 5000 điểm thanh toán trên toàn quốc

1.1.3 Hoạt động tài chính vi mô

Theo Ngân hàng thế giới, hoạt động TCVM bao gồm hoạt động trung gian tài chính, hoạt động trung gian xã hội và hoạt động phát triển doanh nghiệp nhỏ

 Hoạt động trung gian tài chính

Hoạt động tín dụng ở các Tổ chức cung cấp TCVM (gọi chung là TCTCVM) thường được đồng nghĩa với cho vay, và các khoản vay này thường phục vụ cho mục đích sản xuất Một số TCTCVM cũng cho vay tiêu dùng, cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường Do đặc trưng của khách hàng là những người nghèo, chủ yếu ở khu vực nông nghiệp, nông thôn nên những tiêu chuẩn đánh giá khách hàng có những điều chỉnh cho

Trang 20

phù hợp so với khung nguyên lý chung Các phương thức cấp tín dụng thông dụng mà các TCTCVM cung cấp bao gồm: tín dụng cá thể, tín dụng theo nhóm tương hỗ và tín dụng theo nhóm tương hỗ qua trung gian thứ ba

Hoạt động huy động vốn có thể thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau như việc huy động tiền gửi tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, vay các tổ chức tín dụng, vay từ Ngân hàng trung ương, các nguồn tài trợ từ các Chính phủ, các tổ chức đa phương Nhưng do đặc điểm hoạt động của các TCTCVM ở những khu vực đơn lẻ, ở các vùng khó khăn nên không thuận lợi trong việc huy động từ các nguồn vốn vay Do vậy, tiết kiệm là hình thức chủ yếu để huy động vốn của các TCTCVM, các loại tiết kiệm chính gồm: tiết kiệm bắt buộc, tiết kiệm tự nguyện và tiền gửi có kì hạn cho các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ

Các hoạt động tài chính khác như hoạt động thanh toán, hoạt động cung cấp dịch vụ

thẻ thanh toán, hoạt động bảo hiểm vi mô thông thường do các TCTCVM chính thức cung cấp và còn khá mới mẻ đối với các TCTCVM

 Hoạt động trung gian xã hội

Dịch vụ xã hội là những dịch vụ mà thông qua đó người nghèo có thể liên kết lại với nhau thành những nhóm, tổ chức hay hiệp hội Qua những cách thức tổ chức như vậy, giúp cho người nghèo dễ dàng tiếp cận được với các TCTCVM, tham gia vào các hoạt động của TCVM, cũng như học hỏi giúp đỡ lẫn nhau, cung cấp các kiến thức, kinh nghiệm trong quản lý tiền vốn, kĩ thuật sản xuất và phát triển kinh doanh Thực tế đã chỉ ra rằng, sự phát triển của các dịch vụ xã hội không chỉ giúp đỡ cho người nghèo

mà còn cả về phía các TCTCVM Thông qua sự phát triển của các dịch vụ xã hội mà dịch vụ tài chính nhờ đó mở rộng, đến được với đối tượng nghèo

 Hoạt động phát triển doanh nghiệp nhỏ

Cũng giống người nghèo, các doanh nghiệp nhỏ không chỉ cần vốn mà còn cần những dịch vụ phát triển doanh nghiệp khác Các nhà cung cấp TCVM có thể tham gia góp phần nâng cao, cải thiện tình trạng tài chính cho doanh nghiệp nhỏ, hỗ trợ đào tạo, quản lý, cung cấp các dịch vụ thông tin về thị trường, sản phẩm Trong các hoạt động TCVM, hoạt động phát triển cho các doanh nghiệp là một mảng hoạt động độc lập với những hoạt động cung cấp tài chính khác, nhưng nhờ đó cũng làm tăng khả năng tiếp

Trang 21

cận các nguồn lực tài chính khác của doanh nghiệp và sự phát triển của doanh nghiệp trong cộng đồng xã hội Mặt khác, hoạt động phát triển doanh nghiệp còn làm đa dạng các dịch vụ, hoạt động của các TCTCVM, đạt tính kinh tế nhờ qui mô, nâng cao tính bền vững cho sự hoạt động của tổ chức

1.2 Chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô

1.2.1 Khái niệm về chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô

Vào năm 1992, Bancosol (Bolivia) là tổ chức đầu tiên chuyển đổi thành công từ một tổ

chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực tài chính vi mô (hoạt động từ năm 1986)

sang hình thức là một ngân hàng thương mại Từ đó, quá trình chuyển đổi của các TCTCVM đã được mở rộng ra toàn thế giới một cách hết sức nhanh chóng chỉ trong hơn hai thập kỷ vừa qua Theo Srnec và Harvland (2004), quá trình phát triển của các TCTCVM trên thế giới có thể chia làm 4 giai đoạn như sau:

Bảng 1.3 Các giai đoạn phát triển của các tổ chức tài chính vi mô

Từ 1976- 1980 Giai đoạn phổ biến hình thức cho vay vi mô và các khái niệm về

TCVM

Từ 1980- 1990 Giai đoạn tăng trưởng về số lượng các TCTCVM

Từ 1990- 2000 Giai đoạn thương mại hóa của các TCTCVM Các tổ chức bắt đầu

thu được lợi nhuận đáng kể từ các hoạt động của mình

Từ 2000 đến

nay

Giai đoạn chuyển đổi Các TCTCVM phi chính thức có sự chuyển đổi về mặt chất để trở thành các TCTCVM chính thức - được cấp phép và giám sát hoạt động bởi Ngân hàng Nhà nước, nằm dưới sự điều chỉnh trong một khuôn khổ pháp luật riêng

Nguồn: Nguyễn Kim Anh (2016)

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), chuyển đổi các TCTCVM bán chính thức thành chính thức là sự thay đổi các hoạt động của TCTCVM phụ thuộc vào các nguồn tài trợ, các khoản trợ cấp của Chính phủ, tổ chức quốc tế để trở thành những TCTCVM tự vững,

Trang 22

hoạt động theo nguyên tắc thương mại và tham gia vào thị trường tài chính chính thức Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, chỉ có những TCTCVM bán chính thức có đăng ký chuyển đổi mới đủ điều kiện để xem xét và công nhận là chính thức

Sự chuyển đổi này là một quá trình tương đối lâu dài, chuyển đổi căn bản từ hoạt động bán chính thức, thiếu tính chuyên nghiệp sang hoạt động mang tính chuyên nghiệp cao, trở thành một trung gian tài chính thực sự và được đặt dưới dự giám sát, quản lý của Ngân hàng Trung ương Vì vậy, bước đầu tiên trong tiến trình trở thành một TCTCVM chính thức là TCTCVM bán chính thức cần đảm bảo được việc bù đắp các chi phí hoạt động liên quan, sau đó tiếp cận tới việc đảm bảo các hệ số bền vững hoạt động, tài chính Bước quan trọng cuối cùng là tổ chức cần hoạt động theo nguyên tắc thị trường, tức là cạnh tranh một cách bình đẳng với các TCTCVM chính thức khác trong vấn đề huy động tiết kiệm, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ TCVM

Hình 1.1 Các bước cần đạt được để tiến hành chuyển đổi

là sự chuyển đổi TCTCVM bán chính thức thành chính thức, ở Việt Nam đó là sự

Hoạt động theo nguyên tắc thị trường

Đạt được sự bền vững về tài chính

Đạt được sự bền vững về hoạt động

Trở thành TCTCVM chính thức

Bù đắp

các khoản

chi phí

Trang 23

chuyển đổi các chương trình, dự án TCVM1 thành các TCTCVM hoạt động theo sự điều chỉnh của Luật TCTD 2010

1.2.2 Mục tiêu của việc chuyển đổi

Theo Ledgerwood and White (2006), xét trên quan điểm của tổ chức chuyển đổi, những mục tiêu cơ bản để các TCTCVM thực hiện việc chuyển đổi đó là để được cung ứng thêm các sản phẩm và dịch vụ (cụ thể là nhận tiền gửi tiết kiệm) cho các khách hàng của mình, để tăng khả năng tiếp cận các nguồn vốn mới (cả về vốn vay và vốn của cổ đông) và để mở rộng phạm vi tiếp cận khách hàng của mình Thêm vào đó, việc chuyển từ các TCTCVM bán chính thức sang thành các trung gian tài chính nhận tiền gửi chính thức sẽ giúp cải thiện cơ cấu sở hữu và quản trị của tổ chức Cụ thể:

Thứ nhất, các hoạt động, sản phẩm và dịch vụ cung ứng của các tổ chức chuyển đổi

được phát triển đa dạng hơn Tiết kiệm huy động có thể làm tăng số lượng khách hàng được phục vụ, cải thiện sự hài lòng của khách hàng và giúp khách hàng duy trì, cải thiện nghĩa vụ trả nợ, ổn định nguồn quỹ, và cải thiện tình hình quản trị của các TCTCVM Bên cạnh đó, các dịch vụ chuyên biệt khác như cho vay nhà ở, chuyển tiền

và bảo hiểm vi mô mang lại rất nhiều lợi ích cho các khách hàng và chỉ được thực hiện bởi các trung gian tài chính chính thức

Thứ hai, chuyển đổi làm tăng khả năng tiếp cận các nguồn vốn thương mại Việc

chuyển đổi từ các TCTCVM bán chính thức thành các TCTCVM chính thức đã làm thay đổi vị thế pháp lý và mở ra nhiều cơ hội cho các TCTCVM tham gia vào các quan

hệ kinh tế mới (bao gồm cả quan hệ tín dụng) Hình ảnh và uy tín của các tổ chức chuyển đổi cũng được nâng cao trong mắt cộng đồng

Thứ ba, phạm vi hoạt động và số lượng khách hàng lớn hơn Sự tăng lên về số lượng

và chất lượng các sản phẩm, dịch vụ cũng như khả năng tiếp cận các nguồn vốn mới sẽ trực tiếp tác động tới sự tăng lên của số lượng khách hàng cũng như giúp các tổ chức chuyển đổi mở rộng được thị phần Nhiều tổ chức chuyển đổi nhằm thực hiện mục tiêu

xã hội của mình, đó là giúp cho những người có thu nhập thấp tiếp cận được với các dịch vụ tài chính khi họ đã có thể mở rộng quy mô cũng như phạm vi hoạt động

1 Theo Quyết định 20/2017/QĐ-TTg ngày 12/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ quy định về hoạt động của Chương trình, dự án TCVM thuộc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức phi chính phủ

Trang 24

Thứ tư, cải thiện cơ cấu sở hữu và quản trị của tổ chức Sau khi trở thành một

TCTCVM chính thức, điều này đồng nghĩa với việc các tổ chức sẽ phải gia nhập vào một môi trường cạnh tranh và pháp lý mới Dưới sự điều chỉnh của các quy định nghiêm ngặt và chặt chẽ hơn buộc các tổ chức này phải tuân thủ theo các chuẩn mực tối thiểu về điều hành, quản trị, kiểm soát và minh bạch thông tin Điều này sẽ tạo sức

ép khiến các tổ chức chuyển đổi phải nỗ lực nâng cao tính chuyên nghiệp của mình

1.2.3 Các nội dung chuyển đổi

Quá trình chuyển đổi từ một TCTCVM bán chính thức trở thành một tổ chức tài chính chính thức không chỉ đơn thuần là sự thay đổi về phương diện pháp lý mà còn là sự thay đổi đáng kể trong việc quản trị cũng như điều hành tổ chức Ngoài ra, nó bao hàm sự thay đổi trong mối liên kết giữa các nhân viên với nhau và sự liên kết của tổ chức với các cổ đông mới của nó Vì thế, cốt lõi của việc chuyển đổi là sự thay đổi trong quy trình quản lý

Bảng 1.4 So sánh giữa TCTCVM chính thức và bán chính thức

TT Tổ chức TCVM chính thức Tổ chức TCVM bán chính thức

1 NHTW cấp phép, quản lý, giám sát NHTW không cấp phép, quản lý, giám sát

2 Được phép nhận tiết kiệm tự nguyện Không được phép nhận tiết kiệm tự nguyện

3 Được phép làm dịch vụ thanh toán Không được phép làm dịch vụ thanh toán

5 Phải đảm bảo các tỷ lệ an toàn Không cần đảm bảo các tỷ lệ an toàn

6 Cung cấp các sản phẩm, dịch vụ theo

khuôn khổ của pháp luật

Cung cấp các sản phẩm, dịch vụ mà pháp luật không cấm

Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu

 Chuyển đổi về mặt pháp lý

Khung pháp lý quy định về các tiêu chuẩn và nguyên tắc chung mà các tổ chức tài chính phải đáp ứng, quy định những hành vi cụ thể và những tiêu chuẩn cần phải được điều chỉnh thường xuyên Luật pháp cơ bản phân biệt sự khác nhau giữa các loại hình tổ chức tài chính và định nghĩa các loại hình hoạt động kinh doanh mà các tổ chức này

Trang 25

có thể đảm nhận Nó còn đưa ra những hạn chế giao dịch, định nghĩa yêu cầu vốn tối thiểu và duy trì liên tục, cũng như tỷ lệ nắm giữ cổ phần tối đa của cá nhân hoặc nhóm

cá nhân Luật quy định các nguyên tắc cơ bản của quản trị doanh nghiệp bao gồm cả kiểm soát nội bộ và bên ngoài, các quy định về tập trung và cho vay nội bộ, cung cấp hướng dẫn chung về giám sát, và nêu rõ các quy tắc, các biện pháp trừng phạt và khắc

phục hành động như nợ, thanh khoản, và lối thoát Một khung pháp lý bảo đảm an đảm

bảo rằng chỉ có các tổ chức lớn mạnh gia nhập thị trường, họ được điều chỉnh để đạt được lợi nhuận, các tổ chức tài chính và khách hàng của họ tương đối độc lập Quy định bảo đảm an toàn thông thường bao gồm: Quy định về vốn tối thiểu, quy định về

tỷ lệ nắm giữ cổ phần tối đa, quy định về an toàn vốn, quy định về chất lượng tài sản, quy định về quản lý rủi ro và cho vay nội bộ, quy định về dự trữ và thanh khoản, quy định về báo cáo, các biện pháp xử phạt và khắc phục

 Chuyển đổi về mô hình sở hữu và quản trị

- Quyền sở hữu

Xác định yêu cầu quyền sở hữu theo pháp luật hoặc các quy định có liên quan là hết sức quan trọng cho một TCTCVM khi tiến hành chuyển đổi bởi việc chuyển đổi dẫn đến việc từ bỏ quyền kiểm soát của nhiều bên liên quan Trước chuyển đổi, cấu trúc sở hữu thường là một NGO hoặc một dự án huy động vốn từ các khoản đóng góp và được quản trị bởi các nhà sáng lập Sau khi chuyển đổi, cấu trúc cổ phần vốn góp với các nhà đầu tư đòi hỏi nhu cầu lợi nhuận, quyền kiểm soát cũng như chia sẻ nghĩa vụ nợ của tổ chức Do vậy, các nhà đầu tư sẽ đóng vai trò quan trọng trong tổ chức mới

Cùng với các nhà đầu tư mới, hệ thống pháp lý cũng tạo ra những nhóm có lợi ích liên quan mà định chế phải có trách nhiệm Chẳng hạn, vị thế tài chính và chất lượng đầu

tư của TCTCVM sẽ không chỉ được xem xét nội bộ nữa Thay vào đó, tất cả hoạt động của tổ chức cần phải được ghi nhận rõ ràng bằng văn bản, được giải thích và đánh giá qua các tiêu chí giám sát bên ngoài Mặc dù những người đóng góp ban đầu vẫn có thể

có tiếng nói nhất định, song sự can thiệp của pháp lý sẽ khắt khe hơn (yêu cầu báo cáo thường xuyên) đắt đỏ hơn (phạt nếu báo cáo trễ) và sâu rộng hơn (đe dọa can thiệp về pháp lý hoặc đóng cửa) Sự góp mặt của “bên liên quan” mới này do đó làm thay đổi đáng kể về mặt kiểm soát

Trang 26

Không giống như TCTCVM là các NGO, cấu trúc quản trị của một TCTCVM chính thức đồng thời phán ánh cấu trúc sở hữu của nó Cần có quyết định về việc tỷ lệ sở hữu vốn bao nhiêu là đủ để có ghế trong HĐQT Hầu hết các TCTCVM chính thức được sở hữu bởi một nhóm nhỏ các nhà đầu tư và không ai có đủ tỷ lệ để kiểm soát, trừ trường hợp các tổ chức mà NGO sáng lập vẫn giữ nguyên tỷ lệ sở hữu Lợi ích ở đây là các nhà đầu tư thường thực hiện vai trò quản trị hết sức thận trọng, với đại diện nhà đầu tư tham dự các cuộc họp HĐQT thường xuyên và chủ động nhận thông tin về hoạt động của tổ chức

- Quyền quản trị

Trong việc chuyển đổi TCTCVM từ một NGO thành một TCTCVM chính thức, sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức quản lý chủ yếu được mang đến bởi các cổ đông mới, khi họ tìm kiếm vị trí đại diện trong HĐQT tương ứng với tỷ lệ nắm giữ cổ phần Ngoài ra, các quy định pháp lý mới mà TCTCVM sau khi chuyển đổi sang chính thức phải tuân theo chắc chắn sẽ bao hàm một số yêu cầu về cơ cấu tổ chức và quản lý

Ở hầu hết các quốc gia, Luật các tổ chức tín dụng hoặc luật chuyên ngành về TCVM thường quy định rõ năng lực cần có của một thành viên HĐQT và thường yêu cầu cơ quan quản lý ngành phải xem xét hồ sơ của toàn bộ các thành viên HĐQT được đề xuất từ một TCTCVM, thường gọi là “kiểm tra tính đúng đắn và phù hợp” Ngoài ra, luật pháp cũng có thể quy định về các mô hình tổ chức quản lý của TCTCVM và nghĩa

vụ của các thành viên Theo quy định chung, các thành viên HĐQT phải chịu trách nhiệm cá nhân với toàn bộ hành động của mình với tư cách thành viên HĐQT của tổ chức, và nếu các hành động đó bị phát hiện là trái với tiêu chuẩn theo quy định của một thành viên HĐQT của một trung gian tài chính, thành viên đó có thể bị phạt hành chính hoặc thậm chí truy tố hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng

Một thách thức quan trọng mà nhiều TCTCVM chuyển đổi phải đương đầu là làm thế nào để có một HĐQT hiệu quả, đáp ứng được trước sự gia tăng nhanh chóng của các bên liên quan cả bên trong lẫn bên ngoài, trong đó có nhiều bên mới đối với tổ chức như các cổ đông, các nhà làm luật và cả các khách hàng mới Một trong những công việc đáng kể hơn cả là nâng cao kiến thức chuyên môn cần thiết cho HĐQT để đảm bảo mỗi thành viên được thông báo đầy đủ và có thể hiểu rõ những rủi ro và thách thức mà một tổ chức nhận tiền gửi phải đối mặt

Trang 27

Thách thức thứ hai là việc thiết lập một cơ cấu quản lý, trong đó định rõ ranh giới giữa quản lý và quản trị điều hành, đồng thời thiết lập các chính sách và quy trình sao cho gắn trách nhiệm của bộ phận điều hành với thành tích của đơn vị Phần này sẽ giải quyết hai khía cạnh này của quản trị doanh nghiệp – xây dựng và phát triển một HĐQT hiệu quả để đáp ứng đầy đủ yêu cầu của các bên liên quan, và tổ chức một bộ máy quản lý có thể quy trách nhiệm rõ ràng

Quy mô của HĐQT phải đủ lớn về số lượng để hoàn thành công việc một cách hiệu quả, giúp huy động vốn khi có nhu cầu, làm tăng danh tiếng của tổ chức, tạo ra tính kế thừa, và đảm bảo các đại biểu dễ dàng triệu tập trong khi vẫn phải đủ nhỏ để tạo ra sự đồng thuận trong các quyết định lớn và giúp các thành viên thiết lập một mối quan hệ tin cậy với nhau Một nhân tố khác là số lượng các cổ đông muốn có đại diện trong HĐQT và số lượng các thành viên HĐQT độc lập Trong tất cả các trường hợp, số lượng thành viên HĐQT luôn là một số lẻ để tránh tình trạng bỏ phiếu ngang nhau Mức độ tương tác hay mối quan hệ giữa HĐQT của TCTCVM sau chuyển đổi với NGO sáng lập và HĐQT của nó được xác lập bởi luật pháp sở tại cũng như vai trò của NGO sau đó Tại nhiều quốc gia, luật pháp không cho phép chồng chéo vai trò giữa các thành viên HĐQT của NGO và của TCTCVM sau chuyển đổi Những mâu thuẫn lợi ích tiềm tàng cần phải được đánh giá cẩn trọng khi xác định những mối quan hệ như vậy

Trách nhiệm giải trình của ban giám đốc trước HĐQT có thể được thực hiện thông qua một hệ thống báo cáo rõ ràng, minh bạch để truyền tải thông tin từ ban giám đốc đến HĐQT; Sử dụng hiệu quả đánh giá của bên thứ ba về các hoạt động và thành tích của TCTCVM; Các thước đo hiệu suất có thể lượng hóa để làm căn cứ đánh giá kết quả công việc của ban giám đốc một cách công bằng và minh bạch Cùng với sự giám sát của bản thân HĐQT với ban điều hành, các bên thứ ba cũng có thể đưa ra những đánh giá có giá trị về tuân thủ các chính sách và quy trình, các điều luật liên quan cũng như tính chính xác của thông tin mà BGĐ cung cấp cho HĐQT HĐQT có thể dựa trên đánh giá của 5 loại hình “bên thứ ba” để xem xét, đó là Cơ quan giám sát TCTD, Kiểm toán nội bộ, Kiểm toán độc lập, Luật sư (nội bộ hoặc thuê ngoài), Các công ty tư vấn

và xếp hạng tín nhiệm

 Chuyển đổi tổ chức hoạt động

Trang 28

- Chuyển đổi tầm nhìn và sứ mệnh

Xây dựng một tầm nhìn và sứ mệnh rõ ràng cho các trung gian tài chính nhận tiền gửi được cấp phép cho phép chia sẻ giữa các nhân viên và các thành viên hội đồng quản trị, giúp truyền đạt lý do cần thiết có sự thay đổi cho người khác; làm rõ sự khác biệt giữa tổ chức hiện tại và cách tổ chức muốn hướng tới; giúp duy trì sự tập trung (đặc biệt là trong giai đoạn khó khăn), và cung cấp một thước đo sự tiến bộ trong việc đáp ứng những thay đổi dự tính; giúp xác định người sẽ cần phải tham gia nhiều để dẫn đường cho tổ chức đến đích mà nó muốn đạt được

- Quản lý nhân lực

Quá trình chuyển đổi ảnh hưởng đáng kể đến yêu cầu về nhân viên của một TCTCVM Các dự án tiếp cận cộng đồng cho vay và tiết kiệm chắc chắn sẽ yêu cầu thêm số lượng nhân viên đáng kể vì có thể cần sự tổ chức lại về mặt cơ cấu của tổ chức để hỗ trợ tốt hơn cho việc mở rộng chiến lược và đáp ứng những yêu cầu quy định Do đó, đánh giá tính đầy đủ của cơ cấu tổ chức và xác định những thay đổi và bổ sung cần thiết để hoạt động như một trung gian tài chính nhận tiền gửi;

- Quản lý rủi ro

Quá trình chuyển đổi rất cần thiết phải có hoạt động quản lý rủi ro theo yêu cầu pháp

lý Chính sách xem xét cho quản lý rủi ro (rủi ro hoạt động, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, thị trường hay rủi ro hệ thống, rủi ro ngoại hối, an toàn vốn, hạn chế tiếp xúc, vv) và đề xuất và thực hiện các hoạt động để cải thiện; Đảm bảo quản lý rủi ro được tuân thủ; Đảm bảo việc kiểm soát nội bộ cho tổ chức tiết kiệm được điểu chỉnh là đầy đủ; Phân loại rủi ro phù hợp cho các khoản vay tài chính vi mô

- Quản lý tài chính

Đối với một số TCTCVM đang chuyển đổi, một số thách thức có thể trở nên phức tạp hơn liên quan đến các quy định và dự trù về tài chính, chuyển dịch về cấu trúc vốn được theo mô hình tổ chức mới, sự cần thiết phải kết hợp một loạt các giả thiết chưa được kiểm tra về tốc độ tăng trưởng sản phẩm (đặc biệt là huy động tiết kiệm) và thâm nhập thị trường, khả năng tạo lập nguồn vốn mới, và nhiều biến không xác định do những tác động của các khoản chi phí mới phát sinh Chẳng hạn việc tuân thủ các tỷ lệ

an toàn, như an toàn vốn tối thiểu và tính thanh khoản cũng cần được dự tính trước

Trang 29

- Nâng cấp hệ thống thông tin quản lý

Quá trình chuyển đổi thường đi kèm với sự nâng cấp đáng kể trong hệ thống thông tin quản lý của TCTCVM Điều này bao gồm cả việc tái cấu trúc các quy trình cơ bản để quản lý các dòng dữ liệu và thông tin trong các tổ chức, cũng như những đầu tư lớn vào hạ tầng công nghệ của tổ chức Đảm bảo khả năng báo cáo chính xác và kịp thời

để điều tiết (các báo cáo thanh khoản, báo cáo an toàn vốn, báo cáo tài chính) cũng như để phục vụ cho quá trình quản lý

- Kiểm soát và kiểm toán nội bộ

Xem xét chức năng kiểm soát và kiểm toán nội bộ (nhân sự, thâm niên, kỹ năng, kế hoạch kiểm toán, bảo hiểm, báo cáo cơ cấu,…); Ghi lại các thủ tục và chính sách kiểm toán nội bộ và bên ngoài khi được chấp thuận của hội đồng quản trị và đảm bảo bản hướng dẫn được nhất quán tuân theo; Xem lại những khoảng trống trong việc tuân thủ

và đề xuất chiến lược cho phù hợp với quy định

 Chuyển đổi mô hình kinh doanh

Sau khi đã hoàn thành về tầm nhìn, sứ mệnh, các kết quả của hoạt động nghiên cứu thị trường; và các quyết định liên quan đến vị trí của tổ chức mới trên thị trường, các TCTCVM chuyển đổi xác định lại mô hình kinh doanh hiện tại trong quá trình phát triển chiến lược kinh doanh của mình Liệu mô hình hiện tại có đủ hiệu quả để đạt được tầm nhìn mới, sứ mệnh và vị trí trong thị trường mà tổ chức đã xây dựng chiến lược hay không, và quan trọng nhất, quyết định nào sẽ được thực hiện liên quan đến tính khả thi về tài chính và hiệu quả thị trường của tổ chức mới? Để phát triển các chiến lược và kế hoạch kinh doanh, TCTCVM chuyển đổi cần xác định lại và định lượng các sản phẩm và dịch vụ sẽ cung cấp; hoạt động tiếp thị và các kênh phân phối

nó sẽ sử dụng; con người, và các nguồn lực tài chính, vật chất mà nó sẽ cần để hoạt động hiệu quả

 Chuyển đổi sản phẩm và dịch vụ

Hầu hết các biến đổi của tổ chức dẫn đến tái cơ cấu, và thường mở rộng cung cấp các

dịch vụ và sản phẩm tại TCTCVM, và quá trình chuyển đổi có thể dẫn đến việc bổ sung các dịch vụ tiết kiệm tự nguyện Cung cấp dịch vụ tiền gửi cho công chúng đòi hỏi các TCTCVM không chỉ phát triển các sản phẩm tiết kiệm phù hợp, mà còn để

Trang 30

kiểm tra việc kết hợp sản phẩm hoàn chỉnh bao gồm tín dụng, tiết kiệm, chuyển tiền,

và bảo hiểm trong thị trường mục tiêu mới

Việc bổ sung các sản phẩm và dịch vụ mới cũng làm thay đổi phương thức tạo ra doanh thu và chi phí phát sinh Thu nhập từ phí thường tăng lên cùng với việc bổ sung các dịch vụ mới và chi phí của các nguồn vốn thường giảm theo thời gian khi ngày càng có nhiều các khoản tiền gửi tài trợ cho danh mục cho vay Tuy nhiên, các chi phí cũng gia tăng cùng với việc tăng cường nghĩa vụ thực hiện các báo cáo tuân thủ các quy định của ngân hàng trung ương, sự gia tăng trong hệ thống thông tin quản lý và yêu cầu cơ sở hạ tầng, chi phí nhân viên cũng cao hơn, và tăng cường quản lý chung

do việc mở rộng phạm vi cung cấp các sản phẩm

1.2.4 Các tiêu chí đánh giá quá trình chuyển đổi thành công

Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng ngày 16 tháng 6 năm 2010 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng ngày 20 tháng 11 năm 2017, Thông tư số 03/2018/TT-NHNN quy định về cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam ngày 23 tháng 2 năm 2018,

có thể thấy rằng một TCTCVM chuyển đổi thành công khi tổ chức đó được Ngân hàng nhà nước chấp thuận hồ sơ đề nghị cấp giấy phép; cấp giấy phép; chấp thuận danh sách nhân sự dự kiến bầu, bổ nhiệm làm thành viên hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc); chấp thuận về mạng lưới hoạt động; tiến hành khai trương hoạt động theo đúng quy định

Khi đã chuyển đổi thành công, trở thành TCTCVM được cấp phép, TCTCVM có thể được thực hiện các hoạt động theo nội dung ghi trong Giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp Trong đó, các TCTCVM được thực hiện các hoạt động huy động vốn tiết kiệm bắt buộc và Tiền gửi tự nguyện; vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính,

và các cá nhân, tổ chức khác trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật; được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại; và được thực hiện một số hoạt động kinh doanh khác như ủy thác, nhận ủy thác cho vay vốn, cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính liên quan đến lĩnh vực tài chính vi mô, cung ứng dịch vụ thu hộ, chi hộ và chuyển tiền cho khách hàng tài chính vi mô, làm đại lý cung ứng dịch vụ bảo hiểm

1.3 Kinh nghiệm chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô trên thế giới

Trang 31

1.3.1 Về mô hình chuyển đổi

Qua tổng kết kinh nghiệm quốc tế, có hai mô hình chuyển đổi từ một TCTCVM bán chính thức trở thành một TCTCVM chính thức:

 Chuyển đổi từ TCTCVM phi chính phủ (NGO) sang các tổ chức tín dụng thương mại chính thức (các trung gian tài chính phi ngân hàng hay các ngân hàng thương mại) như BancoSol ở Bolivia, K-Rep ở Kenya, BRAC ở Bangladesh, Mibanco ở Peru, Finsol ở Honduras, Ngân hàng CARD Bank ở Philippines và Compartamos

ở Mexico Đây là mô hình chuyển đổi phổ biến nhất của các TCTCVM tính đến thời điểm hiện nay

 Sự sáp nhập giữa một ngân hàng thương mại và một TCTCVM hay sự sáp nhập của hai hay nhiều TCTCVM bán chính thức thành TCTCVM chính thức Chẳng hạn như trường hợp của CONFIE tại Nicaragua và Genesis ở Guatemala được thực hiện kết hợp với một ngân hàng thương mại nhỏ và một công ty tài chính, trong khi đó XAC và Gobi Ehlel, cả hai đều là các TCTCVM phi chính phủ độc lập ở Mông Cổ, được sáp nhập thành một TCTCVM chính thức

1.3.2 Về thủ tục pháp lý

Vấn đề pháp lý đóng vai trò hết sức quan trọng với quá trình chuyển đổi các TCTCVM Việc chuyển đổi diễn ra nhanh hay chậm, khả thi hay không phụ thuộc rất nhiều vào khung pháp lý quy định về hoạt động của TCTCVM cũng như hoạt động của các tổ chức tín dụng nói chung

Vấn đề đầu tiên là việc “nới lỏng” các quy định về gia nhập thị trường TCVM, vấn đề

mà nhiều quốc gia có ý kiến khác biệt Sa-Dahn, một mạng lưới gồm hơn 250 TCTCVM tại Ấn Độ đã đưa ra ý kiến ủng hộ việc mở đường cho các “công ty” chuyên

về TCVM Nghĩa là chính phủ nên chấp nhận sự tồn tại của một dạng công ty chuyên hoạt động trong lĩnh vực TCVM với các quy định thấp hơn về vốn trong khi có thể cung cấp dịch vụ tương đồng với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng Điều này vừa giúp các TCTCVM phi chính phủ mở rộng hoạt động kinh doanh thương mại, trong khi không ngăn sự gia nhập thị trường TCVM của các cá nhân, tổ chức khác Tuy nhiên, kinh nghiệm từ sự thất bại của các ngân hàng hợp tác xã tại Gujarat và Andhra Pradesh đã cảnh báo về việc lạm dụng sự nới lỏng trong các quy định gia nhập thị

Trang 32

trường Ban đầu, những quy định gia nhập dễ dàng cho các ngân hàng hợp tác xã được đưa ra vì đó là các tổ chức dân chủ, do các thành viên tham gia tự góp vốn và điều hành Tuy nhiên, theo thời gian, các ngân hàng dạng này ngày càng thiên về giao dịch với những khách hàng không phải là thành viên, và dần mất đi tính “tương trợ”, đặc tính giúp sự gia nhập được dễ dàng, và chuyển sang bị chi phối bởi nhóm nhỏ các nhà đầu tư Vì vậy khi các chính phủ ban hành cải cách về pháp lý cho lĩnh vực này, cần cẩn trọng với việc lạm dụng việc giảm bớt những rào cản gia nhập thị trường

Với kinh nghiệm của Bolivia, các FFP được xem như bước trung gian để các TCTCVM phi chính phủ chuyển thành tổ chức chính thức Các quy định gia nhập rất cao nhưng đổi lại cho phép các NGO đầu tư vào các ngân hàng Trong bối cảnh đó, các NGO hoàn toàn có thể chuyển các khoản vốn đóng góp, hiến tặng để đầu tư cho các vùng kém phát triển vào các định chế ngân hàng Trong trường hợp của K-Rep ở Kenya, NGO được đăng ký dưới dạng một công ty trách nhiệm hữu hạn, và tài sản được nắm giữ dưới dạng một quỹ từ thiện tín thác đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng Trong trường hợp khung pháp lý của Ấn Độ, các bước chuyển đổi từ một NGO thành công ty tài chính phi ngân hàng và cuối cùng thành một ngân hàng thương mại là bất khả thi Điều này không thể vì luật pháp Ấn Độ chưa có quy định về chuyển đổi TCTCVM Hệ thống pháp lý hiện tại chưa cho phép các tổ chức tương trợ xã hội hay các ngân hàng hợp tác xã tăng dần phạm vi hoạt động Vì vậy sẽ tốt hơn nếu đại diện của lĩnh vực TCVM đề xuất một khung khổ pháp lý cho phép các TCTCVM chuyển đổi thành các định chế lớn hơn theo 2 hướng: thành các định chế tương trợ hoặc thành một loại hình doanh nghiệp

Tại Phillipine, chính phủ đã đóng vai trò then chốt cho việc thương mại hóa các TCTCVM phi chính thức thông qua hàng loạt những chính sách tạo khung pháp lý Thứ nhất, chính phủ rút lui dần khỏi các chương trình tín dụng trực tiếp và cho đến tháng 2/2002 đã hoàn thành Những chương trình này trong quá khứ là cần thiết, xong với sự ra đời của các TCTCVM chính thức thì sự tham gia trực tiếp của chính phủ qua những chương trình này sẽ gây tác động tiêu cực và là sự can thiệp phi thị trường Thứ hai là chính phủ gỡ bỏ những khoản đầu tư và cho vay mang tính chính trị bắt buộc Các quy định trong Luật nông nghiệp – nông thôn và Luật các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đánh những khoản thuế “ngầm” vào các ngân hàng và nên được gỡ bỏ Thứ ba,

Trang 33

tiếp tục thực hiện việc quản lý và giám sát phù hợp với hoạt động TCVM nhằm đảm bảo sức khỏe cho khu vực ngân hàng Thứ tư, thanh lọc việc huy động tiền gửi qua các tổ chức phi chính phủ Lý do vì nếu tiếp tục cho phép các NGO huy động tiền gửi một cách bất hợp pháp, cả hệ thống tài chính có thể bị ảnh hưởng khi NGO đó mất thanh khoản hoặc cầm tiền của khách hàng bỏ trốn Thứ năm, siết chặt quản lý và giám sát các hợp tác xã Thứ sáu, đề ra các tiêu chuẩn đánh giá TCTCVM theo từng loại hình dựa trên một số hệ thống như PESOS, CAMEL của bên ngân hàng hoặc các tiêu chuẩn đánh giá TCTCVM phi chính phủ của Hội đồng TCVM (Microfinance Council)

1.3.3 Về hoạt động

Theo kinh nghiệm tại nhiều quốc gia, sau khi chuyển đổi các TCTCVM trở nên nhạy cảm hơn với các yêu cầu cụ thể của khách hàng và đồng thời triển khai đa dạng hơn các sản phẩm và phát triển hệ thống giao dịch giúp khách hàng thỏa mãn hơn

Tại Phillipine, ngoài việc đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng vi mô, nhiều sản phẩm tiền gửi tiết kiệm linh hoạt cũng được thiết kế để thu hút các khoản tiết kiệm nhỏ với chi phí thấp nhất Ngoài ra, các sản phẩm bảo hiểm vi mô cũng giúp gia tăng lợi ích Ngoài ra dịch vụ chuyển tiền và thuê tài chính cũng đang được phát triển

Tại các nước Mỹ Latinh, việc chuyển đổi đã cho phép tổ chức TCVM có thể đa dạng hóa các nguồn vốn của họ thông qua việc huy động tiền gửi, làm giảm phụ thuộc vào

đi vay và nâng cao mức độ tự do của các nhà quản lý Dựa vào những người gửi tiết kiệm, các tổ chức TCVM phát triển sâu trong cộng đồng địa phương và do đó tự bảo

vệ tốt hơn chống lại các hiện tượng như các chương trình giảm nợ hoặc người vay nợ thông đồng Trong bối cảnh này, điều quan trọng là các tổ chức TCVM để thiết lập một chiến lược huy động tiết kiệm rõ ràng Trong nhiều trường hợp, nó dễ dàng hơn cho các tổ chức TCVM trong việc thu hút tiền gửi kỳ hạn từ các nhóm thu nhập trung bình, là những khách hàng được thu hút bởi lợi nhuận tài chính và không cần phải có mạng lưới chi nhánh rộng lớn và các cơ sở giao dịch Sau đó, khi các TCTCVM tăng nhận sổ tiết kiệm sẽ cung cấp một nguồn vốn quan trọng với chi phí thấp

Tại Uganda, các TCTCVM sau chuyển đổi đã nhanh chóng nhận ra thách thức trong việc hệ thống hóa và tiêu chuẩn hóa toàn bộ quy trình nghiệp vụ Về quản trị nhân sự, cùng với sự mở rộng về sản phẩm dịch vụ cũng như quy mô, các tổ chức đều ráo riết tuyển thêm nhiều vị trí quản lý, đặc biệt là quản lý cấp trung Ngoài ra, việc huấn

Trang 34

luyện, đào tạo cho cả đội ngũ quản lý và nhân viên cũng được chú trọng Về quản lý tài chính, trước kia chỉ được vận hành bởi 1 kế toán trưởng và 1 vài kế toán viên, thì sau chuyển đổi đã tuyển dụng thêm giám đốc tài chính và một thủ quỹ Họ có nhiệm

vụ phát triển và văn bản hóa các chính sách, quy trình quản trị tài chính, đưa ra các công cụ quản trị tài chính phù hợp như mô hình lập kế hoạch tài chính và đề xuất một ban kiểm toán nội bộ… Về hệ thống thông tin quản lý, các TCTCVM sau chuyển đổi đều nhận ra tầm quan trọng phải có một hệ thống thông tin hiện đại, hiệu quả có thể nhanh chóng đưa ra các báo cáo chính xác, kịp thời và có thể phân tích nhanh dữ liệu, dự báo xu thế Và cuối cùng, tương tự Phillipine, việc chuyển đổi cho phép các TCTCVM ở Uganda có điều kiện đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ dựa trên hai nền tảng

là nhận tiền gửi tiết kiệm và cho vay

1.3.4 Các kinh nghiệm khác

Theo kinh nghiệm các nước Mỹ Latinh, chỉ các TCTCVM đã trưởng thành và đạt đầy

đủ tính bền vững, có lợi thế kinh tế nhờ quy mô và có cơ chế hoạt động vững chắc mới nên cố gắng chuyển đổi trong ngắn hạn Các tổ chức chưa đạt được những điều trên nên tham gia vào một chương trình tăng cường thể chế để cải thiện hoạt động trước Ngoài ra, Điều hết sức quan trọng là phải có chiến lược và kế hoạch quá trình chuyển đổi: nên tập trung vào nhu cầu lâu dài và kế hoạch kinh doanh của các của TCTCVM; tuân thủ các yêu cầu của luật pháp sở tại Dựa vào kế hoạch cẩn thận và trình tự của các chuyên gia tư vấn sẽ có kết quả tốt hơn, tránh khả năng TCTCVM quá tải với quá nhiều mục tiêu và tạo điều kiện để chuyển giao kiến thức từ các chuyên gia tư vấn Trong bối cảnh này, rất hữu ích để đưa ra một lộ trình chi tiết của các nhà tư vấn, bao gồm các điều khoản tham chiếu và dự toán ngân sách cũng như thời gian

Tại Bangladesh, các TCTCVM như Grameen, BRAC, ASA … đã đưa ra hình mẫu cho các tổ chức ở các quốc gia khác noi theo, và họ không hề bị thúc ép phải chuyển đổi

Họ hoàn toàn có thể tăng trưởng với nhịp độ cao như trước đó mà không cần phải chuyển đổi Nhu cầu chuyển đổi ở đây đơn giản vì họ đã đạt đến quy mô khá lớn và tự thân họ muốn có thể cung cấp thêm các dịch vụ phức tạp hơn mà chỉ các định chế tài chính chính thức mới được cung cấp

1.3.5 Bài học rút ra cho chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam

Trang 35

Thứ nhất, chuyển đổi không phải là phương án thích hợp đối với tất cả các TCTCVM

phi chính thức và bán chính thức Theo Ledgerwood (2006), để có thể đưa ra quyết định có nên chuyển đổi hay không, các tổ chức này cần xem xét tới các yếu tố:

 Mục tiêu trong dài hạn của tổ chức là gì?

 Môi trường kinh tế và khuôn khổ luật pháp của quốc gia có thuận lợi để chuyển đổi hay không?

 Các nguồn lực cần có để thực hiện chuyển đổi, tổ chức đã đáp ứng được hay chưa?

Thứ hai, sau khi đi đến quyết định chuyển đổi, các tổ chức phải lập cho mình một kế

hoạch chuyển đổi rõ ràng theo từng giai đoạn Mỗi giai đoạn được thực hiện theo từng bước và phải dự trù các trường hợp bất thường có thể xảy đến trong quá trình thực hiện chuyển đổi

Thứ ba, chuyển đổi sang một TCTCVM chính thức có nghĩa là chấp nhận chia sẻ

quyền kiểm soát với một nhóm cổ đông lớn hơn Trên thực tế không thiếu các trường hợp chuyển đổi gặp phải sự mâu thuẫn giữa các thành viên Hội đồng Quản trị khi xem xét tới yếu tố quyền sở hữu và kiểm soát của mình đối với tổ chức sau chuyển đổi Có nhiều trường hợp phải thực hiện các biện pháp buộc cưỡng bỏ quyền kiểm soát và quản lý hoạt động đối với các thành viên không chấp nhận chuyển đổi Đây là điều những người đứng đầu tổ chức hoàn toàn không mong muốn vì nó sẽ tạo tâm lý không thoải mái cho các thành viên về việc chuyển đổi và tạo cho nhân viên áp lực tâm lý về quá trình chuyển đổi Do đó, vấn đề đạt được sự thỏa thuận chung giữa các thành viên HĐQT về việc chia sẻ quyền kiểm soát tổ chức là vô cùng quan trọng và phải được thực hiện trước nhất khi muốn bắt tay vào chuyển đổi

Thứ tư, chuyển đổi tạo điều kiện mở rộng các sản phẩm cung ứng do đó cũng sẽ mở

rộng cơ sở khách hàng của tổ chức Việc chuyển đổi sang một tổ chức nhận tiền gửi sẽ làm mở rộng thị trường mục tiêu của tổ chức Do đó, khi một khách hàng không còn

ưa thích việc gửi tiền cho tổ chức nữa, họ sẽ tìm đến các tổ chức khác đáp ứng được các nhu cầu của họ hơn Thêm vào đó, việc huy động tiền gửi tiết kiệm sẽ không chỉ dừng lại ở những người có thu nhập thấp mà sẽ mở rộng cho cả những cá nhân và doanh nghiệp có thu nhập cao hơn Tuy nhiên, sản phẩm, dịch vụ mà các đối tượng khách hàng này nhắm tới cũng thường phức tạp hơn, chẳng hạn như yêu cầu về một

Trang 36

sản phẩm tích hợp tất cả các chức năng tín dụng, tiết kiệm, thanh toán, bảo hiểm Điều này đòi hỏi các tổ chức chuyển đổi phải có sự cân nhắc tới việc tạo ra các sản phẩm mới, đáp ứng được nhu cầu của thị trường tuy nhiên cũng phải cân đối giữa chi phí đầu tư và lợi nhuận tạo ra

Thứ năm, chuyển đổi dẫn tới những thay đổi trọng yếu về yêu cầu nguồn nhân lực Khi

chuyển đổi thành một TCTCVM nhận tiền gửi, các yêu cầu về kiến thức chuyên môn

và các kỹ năng sẽ phải cao hơn đối với cả nhân viên và bộ phận quản lý Nói chung, việc thay đổi cơ cấu tổ chức trong công ty là điều không tránh khỏi Sẽ có những bộ phận được thêm mới cùng với đó là việc tuyển mới các nhân viên phù hợp điều này cũng có nghĩa là các bộ phận không còn cần thiết nữa sẽ phải cắt bỏ và đi kèm là việc

sa thải các nhân viên Nhưng về tổng thể, số lượng nhân viên sẽ tăng lên, nhất là các nhân viên cấp trung (nhân viên ngân quỹ, kiểm toán viên nội bộ, giám sát chi nhánh và các nhân viên kỹ thuật thông tin) Đối với bộ phận cấp cao, bộ phận này sẽ được tăng cường từ khu vực ngân hàng, thường ưu tiên các cán bộ đã có kinh nghiệm hoạt động trong các tổ chức tài chính chính thức Vấn đề này là tương đối nhạy cảm do sự phân chia quyền lực quản lý giữa các thành viên, do đó việc ra quyết định nên thuê quản lý bên ngoài hay sử dụng nguồn lực sẵn có là rất quan trọng, đòi hỏi sự nhất trí cao trong nội bộ tổ chức

Thứ sáu, việc chuyển đổi phải phù hợp với các yêu cầu theo quy định và các tổ chức

phải sẵn sàng bỏ ra các khoản chi phí cho việc chuyển đổi Thực tế, các tổ chức chuyển đổi thường dự trù chi phí ở mức thấp hơn so với chi phí phát sinh trong quá trình hoàn thành các thủ tục chuyển đổi Chi phí cho việc chuyển đổi thường phát sinh

từ bước chuẩn bị hồ sơ, chờ thẩm định, quá trình thanh tra của các cơ quan chủ quản, các chi phí phát sinh cho việc báo cáo định kỳ, cải tiến hệ thống thông tin, thay đổi các phòng ban và cơ sở vật chất của tổ chức Thêm vào đó, việc bắt buộc phải duy trì thanh khoản đối với các khoản tiền gửi theo quy định pháp luật cũng làm tăng chi phí của tổ chức Việc dự trù các khoản chi phí phát sinh trước khi đi đến quyết định có chuyển đổi hay không là rất cần thiết Nếu chi phí chuyển đổi quá cao so với quy mô hoạt động của tổ chức, HĐQT cũng không nên gượng ép chuyển đổi vì sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của tổ chức về sau Thay vào đó HĐQT nên quyết định lựa chọn thời điểm phù hợp hơn cho việc chuyển đổi của tổ chức

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI

MÔ TẠI VIỆT NAM

2.1 Khái quát sự hình thành và phát triển tài chính vi mô tại Việt Nam

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Trước những năm 1980, hoạt động TCVM ở Việt Nam gắn với nền kinh tế tiểu nông, kinh tế tự túc tự cấp và phương thức sống kiểu làng xã TCVM trong giai đoạn này, cho dù đóng góp vào phát triển kinh tế rất nhỏ nhưng lại có vai trò to lớn trong việc hỗ trợ những người, những hộ gia đình gặp rủi ro bất ngờ, đe dọa cuộc sống và có thể đẩy

họ rơi vào cảnh nghèo khó, cùng quẫn

Đến những năm 1980, TCVM bán chính thức ở Việt Nam mới ra đời thông qua các chương trình hợp tác, giao lưu về các hoạt động văn hoá, kinh tế, xã hội của các tổ chức quốc tế và Chính phủ Việt Nam Tiêu biểu trong thời gian này là hoạt động của một số các chương trình phát triển của Liên hợp quốc như các dự án của Tổ chức nông lương thế giới, Quĩ dân số Những dự án này đã bắt đầu tiến hành cung cấp các khoản tín dụng nhỏ cho một số khu vực ở những địa phương có nhiều điều kiện kinh tế khó khăn Để tiến hành những dự án thí điểm này tại Việt Nam, các nhà tài trợ đã lựa chọn đối tác là Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Qua sự hoạt động của Hội, đã hình thành nên các nhóm tiết kiệm và vay vốn là các chị em, nhờ vậy mà các khoản vốn được giải ngân một cách nhanh chóng

TCVM ở Việt Nam trong những năm cuối thập kỉ 80 và thập kỉ 90 phát triển rất nhanh chóng với nhiều loại hình, hình thức và ghi nhận được nhiều sự đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, sang đầu những năm 2000, khi mà các chương trình dự án của các Chính phủ, tổ chức đi vào cuối giai đoạn thực hiện, cũng là lúc các hoạt động TCVM gặp nhiều khó khăn Nhiều dự án sau khi được chuyển giao sang cho các địa phương quản lý hoặc các đối tác trong nước, đã bị thu hẹp hoạt động, giải thể Trong bối cảnh như vậy, một số tổ chức đã nỗ lực tìm mọi cách để tồn tại như thành lập các quỹ xã hội dựa trên khung pháp lí của Nghị định 177-1999/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của các quỹ xã hội, quỹ từ thiện nhân đạo và sau này được thay thế bởi Nghị định cùng tên số 148-2007/NĐ-CP Tuy nhiên cơ sở pháp lí này cũng còn nhiều bất cập với hoạt động TCVM

Trang 38

Đến năm 2005, khi Nghị định 28 về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính qui mô nhỏ ra đời, đã tạo ra khuôn khổ hành lang pháp lý đầu tiên cho các hoạt động TCVM Sau đó là Nghị định 165/2007 sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Nghị định 28, đến 2/4/2008 Thông tư 02/TT-NHNN ra đời hướng dẫn thi hành nội dung của các Nghị định 28 và 165 Vào tháng 10 năm 2010, lần đầu tiên hoạt động TCVM ở Việt Nam được đưa vào trong phạm vi điều chỉnh của Luật các Tổ chức tín dụng và các Nghị định, thông tư mới của các Bộ, Ngân hàng Nhà nước được ban hành nhằm cụ thể hóa những nội dung trong Luật các Tổ chức tín dụng mới Điều này đã chính thức có sự công nhận ở cấp độ cao nhất của Nhà nước đối với TCVM và các TCTCVM, tạo ra hành lang pháp lý công khai, rõ ràng và an toàn cho sự hoạt động của TCVM ở Việt Nam

Từ năm 2009 trở lại đây, do tình hình kinh tế thế giới có nhiều khó khăn, hoạt động của các nhà tài trợ, TCTD chuyên cung cấp nguồn vốn và kĩ thuật cho các TCTCVM bán chính thức ở Việt Nam ngày càng eo hẹp Điều này cho thấy các TCTCVM bán chính thức không thể phụ thuộc vào các nguồn tài trợ từ bên ngoài, mà cần có sự tự chủ kinh doanh và hoạt động Muốn làm được như vậy, các TCTCVM bán chính thức cần có sự chuyển đổi về tổ chức, hoạt động để dần từng bước tiến lên chuyên nghiệp

và bền vững Các tổ chức TCVM bán chính thức lớn ở Việt Nam như Quỹ tình thương (TYM), Quỹ trợ vốn cho người nghèo tự tạo việc làm (CEP), Mạng lưới M7, Quỹ Hỗ trợ phụ nữ Thanh Hóa, TCVM Tiền Giang đã và đang gấp rút chuẩn bị những điều kiện cần thiết về thủ tục, điều kiện vật chất, phương án cho việc chuyển đổi theo qui định pháp luật mới Trong đó TYM đã trở thành TCTCVM chính thức đầu tiên của Việt Nam được cấp phép hoạt động vào 8/2010 Đến nay (3/2018), đã có thêm 3 TCTCVM được cấp phép thành lập, TCTCVM mới nhất được thành lập là CEP tại Thành phố Hồ Chí Minh (10/2017)

2.1.2 Các loại hình tổ chức cung cấp tài chính vi mô tại Việt Nam

 Các tổ chức cung cấp tài chính vi mô chính thức ở Việt Nam

Thị trường tài chính vi mô Việt Nam hiện nay do 2 nhà cung cấp chính thức, Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam và hệ thống các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở chiếm thị phần chi phối Các nhà cung cấp này đều đang theo đuổi thị trường tiền gửi tiết kiệm, cho vay nông thôn, cho vay món nhỏ, song với rất nhiều cách tiếp cận khác

Trang 39

nhau Bắt đầu từ năm 2010, đánh dấu một mốc quan trọng khi lần đầu tiên một tổ chức TCVM bán chính thức là Quỹ tình thương (TYM) được chuyển đổi thành TCTCVM chính thức Hiện nay đã có 4 TCTCVM chuyển đổi thành công và tham gia vào thị trường tài chính chính thức

Bảng 2.1 Các tổ chức cung cấp TCVM chính thức tại Việt Nam

 Ngân hàng Chính sách xã hội Việt

Nam - hoạt động tại 63 tỉnh thành

 Hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

 Tổ chức TCVM Tình thương TYM

Nguồn: Tổng hợp của Nhóm tác giả

Các nhà cung cấp dịch vụ tài chính vi mô chính thức ở Việt Nam có sự tham gia rất khác nhau Thị trường chính của Hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) tập trung vào nhóm khách hàng ở phân đoạn thị trường khách hàng thu nhập trung bình và thu nhập cao, trong khi Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam (NHCSXH) tập trung nhiều hơn vào phân đoạn khách hàng có thu nhập thấp, khách hàng nghèo bởi vì NHCSXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bản thân cán bộ ngân hàng cũng không có động cơ phát triển hoạt động này, và các chính sách lãi suất cũng như marketing của ngân hàng đối với các hoạt động này cũng không hấp dẫn Các TCTCVM cũng tham gia cùng phân khúc khách hàng với NHCSXH nhưng tập trung vào những khách hàng tại khu vực xa xôi, những khách hàng không thể tiếp cận với nguồn vốn của NHCSXH, QTDND

 Các tổ chức cung cấp tài chính vi mô bán chính thức ở Việt Nam

Căn cứ vào các quy định về pháp lý, các tổ chức cung cấp TCVM bán chính thức (gọi chung TCTCVM bán chính thức) tại Việt Nam có thể được chia làm bốn loại, đó là: (i) các quỹ xã hội, quỹ từ thiện; (ii) tổ chức Hội (NGO trong nước); (iii) INGOs và (iv) các tổ chức khác

Trang 40

Bảng 2.2 Phân loại các tổ chức cung cấp TCVM bán chính thức tại Việt Nam Loại hình tổ chức Đặc điểm Một số tổ chức tiêu biểu

Các quỹ xã hội, quỹ

từ thiện

Được thành lập và hoạt động

theo điều chỉnh của Nghị định số

30/2012/NĐ-CP ngày 12/04/2012 quy định về tổ chức,

hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện

Quỹ PNPT kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Mạng

Tổ chức phi Chính

phủ quốc tế (INGO)

Được đăng ký và hoạt động theo

Nghị định số 12/2012/NĐ-CP ngày 01/03/2012 về đăng ký và

quản lý hoạt động của các tổ

chức phi Chính phủ nước ngoài tại Việt Nam

Quỹ Dariu, Tổ chức Anh Chị Em

Các tổ chức khác

Các tổ chức có cung cấp TCVM còn lại không thuộc 3 loại hình tổ chức kể trên

Trung tâm vì phụ nữ và phát triển cộng đồng

VietED

Nguồn: Nguyễn Đức Hải (2014)

Về địa bàn hoạt động, các TCTCVM bán chính thức phân bố tương đối rộng xét theo

địa bàn tỉnh/thành phố trên cả nước Tuy nhiên, tại mỗi tỉnh/thành phố, chỉ có một số huyện có hoạt động TCVM và hoạt động này cũng không bao phủ trên toàn bộ các phường/xã của quận/huyện/thị trấn đó do đặc thù chiến lược của các TCTCVM tập trung vào phân khúc thị trường người có thu nhập thấp, khó tiếp cận hoặc không được tiếp cận đầy đủ tới các dịch vụ tài chính chính thức khác

Ngày đăng: 14/12/2023, 22:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Churchill, C., & Frankiewicz, C. (2006). Making microfinance work: Managing for improved performance: International Labour Organization Sách, tạp chí
Tiêu đề: Making microfinance work: Managing for improved performance
Tác giả: Churchill, C., & Frankiewicz, C
Năm: 2006
2. Dichter, T. W., & Harper, M. (2007). What's wrong with microfinance? : Practical Action Pub Sách, tạp chí
Tiêu đề: What's wrong with microfinance
Tác giả: Dichter, T. W., & Harper, M
Năm: 2007
3. Felipe, P. (2011). MFI Transformations: The LAC Experience. Paper presented at the Commissioned Workshop Paper, Valladolid, Spain Sách, tạp chí
Tiêu đề: MFI Transformations: The LAC Experience
Tác giả: Felipe, P
Năm: 2011
4. Ledgerwood, J., Earne, J., & Nelson, C. (2013). The new microfinance handbook: A financial market system perspective: The World Bank Sách, tạp chí
Tiêu đề: The new microfinance handbook: A financial market system perspective
Tác giả: Ledgerwood, J., Earne, J., & Nelson, C
Năm: 2013
5. Ledgerwood, J., & White, V. (2006). Transforming microfinance institutions: providing full financial services to the poor: World Bank Publications Sách, tạp chí
Tiêu đề: Transforming microfinance institutions: "providing full financial services to the poor
Tác giả: Ledgerwood, J., & White, V
Năm: 2006
8. Robinson, M. S. (2002). The microfinance revolution: Lessons from Indonesia (Vol. 2): World Bank Publications Sách, tạp chí
Tiêu đề: The microfinance revolution: Lessons from Indonesia
Tác giả: Robinson, M. S
Năm: 2002
9. Sriram, M., & Upadhyayula, R. S. (2004). The Transformation of the Microfinance Sector in India. ESR Review, 6(2), 89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ESR Review, 6
Tác giả: Sriram, M., & Upadhyayula, R. S
Năm: 2004
11. Wagenaar, K. (2012). Institutional transformation and mission drift in microfinance. Centre of Development Studies, University of Cambridge.B. Tài liệu tham khảo tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Centre of Development Studies, University of Cambridge
Tác giả: Wagenaar, K
Năm: 2012
1. Nguyễn Kim Anh (2010). Phát triển tài chính vi mô ở khu vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam”. NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tài chính vi mô ở khu vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Kim Anh
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2010
2. Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2016). Chuyển đổi tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam: Bài học kinh nghiệm của các tổ chức tài chính vi mô. VMFWG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam: Bài học kinh nghiệm của các tổ chức tài chính vi mô
Tác giả: Nguyễn Kim Anh và cộng sự
Năm: 2016
3. Hoàng Quốc Mạnh (2010). Cơ hội, thách thức và những vấn đề pháp lý cần lưu ý khi chuyển đổi. Báo cáo Hội thảo quốc gia “Quy định quy chuẩn về tổ chức Tài chính vi mô Việt Nam và Định hướng phát triển bền vững” tháng 12 năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ hội, thách thức và những vấn đề pháp lý cần lưu ý khi chuyển đổi". Báo cáo Hội thảo quốc gia “Quy định quy chuẩn về tổ chức Tài chính vi mô Việt Nam và Định hướng phát triển bền vững
Tác giả: Hoàng Quốc Mạnh
Năm: 2010
4. Lê Thị Lân (2009). Xây dựng ngành tài chính vi mô Việt Nam phát triển theo hướng bền vững để thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Trung tâm Hỗ trợ phát triển nguồn lực tài chính cộng đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng ngành tài chính vi mô Việt Nam phát triển theo hướng bền vững để thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo
Tác giả: Lê Thị Lân
Năm: 2009
5. Lê Thị Lân (2010). M7 chuyển đổi từ nhiều chương trình TCVM nhỏ lẻ đăng kí thành TCTCQMN TNHH nhiều thành viên. Báo cáo Hội thảo quốc gia “Quy định quy chuẩn về tổ chức Tài chính vi mô Việt Nam và Định hướng phát triển bền vững” tháng 12 năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: M7 chuyển đổi từ nhiều chương trình TCVM nhỏ lẻ đăng kí "thành TCTCQMN TNHH nhiều thành viên". Báo cáo Hội thảo quốc gia “Quy định quy chuẩn về tổ chức Tài chính vi mô Việt Nam và Định hướng phát triển bền vững
Tác giả: Lê Thị Lân
Năm: 2010
6. Hoàng Văn Thành (2012). Đánh giá chính sách về tổ chức hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô. Luận văn thạc sĩ kinh tế, ĐH Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chính sách về tổ chức hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô
Tác giả: Hoàng Văn Thành
Năm: 2012
7. Nguyễn Đức Hải và cộng sự (2015). Hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô bán chính thức: thực trạng và khuyến nghị. Đề tài cấp ngành, mã số: DTNH.22/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô bán chính thức: thực trạng và khuyến nghị
Tác giả: Nguyễn Đức Hải và cộng sự
Năm: 2015
8. Phạm Bích Liên (2016). Phát triển hoạt động tài chính vi mô tại các tổ chức tín dụng Việt Nam. Luận án tiến sĩ, mã số: 62340102, Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển hoạt động tài chính vi mô tại các tổ chức tín dụng Việt Nam
Tác giả: Phạm Bích Liên
Năm: 2016
10. Lê Thanh Tâm (Chủ biên), Ths.Nguyễn Đức Hải (Thành viên)... (2010). Phát triển hoạt động tài chính vi mô: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn ứng dụng. Đề tài cơ sở, Mã số CS2010.07, Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển hoạt động tài chính vi mô: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn ứng dụng
Tác giả: Lê Thanh Tâm (Chủ biên), Ths.Nguyễn Đức Hải (Thành viên)
Năm: 2010
11. IFC (2013). Đánh giá thể chế đối với M7-MFI. Dự án IFC “Tăng cường năng lực cho ngành Tài chính vi mô Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thể chế đối với M7-MFI". Dự án IFC “Tăng cường năng lực cho ngành Tài chính vi mô Việt Nam
Tác giả: IFC
Năm: 2013
6. Mboya, J. K., & Ndulu, J. K. (2015). Factors affecting institutional transformation for regulated MFIs Khác
7. Munyua, C. (2016). Factors affecting loan default in microfinance institutions in Kirinyaga county Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Ưu điểm và hạn chế của các tổ chức cung cấp tài chính vi mô - Chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô tại việt nam thực trạng và giải pháp,đề tài nghiên cứu khoa học
Bảng 1.2. Ưu điểm và hạn chế của các tổ chức cung cấp tài chính vi mô (Trang 18)
Bảng 2.1. Các tổ chức cung cấp TCVM chính thức tại Việt Nam - Chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô tại việt nam thực trạng và giải pháp,đề tài nghiên cứu khoa học
Bảng 2.1. Các tổ chức cung cấp TCVM chính thức tại Việt Nam (Trang 39)
Bảng 2.2. Phân loại các tổ chức cung cấp TCVM bán chính thức tại Việt Nam  Loại hình tổ chức  Đặc điểm  Một số tổ chức tiêu biểu - Chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô tại việt nam thực trạng và giải pháp,đề tài nghiên cứu khoa học
Bảng 2.2. Phân loại các tổ chức cung cấp TCVM bán chính thức tại Việt Nam Loại hình tổ chức Đặc điểm Một số tổ chức tiêu biểu (Trang 40)
Hình 2.1. Phân đoạn thị trường tài chính vi mô Việt Nam - Chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô tại việt nam thực trạng và giải pháp,đề tài nghiên cứu khoa học
Hình 2.1. Phân đoạn thị trường tài chính vi mô Việt Nam (Trang 41)
Bảng 2.3. Các tổ chức cung cấp TCVM phi chính thức tại Việt Nam - Chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô tại việt nam thực trạng và giải pháp,đề tài nghiên cứu khoa học
Bảng 2.3. Các tổ chức cung cấp TCVM phi chính thức tại Việt Nam (Trang 42)
Bảng 2.4. So sánh tỉ lệ cơ cấu vốn các năm 2007, 2010 và 2014 của TYM - Chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô tại việt nam thực trạng và giải pháp,đề tài nghiên cứu khoa học
Bảng 2.4. So sánh tỉ lệ cơ cấu vốn các năm 2007, 2010 và 2014 của TYM (Trang 53)
Hình 2.3. Tỉ lệ PAR30 của M7-MFI giai đoạn 2010 - 2014 - Chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô tại việt nam thực trạng và giải pháp,đề tài nghiên cứu khoa học
Hình 2.3. Tỉ lệ PAR30 của M7-MFI giai đoạn 2010 - 2014 (Trang 65)
Bảng 2.5. Số liệu về tiết kiệm của M7-MFI - Chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô tại việt nam thực trạng và giải pháp,đề tài nghiên cứu khoa học
Bảng 2.5. Số liệu về tiết kiệm của M7-MFI (Trang 67)
Hình 2.4. Số lượng cán bộ của Thanh Hóa MFI giai đoạn 2007 - 10/2015 - Chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô tại việt nam thực trạng và giải pháp,đề tài nghiên cứu khoa học
Hình 2.4. Số lượng cán bộ của Thanh Hóa MFI giai đoạn 2007 - 10/2015 (Trang 75)
Hình 3.1. Một số định hướng phát triển hoạt động của TCTCVM tại Việt Nam - Chuyển đổi các tổ chức tài chính vi mô tại việt nam thực trạng và giải pháp,đề tài nghiên cứu khoa học
Hình 3.1. Một số định hướng phát triển hoạt động của TCTCVM tại Việt Nam (Trang 85)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm