1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH 6 BALAMẬT ĐƯỢC PHẬT MẬT Ý DẠY CHO BỒTÁT THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG HÀNG NGÀY CỦA NGÀI TRONG PHẦN MỞ ĐẦU KINH KIM CANG

17 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích 6 Ba-La-Mật Được Phật Mật Ý Dạy Cho Bồ-Tát Thông Qua Các Hoạt Động Hàng Ngày Của Ngài Trong Phần Mở Đầu Kinh Kim Cang
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 432,88 KB
File đính kèm 6 BA-LA-MẬT TRONG KINH KIM CANG.rar (401 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÂN TÍCH 6 BALAMẬT ĐƯỢC PHẬT MẬT Ý DẠY CHO BỒTÁT THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG HÀNG NGÀY CỦA NGÀI TRONG PHẦN MỞ ĐẦU KINH KIM CANG. Lộ trình tu tập đến ngày thành tựu Phật quả là cả quá trình thử thách đầy gian nan. Muốn đi trên lộ trình ấy trước hết chúng sinh phải phát Bồđề tâm, có nghĩa là phát nguyện để cầu Phật quả viên mãn ngỏ hầu giải thoát cho mình sau đó mới lợi lạc cho chúng sinh. Bồ đề tâm đòi hỏi sự thực hành và phát triển tâm Từ Bi Hỷ Xả vô lượng với khổ nghiệp của muôn vạn chúng sanh mà tu hạnh Bố Thí, xả thân cầu Đạo; Trì Giới để thúc liễm thân tâm; Nhẫn Nhục hầu trưởng dưỡng tâm Bồ Đề; Tinh Tấn không ngừng chẳng dám buông lung; Thiền Định miên mật làm duyên cho trí huệ sanh khởi; Trí Huệ sáng suốt thấu triệt vạn pháp.

Trang 1

PHÂN TÍCH 6 BA-LA-MẬT ĐƯỢC PHẬT MẬT Ý DẠY CHO BỒ-TÁT THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG HÀNG NGÀY CỦA NGÀI TRONG PHẦN

MỞ ĐẦU KINH KIM CANG.

Trang 2

MỤC LỤC Trang

A DẪN NHẬP 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 1

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 2

B NỘI DUNG 2

I Giới thiệu tổng quan Kinh Kim Cang 2

1.1 Khái quát kinh Kim Cang 2

1.2 Truyền thừa và phiên dịch 3

II Nội dung Kinh Kim cang 4

2.1 Giải thích đề kinh 4

2.2 Giải thích lục chủng thành tựu 4

2.3 Nội dung và Ý nghĩa Kinh Kim Cang 5

III Lục Độ Ba La Mật trong Kinh Kim Cang 6

3.1 Lục Độ Ba La Mật 6

1 Bố thí Ba-la-mật 7

2 Trì giới Ba-la-mật 8

3 Tinh tấn Ba-la-mật 8

4 Nhẫn nhục Ba-la-mật 8

5 Thiền định Ba-la-mật 9

6 Trí huệ Ba-la-mật 9

3.2 Lục Độ Ba La Mật được Đức Phật thuyết giảng trong Kinh Kim Cang và bài pháp thoại không lời thông qua các hoạt động hàng ngày của Ngài được miêu tả trong phần mở đầu kinh 9

1 Đức Phật Đắp y, trì bát là Trì giới Ba-la-mật 10

2 Thực hành khất thực là Bố thí Ba-la-mật 10

3 Theo phép thứ đệ khất thực là Nhẫn nhục Ba- la-mật 11

4 Đều đặn thực hành khất thực là Tinh tấn Ba- la-mật 12

5 Chú tâm trong khi thực hành khất thực là Thiền định Ba-la-mật 12

6 Khất thực với tinh thần Vô tướng, Vô trụ là Trí tuệ Ba-la-mật 12

3.3 Nhận định về “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang 13

C KẾT LUẬN 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

A DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Lộ trình tu tập đến ngày thành tựu Phật quả là cả quá trình thử thách đầy gian nan Muốn đi trên lộ trình ấy trước hết chúng sinh phải phát Bồ-đề tâm, có nghĩa là phát nguyện để cầu Phật quả viên mãn ngỏ hầu giải thoát cho mình sau đó mới lợi lạc cho chúng sinh Bồ đề tâm đòi hỏi sự thực hành và phát triển tâm Từ Bi Hỷ Xả vô lượng với

khổ nghiệp của muôn vạn chúng sanh mà tu hạnh Bố Thí, xả thân cầu Đạo; Trì Giới để thúc liễm thân tâm; Nhẫn Nhục hầu trưởng dưỡng tâm Bồ Đề; Tinh Tấn không ngừng chẳng dám buông lung; Thiền Định miên mật làm duyên cho trí huệ sanh khởi; Trí Huệ

sáng suốt thấu triệt vạn pháp

Thành tựu giác ngộ, đời sống của Đức Thế Tôn so với mọi người không có gì khác biệt, lập dị; không rườm ra lễ nghi hình thức Vì vậy, khi Đức Phật thuyết Kinh Kim

cang Bát-nhã cũng trong một bối cảnh thời gian không gian thật là giản dị: “Khi ấy gần

