1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp huy động vốn tại ngân hàng phát triển việt nam,luận văn thạc sỹ kinh tế

91 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Huy Động Vốn Tại Ngân Hàng Phát Triển Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà
Người hướng dẫn TS. Trịnh Hồng Hạnh
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng
Thể loại luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tiễn trên, trong thời gian qua vấn đề về vốn và huy động vốn của các tổ chức tín dụng đã được rất nhiều tác giả lựa chọn để làm đề tài nghiên cứu trong một số vấn đề kh

Trang 1

-  -

NGUYỄN THỊ THU HÀ

GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

-  -

NGUYỄN THỊ THU HÀ

GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 5

1.1 Tổng quan về Ngân hàng Phát triển 5

1.1.1 Khái niệm Ngân hàng Phát triển 5

1.1.2 Đặc điểm Ngân hàng Phát triển 5

1.1.3 Vai trò của Ngân hàng Phát triển 6

1.1.4 Hoạt động cơ bản của Ngân hàng Phát triển 8

1.2 Huy động vốn của Ngân hàng Phát triển 12

1.2.1 Khái niệm huy động vốn 12

1.2.2 Mục tiêu huy động vốn của Ngân hàng Phát triển 13

1.2.3 Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng Phát triển 14

1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Phát triển 17

1.2.5 Nhân tố ảnh hưởng đến kết quả huy động vốn của Ngân hàng Phát triển 21

1.3 Bài học kinh nghiệm của Ngân hàng Phát triển một số nước về huy động vốn 28 1.3.1 Ngân hàng Phát triển Nhật Bản 28

1.3.2 Ngân hàng Phát triển Trung Quốc 29

1.3.3 Ngân hàng Đầu tư Châu Âu EIB 30

1.3.4 Kinh nghiệm rút ra đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam về huy động vốn 31 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012-2016 33

2.1 Giới thiệu về Ngân hàng Phát triển Việt Nam 33

2.1.1 Quá trình hình thành và sứ mệnh của Ngân hàng Phát triển Việt Nam 33

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và mạng lưới chi nhánh 34

2.1.3 Tình hình hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong giai đoạn từ 2012-2016 38

2.2 Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam giai đoạn 2012-2016 44

Trang 5

2012-2016 55

2.3.1 Mặt được 55

2.3.2 Một số tồn tại 57

2.3.3 Nguyên nhân 59

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 64

3.1 Định hướng phát triển và mục tiêu của NHPT VN tới năm 2020 64

3.1.1 Định hướng phát triển 64

3.1.2 Mục tiêu phát triển 65

3.2 Giải pháp huy động vốn tại NHPT VN 66

3.2.1 Giải pháp đối với chính sách huy động vốn 67

3.2.2 Giải pháp đối với các hình thức huy động vốn 70

3.2.3 Giải pháp hỗ trợ 73

3.3 Kiến nghị 76

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 76

3.3.2 Kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước 79

KẾT LUẬN 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 6

Bảo hiểm xã hội

Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại

thương Việt Nam

BHXH

VCB

Trang 7

DANH MỤC HÌNH, BẢNG, BIỂU

Hình 2.1 Tổ chức bộ máy quản lý của NHPT VN 34

Bảng 2.1 Doanh số và dư nợ cho vay TDĐT 39

Bảng 2.2 Doanh số và dư nợ cho vay TDXK 41

Bảng 2.3 Doanh số và dư nợ cho vay lại ODA, vốn ủy thác và cho vay khác 43

Bảng 2.4: Khối lượng vốn huy động 48

Bảng 2.5: Mức tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động 46

Bảng 2.6: Cơ cấu huy động vốn của NHPT VN(theo hình thức huy động) 50

Bảng 2.7: Cơ cấu huy động vốn của NHPT VN(theo kỳ hạn huy động) 52

Bảng 2.8: Lãi suất huy động vốn bình quân năm 54

Bảng 2.9: So sánh với lãi suất huy động vốn bình quân năm của các NHTM 57

Bảng 2.10: Mục tiêu phát triển đến năm 2020 65

Biểu đồ 2.1: Khối lượng vốn huy động 49

Biểu đồ 2.2: Mức độ tăng trưởng nguồn vốn huy động 47

Biểu đồ 2.3: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động 48

Biểu đồ 2.4: Cơ cấu huy động vốn của NHPT VN – theo hình thức huy động 50

Biểu đồ 2.5: Cơ cấu huy động vốn của NHPT VN – theo kỳ hạn 52

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang trong quá trình phát triển và ngày càng hội nhập nhanh, toàn diện hơn vào nền kinh tế thế giới Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội hướng tới năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp Ngày 28/2/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 369/QĐ-TTg về việc phê duyệt chiến lược phát triển NHPT VN đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Trong đó, mục tiêu tổng quát là tiếp tục củng cố và phát triển NHPT VN là ngân hàng chính sách của chính phủ hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận theo hướng bền vững, hiệu quả, đảm bảo đủ năng lực để thực hiện chính sách TDĐT, TDXK của Nhà nước và các nhiệm vụ khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, góp phần thực hiện chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ Để hoàn thành tốt nhiệm vụ này, thách thức đặt ra đối với NHPT VN phải có cách thức huy động vốn phù hợp, hiệu quả để đảm bảo có đủ vốn cung cấp cho các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, hoạt động của NHPT VN đã có những đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao kim ngạch xuất khẩu; nhiều

dự án, chương trình đã phát huy hiệu quả trong phát triển kinh tế -xã hội trên phạm

vi cả nước

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động huy động vốn của NHPT VN còn nhiều hạn chế đặc biệt trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam còn nhiều khó khăn và sự cạnh tranh mạnh mẽ của các tổ chức tài chính khác NHPT VN cần thiết phải có biện pháp huy động vốn hiệu quả để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong từng thời kỳ Vì vậy, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Giải pháp huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong hoạt động ngân hàng, vốn là điều kiện tiên quyết, là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh Thực tế tại các ngân hàng hiện nay, thì vốn chủ sở

Trang 9

hữu chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn, còn lại chủ yếu là vốn huy động Do vậy, huy động vốn là điều kiện đầu tiên, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng và thực tiễn cho thấy cạnh tranh trên lĩnh vực huy động vốn ngày càng trở thành cuộc cạnh tranh nóng bỏng và gay gắt giữa các tổ chức tín dụng trên thị trường Xuất phát từ thực tiễn trên, trong thời gian qua vấn đề về vốn và huy động vốn của các tổ chức tín dụng đã được rất nhiều tác giả lựa chọn để làm đề tài nghiên cứu trong một số vấn đề khoa học, trong các công trình nghiên cứu sinh và một số bài bình luận trên các tạp chí khoa học như:

- Nhóm nghiên cứu Ngân hàng Chính sách xã hội, 2017 “Giải pháp tăng cường

công tác huy động vốn trong hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội” Đề tài

nghiên cứu cấp ngành Bài viết đã chỉ ra những khái niệm cơ bản về huy động vốn nói chung và đặc thù hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội nói riêng về hình thức huy động vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn Từ đó tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn với đặc thù hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội Như vậy, bài viết mới chỉ có tính thực tiễn với hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội

- Nguyễn Thị Lan Phương, 2010 “Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân

hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam” Luận văn thạc sỹ, Trường Đại

học Ngoại thương Bài viết đã cung cấp cơ sở lý luận đầy đủ trong hoạt động huy động vốn tại NHTM Qua đánh giá thực trạng hoạt động huy động vốn và hiệu quả của các biện pháp huy động vốn đã áp dụng tại VCB từ đó đưa ra các kiến nghị với ngân hàng, với các cơ quan quản lý Nhà nước để tăng cường hoạt động huy động vốn tại VCB Tuy nhiên, cở sở lý luận của đề tài về hoạt động huy động vốn của các NHTM, chưa nhắc đến hoạt động huy động vốn tại các ngân hàng chính sách của Nhà nước nhuw Ngân hàng Phát triển

- Nguyễn Quỳnh Nga, 2014 “Nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng

thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội, chi nhánh Hoàn Kiếm” Luận văn thạc sỹ,

Trường Đại học Ngoại thương Bài viết đã chỉ ra được cơ sở lý luận trong hoạt động

Trang 10

huy động vốn tại các NHTM Bên cạnh đó sử dụng bảng số liệu thống kê thực trạng huy động vốn tại Chi nhánh Từ đó đánh giá, phân tích những kết quả đạt được, tồn tại, nguyên nhân để có các kiến nghị đối với Chi nhánh và Ngân hàng thương mại

cổ phần Sài Gòn- Hà Nội, với Ngân hàng Nhà nước Tuy nhiên, bài viết nghiên cứu

ở cấp độ Chi nhánh nên các giải pháp đưa ra chỉ ở mức độ kiến nghị trong nội bộ

mà chưa có các giải pháp kiến nghị với các bộ, ngành để thúc đẩy hoạt động tập trung vốn trong toàn nền kinh tế

Các công trình nghiên cứu trên đây đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác huy động vốn tại các ngân hàng thương mại và ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam Tuy nhiên, Ngân hàng Phát triển Việt Nam với đặc thù là một ngân hàng chính sách, có cơ chế hoạt động đặc thù theo quy định của Chính phủ Bên cạnh đó, sự cạnh tranh trong huy động vốn trên thị trường ngày càng khó khăn thì việc làm thế nào để tăng cường nguồn vốn đáp ứng nhu cầu của Ngân hàng phát triển Việt Nam trong giai đoạn hiện nay chưa có công trình nào thực sự giải đáp được

Dựa trên sự kế thừa các nghiên cứu trước đây, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu bổ sung đầy đủ cả lý luận và thực tiễn để đánh giá thực trạng huy động vốn và đề xuất giải pháp huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong thời gian tới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa lý luận cơ bản về huy động vốn của Ngân hàng Phát triển

- Đánh giá thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

- Tác giả đề xuất một số giải pháp để huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Phát triển Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hoạt động huy động vốn của NHPT

VN thông qua 03 hình thức huy động chính: phát hành TPCP, huy động tiền gửi, đi

Trang 11

vay Tác giả sử dụng số liệu hoạt động huy động vốn của NHPT VN trong giai đoạn năm 2012- 2016

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn có sử dụng phương pháp luận nghiên cứu duy vật biện chứng và các phương pháp nghiên cứu: thống kê, phân tích, so sánh

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo; nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương:

- Chương 1: Lý luận chung về huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

- Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

- Chương 3: Giải pháp huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1.1 Tổng quan về Ngân hàng Phát triển

1.1.1 Khái niệm Ngân hàng Phát triển

Quá trình hình thành và phát triển của các tổ chức tài chính gắn liền với quá trình phát triển kinh tế Các NHTM, ngân hàng đầu tư, các tổ chức tài chính phi ngân hàng như quỹ đầu tư, công ty tài chính… đóng vai trò ngày càng quan trọng trong thu hút tiết kiệm và tài trợ cho phát triển, hạn chế rủi ro và tăng khả năng sinh lời Phần lớn các trung gian tài chính hoạt động vì mục tiêu tối đa hóa lợi ích tài chính của chủ sở hữu Song, có một số tổ chức hoạt động với các mục tiêu và đối tượng phục vụ đặc biệt, hướng tới lợi ích kinh tế - xã hội, các tổ chức tài chính này được gọi chung là: “Các công ty tài chính phát triển” NHPT cũng là một tổ chức tài chính như vậy

NHPT được xem là một tổ chức tài chính phát triển, thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách TDĐT và chính sách TDXK thông qua các khoản cho vay để tài trợ cho các dự án phát triển, góp phần ổn định nền kinh tế Chính phủ sử dụng NHPT để thực hiện hỗ trợ tài chính cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội qua các khoản tín dụng có ưu đãi, thể hiện ở quy mô vốn hỗ trợ, tài sản đảm bảo tiền vay và thời hạn cho vay, lãi suất cho vay (Phan Thị Thu Hà, 2005)

1.1.2 Đặc điểm Ngân hàng Phát triển

Thứ nhất, hầu hết mọi ngân hàng phát triển tại các quốc gia đều được thành lập, bảo lãnh và chi phối bởi Chính phủ chính quốc gia đó;

Thứ hai, các ngân hàng phát triển thực hiện huy động vốn chủ yếu thông qua các chương trình được Chính phủ bảo lãnh;

Thứ ba, về hoạt động cho vay, do mục đích của tổ chức tài chính phát triển là phục vụ chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ, do đó đối tượng hỗ trợ của tổ chức này luôn gắn chặt với đối tượng ưu tiên khuyến khích phát triển của Chính phủ theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của quốc gia;

Thứ tư, các ngân hàng phát triển được Chính phủ ưu đãi trong một số lĩnh vực;

Trang 13

Thứ năm, ngân hàng phát triển là một tổ chức tài chính phát triển với nhiệm

vụ chính là góp phần thực hiện hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế xã hội của quốc gia

1.1.3 Vai trò của Ngân hàng Phát triển

Từ những đặc điểm nói trên, NHPT có vai trò rất quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội:

Một là, NHPT là tổ chức kinh tế có nhiệm vụ tập trung các nguồn vốn trung

và dài hạn để đầu tư có trọng điểm và ưu đãi cho các dự án phát triển Mục đích trên hết của việc tài trợ dự án đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia và cộng đồng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội

Vai trò này của NHPT được thể hiện thông qua :

- Các mục tiêu phát triển mà ngân hàng theo đuổi: Hoạt động chính của NHPT là tài trợ cho các dự án phát triển nhằm phát triển công nghiệp và nông nghiệp Thông qua cho vay trung và dài hạn, ngân hàng khuyến khích phát triển cơ

sở hạ tầng, phát triển doanh nghiệp, thay đổi cơ cấu thu nhập và cơ cấu kinh tế…

- Các dự án mà ngân hàng tài trợ: NHPT tài trợ cho các dự án có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của vùng, ngành hoặc liên quan đến phân phối thu nhập cho các tầng lớp dân cư nghèo, cải thiện môi trường… kết hợp với mục tiêu tài chính và các mục tiêu xã hội khác

- Các nghiệp vụ chính mà NHPT thực hiện :

(1) Tìm kiếm các dự án theo định hướng của Chính phủ

(2) Phân tích, thẩm định các dự án, tính toán các mục tiêu xã hội bên cạnh mục tiêu kinh tế nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển

(3) Tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức tài chính khác

Hai là, NHPT góp phần nâng cao hiệu quả trong quản lý nguồn vốn đầu tư

của Nhà nước dành cho phát triển kinh tế- xã hội thông qua việc khuyến khích và duy trì hiệu quả kinh tế của các dự án

NHPT về cơ bản là một tổ chức tín dụng, hoạt động trên cơ sở lấy thu bù chi

Trang 14

và có lãi, dựa trên tính chất này mà ngân hàng được phân biệt với các tổ chức quản

lý và hành chính khác Ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận thông qua tài trợ cho các dự

án, có nghĩa là thu từ dự án phải đủ bù đắp chi phí của ngân hàng và có thặng dư thích hợp Các khoản tài trợ của ngân hàng tuân thủ nguyên tắc cơ bản của độ tín dụng ngân hàng: người vay phải hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian Để thực hiện được nguyên tắc này, ngân hàng phải tìm kiếm các dự án có hiệu quả kinh tế, quản lý chặt chẽ việc sử dụng vốn của dự án, có biện pháp phòng ngừa rủi ro… qua

đó, ngân hàng thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả tài chính của các chủ đầu tư

Ba là, NHPT hỗ trợ các doanh nghiệp và các vùng thực hiện công nghiệp

hóa, hiện đại hóa

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chiến lược tất yếu của mọi quôc gia trên con đường phát triển kinh tế Một trong những yêu cầu phát triển kinh tế có hiệu quả của các nước đang phát triển là công nghệ phải phù hợp với tăng trưởng kinh tế Trong điều kiện công nghệ còn lạc hậu, nguồn vốn khan hiếm, để phát triển nhanh chóng rất cần phải tập trung các nguồn lực phát triển công nghệ vào một số đầu mối chính nhằm đầu tư cho các loại hình công nghệ chủ lực phù hợp với điều kiện của đất nước NHPT được sử dụng như là thể chế phát triển về công nghệ khi tài trợ dự

án thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn, các dự án phát triển sản phẩm mới, hoặc ứng dụng công nghệ mới Vai trò này thể hiện:

- Khi dự án cần thiết bị và công nghệ, NHPT có thể phục vụ bằng cách cho vay để nhập thiết bị và công nghệ;

- Ngân hàng có khả năng đánh giá công nghệ không chỉ là xu hướng phát triển công nghệ trong nước và trên thế giới mà còn gợi ý những khả năng thay thế phù hợp với hoàn cảnh địa phương;

- Ngân hàng giúp chủ đầu tư nhập công nghệ mà họ có khả năng vận hành, duy trì và sửa chữa;

- NHPT còn được sử dụng để phát triển các vùng trọng điểm hoặc các vùng còn lạc hậu thông qua cho vay trung và dài hạn các dự án cải tạo và phát triển giao thông, điện nước…

Trang 15

1.1.4 Hoạt động cơ bản của Ngân hàng Phát triển

1.1.4.1 Huy động vốn

Huy động vốn là một hoạt động chủ yếu và thường xuyên của các ngân hàng Đối với NHPT việc huy động vốn còn quan trọng hơn với yêu cầu huy động được các nguồn vốn trung và dài hạn với lãi suất bình quân thấp trong các điều kiện cạnh tranh với các tổ chức tín dụng ngày càng gia tăng, ổn định vĩ mô kém bền vững và

khả năng tích luỹ trung và dài hạn của dân cư thấp

Yêu cầu với nguồn vốn huy động của NHPT là phải đảm bảo mối liên hệ về

kỳ hạn và lãi suất Quy mô của nguồn vốn liên quan đến quy mô của các dự án mà ngân hàng tài trợ và quy mô tăng lợi nhuận Lãi suất và kỳ hạn của nguồn bị tác động bởi kỳ hạn và khả năng sinh lời của dự án được tài trợ

Ngoài ra, với hoạt động chủ yếu là tài trợ cho các dự án trung và dài hạn có khả năng sinh lời thấp hoặc rủi ro cao, yêu cầu đặt ra cho NHPT là phải có nguồn vốn hỗn hợp với lãi suất bình quân tương đối thấp, thời gian sử dụng vốn dài và chấp nhận rủi ro Trong điều kiện thị trường vốn trung, dài hạn kém phát triển, khả năng tích luỹ của nền kinh tế thấp, để thực hiện yêu cầu trên đòi hỏi phải kết hợp nỗ lực của NHPT và các điều kiện kinh tế, pháp luật phù hợp

Để thực hiện gia tăng nguồn vốn, NHPT có thể sử dụng những hình thức huy động vốn như: Huy động vốn từ Chính phủ; Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh qua thị trường vốn; Huy động từ các quỹ của Nhà nước; Huy động từ các khoản tài trợ từ tổ chức khác; Vay nước ngoài (vay song phương, đa phương hoặc các tổ chức tài chính phát triển); Nhận tiền gửi

Tìm kiếm và thực hiện các biện pháp gia tăng quy mô nguồn vốn với lãi suất thấp, kỳ hạn dài, ổn định là điều kiện sống còn của NHPT Chiến lược nguồn vốn của ngân hàng là khai thác triệt để các nguồn hỗ trợ từ Chính phủ, các tổ chức tài chính, tiết kiệm trung và dài hạn của dân cư Đồng thời, để đảm bảo mức sinh lời hợp lý, ngân hàng duy trì tài sản thanh khoản ở mức rất thấp Hơn nữa do yêu cầu cho vay các dự án từ 10-20-30 năm trong khi nguồn vốn huy động với kỳ hạn ngắn (5-10 năm), ngân hàng phải thực hiện một kỹ thuật quan trọng là chuyển hoán các

Trang 16

nguồn tiền từ các kỳ hạn ngắn sang kỳ hạn dài hơn Do vậy, quản lý nguồn vốn bao gồm tính toán chi phí huy động nhằm đảm bảo nguyên tắc kinh doanh có lãi và quản lý thanh khoản với đặc trưng là quản lý nợ với nội dung chính là xác định thị trường nợ của ngân hàng trong mối tương quan cạnh tranh với các ngân hàng khác

1.1.4.2 Hoạt động hỗ trợ phát triển

Vốn đầu tư tín dụng có rủi ro cao, thời hạn cho vay dài, lãi suất thấp, điều kiện tài trợ ưu đãi nên có khả năng gây ra lãng phí trong sử dụng nguồn lực Lãi suất cho vay thấp sẽ dẫn đến lãi suất huy động tiết kiệm thấp hoặc cấp bù lãi suất và như vậy

có khả năng làm triệt tiêu nhiều nguồn tiết kiệm chu chuyển qua các trung gian tài chính, gây thiếu hụt cho vay Do vậy tín dụng ưu đãi luôn đi kèm với chính sách hạn chế tín dụng Các nguồn ưu đãi này cần phải được phân bổ cho các ngành, các lĩnh vực ưu tiên và phải được kiểm soát chặt chẽ

a/ NHPT tài trợ vốn đối với các dự án đầu tư phát triển

NHPT trực tiếp cấp những khoản tín dụng ưu đãi mang tính chất thúc đẩy, làm chất xúc tác góp phần tích cực thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, sức khoẻ, ổn định xã hội thông qua đầu tư dự án xây dựng các công trình thuỷ lợi, giao thông, hạ tầng xã hội… bằng các khoản cho vay ưu đãi về mức vốn cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất và tài sản đảm bảo

b/ NHPT cung cấp tín dụng hỗ trợ xuất khẩu

Đây là một trong những hoạt động rất được chú trọng tại các NHPT Các hình thức tài trợ thường bao gồm: tài trợ xuất khẩu; tài trợ dự án quốc tế; tài trợ thương mại; tài trợ tài chính doanh nghiệp; tài trợ mua bán công ty; bảo lãnh dự thầu; bảo lãnh thực hiện hợp đồng, thanh toán… Đối với các hình thức tài trợ này, điều kiện để tài trợ là phục vụ cho lợi ích của quốc gia và phạm vi hoạt động của các nghiệp vụ này có thể là trong nước và cả ngoài nước

Hoạt động tài trợ của NHPT trong lĩnh vực này là hoạt động cạnh tranh đối với tất cả các ngân hàng khác nên đối tượng cho vay của lĩnh vực này rất rộng, bao gồm các ngành công nghiệp cơ bản, chế tạo, thương mại, nước, tái chế, hàng không, viễn thông, tàu thuỷ, đường sắt, sân bay, cảng biển, công nghiệp xây dựng… với

Trang 17

các đối tượng như vậy nên khách hàng thường là những doanh nghiệp, những tập đoàn lớn

Hoạt động tín dụng tài trợ xuất khẩu của NHPT được coi là rất đa dạng nhưng hiện tại các NHPT chủ yếu tập trung vào 2 mảng sau:

- Tài trợ xuất khẩu

Đây là việc cho vay tài trợ xuất khẩu hàng hoá, các khoản cho vay có thể thực hiện cho cả người mua và người bán (tín dụng người mua và tín dụng người bán) Một đặc điểm rất ưu đãi của hình thức tài trợ này là thời hạn cho vay dài đủ để khách hàng thực hiện hoàn tất thương vụ của mình

Để thực hiện hình thức tài trợ xuất khẩu thường có những tổ chức tham gia như: Tổ chức cho vay (NHPT); Nhà xuất khẩu (thực hiện hợp đồng xuất khẩu, nhận tiền giải ngân); Cơ quan bảo hiểm TDXK (cấp bảo hiểm TDXK cho nhà xuất khẩu

và NHPT là người thụ hưởng); Nhà nhập khẩu nước ngoài (là người ký thoả thuận trực tiếp vay vốn với NHPT - trong trường hợp tín dụng người mua); Tổ chức bảo lãnh (nếu có)

c/ Hoạt động hợp tác tài chính và hỗ trợ phát triển với các nước đang phát triển

Đây chính là hoạt động tài trợ phát triển dành cho các nước đang phát triển

thông qua các hình thức cho vay ODA và các khoản vay thúc đẩy phát triển NHPT thay mặt cho Chính phủ thực hiện tư vấn và tài trợ đầu tư cho các nước đang phát triển

Mục tiêu của hoạt động này là nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển và chuyển đổi thực hiện: cải cách nền kinh tế một cách ổn định, xoá đói giảm nghèo,

Trang 18

cải thiện môi trường xã hội và đời sống, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và duy trì hoà bình trên thế giới

Các lĩnh vực hỗ trợ gồm có: hạ tầng kinh tế xã hội, hệ thống tài chính và bảo

vệ tài nguyên Các đối tác của NHPT là Chính phủ các nước và các tổ chức Nhà nước NHPT thực hiện hoạt động này thông qua hai kênh sau:

- Viện trợ, cho vay ODA ưu đãi và các khoản vay phát triển

Đối với khoản cấp viện trợ và cho vay ODA ưu đãi: NHPT là cơ quan được Chính phủ uỷ thác thực hiện nhiệm vụ này Nguồn vốn để viện trợ và cho vay được lấy hoàn toàn từ ngân sách của Chính phủ

Đối với khoản vay phát triển: đây cũng được xem là nguồn ODA, nguồn vốn

để thực hiện các khoản cho vay này một phần lấy từ ngân sách và một phần từ nguồn huy động của NHPT Do vậy, các khoản vay phát triển này có lãi suất cao hơn khoản vay ODA ưu đãi (do lãi suất cho vay được xác định trên cơ sở hoà đồng nguồn vốn ngân sách của quốc gia và nguồn do NHPT huy động theo lãi suất thị trường) Tuy nhiên, mức lãi suất này vẫn thấp hơn nhiều so với lãi suất thương mại (thị trường) Do được coi là một dạng ODA nên khoản vay này có thể có ràng buộc

và không ràng buộc

Về nguyên tắc, các khoản vay phát triển này phải có 1 số điều kiện như: Phải

có hiệp định ký giữa hai Chính phủ; Chính phủ nước nhận khoản vay là người vay hoặc phải cấp bảo lãnh Chính phủ cho người vay; Điều kiện cho vay phụ thuộc vào

dự án, lãi suất huy động của NHPT và đánh giá rủi ro của NHPT đối với người vay

- Khoản vay thúc đẩy phát triển

Khác với khoản vay phát triển, khoản vay thúc đẩy phát triển này không phải

là khoản ODA Tuy nhiên, có thể coi khoản vay này như 1 kênh hỗ trợ chính thức khác Nguồn vốn thực hiện các khoản vay này là nguồn vốn thuần tuý của NHPT huy động trên thị trường Do đó, về cơ bản, các điều kiện cho vay của khoản vay này theo điều kiện thị trường với một số nguyên tắc:

+ Các dự án phải là dự án đầu tư phát triển nhưng phải có khả năng hoàn vốn

và rủi ro ở mức chấp nhận được

Trang 19

+ Khoản vay chỉ dành cho những nước có độ rủi ro thấp

+ Việc phê duyệt khoản vay hoàn toàn do NHPT quyết định trên các điều kiện thương mại

+ Khoản vay này là khoản vay không ràng buộc nhưng cơ sở để đàm phán là

sự thỏa thuận giữa 2 Chính phủ và thường có sự bảo lãnh của Chính phủ bên vay

+ Trường hợp có bảo lãnh Chính phủ, lãi suất cho vay sẽ thấp hơn

Bên cạnh đó, các điều kiện cho vay có thể thoả thuận trên cơ sở tính khả thi của từng dự án xin vay Mặc dù đây là một khoản vay thương mại nhưng lãi suất của khoản vay thúc đẩy phát triển vẫn thấp hơn lãi suất thị trường nhờ vào lãi suất huy động thấp của NHPT

Xét một cách tổng thể, các khoản vay phát triển và thúc đẩy phát triển đều nhằm mục tiêu hỗ trợ phát triển của các nền kinh tế đang phát triển hoặc đang chuyển đổi Cơ chế hỗ trợ của 2 hình thức này là hỗ trợ phát triển nhưng theo cơ chế gần với thị trường, qua đó định hướng cho các quốc gia tiếp nhận khoản vay tiếp cận với các hình thức tài trợ tân tiến và theo thông lệ quốc tế

1.2 Huy động vốn của Ngân hàng Phát triển

1.2.1 Khái niệm huy động vốn

Bản thân thuật ngữ “huy động vốn” đã nêu tương đối rõ công việc trong công tác này Trong nền kinh tế luôn tồn tại những người thừa vốn và những người thiếu vốn, có thể nói các ngân hàng, các tổ chức tín dụng đóng vai trò điều hòa mâu thuẫn này bằng việc sử dụng các công cụ, nghiệp vụ của mình để huy động các nguồn vốn trong xã hội

Thực chất nghiệp vụ huy động vốn là các hoạt động thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội dưới dạng tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác, tạo nên một nguồn tài chính được ngân hàng sử dụng để kinh doanh sinh lời và trả lại một phần lợi nhuận này cho người cung cấp nguồn vốn thông qua công cụ lãi suất (Phan Thị Thu Hà, 2006)

Trang 20

1.2.2 Mục tiêu huy động vốn của Ngân hàng Phát triển

Nguồn vốn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, là yếu tố quyết định để Chính phủ thực hiện các mục tiêu, chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là tiềm lực cho các tổ chức kinh tế cũng như các ngân hàng mở rộng đầu tư sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và hội nhập kinh tế giúp các ngân hàng tăng vốn đề mở rộng mạng lưới và phục

vụ cho các hoạt động kinh doanh cũng như đáp ứng yêu cầu về cải tiến công nghệ, khi mà Việt Nam đang chính thức mở cửa thị trường tài chính – ngân hàng (Nguyễn Văn Tiến, 2011)

Huy động vốn là một phạm trù tài chính, vốn huy động là khối lượng giá trị tạo lập và đưa vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.Với NHPT cũng như tất cả các ngân hàng khác là những tổ chức tài chính kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động vốn, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác, huy động vốn đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng đến sự tồn tại và chất lượng hoạt động của ngân hàng

Với chức năng và nhiệm vụ chính là phục vụ hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, hoạt động huy động vốn của NHPT nhằm đảm bảo được các mục tiêu sau:

 Đáp ứng đủ vốn cho các dự án đầu tư phát triển, tài trợ cho những chương trình, dự án mục tiêu của Chính phủ trong từng thời kỳ và những hoạt động cho vay, tài trợ khác

 Nâng cao năng lực tài chính, giữ vững đà tăng trưởng cả về quy mô và hiệu quả hoạt động, bảo đảm phát triển an toàn, hiệu quả và bền vững, tiếp tục giữ vững vị thế là công cụ của Chính phủ hỗ trợ vốn cho đầu tư phát triển của Nhà nươc và hoàn thành các nhiệm vụ khác được Thủ tướng Chính phủ giao

 Giảm dần và tiến tới xoá bỏ hoàn toàn chi phí cấp bù chênh lệch lãi suất

từ Ngân sách nhà nước, tiến tới tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động của Ngân hàng

 Huy động vốn đảm bảo hợp lý về cơ cấu nguồn huy động Do mục tiêu chính của các NHPT là tài trợ cho các chương trình, dự án của Chính phủ và thực

Trang 21

hiện cho vay trung và dài hạn là chủ yếu, nên NHPT cần phải chú trọng đến công tác huy động vốn trung và dài hạn, đảm bảo một cơ cấu nguồn hợp lý, an toàn và hiệu quả

 Góp phần thúc đẩy phát triển thị trường tài chính Việc NHPT huy động vốn để cho vay TDĐT thông qua phát hành TPCP đã có tác động quan trọng đến thị trường vốn Góp phần đa dạng hóa các công cụ nợ và tăng lượng hàng hóa trên thị trường chứng khoán, thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn, đặc biệt vốn dài hạn (Ngân hàng Phát triển Việt Nam, 2016, tr.15)

Ngoài ra, NHPT huy động vốn để tạo nguồn làm “tấm đệm” giúp chống lại rủi ro phá sản, vì huy động được vốn sẽ giúp trang trải những thua lỗ tài chính và nghiệp vụ cho đến khi Chính phủ có thể tập trung giải quyết các vấn đề và đưa ngân hàng trở lại trạng thái hoạt động bình thường; để đáp ứng những nhu cầu nội tại của ngân hàng như mua đất đai, xây dựng cơ sở hạ tầng, trang bị những hệ thống thông tin hiện đại cho điều kiện làm việc, trả lương nhân viên

Khi một ngân hàng trên đà phát triển, nó cần vốn bổ sung liên tục để thúc đẩy tăng trưởng và chấp nhận rủi ro gắn với sự ra đời những dịch vụ mới và những trang thiết bị mới Hầu hết các ngân hàng đều mở rộng và phát triển cơ sở vật chất so với lúc đầu và sự bổ sung vốn sẽ cho phép ngân hàng mở rộng trụ sở, xây dựng thêm những văn phòng, chi nhánh để theo kịp với sự phát triển của thị trường và tăng cường chất lượng phục vụ khách hàng

Cuối cùng, huy động vốn của NHPT còn có mục tiêu là phương tiện điều tiết

sự tăng trưởng, giúp đảm bảo rằng sự tăng trưởng của NHPT có thể được duy trì ổn định lâu dài Vì các cơ quan tài chính và thị trường tài chính đều đòi hỏi vốn của ngân hàng cần phải được phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay và của những tài sản rủi ro khác

1.2.3 Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng Phát triển

1.2.3.1 Huy động tiền gửi trên thị trường

Tiền gửi của khách hàng (các tổ chức kinh tế chiếm đa số tại NHPT) là nguồn huy động khá quan trọng của NHPT Khi NHPT bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu

Trang 22

tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho những tổ chức kinh

tế là khách hàng của NHPT Bằng cách đó, NHPT huy động vốn của các tổ chức kinh

tế và các doanh nghiệp

Tiền gửi chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng nguồn của NHPT Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh huy động với những NHTM và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các NHPT đã sử dụng nhiều hình thức tiền gửi khác nhau:

+ Tiền gửi thanh toán: Nghiệp vụ huy động này cũng tương tự như tại các

NHTM Đây là tiền của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, các chủ đầu tư gửi vào NHPT để nhờ NHPT giữ và thanh toán hộ Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả của tổ chức gửi tiền đều được NHPT thực hiện Các khoản thu bằng tiền của tổ chức gửi tiền cũng có thể nhập vào tiền gửi thanh toán theo yêu cầu Lãi suất của các khoản tiền gửi này rất thấp nhưng thay vào đó các chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ khác của NHPT với mức phí rẻ Thủ tục mở tài khoản thanh toán rất đơn giản Yêu cầu của NHPT là khách hàng phải có tiền và chỉ thanh toán trong phạm vi số dư NHPT cũng có thể cho phép khách hàng thực hiện thấu chi – chi trội trên số dư của tài khoản thanh toán

+ Tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: Trong thực tế,

nhiều khoản thu bằng tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội sẽ được chi trả sau một khoản thời gian nhất định hoặc nhu cầu chi trả chưa thực sự cần thiết trong khi số vốn tồn đọng lớn

Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện nhưng lãi suất thấp Để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi tiền, NHPT cũng có hình thức huy động tiền gửi có kỳ hạn Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán

để áp dụng đối với loại tiền gửi này Nếu cần chi tiêu, người gửi phải đến ngân hàng rút tiền ra Tuy không thuận lợi như hình thức tiền gửi thanh toán nhưng người gửi tiền có sự tính toán hợp lý thì tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suất cao hơn so với tiền gửi thanh toán và tuỳ theo độ dài của kỳ hạn gửi Bên cạnh đó, NHPT cũng sẽ chủ động hơn trong việc sử dụng những khoản huy động này để thực hiện cho vay tài

Trang 23

trợ và các dịch vụ khác của ngân hàng mình

Tại NHPT, có một lượng vốn huy động đáng kể qua tài khoản tiền gửi của tổ chức xã hội Do đặc điểm là thực hiện chức năng đầu tư phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và là tổ chức tài chính phát triển được Chính phủ bảo lãnh nên NHPT có thể

dễ dàng tiếp cận để huy động nguồn tiền rất lớn chưa được sử dụng từ các tổ chức như Bảo hiểm xã hội, Tiết kiệm bưu điện, Tổng công ty điện lực…

Bên cạnh hai hình thức huy động tiền gửi trên còn có thể kể đến hình thức huy động tiền gửi từ các ngân hàng khác Tuy nhiên, với NHPT, huy động vốn thông qua hình thức này không phổ biến và chiếm tỷ trọng không đáng kể

1.2.3.2 Phát hành trái phiếu

Tương tự như các doanh nghiệp, các tổ chức ngân hàng khác, NHPT cũng huy động vốn bằng cách phát hành các giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu và trái phiếu) trên thị trường vốn Đây là nguồn huy động rất lớn, có tính ổn định và là lợi thế của các NHPT, đáp ứng nhu cầu cho vay đầu tư các dự án đầu tư phát triển trung dài hạn

Lợi thế được nhắc đến của NHPT chính là sự bảo lãnh của Chính phủ và uy tín của những tổ chức tài chính phát triển này Huy động từ phát hành trái phiếu đem lại nguồn vốn lớn, ổn định, thời gian huy động dài và nó là những khoản vay lớn mà không cần dựa vào tài sản đảm bảo

Ở một số nước có thị trường tài chính phát triển mạnh, ngoài huy động từ phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, NHPT còn huy động bằng cách phát hành trái phiếu của chính mình - trái phiếu NHPT Giá trị và sức hút tạo nên nguồn thu cho việc phát hành trái phiếu NHPT cũng có tác dụng như phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh

Nhiểu tổ chức kinh tế và dân cư trong và ngoài nước muốn mua trái phiếu của ngân hàng vì có tính an toàn cao, do chúng được Chính phủ bảo lãnh (có thể chính thức hoặc không chính thức), dễ chuyển đổi, lãi suất hấp dẫn Trong điều kiện của những nước nghèo, nguồn tiết kiệm trung và dài hạn rất khan hiếm và ngân hàng phải trả lãi suất cao, nguồn tiết kiệm này thích hợp với các dự án rủi ro cao (sinh lời cao) hoặc sinh lời thấp (thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội), do vậy, nguồn

vốn này cần được kết hợp với các nguồn ưu đãi khác

Trang 24

1.2.3.3 Đi vay

NHPT có thể huy động vốn bằng cách đi vay các NHTM khác (vay thương mại), vay từ các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính – tín dụng trong và ngoài nước hoặc phát hành giấy nợ trên thị trường nước ngoài mà nguồn vốn rẻ hơn so với huy động trong nước hoặc thời hạn sử dụng dài hơn NHPT tìm kiếm các khoản vay ưu đãi từ các tổ chức tài chính có mục tiêu cho vay ưu đãi đối với các dự án phát triển như Ngân hàng thế giới (WB), các NHPT khu vực như: NHPT Châu Á (ADB), Ngân hàng đầu tư Châu Âu (EIB), NHPT của các nước: NHPT Trung Quốc (CDB), NHPT Hàn Quốc (KDB), Ngân hàng tái thiết Đức (KFW) hoặc các quỹ dành cho phát triển của Chính phủ tại các nước phát triển

Nguồn vay bên ngoài chịu nhiều nhân tố ảnh hưởng của thị trường tài chính quốc tế và phải có đảm bảo của Chính phủ

1.2.3.4 Huy động vốn khác

Ngoài các hình thức huy động kể trên, tại NHPT còn có những khoản huy động khác với lượng vốn cũng rất đáng kể từ nguồn vốn uỷ thác, nguồn vốn khấu hao

cơ bản những ngành công nghiệp như điện lực, giao thông

- Nguồn vốn uỷ thác: NHPT là tổ chức được Chính phủ các quốc gia tín nhiệm nhất trong việc uỷ thác cho vay, cấp phát lại các nguồn vốn của quốc gia, nguồn ODA và viện trợ từ nước ngoài của Chính phủ ủy nhiệm cho vay lại Nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng cao tại NHPT

- Nguồn khấu hao cơ bản: Đây là những nguồn vốn của các ngành công nghiệp uỷ thác cho NHPT để thanh toán, cấp phát cho các đơn vị trong ngành của họ

theo kế hoạch hàng năm

1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Phát triển

1.2.4.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng vốn huy động

Quy mô vốn huy động

Lưu Thị Hương (2005) chỉ ra rằng quy mô vốn huy động là chỉ tiêu phản ánh

số lượng nguồn vốn huy động của ngân hàng Quy mô vốn huy động ảnh hưởng đến

Trang 25

doanh số cho vay và hoạt động đầu tư của ngân hàng cũng như các hoạt động khác Với quy mô nguồn huy động ngày càng tăng sẽ hỗ trợ vốn cho ngân hàng hoạt động, phát triển và mở rộng phạm vi hoạt động của mình Nếu quy mô vốn huy động không đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn thì NHPT sẽ phải bỏ qua nhiều cơ hội đầu

tư hay tài trợ cho những dự án lớn đòi hỏi vốn nhiều, điều này sẽ ảnh hưởng đến thị phần của NHPT Nếu quy mô vốn huy động nhiều hơn nhu cầu sử dụng vốn thì sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng Do đó, NHPT cần xác định được mối tương quan giữa hoạt động huy động vốn và hoạt động sử dụng vốn để có kế hoạch huy động cho phù hợp thì mới mang lại hiệu quả cao Quy mô vốn huy độngcũng tạo điều kiện nâng cao tính thanh khoản, tính ổn định và tăng niềm tin của khách hàng

Tốc độ tăng trưởng vốn huy động

H =

Số dư nguồn vốn huy động năm sau – Số dư nguồn vốn huy

động năm trước x 100%

Số dư nguồn vốn huy động năm trước

H là giá trị tương đối cho phép đánh giá tốc độ tăng trưởng (nhanh, chậm) của nguồn vốn huy động trong thời kỳ nhất định (quý, năm)

Tiêu chí này thể hiện khả năng mở rộng quy mô vốn huy động của NHPT qua các năm như thế nào, ổn định hay biến đổi theo chiều hướng nào và khả năng kiểm soát của NHPT đối với nguồn vốn này Điều này ảnh hưởng đến khả năng mở rộng thị trường cho vay và tăng cường các hoạt động đầu tư của ngân hàng Nếu tốc độ tăng trưởng ổn định sẽ tạo thế chủ động cho NHPT khi vạch ra kế hoạch sử dụng vốn cho tương lai; thể hiện khả năng cạnh tranh của NHPT với các đối thủ khác trong hoạt động huy động vốn

Trang 26

Điều lệ do Ngân sách Nhà nước cấp để bắt đầu hoạt động thì trong quá trình hoạt động , NHPT gia tăng nguồn vốn của mình thông qua các hoạt động huy động vốn như nhận tiền gửi, phát hành trái phiếu được chính phủ bảo lãnh, đi vay, và các hoạt động khác

Căn cứ vào tình hình kinh tế nói chung và kế hoạch sử dụng vốn trên toàn hệ thống, hàng năm NHPT xây dựng kế hoạch huy động vốn phù hợp để mang lại hiệu quả sử dụng vốn cao nhất

1.2.4.3 Cơ cấu huy động vốn (A)

A =

Số dư từng loại vốn huy động (C)

x 100%

Số dư tổng nguồn vốn huy động Trong đó: A là cơ cấu huy động vốn

C là số dư từng loại vốn (theo thời gian huy động, theo đối tượng huy động…)

A là giá trị tương đối cho thấy trong tổng nguồn vốn huy động, có bao nhiêu

% vốn huy động từ dân cư/ tổ chức, từ ngắn hạn/ trung, dài hạn để đánh giá mức độ

an toàn trong thanh khoản của nguồn vốn

Cơ cấu vốn huy động bao gồm cơ cấu theo đối tượng huy động hoặc cơ cấu theo

kỳ hạn (ngắn hạn, trung và dài hạn) hoặc cơ cấu theo hình thức huy động

Cơ cấu vốn huy động ảnh hưởng rất lớn đến chi phí huy động vốn bình quân của NHPT và từ đó ảnh hưởng đến việc xác định chi phí đầu ra, tức là lãi suất cho vay của NHPT Nếu NHPT huy động được nhiều vốn có chi phí thấp (chẳng hạn như tiền gửi không kỳ hạn) và loại vốn này chiếm tỷ trọng lớn thì chi phí bình quân của ngân hàng sẽ thấp, điều này sẽ tạo ra được mức sinh lời cao cho ngân hàng Thông qua việc xác định cơ cấu vốn có thể phát hiện được mặt mạnh, mặt yếu của NHPT trong hoạt động

Mặt khác, trong cơ cấu vốn huy động thì kỳ hạn huy động cũng luôn được quan tâm xem xét Kỳ hạn huy động sẽ quyết định lãi suất huy động và nó giúp cho ngân hàng chủ động trong hoạt động của mình Nếu tỷ trọng vốn trung và dài

Trang 27

hạn cao hơn vốn ngắn hạn thì sẽ rất thuận tiện cho NHPT, tạo thế chủ động cho ngân hàng trong quá trình cho vay cũng như đầu tư Ngược lại, nếu tỷ trọng vốn ngắn hạn cao hơn thì NHPT sẽ rất khó khi thực hiện cho vay dài hạn đồng thời tỷ lệ dự trữ để chi trả luôn ở mức cao Đặc biệt, đối với NHPT Việt Nam, vai trò của kỳ hạn huy động vốn không những giúp NHPT VN chủ động thực hiện kế hoạch và điều tiết hoạt động mà nó còn quyết định đến sự thành công hay thất bại của hoạt động huy động vốn và kết quả hoạt động của NHPT VN Nhiệm vụ và hoạt động chính của NHPT VN chủ yếu là tài trợ cho vay những dự án đầu tư phát triển trung và dài hạn, thế nên, huy động vốn để phục vụ hoạt động của mình, NHPT VN luôn phải chú trọng đến kỳ hạn huy động vốn trung và dài hạn

1.2.4.4 Lãi suất huy động vốn bình quân

Một ngân hàng thường có hai lĩnh vực kinh doanh nòng cốt: huy động vốn và lựa chọn tài sản sinh lời để đầu tư các nguồn vốn huy động được Khi huy động ngân hàng phải tiến hành trả lãi cho khoản vốn huy động được gọi là chi phí huy động vốn hay lãi suất huy động bình quân

Sở dĩ các ngân hàng quan tâm đến lãi suất huy động bình quân vì nó có liên quan đến việc xác định lãi suất đầu ra, đến lợi nhuận của ngân hàng

Lãi suất huy động bình quân =

Chi phí trả lãi

Tổng vốn huy động bình quân

Hoặc: Tương ứng với từng loại vốn huy động sẽ có mức lãi suất khác nhau Lãi suất của từng loại tuỳ thuộc vào thời hạn của loại vốn huy động Thông thường, thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao và ngược lại Vì vậy, lãi suất huy động bình quân có thể tính như sau:

Trang 28

Lãi suất huy động

bình quân =

∑ Số dư tiền gửi loại i x Lãi suất tiền gửi loại i

Tổng vốn huy động

NHPT trong quá trình hoạt động đã huy động nhiều nguồn vốn khác nhau tương ứng với nhiều mức lãi suất, do đó để đánh giá tổng hợp chi phí đầu vào và so sánh với các kỳ trước cần phải xác định một mức lãi suất bình quân Tiêu chí này phản ánh chi phí bình quân khi NHPT huy động vốn, từ đó NHPT sẽ xác định mức lãi suất cho đầu ra với cơ cấu hợp lý để bù đắp được chi phí và có lợi nhuận

Tóm lại, tiêu chí này cho biết để huy động được một đồng vốn ngân hàng phải

bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí Việc xác định chính xác chi phí huy động vốn là yếu tố

cơ bản giúp ngân hàng chủ động trong kinh doanh, giảm được các rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động ngân hàng đồng thời là yếu tố để xác định mức lợi nhuận mà ngân hàng cần thu được từ các tài sản có sinh lời

1.2.5 Nhân tố ảnh hưởng đến kết quả huy động vốn của Ngân hàng Phát triển

Kết quả huy động vốn của Ngân hàng không chỉ đo bởi mức tăng trưởng theo từng thời kỳ mà còn đo bởi tính kinh tế của việc huy động vốn (huy động vốn với lãi suất thấp, thời gian sử dụng vốn lâu dài) Chính vì vậy, nhân tố quyết định việc tăng cường huy động vốn bao gồm cả từ phía Ngân hàng và yếu tố bên ngoài Ngân hàng

1.2.5.1 Từ phía Ngân hàng:

a/ Hiệu quả hoạt động tín dụng, đầu tư

Với một ngân hàng thông thường, hiệu quả hoạt động tín dụng, đầu tư có thể chỉ xem xét trên góc độ khoản cho vay thuận lợi, giải ngân nhanh chóng và thu hồi

nợ vay, lãi vay đúng hạn theo cam kết tại hợp đồng tín dụng Thế nhưng đối với NHPT, ngoài những yếu tố đó, hoạt động tín dụng, đầu tư hiệu quả còn phải xem xét đến hiệu quả kinh tế xã hội mà dự án được đầu tư mang lại như: sự thành công của dự án về mặt giá trị, sản phẩm được tạo ra từ dự án, số việc làm được giải quyết

Trang 29

cho người lao động và một số ý nghĩa xã hội khác

Sở dĩ có sự xem xét toàn diện như vậy về hiệu quả hoạt động tín dụng, đầu tư

là vì hiệu quả hoạt động TDĐT tại NHPT có thể sẽ quyết định việc tăng hay giảm nguồn vốn

Hiệu quả hoạt động tín dụng, đầu tư cao, chứng minh được NHPT đã thực hiện tốt nhiệm vụ, chức năng của mình, gây lòng tin lớn với Chính phủ từ đó tạo

uy tín của Ngân hàng Phát triển Ngoài ra, hoạt động tín dụng, đầu tư có hiệu quả tức sử dụng vốn có hiệu quả, sẽ làm cho NHPT chủ động hơn trong việc sử dụng nguồn vốn của mình theo kế hoạch, trong đó có cả kế hoạch huy động vốn

b/ Chính sách lãi suất huy động

Chính sách này ảnh hưởng đến kết quả huy động vốn từ tiền gửi ngắn hạn, trung và dài hạn Huy động tiền gửi trên thị trường muốn thu được kết quả tốt, nhất thiết phải có chính sách lãi suất hấp dẫn, lãi suất cho kỳ hạn dài cao hơn lãi suất cho

kỳ hạn ngắn Lãi suất huy động phải phù hợp với thị trường để thu hút tối đa các nguồn vốn, đảm bảo tính cân đối, thanh khoản giữa nguồn vốn và sử dụng vốn

Do vậy, NHPT cần đưa ra chính sách lãi suất vừa đảm bảo tính kinh tế cho Ngân hàng, vừa đảm bảo quyền lợi của người có vốn gửi vào ngân hàng, có như thế NHPT mới thu hút được lượng vốn nhàn rỗi từ thị trường

c/ Chính sách phát hành trái phiếu của Chính phủ

NHPT có lợi thế lớn từ việc thu hút vốn từ nền kinh tế bằng việc phát hành TPCP TPCP được ưa chuộng vì tính an toàn và lãi suất hấp dẫn Vì vậy, chính sách phát hành trái phiếu của Chính phủ (bao gồm yếu tố về thời gian đáo hạn, lãi suất chiết khấu, tính thanh khoản ) có được tổ chức kinh tế và dân cư trong và ngoài nước ưa chuộng hay không sẽ quyết định lượng vốn sẵn sàng gửi vào NHPT nhiều hay không Cơ cấu trái phiếu theo kỳ hạn phải được xác định một cách hợp lý trên

cơ sở căn cứ vào thời hạn cho vay bình quân và dự báo về lãi suất của nền kinh tế

d/ Sự đa dạng và hiệu quả của các hình thức huy động vốn mà Ngân hàng

áp dụng

Trang 30

Hình thức huy động vốn đa dạng, lãi suất hấp dẫn, kỳ hạn thích hợp sẽ thu hút được các đơn vị, các tổ chức kinh tế tìm đến ngân hàng Bên cạnh đó việc tạo ra

sự khác biệt trong các hình thức huy động mang tính chăm lo cho quyền lợi của khách hàng cũng sẽ thu hút được số lượng lớn khách hàng

Để gia tăng được tổng nguồn vốn huy động, thì chính các ngân hàng phát triển cũng cần phải đưa ra nhiều loại hình huy động vốn Bên cạnh các hình thức huy động mang tính truyền thống như nhận tiền gửi thanh toán, tiền gửi của các tổ chức kinh tế ngân hàng còn phải phát triển mở rộng và đa dạng hình thức huy động vốn để vừa nâng số lượng tiền gửi vừa đáp ứng được nhu cầu người gửi về thời hạn, lợi ích khi rút tiền

Chất lượng các hình thức huy động cũng là một trong những thành tố quan trọng quyết định đến hình ảnh, uy tín của ngân hàng và là cơ sở chủ yếu thắt chặt mối quan hệ với khách hàng, tạo lòng trung thành của khách hàng Do vậy, việc thường xuyên duy trì, cải tiến các hình thức huy động tại ngân hàng luôn là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các ngân hàng hiện đại nói chung, của NHPT nói riêng và trở thành lợi thế cạnh tranh chủ yếu để đưa đến sự phát triển và thành công của ngân hàng trong điều kiện thị trường ngân hàng đang ngày càng trở nên ngày một đông đúc với sự cạnh tranh ngày càng một khốc liệt

Ngoài ra, bên cạnh các hình thức huy động vốn truyền thống như nhận tiền gửi thanh toán, tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiếp nhận nguồn vốn ODA NHPT cần mở rộng và đa dạng hình thức huy động vốn để vừa nâng cao năng lực tài chính vừa đáp ứng được nhu cầu tài trợ các dự án mà bản thân ngân hàng đảm nhận

Mặt khác, một đặc điểm quan trọng trong hoạt động ngân hàng đó là sự trung thành của các khách hàng Một khách hàng khi đã sử dụng dịch vụ nào đó của ngân hàng rồi thì sẽ có xu hướng sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng Do vậy nếu các hình thức huy động vốn mà NHPT cung ứng càng thuận tiện, an toàn, nhanh chóng và hiện đại cho khách hàng bao nhiêu thì số lượng khách hàng đến NHPT

Trang 31

ngày một đông bấy nhiêu Đây chính là cơ sở để NHPT thu hút khách hàng, từ đó

có khả năng tăng vốn huy động

Việc đa dạng các hình thức huy động vốn cũng góp phần tạo ra sự khác biệt về sản phẩm của NHPT với các ngân hàng khác để nâng cao vị thế, hình ảnh của NHPT trong nền kinh tế Đồng thời, nó còn góp phần làm giảm rủi ro trong hoạt động ngân hàng, duy trì lợi nhuận ổn định và phát huy vai trò của mình

e/ Uy tín và mạng lưới Chi nhánh

- Uy tín ngân hàng

Uy tín hay có thể hiểu là thương hiệu của ngân hàng, là dấu hiệu đặc biệt để nhận biết về ngân hàng, định vị vị trí của ngân hàng trong ý thức của khách hàng, thể hiện qua sự đánh giá của khách hàng đối với ngân hàng Uy tín là nguồn lực quý giá của bất kỳ ngân hàng nào, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, không phải bất kỳ ngân hàng nào cũng có uy tín mà nó phải được tạo dựng lâu dài trong quá trình hoạt động Khách hàng bao giờ cũng tìm lựa chọn những ngân hàng có uy tín cao để gửi tiền với hy vọng ngân hàng có thể đáp ứng tốt nhu cầu của mình và hạn chế được những rủi ro Vì vậy, một ngân hàng có uy tín lâu năm trong kinh doanh thường chiếm ưu thế trong huy động vốn, nhờ đó giúp ngân hàng có khả năng ổn định lượng vốn huy động, tiết kiệm chi phí huy động Uy tín không chỉ ảnh hưởng đến quá trình huy động vốn mà còn ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động khác của ngân hàng Chính vì vậy, ngân hàng phải không ngừng nâng cao uy tín đồng thời với việc tăng cường quan hệ khách hàng, và tiếp cận, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế

Trang 32

sự hỗ trợ của hệ thống ngân hàng NHPT có trụ sở, mạng lưới chi nhánh tập trung ở các trung tâm kinh tế là có điều kiện để thu hút được nhiều vốn trong xã hội, vì hầu hết các khoản tiền của các đơn vị kinh tế đang hoạt động đều nằm tại ngân hàng Tuy nhiên, nếu càng mở nhiều chi nhánh mà không cân nhắc thì chi phí giao dịch tính trên đơn vị tiền gửi sẽ cao và hoạt động ngân hàng sẽ không có hiệu quả Do

đó, xu hướng chung của các NHPT là mở rộng chi nhánh trên cơ sở bộ máy chi nhánh hết sức tinh gọn để đảm bảo được mục tiêu mở rộng mạng lưới phục vụ huy động tiền gửi đến nhiều đối tượng khách hàng lại vừa đảm bảo hiệu quả tài chính

g/ Trình độ của cán bộ Ngân hàng

Đây là bộ phận tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, là người thể hiện bộ mặt của NHPT với khách hàng Họ cũng chính là người thay mặt NHPT nhận tiền gửi của các khách hàng Khách hàng có tiếp tục quan hệ với NHPT sau lần giao dịch đầu tiên hay không một phần phụ thuộc vào năng lực của chính đội ngũ cán bộ nhân viên này

Đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có đạo đức nghề nghiệp, phong cách giao tiếp lịch sự, niềm nở và hoà nhã sẽ tạo một tâm lý thoải mái, đáng tin cậy cho khách hàng khi đến với NHPT và dĩ nhiên nguồn vốn huy động của NHPT sẽ không ngừng tăng trưởng và ổn định

1.2.5.2 Yếu tố bên ngoài Ngân hàng:

NHPT cũng như các NHTM trong hệ thống, đều hoạt động trên cơ sở quy luật cung - cầu của thị trường tài chính Vì vậy, ngoài những yếu tố mang tính đặc thù vừa nêu trên, công tác huy động vốn của NHPT cũng bị chi phối bởi một số yếu

tố bên ngoài Ngân hàng Cụ thể:

a/ Môi trường kinh tế xã hội

Môi trường kinh tế - xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến tài chính và cơ chế quản lý tài chính của NHPT Một nền kinh tế ổn định và phát triển, các yếu tố thị trường (lãi suất, tỷ giá, lạm phát, giá cả, cung cầu tiền tệ…) có ảnh hưởng trực tiếp đến tài chính quốc gia và hoạt động tài chính của các doanh nghiệp, cá nhân nói chung và NHPT nói

Trang 33

riêng Một quốc gia có nền tài chính ổn định và phát triển có thể sẽ tạo được nguồn thu cho NSNN tạo nguồn lực về vốn để chuyển giao cho NHPT thực thi nhiệm vụ Một xã hội có trình độ dân trí cao, người dân có ý thức chấp hành pháp luật của Nhà nước sẽ tạo điều cho NHPT bảo toàn và phát triển vốn

b/ Môi trường chính sách và pháp luật

Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô thông qua hệ thống pháp luật

để điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế xã hội; đồng thời Nhà nước sử dụng các công cụ chính sách về kinh tế như chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư, chính sách liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu… Các chính sách này đều có ảnh hưởng trực tiếp đến tài chính và quản lý tài chính của NHPT, ví dụ như để thực hiện mục tiêu đầu tư phát triển và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, Nhà nước có các chính sách về TDĐT và TDXK Thông qua các cơ chế chính sách, Nhà nước dùng nguồn lực tài chính quốc gia giao cho NHPT thực hiện chính sách TDĐT và TDXK của Nhà nước, do vậy nguồn vốn hoạt động của NHPT được tăng thêm Chính vì thế, công tác quản lý hoạt động nói chung và quản lý nguồn vốn nói riêng của NHPT cần được đổi mới để đáp ứng yêu cầu

nhiệm vụ trong tình hình mới

c/ Môi trường cạnh tranh trong hệ thống Ngân hàng thương mại

Cạnh tranh là một xu hướng tất yếu trong nền kinh tế thị trường, là động lực của sự phát triển Cạnh tranh buộc các NHPT phải không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động Cạnh tranh sẽ làm cho các NHPT minh bạch hơn đối với các tổ chức kinh tế và đông đảo doanh nghiệp, tạo sự bình đẳng hơn giữa NHPT với các ngân hàng khách và cả các khách hàng Các khách hàng của NHPT được lợi hơn và được phục vụ với chất lượng cao, đa dạng Cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn được tiến hành thông qua việc cạnh tranh bằng lãi suất, bằng khuyến mại, mở rộng mạng lưới chi nhánh…

Cạnh tranh bằng lãi suất

Đây là biện pháp cạnh tranh có tính chất truyền thống của các ngân hàng,

Trang 34

cũng như là sự lựa chọn có tính chất truyền thống của người gửi tiền trong việc gửi tiền, vay vốn mà đến nay chưa thể thay đổi được Hơn nữa, đây là qui luật chung của nền kinh tế thị trường, lãi suất là giá cả của việc sử dụng vốn Lãi suất cao tác động điều hoà cung cầu vốn từ nơi này đến nơi khác, vốn sẽ chảy từ nơi có lãi suất thấp sang nơi có lãi suất cao Nói cách khác, khách hàng sẽ lựa chọn nơi có lãi suất huy động vốn hấp dẫn để gửi tiền

Cạnh tranh về lãi suất tạo điều kiện cho khách hàng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp chủ động lựa chọn các ngân hàng khác nhau, có lãi suất phù hợp với mình và cảm thấy an tâm, an toàn để gửi tiền

Cạnh tranh bằng khuyến mại

Cùng với việc đưa ra lãi suất hấp dẫn, để thu hút lượng tiền gửi, các ngân hàng đã đưa ra nhiều hình thức khuyến mại khác nhau, với tổng chi phí không nhỏ đem lại lợi ích thiết thực và hấp dẫn cho người gửi tiền hay lựa chọn sản phẩm dịch

Một dạng khác cũng được coi là cạnh tranh mở rộng mạng lưới chi nhánh đó

là việc phát triển mạng lưới sản phẩm dịch vụ hiện đại và đa dạng Ngoài ra, các ngân hàng để thu hút khách hàng đến ngân hàng gửi tiền, ngoài việc cạnh tranh thông qua lãi suất, đưa ra các chương trình khuyến mại, mở rộng mạng lưới giao dịch cũng cần phải không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng, mà yếu

Trang 35

tố quyết định chính là hiện đại hoá trình độ công nghệ, đa dạng chủng loại sản phẩm, nâng cao trình độ chuyên môn của nhân viên triển khai chương trình phần mềm ứng dụng Nếu như ngân hàng có trình độ công nghệ ngân hàng hiện đại, trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý, của nhân viên khá, chuyên nghiệp và thành thạo lại có được trình độ giao tiếp, thái độ phục vụ của nhân viên thì càng làm cho chất lượng dịch vụ của ngân hàng càng hoàn hảo, từ đó làm tăng sức hút của khách hàng đối với ngân hàng

Trên đây là một số các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của NHPT, bao gồm nhân tố xuất phát từ nội tại bản thân NHPT và nhân tố do môi trường bên ngoài Tuỳ theo chiến lược hoạt động và nhiệm vụ của ngân hàng tại mỗi thời kỳ khác nhau và tùy thuộc trạng thái phát triển của nền kinh tế

mà NHPT sẽ có những biện pháp nhằm gia tăng hay thu hẹp lượng vốn huy động phục vụ cho nhu cầu sử dụng của ngân hàng

1.3 Bài học kinh nghiệm của Ngân hàng Phát triển một số nước về huy động vốn

1.3.1 Ngân hàng Phát triển Nhật Bản

NHPT Nhật Bản (JDB) được thành lập năm 1951 do nhu cầu về tài trợ đầu tư

và do hệ thống tài chính trong nước chưa sẵn sàng đáp ứng nhu cầu đầu tư Cùng với thành công của công nghiệp hóa và phát triển xã hội Nhật Bản, vai trò của JDB

đã có sự thay đổi Ngày 01/10/1999, JDB giải thể và NHPT Nhật Bản (DBJ) được thành lập với chức năng mới là tập trung vào việc phát triển trong khu vực, cải thiện mức sống (như bảo vệ môi trường và phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai), các ngành quan trọng mang tính chiến lược DBJ chú trọng vào các ngành kinh tế mũi nhọn như máy móc, điện tử, năng lượng Cùng với đó, DBJ cũng chú trọng một cách tích cực vào phát triển xã hội và cải thiện mức sống quốc dân như phát triển đô thị, phát triển khu vực và bảo vệ môi trường

Các nguồn vốn của DBJ được cung cấp ổn định là các nguồn vốn dài hạn từ các quỹ tín thác của Chính phủ đã huy động được từ tiền gửi tiết kiệm bưu điện, quỹ

Trang 36

phúc lợi, bảo hiểm nhân thọ bưu điện, v.v , và huy động một phần từ thị trường quốc tế thông qua phát hành trái phiếu có bảo lãnh của Chính phủ

Hoạt động của DBJ mang tính hỗ trợ với việc cung cấp các khoản vay dài hạn tài trợ về trang thiết bị cho khu vực tư nhân ở Nhật Bản DBJ là một tổ chức của Chính phủ và hoạt động tự chủ trong việc đưa ra quyết định về các khoản vay Do những qui định rõ ràng của DBJ trong việc thẩm định khoản vay, chỉ cho vay khi xác định được việc hoàn trả nợ là khả thi cùng với chính sách đào tạo về chuyên môn một cách kỹ lưỡng trong việc thẩm định dự án và phân tích tín dụng, nhờ đó tỷ lệ các khoản nợ khó đòi thấp hơn nhiều so với các tổ chức tài chính tư nhân (PFI) Lãi suất của DBJ không thấp hơn nhiều so với các PFI nhưng được căn cứ theo chính sách ưu tiên chứ không phải căn cứ vào uy tín tín dụng

1.3.2 Ngân hàng Phát triển Trung Quốc

NHPT Trung Quốc (CDB, ban đầu được gọi là NHPT Nhà nước Trung Quốc) được thành lập vào tháng 3/1994 và bắt đầu hoạt động từ tháng 4 cùng năm trong các dự án cơ sở hạ tầng qui mô vừa và lớn, các dự án khôi phục công nghiệp

Nguồn vốn của CDB phần lớn từ phát hành trái phiếu Trái phiếu ngân hàng của CDB phát hành trong nước được Chính phủ bảo lãnh Ngân hàng Nhân dân phân bổ trái phiếu ngân hàng CDB cho các NHTM Lãi suất do Ngân hàng Nhân dân quyết định và có cân nhắc tới lãi suất của các công cụ tài chính khác có cùng thời hạn Từ 1998, CDB đưa ra một phần hệ thống đấu thầu thông qua việc kết hợp một nhóm các ngân hàng thuơng mại để quyết định lãi suất của trái phiếu, do vậy

mà huy động được vốn với lãi suất thấp Hiện nay, trái phiếu này được coi là an toàn và trở thành sự lựa chọn dài hạn hấp dẫn đối với các NHTM Từ năm 1996, CDB đã bắt đầu phát hành trái phiếu nước ngoài Do được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu này được Công ty Moody đánh giá ở mức A3, tương đương với mức rủi ro tối thiểu Với qui mô và phạm vi hoạt động một cách rõ ràng, CDB về cơ bản là đã thành công trong việc tài trợ các dự án lớn mà rất nhiều dự án đó là về phát triển cơ

Trang 37

sở hạ tầng Đối với các dự án được quyết định là dự án cấp nhà nước, thì CDB cố gắng chia sẻ rủi ro bằng cách có bảo lãnh của các Bộ có liên quan CDB cũng cho vay các ngành công nghiệp yếu kém như than và dệt, tuy nhiên tỷ trọng của các khoản vay này của CDB là nhỏ và có thể kiểm soát được

1.3.3 Ngân hàng Đầu tư Châu Âu EIB

Ngân hàng Đầu tư Châu Âu được thành lập năm 1958 bởi Hiệp ước Rome, theo đó thành lập Cộng đồng Châu Âu (cụ thể là Quy chế về Ngân hàng Đầu tư Châu

Âu là phụ lục của Hiệp ước) với vốn do bốn quốc gia thành lập đóng góp (Tây Đức, Pháp, Italia và ba nước đồng minh Bỉ, Hà Lan và Luxembourg) Là một tổ chức tài chính chính sách của liên minh Châu Âu, EIB cung cấp tín dụng dài hạn cho đầu tư vốn hỗ trợ cho các dự án thoả mãn các yêu cầu kinh tế phù hợp với các chính sách của Cộng đồng Châu Âu quy định tại Hiệp ước Rome Các mục tiêu của EIB được xác định là: thúc dẩy “sự phát triển hoà hợp tổng thể” của Cộng đồng thông qua giúp

đỡ cho sự phát triển tài chính khu vực; đẩy mạnh hiện đại hoá và chuyển đổi của các doanh nghiệp và phát triển các hoạt động mới cần thiết nhằm thành lập thị trường chung, và tăng cướng đầu tư nhằm thúc đẩy một “lợi ích chung”

EIB là một công ty đặc biệt không vì lợi nhuận, được miễn thuế, có tư cách pháp nhân và tự chủ với các nước thành viên EC Việc quản lý EIB chủ yếu do 4 cơ quan nội bộ thực hiện: Hội đồng các Thống đốc, Ban Giám đốc, Uỷ ban điều hành

và Uỷ ban kiểm toán Các đại diện của các quốc gia thành viên (thông thường là các

Bộ trưởng và thứ trưởng Bộ Tài chính hoặc các Bộ có liên quan) có thể tham gia vào qua trình ra quyết định của ngân hàng và theo dõi ngân hàng

Để thực hiện công việc và đáp ứng như cầu vay vốn ngày càng tăng, EIB ngoài việc thường xuyên tăng vốn tự có, cũng đã tiến hành một số bước được thiết

kế nhằm tăng các chương trình cho vay dành cho phát triển khu vực Đầu thập kỷ

60, ngân hàng đã bắt đầu lần đầu tiên sử dụng thị trường vốn như là 1 công cụ để huy động vốn Vào thập kỷ 1970, ngân hàng đã thiết lập một hệ thống cho vay toàn

Trang 38

diện đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) được gọi là “khoản cho vay toàn cầu”, một hệ thống cho vay hai bước sử dụng các tổ chức tài chính ở các nước có liên quan Đồng thời EIB tập trung vào TEN (Mạng lưới xuyên Châu Âu) - mạng lưới các dự án phát triển khắp châu Âu trong các lĩnh vực giao thông, viễn thông, phân phối năng lượng, Các khoản cho vay của EIB phù hợp với các mục tiêu chính sách của ngân hàng, nó tăng cường sự phát triển của khu vực và phát triển mạng lưới xuyên Châu Âu, cải thiện chất lượng cuộc sống và môi trường, và khuyến khích công nghiệp của Châu Âu và sức cạnh tranh của các SME Nguồn vốn của EIB chủ yếu là từ thị trường vốn EIB đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy thị trường đồng EUR mới với tư cách là nhà huy động vốn phi quốc gia chuẩn mực hàng đầu Thời hạn cho vay từ 02 đến 30 năm, bình quân là 10,2 năm trong năm 1998 Việc kết hợp sức mạnh của các cổ đông và chất lượng tài sản có của các khoản vay làm cho EIB được xếp hạng tín dụng ở mức AAA

Gần đây, các hoạt động cho vay của ngân hàng đã được mở rộng; tuy nhiên

nó vẫn duy trì được hoạt động cho vay an toàn và hiệu quả thông qua việc phân tích tín dụng thận trọng và các công cụ phòng ngừa rủi ro tiên tiến EIB có được nguồn vốn với giá thấp và thu lời ổn định trên cơ sở tài chính vững chắc

1.3.4 Kinh nghiệm rút ra đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam về huy động vốn

Thứ nhất, vai trò của Chính phủ: Ở Đông Á, Chính phủ đóng vai trò quan trọng

trong quá trình công nghiệp hoá Tuy nhiên, khu vực công nghiệp chứa đựng phần lớn vốn của tư nhân, và các nhà công nghiệp tư nhân đóng vai trò chính Vai trò của các NHPT có thể nói là sự phát triển của công nghiệp tư nhân và các nhà công nghiệp tư nhân Một Chính phủ có thể phải đóng một vai trò quan trọng đặc biệt trong quá trình chuyển đổi, nhưng vai trò của nó phải mang tính là bổ trợ và mang tích chất sửa sai Các nền kinh tế đang chuyển đổi phải luôn lưu tâm đến khi vai trò của Chính phủ trở nên cần thiết, do vậy họ sẽ không bao giờ quay trở lại nền kinh tế kế hoạch

Thứ hai, các NHPT phải tự phát triển: Sự phát triển cơ cấu công nghiệp của một

Trang 39

quốc gia sẽ không tránh khỏi việc tạo ra một môi trường khác đối với NHPT Qua quá trình công nghiệp hoá, Chính phủ cũng sẽ nuôi dưỡng thị trường vốn phát triển lành mạnh, nhờ đó có thể giảm bớt vai trò của NHPT so với nhiệm vụ ban đầu của nó Các ngân hàng tư nhân có thể phát triển và vai trò của NHPT có thể bị giảm thiểu trong các lĩnh vực mà ban đầu cần đến họ Các NHPT trong khi phải chia sẽ thị phần độc quyền với các ngân hàng tư nhân, cũng phải tự phát triển bằng cách đa dạng hoá chức năng để phù hợp với môi trường mới, bằng cách đi tiên phong vào các lĩnh vực mới nơi mà chỉ riêng khu vực tài chính tư nhân không thể đạt được các chính sách quốc gia

Thứ ba, từ công nghiệp hoá đến thực hiện công bằng xã hội: Khi công nghiệp hoá

đã đạt được mức độ cao, vai trò của các NHPT có thể chuyển sang thực hiện công bằng

xã hội, với ý nghĩa sửa chữa những sai sót của thị trường Nói cách khác, tầm quan trọng của NHPT sẽ chuyển sang các lĩnh vực như phát triển hạ tầng cơ sở xã hội, bảo vệ môi trường, và các biện pháp tăng cường các khu vực yếu kém về mặt xã hội (SME, nông nghiệp, phát triển nông thôn )

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1, Luận văn đã hệ thống, tổng hợp lại một số vấn đề lý luận về huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển, làm rõ các đặc điểm, các hình thức huy động và các chỉ tiêu để đánh giá kết quả huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Nguồn vốn đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và quy mô hoạt động của ngân hàng phát triển ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu tài trợ đầu tư phát triển của Ngân hàng

Hiểu rõ được cơ sở lý luận của hoạt động huy động vốn, các Ngân hàng phát triển sẽ thấy được sự cần thiết trong việc đề ra các giải pháp huy động vốn từ đó thúc đẩy hoạt động tài trợ phát triển để phục vụ hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế- xã hội của Nhà nước

Để đưa ra được những giải pháp phù hợp với từng thời kỳ, từng bộ máy hoạt động của ngân hàng phát triển thì chúng ta cần tìm hiểu thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong thời gian gần đây

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN

VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012-2016 2.1 Giới thiệu về Ngân hàng Phát triển Việt Nam

2.1.1 Quá trình hình thành và sứ mệnh của Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Tên giao dịch: Ngân hàng Phát triển Việt Nam (The Vietnam Development Bank - NHPT VN)

Địa chỉ: 25A Cát Linh - Đống Đa - Hà Nội

NHPT Việt Nam trải qua các giai đoạn phát triển như sau:

Tổng Cục Đầu tư phát triển:

Tiền thân của NHPT Việt Nam là Tổng Cục Đầu tư phát triển được thành lập theo Nghị định số 187/CP ngày 10/12/1994 Theo đó Tổng Cục ĐTPT trực thuộc

Bộ Tài chính để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ĐTPT; tổ chức thực hiện cấp phát vốn NSNN đầu tư và vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước đối với các dự án, mục tiêu, chương trình theo danh mục do Chính phủ quyết định hàng năm

Theo Nghị định 187/CP, Bộ máy của Tổng Cục ĐTPT được tổ chức thành hệ thống từ trung ương đến tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Tại trung ương, Tổng Cục ĐTPT trực thuộc Bộ Tài chính

Quỹ Hỗ trợ phát triển:

Sau một thời gian hoạt động, Tổng Cục ĐTPT chuyển thành Quỹ Hỗ trợ phát triển (HTPT) theo Nghị định số 50/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 với chức năng nhiệm vụ chính như sau:

- Huy động vốn trung và dài hạn, tiếp nhận và quản lý các nguồn vốn của Nhà nước dành cho TDĐT để thực hiện chính sách hỗ trợ ĐTPT của Nhà nước;

- Cho vay đầu tư và thu hồi nợ;

- Thực hiện bảo lãnh cho các chủ đầu tư vay vốn đầu tư, tái bảo lãnh và nhận tái bảo lãnh cho các quỹ đầu tư;

- Ủy thác và nhận ủy thác cho vay vốn đầu tư; thực hiện một số nhiệm vụ khác

do Thủ tướng Chính phủ giao

Ngày đăng: 14/12/2023, 22:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Thị Thu Hà (2005), giáo trình NHPT, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình NHPT
Tác giả: Phan Thị Thu Hà
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2005
2. Lưu Thị Hương (2005), giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình Tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Lưu Thị Hương
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2005
8. Nguyễn Cảnh Hiệp, “Đánh giá khả năng tăng trưởng tín dụng đầu tư của nhà nước từ góc độ cơ chế lãi suất”, Tạp chí Ngân hàng, số 14, tháng 11/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng tăng trưởng tín dụng đầu tư của nhà nước từ góc độ cơ chế lãi suất
3. Nguyễn Văn Tiến (2011), Giáo trình Kinh tế Tiền tệ Ngân hàng, NXB Thống kê Khác
4. Nguyễn Văn Tiến (2011), Giáo trình Ngân hàng thương mại, NXB Thống kê Khác
5. NHPT VN (Tháng 5/2016), Ngân hàng Phát triển Việt Nam 10 năm Một chặng đường phát triển Khác
6. NHPT VN, Báo cáo nguồn vốn các năm 2012, 2013, 2014, 2015, 2016 Khác
7. NHPT VN, Báo cáo tổng kết tình hình hoạt động các năm 2012, 2013, 2014, 2015,2016 Khác
9. Chính phủ (2017), Nghị định số 32/2017/NĐ-CP về tín dụng đầu tƣ của Nhà nước, Hà Nội Khác
10. Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định số 369/QĐ-TTg ngày 28/02/2013 về việc phê duyệt chiến lƣợc phát triển Ngân hàng Phát triển Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng phát triển Việt Nam - Giải pháp huy động vốn tại ngân hàng phát triển việt nam,luận văn thạc sỹ kinh tế
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng phát triển Việt Nam (Trang 42)
Bảng 2.1. Doanh số và dƣ nợ cho vay TDĐT - Giải pháp huy động vốn tại ngân hàng phát triển việt nam,luận văn thạc sỹ kinh tế
Bảng 2.1. Doanh số và dƣ nợ cho vay TDĐT (Trang 47)
Bảng 2.2. Doanh số và dƣ nợ cho vay TDXK - Giải pháp huy động vốn tại ngân hàng phát triển việt nam,luận văn thạc sỹ kinh tế
Bảng 2.2. Doanh số và dƣ nợ cho vay TDXK (Trang 48)
Bảng 2.3. Doanh số và dƣ nợ cho vay lại ODA, vốn ủy thác và cho vay khác - Giải pháp huy động vốn tại ngân hàng phát triển việt nam,luận văn thạc sỹ kinh tế
Bảng 2.3. Doanh số và dƣ nợ cho vay lại ODA, vốn ủy thác và cho vay khác (Trang 50)
Bảng 2.4: Quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động - Giải pháp huy động vốn tại ngân hàng phát triển việt nam,luận văn thạc sỹ kinh tế
Bảng 2.4 Quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động (Trang 53)
Bảng 2.5: Doanh số vốn huy động - Giải pháp huy động vốn tại ngân hàng phát triển việt nam,luận văn thạc sỹ kinh tế
Bảng 2.5 Doanh số vốn huy động (Trang 55)
Bảng 2.6: Cơ cấu huy động vốn của NHPT VN (theo hình thức huy động) - Giải pháp huy động vốn tại ngân hàng phát triển việt nam,luận văn thạc sỹ kinh tế
Bảng 2.6 Cơ cấu huy động vốn của NHPT VN (theo hình thức huy động) (Trang 57)
Bảng 2.7: Cơ cấu huy động vốn của NHPT VN (theo kỳ hạn huy động) - Giải pháp huy động vốn tại ngân hàng phát triển việt nam,luận văn thạc sỹ kinh tế
Bảng 2.7 Cơ cấu huy động vốn của NHPT VN (theo kỳ hạn huy động) (Trang 59)
Bảng 2.8: Lãi suất huy động vốn bình quân năm - Giải pháp huy động vốn tại ngân hàng phát triển việt nam,luận văn thạc sỹ kinh tế
Bảng 2.8 Lãi suất huy động vốn bình quân năm (Trang 61)
Bảng 2.9: So sánh với lãi suất huy động vốn bình quân năm của các NHTM - Giải pháp huy động vốn tại ngân hàng phát triển việt nam,luận văn thạc sỹ kinh tế
Bảng 2.9 So sánh với lãi suất huy động vốn bình quân năm của các NHTM (Trang 64)
Bảng 2.10: Mục tiêu phát triển đến năm 2020 - Giải pháp huy động vốn tại ngân hàng phát triển việt nam,luận văn thạc sỹ kinh tế
Bảng 2.10 Mục tiêu phát triển đến năm 2020 (Trang 72)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w