đến giờ thọ trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào đại thành Xá-vệ khất thực Trong thành ấy, Ngài theo thứ lớp khất thực xong, trở về nơi chúng ở Thọ trai rồi, Ngài dẹp y bát, rửa chân, trải tòa ngồi ”1

Đọc kinh Kim cang, chúng ta sẽ thấy hiện lên đời sống thường nhật của Đức Phật khi mỗi sáng ôm bình bát đi khất thực xong rồi trở về Tinh xá Sau bữa ăn, các thầy Tỳ Kheo cùng bàn luận về giáo lý Và rồi Tôn Giả Tu-bồ-đề đại diện đại chúng thưa hỏi Đức Phật những gì nghi hoặc chưa hiểu Ở đây, chúng ta sẽ không thấy Đức Phật phóng hào quang, cũng không có thần thông biến hóa, mà chỉ thấy những vấn đề được nêu trong kinh Kim cang là những sự việc trong đời sống thường nhật như ăn uống, đi lại, nghỉ ngơi Đây chính là Diệu Pháp, là “thân giáo” Phật truyền cho hậu thế muôn đời về sau tiếp gót chư Phật Bài thuyết pháp đó được diễn đạt cụ thể nhất là qua hành động khất thực của đức Phật - hành động của Đại bi và Đại trí:

- Đắp y, trì bát là Trì giới Ba-la-mật

- Thực hành khất thực là Bố thí Ba-la-mật

- Theo phép thứ đệ khất thực là Nhẫn nhục Ba- la-mật

- Đều đặn thực hành khất thực là Tinh tấn Ba- la-mật

- Chú tâm trong khi thực hành khất thực là Thiền định Ba-la-mật

- Và khất thực với tinh thần Vô tướng, Vô trụ là Trí tuệ Ba-la-mật

Vì thế, người viết thấy tầm quan trọng về “Lục Độ Ba La Mật kinh Kim Cang” mà

đức Phật chỉ dạy, nên người viết chọn đề tài “ Lục Độ Ba La Mật được Phật mật ý dạy cho Bố Tát thông qua các hoạt động hằng ngày của Ngài trong phần mở đầu kinh Kim Cang” cho mình làm đề tài nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Lục Độ Ba La Mật trong Kinh Kim Cang là kim chỉ nam giúp hành giả hiểu rõ hơn

về phương pháp tu tập thiện hạnh, đoạn trừ những chấp thủ Với pháp hành Vô trụ, Ly tướng, hành giả dễ dàng hộ trì Lục căn, chính thức đi vào tu tập, rồi từ đó dần đoạn tận

Vô minh, chứng đắc Niết Bàn Đó là mục đích thúc đẩy khiến người nghiên cứu chọn

đề tài này

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Trong bài tiểu luận này người nghiên cứu chỉ xoáy sâu vào lục độ Ba La Mật mà Đức Phật đã mật ý dạy cho Bồ Tát thông qua những hoạt động thường nhật trong Kinh Kim Cang để làm sáng tỏ vấn đề mà mình cần nghiên cứu mà thôi Dù bản thân đã cố

1 Kinh Kim Cang

Trang 4

gắng rất nhiều nhưng không sao tránh khỏi sai lầm khi viết, ngưỡng mong giáo thọ sư cùng quý thiện hữu tri thức góp ý cho bài nghiên cứu lần sau được thành công tốt đẹp

4 Phương pháp nghiên cứu

Người viết dùng phương pháp quy nạp, phân tích, lập luận, trích dẫn.v.v… nghiên cứu đề tài này

5 Bố cục đề tài

Luận văn bao gồm phần Mở đầu, Kết luận, Nội dung và Danh mục tài liệu tham

khảo

I Giới thiệu tổng quan Kinh Kim Cang

1.1 Khái quát kinh Kim Cang

Kinh Kim Cang thuộc văn hệ Bát Nhã, theo Ngài Thế Thân - một Đại Luận Sư của Phật giáo Ấn Độ vào cuối TK IV thì Đức Phật giảng dạy văn hệ Bát Nhã đầu tiên bắt đầu từ năm thứ năm, kể từ khi Đức Thế Tôn thành đạo và Kinh Kim Cang Bát Nhã đã được Đức Phật giảng dạy sau cùng trong văn hệ Bát Nhã và được phát triển sau khi Phật nhập Niết-bàn Đức Phật đã theo thứ lớp để thuyết các Kinh thuộc văn hệ Bát Nhã Trước tiên ngài dạy các kinh về pháp tướng và dạy Kinh Kim Cang sau cùng là muốn hành giả dùng Bát Nhã để chặt đứt mọi sự mắc kẹt của tâm vào các tướng một cách triệt

để

Kinh Kim cang thuộc về văn học Bát-nhã, trong kinh điển Đại thừa, giáo nghĩa của kinh được giảng cho các hàng Bồ-tát Không giống các kinh điển Đại thừa khác, vị chủ giảng phần nhiều là các Bồ-tát thuộc hàng Pháp thân Đại sĩ; trong các kinh điển thuộc văn học Bát-nhã sơ kỳ, giáo nghĩa trong đây được diễn giải bởi các Thanh văn, các Đại

đệ tử, cho các hàng Bồ-tát, bao gồm loài người và loài trời Điều này rất có ý nghĩa, theo

đó kinh điển Bát-nhã chứa đựng các giáo nghĩa mở rộng cho hàng đệ tử tại gia

Theo Phật giáo, lộ trình tu tập từ đường mê lên bến giác của hành giả không thể thiếu tam vô lậu học: Giới, Định Tuệ Giới có công năng điều phục lục căn, Định giúp hành giả chế phục tâm tư, Tuệ giúp hành giả có sự hiểu biết chân chánh, tận tường vạn pháp Chân lý thường nghiệm thì phi ngôn thuyết, sự hiểu biết, chứng ngộ có được do

sự kinh nghiệm của mỗi người, như uống nước nóng lạnh tự biết; tự mình phải thâm chứng lấy những gì hàm dưỡng trong giáo lý, không phải chỉ để hiểu mà còn hành nữa

Tu tập thiền của hành giả là ở tâm chứng, không phải ở triết luận có hệ thống Thiền không phải chỉ trong tư thế ngồi kiết già, bán già tĩnh tọa, mà nó cần được thực hiện trong đời sống hàng ngày và trực tiếp thể hiện sinh hoạt tâm linh của con người Và Kinh Kim cang đã thể hiện sinh động tư tưởng thiền ấy Cho nên có thể nói Kinh Kim Cang là bài kinh rất quan trọng, là căn cứ điểm cho người tu thiền kiểm chứng thành quả của mình Lục Tổ khi chưa xuất gia, làm nghề bán củi, một hôm đem củi tới bán cho một nhà nọ, vô tình nghe nhà bên cạnh tụng kinh Kim cang, Ngài liền tỏ ngộ Sau

đó Ngài tìm đến Ngũ Tổ xin xuất gia Khi được Ngũ Tổ cho vào thất, cũng đem kinh

Kim Cang giảng cho Ngài nghe Nghe đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Ngài

liền đại ngộ, được Ngũ Tổ truyền y bát và tiễn đi trong đêm ấy Điều này hẳn là Thiền

mà Lục Tổ kế thừa được lập cước trên kinh Kim cang Chúng ta ngày nay học kinh Kim Cang tuy không tỏ ngộ được như Lục tổ, nhưng đây có thể được xem là chìa khóa để

mở ra cánh cửa thâm nhập vào tạng kinh văn của Đại Thừa

Trang 5

1.2 Truyền thừa và phiên dịch

Về thời gian truyền thừa, theo thiền sử Trung Hoa Kinh Kim Cang xuất phát từ đầu thế kỷ thứ VI sau CN Từ thời của tổ Hoàng Nhẫn mới bắt đầu Truyền thừa kinh Kim Cang, còn trước đó chủ yếu truyền thừa Kinh Lăng Già, hay còn gọi là Lăng Già Tâm Ấn là lấy Tâm ấn Tâm Ngài Thần Tú – một để tử xuất sắc của Ngũ Tổ đã ngộ kinh Lăng Già và giảng giải theo pháp tướng, theo duy thức học Ngài Huệ Năng thì ngộ từ kinh Kim Cang, ngộ tánh Không Như vậy Lục tổ ngộ đạo và được truyền y bát làm Tổ cũng nhân nơi kinh Kim Cang Do đó chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của kinh này đối với Thiền tông Sau này kinh Kim Cang được xem như tâm ấn trong nhà Thiền Trong các chùa, các thiền viện bộ kinh này được xem như kinh Nhật Tụng

Hiện nay, Kinh Kim Cang cũng đã được phiên dịch thành nhiều ngôn ngữ trên thế giới và đã có một ảnh hưởng rất lớn đối với sự nghiên cứu, tu tập và ứng dụng vào đời sống của rất nhiều Tăng Ni và Phật tử trên thế giới

Bản dịch Phạn Hán và giảng luận, Kinh Kim Cang hiện có bảy phiên bản :

1 Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh, đời Diêu Tần, ngài Cưu Ma La Thập,

(Kumãrajiva) dịch (402 TL)

2 Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh, đời Nguyên Ngụy, ngài Bồ Đề Lưu Chi

(Bodhiruci) dịch (508 TL)

3 Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh, đời Trần, ngài Chân Đế, Ba-la-mật-đà

(Paramàrtha) dịch (giữa thế kỷ VI)

4 Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh, đời Tùy, ngài Đạt-ma-cấp-đa (Dharmagupta)

dịch ( đầu Thế kỷ VII TL)

5 Phật Thuyết Năng Đoạn Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, đời Đường,

ngài Nghĩa Tịnh dịch (đầu thế kỷ VIII TL)

6 Thật Tướng Bát Nhã Ba La Mật Kinh, đời Đường , ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch

7 Đại Bát-nhã, đời Đường, ngài Huyền Trang dịch, Đại Bát-nhã, 600 quyển, gồm

16 hội, "Kim Cang" là hội thứ 9, quyển 577 trong bộ Đại Bát Nhã (giữa thế kỷ thứ VII TL)

Trong bảy bản Hán dịch, Bản của Ngài La Thập được các nhà Phật học về sau xem

là định bản để chú giải và đã có ảnh hưởng rất lớn trong sự tu tập, trì tụng và chứng nghiệm bởi nhiều thế hệ Tăng Ni Phật Tử xuyên suốt các thời đại của nhiều quốc gia trên thế giới Trong bản dịch này, Ngài La Thập không phải chỉ đối chiếu văn mà dịch

mà phần nhiều do Ngài lãnh hội ý kinh mà dịch, nên văn chương trong sáng, giản dị, thâm diệu và linh hoạt và vì vậy, mà đã được các nhà Phật học xem như định bản để chú giải, ngay cả Ngài Khuy Cơ học trò chính truyền của Ngài Huyền Tráng cũng dựa vào bản dịch của Ngài La Thập để chú thích mà không dựa vào bản dịch của Ngài Huyền Tráng, điều đó chứng tỏ rằng, bản dịch của Ngài La Thập lôi cuốn đối với các nhà Phật học trong quá khứ và hiện nay như thế nào

Bản dịch Hán Việt và giảng Luận:

1 Đoàn Trung Còn, Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, NXB Tôn Giáo, 2006 HT

Trí Quang dịch giải, Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật ( Kinh Kim Cương)

2 HT Thích Thanh Từ, Kim Cang Giảng Luận, Thành hội Phật giáo TP HCM,

1993

3 HT.Thích Thiện Hoa, Kim Cang và Tâm Kinh dịch nghĩa và lược giải, Hương

Đạo xuất bản, 1965

4 HT Tuyên Hóa, Kinh Kim Cang, NXB Tôn Giáo

Trang 6

5 Thích Nhất Hạnh, Kim Cương: Gươm báu cắt đứt phiền não, NXB Văn hóa Sài

Gòn, 2009

6 HT Thích Trí Tịnh, Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật

7 HT Thích Duy Lực, Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật

Ngoài ra, còn có các bản sớ giải các thiền sư và giảng sư Trung Hoa như :

Ngài Trí Khải đời Tùy để tên là "Kim Cang Bát-nhã kinh sớ" gồm một quyển; Ngài Kiết Tạng đời Tùy để tên là "Kim Cang Bát-nhã sớ", gồm bốn quyển.; Ngài Khuy Cơ đời Đường để tên là "Kim Cang Bát-nhã kinh tán thuật" gồm hai quyển; Ngài Tông Mật tức ngài Khuê Phong cũng ở đời Đường, để tên là "Kim Cang Bát-nhã kinh sớ luận

toát yếu" gồm hai quyển…v…v

II Nội dung Kinh Kim cang

2.1 Giải thích đề kinh

Tên Kinh chữ Phạn là Vajrachedikā Prajñāpāramitā Trung hoa dịch là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh Người Trung Hoa khi dịch kinh, chữ nào dịch được thì dịch, chữ nào không thể dịch hết nghĩa thì để nguyên âm tiếng Phạn

- Vajra là Kim Cang, đó là một thứ kim loại quý báu, bền cứng và sắc bén, có thể chặt đứt mọi thứ kim loại khác

- Prajñā dịch là Trí tuệ hay Không trí Nhưng dù dịch từ gì đi nữa cũng không thể lột hết ý nghĩa hàm ẩn của từ Prajñā Vì thế, các dịch giả Trung Hoa đã dùng từ ngữ phiên âm là Bát-nhã để chỉ loại Trí tuệ đặc thù này, và để tránh gây sự ngộ nhận sai lạc đáng tiếc

- Pāramitā dịch là Đáo bỉ ngạn, tức thế tức thế giới giải thoát hay Niết-bàn Theo trên, Đề mục Kinh Kim Cang nói cho đủ là “Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La

Mật”, nghĩa tên Kinh tạm dịch là Trí tuệ siêu việt như gươm báu chặt đứt tất cả phiền não Kinh những lời dạy từ kim khẩu đức Phật, luôn luôn đúng theo chân lý, không bị

chi phối bởi thời gian hay không gian Kinh bao hàm những lời Phật dạy dưới hình thức văn tự hay truyền khẩu, có giá trị hướng thượng, phát triển đạo đức, nuôi lớn thiền định, phát sanh trí tuệ, giúp cho người đọc tụng đạt được an lạc và hạnh phúc Kim Cang hay Kim Cương là chỉ cho một loại khoáng chất tánh rất cứng và sắc bén Tánh chất cứng rắn ấy là tượng trưng cho bản lai diệu mục trong mỗi con người chúng ta, cứng rắn, sắc bén không có gì làm hư hại được Nên nói đây là Phật tánh của chúng ta, bất di bất dịch vậy Đó cũng là Trí Tuệ Bát Nhã có sẵn trong mỗi chúng ta vậy Chỉ bởi vô minh nên chúng ta không nhận ra được bản tánh ấy, nhưng khi chúng ta nhận chân được thì chuyển phàm thành thánh, khoảng cách giữa Phật và chúng sanh chỉ trong một nháy mắc Cho

nên mới nói rằng: “Kim Cương ở tại lòng ta, tỉnh thành ngọc quý, mê là bùn nhơ” Hay

“tâm địa nhược không, tuệ nhật bựt chiếu” Bát nhã thì có nhiều nghĩa nhưng nghĩa trí

tuệ có tính chuẩn xác cao nhất Đây là trí tuệ bát nhã có kahr năng đoạn tận khổ đâu, thấu rõ vạn pháp

Như vậy, Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật là nói về trí tuệ Phật, trí tuệ này có sức công phá các tà kiến ngoại đạo làm cho chúng ta sạch hết những chấp trước sai lầm, những mê mờ đen tối để đến bờ giải thoát, giác ngộ

Qua đây, tên Kinh đã gói trọn nội dung căn bản của Kinh, đó là trình bày về Trí tuệ siêu việt; thứ Trí tuệ như một thứ gươm báu chặt đứt tất cả chấp thủ, vô minh, chặt đứt tất cả phiền não khổ đau của chúng sanh

2.2 Giải thích lục chủng thành tựu

Trang 7

“Tôi nghe như vầy: Một hôm đức Phật ở nước Xá-vệ tại rừng Kỳ-đà trong vườn Cấp Cô Độc cùng với Xá-vệ tại rừng Kỳ-đà trong vườn Cấp Cô Độc cùng với chúng đại Tỳ-kheo là một ngàn hai trăm năm mươi vị ”

Đoạn kinh văn này là ngài A Nan giới thiệu thoàn cảnh lúc Đức Phật nói kinh Kim Cang Đây là chỉ cho lục chủng chứng tín Sáu điều này mở đầu kinh nào cũng như thế

cả “Tôi” chỉ người nghe tức ngài A-nan “Như vầy” là pháp được nghe tức là đề tài trong buổi thuyết pháp “Một thời” chỉ thời gian “Đức Phật” là vị chủ tọa trong buổi pháp thoại “ở nước Xá-vệ tại rừng Kỳ-đà trong vườn Cấp Cô Độc” là nơi Phật thuyết pháp “Chúng đại Tỳ-kheo gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị” là hội chúng thính Pháp Thời gian, nơi chốn và hội chúng thính Pháp cho thấy bài kinh này không phải tự

ý ngài A-nan nói, mà do Ngài nghe trong hội thuyết pháp gồm cả thảy một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo

Sáu điều trên đây gọi là lục chủng chứng tín, hay còn gọi là lục chủng thành tựu, nghĩa là sáu điều làm bằng chứng để cho chúng ta tin kinh này không phải tự ý ngài A-nan nói ra, mà chính là Ngài thuật lại buổi thuyết pháp của đức Phật Lục chủng thành

tựu gồm: như vầy là tín thành tựu; Tôi nghe là văn thành tựu Một hôm là thời thành tựu; đức Phật là chủ thành tựu tại… là xứ thành tựu; chúng là chúng thành tựu

Khi đức Phật sắp nhập Niết bàn, Ngài A-Nan hỏi đức Phật : sau này, đệ tử muốn lưu lại những lời nói từ kim khẩu của Đức Phật để cho người sau theo đó mà tu hành thì câu đầu tiên của tựa đề Kinh là dùng câu nào trước Khi đó đức Phật mới bảo với A-Nan

rằng: y theo ba đời chư Phật và mở đầu bằng câu: “Tôi nghe như vầy: Một hôm Phật tại… chúng….” tức là đây là lời của A-Nan thuật lại những gì mà Ngài nghe được trong

quá trình theo thị giả bên Đức Phật chứ không phải lời của Ngài nói Qua đây, chúng ta thấy sáu pháp thành tựu trong Kinh Kim Cang đã nói đến lý trung đạo đế, nhằm vào chổ

đệ nhứt nghĩa đế Vì sao? vì khi đức Phật sắp nhập niết bàn, A-Nan bạch Phật rằng: nếu sau khi Ngài nhập niết bàn các thánh đệ tử muốn kết tập kinh điển thì phải mở đầu câu gì? Đức Phật nói rằng: y theo ba đời chư Phật và mở đầu bằng câu: “Như thị ngã văn nhứt thời Phật tại… chúng….” Cho nên, ngay đầu bài Kinh là một pháp trung đạo đế, pháp bất nhị Tư tưởng Ba la mật này vượt lên tất cả, nó là sắc tức không, không tức là sắc

2.3 Nội dung và Ý nghĩa Kinh Kim Cang

Kinh Kim Cang và Bát-nhã tâm kinh được Phật giáo đại thừa chọn làm tiêu biểu cho toàn bộ văn học Bát-nhã Kinh Kim Cang là Kinh tóm lược tất cả các điểm chủ yếu của tạng Bát-nhã, và Tâm kinh được xem là cốt lõi của tạng Bát-nhã đó Nội dung kinh Kim Cang là trình bày về Trí tuệ siêu việt hay Trí tuệ Bát-nhã, Tri kiến Phật Kinh giới thiệu với hành giả, Trí Bát Nhã ấy có sẵn trong mỗi con người chúng ta, muốn nhận ra, thể nhập vào đó, việc tiên quyết là phải đi vào nguyên tắc Phát tâm Bồ-đề Nguyên tắc này được thực hiện bằng con đường Lục độ và được soi chiếu bởi ánh sáng của Vô tướng hay Vô trụ Tức hành Lục độ với tinh thần lìa tất cả tướng tướng ngã, nhơn, chúng sanh

và thọ giả Tóm lại, trong Kinh hơn nửa phần đầu trình bày về nguyên tắc và các phương pháp đoạn trừ chấp thủ tướng ngã, phần còn lại là trình bày những cách đoạn trừ chấp thủ tướng pháp

Thời kinh Kim Cang được giảng cho 1.250 vị Tỳ- kheo, mà Tôn giả Tu-bồ-đề là người đại diện thưa hỏi Tôn giả Tu-bồ-đề là Bậc thánh đã chứng được Trí Bát Nhã Do thế, có thể nói vấn đề mà Tôn giả thưa thỉnh chính là các vấn đề của thính chúng; đức Phật đáp lời Tôn giả chính là đáp lời cho thính chúng Những vướng mắc, những diễn

Trang 8

biến tâm lý của Tôn giả chính là các vướng mắc, diễn biến của thính chúng; mỗi lần đức Phật gỡ những gút vướng mắc cho Tôn giả, chính là mỗi lần đức Phật mở bày Thật tại như thật Vướng mắc thì có thô, có tế, nhưng Thật tại như thật trước sau chỉ có một, có hiểu như thế chúng ta mới nhận ra tính liên tục và tính nhất quán của thời kinh Kim Cang

Qua đây, người viết có thể nhận định, mục đích của đức Phật nói Kinh Kim Cang

là nhằm mục đích duy nhất, đó là chỉ bày Trí Bát Nhã có sẵn trong mỗi con người chúng

ta Khi chúng ta nhận chân được các pháp là do nhân duyên hòa hợp mà thành thì cũng

do hết nhân duyên mà tan rả thì không chấp chặc vào các pháp, để rồi đến và đi cả hai mình không còn vướng bận gì cả, mà cứ tự tại, nhìn đúng với thực tướng các pháp Qua

đó đức Phật muốn nói lên rằng, tâm chúng ta vốn là Kim Cang bất hoại thanh tịnh, trong sáng, thuần khiết, không có bị chi phối của các pháp, luôn luôn ngăn chặn các cấu uế của mê hoặt sâm nhập, giống như người chủ nhà vậy, không có ai dám xông vào nhà mình vậy Nếu có người nào vô thì đuổi ra Nhưng mà tâm chúng ta thường thì bị chi

phối bởi các pháp, nên đức Phật mới dạy rằng: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”2 Khi chúng ta không trụ tâm bất cứ pháp nào thì chúng ta được giải thoát, còn ngược lại, nếu chúng ta tu hành mà trụ chấp các pháp thì không bao giờ giải thoát được Đây là điểm then chốt để an tâm

Ngoài ra Kinh Kim Cang mang một ý nghĩa rất quan trọng nữa, đó là cái trí tuệ siêu việt, trí tuệ bát nhã Trí tuệ thâm sâu mà không có một loại trí tuệ nào sánh nỗi Khi

ta có được trí tuệ này thì thấy tất cả các pháp đều là duyên hợp không có tự tánh, chỉ là giả danh thôi Bởi giả danh nên không có một pháp nào thật có mà là duyên hợp, hết

duyên tan rả Cho nên cái gì có hình tướng thì hư vọng, không thật “Phàm sỡ hữu tướng

giai thị hư vọng” là vậy Rồi đức Phật lại nói rằng: “nhứt thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện, ưng tác như thị quán”3 Bởi vậy, khi chúng ta học trí tuệ bát nhã thì nhìn nhận một cách tường tận đúng thật chân lý

Hiểu Kinh Kim Cang là hiểu một cách tường tận, thấu triệt tất cả các hiện tượng sum la vạn tượng này Để rồi có con mắt Phật nhãn thấu rỏ tường tận ngọn nghành vũ trụ vạn pháp nên tự tại không còn trụ chấp vào các pháp, mà đến hay đi, chứng đắc hay không chứng đắc, được mất, tồn vong…là chuyện của duyên sinh vô ngã nên không trụ tâm Có như vậy mới cảm nhận được sự an lạc tự thân và lợi ích cho tha nhân

III Lục Độ Ba La Mật trong Kinh Kim Cang

3.1 Lục Độ Ba La Mật

“ Khi ấy trưởng lão Tu-bồ-đề (Subhuti) ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, bày vai áo bên mặt, gối mặt quì xuống đất, chấp tay cung kính bạch Phật rằng:

"Thế Tôn! Rất ít có, đức Như Lai khéo hộ niệm các vị tát, khéo phó chúc các vị Bồ-tát Bạch Thế Tôn! Người thiện nam, người thiện nữ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên làm sao trụ, làm sao hàng phục tâm kia? " Đức Phật bảo: "Lành thay, lành thay! Này Tu-bồ-đề, như lời ông nói, Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ-tát, khéo phó chúc các vị Bồ-tát, nay ông hãy lắng nghe cho kỹ, ta sẽ vì ông mà nói Người thiện nam, thiện nữ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên như thế mà trụ, như thế mà hàng phục tâm kia" - "Xin vâng, bạch Thế Tôn! Con nguyện thích được nghe"

2 HT Thích Thanh Từ, Kinh Kim Cang giảng giải, Nxb Tôn Giáo, 2007

3 HT Thích Thanh Từ, Kinh Kim Cang giảng giải, Nxb Tôn Giáo, 2007,

Trang 9

Phật bảo Tu-bồ-đề: Các vị Bồ-tát lớn nên như thế mà hàng phục tâm kia Có tất

cả các loài chúng sanh hoặc loài sanh bằng trứng, hoặc loài sanh bằng thai, hoặc sanh chỗ ẩm ướt, hoặc hóa sanh, hoặc có hình sắc, hoặc không hình sắc, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc chẳng có tưởng chẳng không tưởng, ta đều khiến vào vô dư Niết-bàn

mà được diệt độ đó Diệt độ như thế vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh mà thật không

có chúng sanh được diệt độ Vì cớ sao? Này Tu- bồ-đề, nếu Bồ-tát còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả tức chẳng phải là Bồ-tát.” 4

Đây là phần thưa hỏi của ngài Tu-bồ-đề Và được Đức Phật giải đáp Bởi vì đức Phật luôn luôn nhớ nghĩ làm sao cho các vị Bồ-tát được tiến lên Phật quả và dặn dò các

vị Bồ-tát làm lợi ích cho chúng sanh để cùng tiến lên Phật quả Cho nên Ngài đã bắt đầu chỉ dạy phương pháp hàng phục tâm

Lục độ Ba-la-mật là pháp tu của hàng Bồ tát, được hiểu một cách khái quát là sáu phương tiện - Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tiến, Thiền định và Trí tuệ đưa người qua bờ bên kia, tức từ bờ mê qua bờ giác Tuy nhiên, Bồ tát ngoài việc độ mình còn cần phải cứu độ chúng sanh Trong khi thực hành, một mặt hành giả tiếp tục duy trì tâm Bồ

đề tâm để trợ giúp cho sự thực hành và thành tựu viên mãn, nhưng không để tâm mong cầu kết quả, không chấp trước vào người làm, vào phương tiện làm và vào chúng sinh

là đối tượng của việc làm Sáu phương tiện này có công năng như một chiếc thuyền, đưa hành giả từ bờ vô minh của thế gian, vượt sang bờ giác ngộ của chư Phật

Ba-la-mật là mật hạnh rộng lớn của hàng Bồ tát Nếu chỉ dùng lục độ để đối trị tâm phiền não thì việc làm còn hạn chế Lục độ với tinh thần Ba-la-mật phải bao gồm trí tuệ,

từ bi và sự dõng mãnh Mục đích tối hậu của người tu là nhận ra và hằng sống với bản tâm thanh tịnh vốn có mình Đó là Phật tánh, chân tâm, bản lai diện mục Nhờ trí tuệ sáng suốt, hành giả thấy tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do mê muội không nhận ra, nên mãi tạo nghiệp và trầm luân trong sanh tử Vì thế, phát khởi lòng từ bi, nguyện độ tận chúng sinh trong ba cõi sáu đường Có từ bi, hành giả mới có đủ tâm dũng mãnh giáo hóa chúng sinh, dù có gặp chướng duyên cũng không nản lòng

Lục độ Ba-la-mật gồm sáu phương tiện:

1 Bố thí Ba-la-mật

Hạnh đầu tiên trong Lục độ Ba la mật là Bố thí Ba la mật, là cho đi mà không mong đợi được đền đáp "Bố" nghĩa là rộng rãi, cùng khắp "Thí" là cho, là trao tặng Bố thí là cho, là tặng cùng khắp, tặng cho tất cả mọi người, mọi vật, mọi nơi Ngày nay, Phật tử thực hiện nhiều hoạt động thiện nguyện với hi vọng đạt được chút công đức nào đó trong những hoạt động ấy Làm thiện sự ấy là tốt, tuy nhiên đây không phải là thực hành

bố thí Ba la mật bởi vẫn còn tâm dính mắc, mong cầu Đức Phật dạy phương pháp bố thí trong Kinh Kim Cang như sau:

“Lại nữa Tu-bồ-đề, Bồ-tát đối với pháp nên không có chỗ trụ mà làm việc bố thí, gọi là chẳng trụ nơi sắc để bố thí, chẳng trụ thanh hương vị xúc pháp để bố thí Này Tu-bồ-đề, Bồ-tát nên như thế mà bố thí, chẳng trụ nơi tướng Vì cớ sao? Nếu Bồ-tát bố thí chẳng trụ tướng thì phước đức không thể nghĩ lường.” 5

Qua lời dạy trên, chúng ta thấy thực hành bố thí không chỉ đơn giản là cho đi một thứ gì đó, mà sự thật bố thí chính là buông xả hết vọng niệm, tâm không dính với sáu trần Buông xả thái độ chấp ngã của bản thân để thấy được rằng không có “Ta” là người

bố thí Buông xả sự bám chấp vào vạn pháp thấy được tất cả các pháp đều không có tự

4 HT Thích Thanh Từ, Kinh Kim Cang giảng giải, Nxb Tôn Giáo, 2007,

5 HT.Thích Thanh Từ, Kinh Kim Cang giảng giải, Nxb Tôn Giáo, 2007

Trang 10

tính giống như vẻ bề ngoài hay những gì bạn thường nhìn nhận về chúng Nhờ vậy, bạn

sẽ thấy không có đối tượng được nhận Vì vậy, Bố thí Ba la mật phải được thực hiện với một trái tim yêu thương chân thật và trí tuệ quán chiếu bản chất vô ngã không thường hằng của vạn pháp thế gian để rồi bố thí mà không có kẻ cho, cũng không có người nhận Công đức của pháp bố thí Ba la mật không những chỉ riêng cho người nhận, mà lẫn cả người cho nữa Nó vừa độ người mà vừa độ mình Có công năng đưa mình và người từ bờ mê lầm đến bờ giác ngộ, từ địa vị phàm phu đến quả vị Bồ Tát

2 Trì giới Ba-la-mật

"Trì" là giữ chặt chẽ "Giới" là những điều răn dạy, ngăn cấm, những quy luật mà đức Phật đã chế ra Với mục đích đưa người từ bến mê đến bờ giác, Đức Phật đã chế giới luật Trì giới Ba la mật là phương pháp tu bằng cách giữ gìn nghiêm chỉnh, trọn vẹn giới luật mà Đức Phật đã răn dạy

Trì giới chính là hàng rào che chở, giúp hành giả điều phục thân, tâm, kiểm soát các ham muốn luôn có xu hướng chi phối, lôi kéo bạn

Trì giới mà chỉ có hình thức bên ngoài còn bên trong thì rất nhiễm ô, đây là hành động đối phó khi bị ép buộc, vì danh lợi… thì chẳng ích lợi gì Trì giới bằng một tâm

ý tự nguyện, không vì danh lợi, không vì háo thắng, không vì bị hoàn cảnh ép buộc mà làm Trì giới như thế mới đúng là trì giới Ba la mật, công đức sẽ vô lượng vô biên

3 Tinh tấn Ba-la-mật

"Tinh" là tinh khiết, là thuần nhất, không có xen lẫn một ý gì, một việc gì khác vào

"Tấn" là tiến tới mãi mãi không dừng, không gián đoạn hay thối lui Tinh tấn nói theo nghĩa thông thường là siêng năng, chuyên cần tu tập để tiến trên con đường Đạo

Tinh tấn giúp hành giả ngăn ngừa để các điều ác không cho nó phát sinh ra Nghĩa

là từ trước tới nay chưa làm ác thời nên tiếp tục giữ cái tính thiện đó và nếu đã lỡ làm việc ác thời cần tinh tấn diệt cho mau các điều ác đã phát sinh Tiến thêm một bước nữa, người tu tập cần tinh tấn làm cho các điều lành phát sinh và sau đó tinh tấn làm cho các điều lành tăng trưởng

Tinh tấn với mục đích để được tiếng khen, hoặc sợ la rầy, quở mắng hay vì tâm háo thắng tự cao tự đại Như vậy không đúng là tinh tấn Ba la mật Tinh tấn một cách chân thành, quyết tâm sửa chữa, thấy mình cần giải thoát ra khỏi luân hồi, nên phải gấp rút chuyên cần tu luyện chính là tinh tấn Ba la mật

Đức Phật Thích Ca đã nói những lời cuối với các đệ tử trước khi Ngài nhập diệt là:

"Hỡi các người! Hãy tinh tấn lên để giải thoát" Lộ trình từ bờ mê đến bến giác dài thăm

thẳm với bao chông gai thử thách nếu không có được đức tinh tấn, như các bùa hộ mệnh

và bí quyết tiến thủ, thì chúng ta chỉ quanh quẩn mãi trong biển sinh tử luân hồi

4 Nhẫn nhục Ba-la-mật

“Nhẫn nhục đệ nhất đạo

Phật nói vô vi cao

Xuất gia quấy rối người

Không được gọi Sa Môn”

Nhẫn nhục Ba la mật là một trong những pháp thực hành quan trọng nhất của con đường Bồ tát "Nhẫn" là nhịn, là sự chịu đựng những cảnh trái mắt nghịch lòng "Nhục"

là điều sỉ nhục, điều xấu hổ, làm tổn thương đến lòng tự ái của mình Nhẫn nhục Ba la mật là nhẫn nhục do ý muốn diệt trừ lòng sân hận, kiêu mạn, tự ái, tham lam và trao dồi lòng từ bi và hỷ xả

Nhẫn nhục vì sợ quyền thế, vì đang nằm trong hoàn cảnh bất lợi chưa thể trả thù

Ngày đăng: 14/12/2023, 19:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Thích Trúc Thông Quang, Kinh Kim Cang giảng giải, Ấn tống, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Kim Cang giảng giải
Tác giả: Thích Trúc Thông Quang
Nhà XB: Ấn tống
Năm: 2006
4. HT. Tuyên Hóa, Kinh Kim cang, Nxb Tôn Giáo, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Kim cang
Tác giả: HT. Tuyên Hóa
Nhà XB: Nxb Tôn Giáo
Năm: 2006
5. HT. Thích Từ Thông, Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh, Nxb Tôn Giáo, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh
Tác giả: HT. Thích Từ Thông
Nhà XB: Nxb Tôn Giáo
Năm: 2009
6. HT. Thích Huyền Vi, Kinh Kim Cang và chánh pháp chưa từng có, Nxb Tôn Giáo, 2010, Trang 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Kim Cang và chánh pháp chưa từng có
Tác giả: HT. Thích Huyền Vi
Nhà XB: Nxb Tôn Giáo
Năm: 2010
1. HT.Thích Thanh Từ, Kinh Kim Cang giảng giải, Nxb Tôn Giáo, 2007 Khác
2. Thích Thông Phương, Kinh Kim Cang giảng lục, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2004 Khác
7. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn Lý Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm