1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩgiải pháp nhằm phát triển hàng hoá cho thị trường chứng khoán việt nam

112 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Nhằm Phát Triển Hàng Hoá Cho Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam Trong Điều Kiện Hiện Nay
Thể loại luận văn thạc sĩ
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 632,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong hơn 3 nămđầu vận hành, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng không thể tránh khỏinhững hạn chế nhất định như : qui mô thị trường còn nhỏ bé chỉ chiếmkhoảng 2,3% GDP, khối

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài, tính cấp thiết của đề tài

Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức ra đời vào ngày20/7/2000 là sự kiện quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong quá trìnhphát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế và đã mở ra mộtthời kỳ mới trong quá trình xây dựng và phát triển hệ thống thị trường tàichính ở nước ta Từ đây thị trường chứng khoán đã thực sự trở thành một conkênh khơi thông các dòng chảy vốn trong nền kinh tế đặc biệt là vốn trung vàdài hạn Thông qua con kênh này vốn có thể dễ dàng chảy từ nơi có hiệu quảthấp sang nơi có hiệu quả cao, từ nơi kém hiệu quả sang nơi có hiệu quả, cóthể dễ dàng tập trung cho quá trình đầu tư phát triển của đất nước Thị trườngchứng khoán ra đời đất nước ta có thêm một thể chế thị trường đặc thù có tácdụng thúc đẩy tiến trình đổi mới doanh nghiệp, thu hút vốn đầu tư trong vàngoài nước, thực hiện việc phân bổ vốn đầu tư linh hoạt và hiệu quả

Sau hơn 3 năm hoạt động thị trường chứng khoán Việt Nam đã đạtđược những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ Thị trường đảm bảo mởcửa và giao dịch liên tục, các hoạt động giao dịch và công bố thông tinđang từng bước đi vào nề nếp và đang được hoàn thiện; tính công khai,công bằng và minh bạch dần được đảm bảo Tuy nhiên, trong hơn 3 nămđầu vận hành, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng không thể tránh khỏinhững hạn chế nhất định như : qui mô thị trường còn nhỏ bé chỉ chiếmkhoảng 2,3% GDP, khối lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường còn Ýtchưa tương xứng với tiềm năng và chưa đại diện cho các ngành kinh tếtrọng điểm của nền kinh tế quốc dân dẫn đến thị trường chưa có sức hấpdẫn người đầu tư, nhà đầu tư mất dần lòng tin với với thị trường bỏ chứngkhoán chuyển sang hình thái kinh doanh khác, giá trị và lượng đầu tư vào

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 2

chứng khoán ngày một giảm, qúa trình phát hành và lưu thông chứngkhoán trên thị trường còn nhiều bất cập, gây trở ngại đến quá trình pháttriển của thị trường chứng khoán cũng như quá trình phát triển kinh tế củaquốc gia

Vậy làm thế nào để TTCK phát triển đúng quy luật và trở thành một

bộ phận không thể thiếu của thị trường tài chính Với mong muốn đượcđóng góp một phần công sức của mình vào quá trình phát triển của TTCKnói riêng và qúa trình phát triển nền kinh tế Việt Nam nói chung, tôi đã lựa

chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm phát triển hàng hoá cho thị trường

chứng khoán Việt Nam trong điều kiện hiện nay ”.

2 Mục đích nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu của luận văn nhằm mục đích :

- Hệ thống hoá một cách khoa học và làm rõ đặc trưng của các loạihàng hoá được lưu thông trên thị trường chứng khoán

- Xuất phát từ thực trạng về hoạt động phát hành và lưu thông chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua để rót ra những những mặt tồn tại, hạn chế cần khắc phục

- Trên cơ sở bài học kinh nghiệm trong việc phát triển hàng hoá choTTCK, đề tài tìm kiếm một số giải pháp nhằm phát triển hàng hoá cho thịtrường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu việc phát triển hàng hoá cho thị trường chứngkhoán Việt Nam trong thời gian tới

- Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường Tài chính, làbước phát triển cao của kinh tế thị trường Tuỳ thuộc vào mục đích nghiêncứu, chúng ta có thể tiếp cận các khía cạnh khác nhau của thị trường này Ởđây, luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến các loại hàng

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 3

hoá trên thị trường và xem xét quá trình phát hành và lưu thông chứng khoánchủ yếu trên thị trường chứng khoán tập trung Trên cơ sở bài học kinhnghiệm của các nước và điều kiện thực tiễn của Việt Nam, sẽ đề ra một sốgiải pháp nhằm phát triển hàng hoá cho thị trường chứng khoán Việt Namtrong thời gian tới.

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhưphương pháp biện chứng lịch sử, gắn lý luận với thực tiễn, sử dụng có phântích chọn lọc các nguồn tư liệu của Bộ Tài chính, UBCK Nhà Nước,TTGDCK TP Hồ Chí Minh và các Công ty chứng khoán ; phương pháp sosánh và đối chiếu, phương pháp tiếp cận kinh tế thị trường trong giải luậnkhái luận và phân tích thực tiễn theo mục tiêu và nhiệm vụ đã xác định

5 Những đóng góp của luận văn.

Thị trường chứng khoán đã ra đời, tồn tại và phát triển từ rất lâu ở cácquốc gia có nền kinh tế phát triển, nhưng ở Việt Nam thị trường chứngkhoán còn là một lĩnh vực hoạt động rất mới mẻ và còn xa lạ với không Ýtngười Vì vậy luận văn sẽ có những đóng góp nhất định cho việc nghiên cứutrong lĩnh vực này Luận văn góp phần hệ thống hoá những lý luận về chứngkhoán và cũng góp phần làm rõ bản chất và đặc trưng của chứng khoán Đồngthời, trên cơ sở phân tích thực trạng về phát hành và lưu thông chứng khoántrên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam trong thời gian qua, từ đó

đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hàng hoá cho TTCK Việt Nam trongthời gian tới

6 Kết cấu sơ lược của luận văn.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được thiết kế gồm 3 chương:

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 4

Chương 1 : Hàng hoá trên thị trường chứng khoán, kinh nghiệm phát

triển hàng hoá cho thị trường chứng khoán Chương 2 : Thực trạng hàng hoá trên TTCK Việt Nam,

Chương 3 : Một số giải pháp nhằm phát triển hàng hoá cho thị trường

chứng khoán Việt Nam

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 5

này được gọi là trái phiếu Bên cạnh đó, với sự ra đời của công ty cổ phần đãlàm xuất hiện một phương tiện tài chính huy động vốn góp vào công ty đượcgọi là cổ phiếu Cả hai loại phương tiện tài chính đó đều được gọi chung làchứng khoán.

Chứng khoán là gì? Theo “Từ điển thuật ngữ chứng khoán”, các tác giả cho rằng chứng khoán là một công cụ chứng nhận quyền sở hữu của cổ đông trong một công ty (đối với cổ phiếu) hoặc xác nhận quan hệ giữa chủ nợ ( trái chủ) với một công ty hay một cơ quan chính phủ (đối với trái phiếu), xác nhận các quyền sở hữu được thể hiện bằng quyền lựa chọn, quyền đăng ký mua, quyền đảm bảo đăng ký mua Cổ phiếu và trái phiếu là những loại hình chứng

khoán cụ thể biểu hiện bằng chứng xác nhận người chủ sở hữu đã bỏ tiền vốn

ra đầu tư nhằm đạt được những quyền lợi và lợi Ých nhất định Tuy nhiên,ngoài cổ phiếu và trái phiếu là hai loại chứng khoán chủ yếu còn xuất hiệnnhiều loại chứng khoán khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, hợp đồng quyền lựachọn, hợp đồng tương lai Đây cũng là những công cụ xác nhận những quyền

và lợi Ých nhất định của chủ thể sở hữu đối với chủ thể phát hành

Ngày nay, với việc ứng dụng mạnh mẽ những thành tựu khoa học kỹthuật vào các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội đã đưa đến những thay đổilớn trong lĩnh vực chứng khoán, thay vì việc phát hành các chứng khoán dướidạng giấy tờ, người ta còn có thể sử dụng các thiết bị điện tử để ghi nhận sựtồn tại của chứng khoán, đây được coi là sự phi vật chất hoá các chứng khoán.Chính vì điều này đã làm thay đổi nhận thức mang tính truyền thống về hìnhthức tồn tại của chứng khoán Chứng khoán không chỉ tồn tại dưới dạngchứng chỉ mà còn gồm cả dạng bút toán ghi sổ Ở Việt Nam, nghị định số

144/2003/NĐ-CP đã chỉ rõ : Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi Ých hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành.

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 6

Cho dù xem xét chứng khoán dưới góc độ này hay góc độ kia, chóng tađều có thể thấy rằng chứng khoán là một loại hình công cụ tài chính đại biểucho một số tiền nhất định mà người sở hữu đã bỏ ra để được hưởng nhữngquyền và lợi Ých hợp pháp đối với người phát hành Để đáp ứng nhu cầu củangười đầu tư trong việc lưu động hoá tiền vốn, các chứng khoán này đượcđem ra thị trường để mua bán Thông qua hoạt động mua bán trên TTCK vốn

đã thực sự trở thành một loại hàng hoá, có giá cả cụ thể

Chứng khoán là hàng hoá đặc biệt được lưu thông trên TTCK, nó khácvới các loại hàng hoá được lưu thông trên các thị trường khác Tất cả các loạichứng khoán sau khi được phát hành thường được kiểm tra kỹ càng trước khiđưa vào lưu thông trên thị trường thứ cấp Sau khi nó được mua bán trênTTCK, nó tiếp tục được theo dõi, đánh giá, xếp hạng và được chăm sóc sứckhoẻ thường xuyên nếu thấy kém chất lượng, ảnh hưởng đến người đầu tưthì nó có thể bị loại ra khỏi thị trường Chứng khoán vì thế là các loại hànghoá có tính chọn lọc và có khả năng mua bán nhanh

Cách thức giao dịch, mua bán chứng khoán cũng khác so với hàng hoáthông thường khác Trên TTCK tập trung, các nhà đầu tư không đựoc trựctiếp gặp nhau để mua bán chứng khoán mà phải nhờ các nhà môi giới trunggian thực hiện giúp Nguyên tắc này đảm bảo các chứng khoán được giaodịch là chứng khoán thực, hợp pháp, tránh sự giả mạo, lừa đảo trong giao dịchđồng thời đảm bảo vai trò quản lý, kiểm soát của nhà nước và cơ quan tổ chứcthị trường nhằm hạn chế rủi ro cho các nhà đầu tư

1.1.2 Đặc trưng cơ bản của chứng khoán

Mỗi loại thị trường đều có hàng hoá đặc trưng, chứng khoán là một loạihàng hoá nh thế, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của TTCK Chứngkhoán là một loại hàng hoá cao cấp đặc biệt với nhiều loại khác nhau nhưng

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 7

tất cả đều có những đặc trưng cơ bản đó là : tính sinh lợi, tính rủi ro và tínhthanh khoản.

1.1.2.1 Tính sinh lợi của chứng khoán

Tính sinh lợi của chứng khoán là khả năng đem lại thu nhập cho chủ sở hữu chứng khoán Đối với người đầu tư tính sinh lợi đem lại một khoản thu

nhập khi đầu tư vào chứng khoán Khoản thu nhập này thu được từ : Lợi tứccủa chứng khoán ( cổ tức hay trái tức) và lợi tức thu từ việc chênh lệch muabán chứng khoán Còn đối với những người huy động vốn chính là việc tríchmột phần trong thu nhập hoạt động SXKD để trả cho người sở hữu vốn khi sửdụng vốn của người này

Có rất nhiều hình thức đầu tư để sinh lợi nhưng điều mà người đầu tưmong muốn là làm thế nào để cho đồng tiền của mình sinh lời nhiều nhất.Thực tế đã chứng minh đầu tư vào chứng khoán có khả năng đem lại hiệu quảrất cao đạc biệt là đầu tư cổ phiếu Đầu tư cổ phiếu hơn hẳn hình thức gửi tiếtkiệm mà người có vốn nhàn rỗi thường làm Hai hình thức đầu tư đều có mụcđích cuối cùng hưởng một mức sinh lợi nhất định Đầu tư vào cổ phiếu thìngười giữ cổ phiếu có thể lo lắng về rủi ro, có cảm giác thời gian nhận cổ tứclâu hơn so với giữ tiết kiệm Xét về mặt chất, thì lãi suất tiết kiệm thường chịuảnh hưởng trực tiếp và tức thì của lạm phát nhưng với đầu tư cổ phiếu thì yếu

tố lạm phát tác động không lớn Bởi vì người đầu tư mua bán cổ phiếu vớimục đích thu lời từ mua bán trong thời gian ngắn, không đợi ảnh hưởng cổtức nên hầu như loại trừ ảnh hưởng của lạm phát Mặt khác nếu đầu tư cổphiếu, trở thành cổ đông của công ty, nhà đầu tư đã trở thành chủ sở hữu mộtphần nhà, xưởng theo tỷ lệ cổ phần nắm giữ Những tài sản này của công tynói chung Ýt bị ảnh hưởng của yếu tố lạm phát vì lạm phát theo cách hiểuthông thường là sự tăng giá của hàng hoá đồng nghĩa với mất giá đồng tiền.Tài sản mà công ty đầu tư, đưa vào hoạt động SXKD không nằm dưới dạng

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 8

tiền mặt nên giá trị không bị mất đi, mà có thể được tăng lên theo mức lạmphát và máy móc, thiết bị Tính sinh lợi của chứng khoán phụ thuộc vào kếtquả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, cao hay thấp phụ thuộc theo

hệ số EPS ( thu nhập mỗi cổ phiếu), vì vậy công ty muốn huy động đượcnguồn đầu tư trên thị trường tài chính phải có EPS cao hơn so với lãi từ tiềngửi ngân hàng hay yếu tố lạm phát Còn khi đầu tư trái phiếu thường có lợitức cao hơn gửi tiết kiệm thông thường

Có thể nói đầu tư vào chứng khoán nhà đầu tư không chỉ nhận được cổtức từ cổ phiếu, trái tức từ trái phiếu, thu nhập khác từ chứng khoán phái sinh

mà còn có thể nhận được thu nhập từ việc mua bán chứng khoán (chênh lệchmua bán) Người đầu tư thường mong muốn thu được nhiều lợi Ých từ phầnthu nhập này Hơn nữa nhà đầu tư sẽ trở thành chủ sở hữu của công ty màmình muốn bằng cách mua cổ phiếu của công ty đó Vì vậy, chính tính sinhlợi của chứng khoán đã kéo người đầu tư đến với chứng khoán, thu hút họ đểđầu tư chứng khoán và tạo cho chứng khoán có đặc trưng khác với các loạihàng hoá khác Tính sinh lợi của chứng khoán là mục đích rất quan trọng của

đa số nhà đầu tư

1.1.2.2 Tính rủi ro của chứng khoán

Trong nền kinh tế thị trường, gắn liền với hoạt động đầu tư nhà kinhdoanh không chỉ tính toán những lợi Ých có thể thu được mà họ luôn phải chúđến những rủi ro có thể gặp phải trong đầu tư Vì vậy, khi đầu tư chứngkhoán, nhà đầu tư phải biết rằng chứng khoán ngoài tính sinh lợi nó còn cótính rủi ro

Tính rủi ro của chứng khoán chính là khả năng không thu hồi được vốn khi đầu tư hay đó còn là sự không ổn định, không chắc chắn về thu nhập cho người chủ sở hữu chứng khoán

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 9

Bởi thế nên khi ra quyết định đầu tư vào chứng khoán hay một hình đầu

tư nào khác, đặc tính này được đánh giá song song cùng với tính sinh lợi Đầu

tư vào chứng khoán có thể đem lại cho các nhà đầu tư trở thành tỷ phú tronggiây lát nhưng cũng có thể cướp đi của họ tất cả Người ta thấy rằng tính sinhlợi của chứng khoán càng cao thì rủi ro chứng khoán càng lớn và chính điềunày đã tạo nên chứng khoán là một loại hàng hoá đặc biệt khác các loại hànghoá khác Có rất nhiều loại rủi ro mà nhà đầu tư có thể gặp phải khi đầu tưvào lĩnh vực chứng khoán, nổi bật là 3 loại rủi ro : rủi ro thu nhập, rủi rokhông thanh toán và rủi ro thị trường

Rủi ro thu nhập chính là sự thay đổi thất thường thu nhập của chứng

khoán, nó chịu tác động bởi kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công

ty Thu nhập của nhà đầu tư cao hay thấp phụ thuộc rất lớn lợi nhuận củacông ty Trong khi đó trong quá trình hoạt động SXKD của công ty chịu tácđộng bởi rất nhiều yếu tố : tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, thấtnghiệp, thâm hụt ngân sách, các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước Dovậy khó công ty nào có thể duy trì được hiệu quả kinh doanh trong thời giandài với các yếu tố bất lợi Kết quả là trong đầu tư chứng khoán, cùng mộtkhoản đầu tư nh nhau nhưng bên cạnh những chứng khoán có thu nhập caolại có những chứng khoán lại có thu nhập thấp : cổ phiếu thường có rủi ro thunhập cao hơn trái phiếu Vì vậy nhà đầu tư có thể cân nhắc nên đầu tư vàoloại chứng khoán nào để giảm thiểu rủi ro cho mình

Rủi ro không thanh toán xuất phát từ sự phá sản của tổ chức phát hành

chứng khoán dẫn đến chứng khoán không có khả năng thanh toán Vậy nêntuỳ từng tổ chức phát hành chứng khoán thì độ rủi ro cao hay thấp Các loạichứng khoán mà nhà nước phát hành như : trái phiếu kho bạc, công trái quốcgia, trái phiếu đô thị hay các chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng có rủi rokhông thanh toán Ýt hơn so với trái phiếu và cổ phiếu của doanh nghiệp Rủi

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 10

ro không thanh toán rất nguy hiểm bởi nó có thể làm người đầu mất hoàn toànvốn đầu tư, vì vậy muốn giảm thiểu rủi ro này thì việc phân tích khả năngthanh toán là hết sức cần thiết

Rủi ro thị trường có liên quan đến sự biến động giá cả của chứng khoán

trên thị trường Loại rủi ro này phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thị trường, chịutác động bởi các quy luật của kinh tế thị trường Giá cả trên thị trường chứngkhoán chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố cơ bản như : cung cầu chứng khoán trênthị trường, tốc độ tăng trưởng kinh tế của khu vực hay quốc gia, tỷ lệ lạm phát

dự tính, tình hình SXKD và triển vọng của các công ty cổ phần, nạn đầu cơhay hành vi bán khống trên thị trường và cũng chịu tác động rất lớn của yếu

tố tâm lý Cổ phiếu có rủi ro thị trường lơn hơn nhiều so với trái phiếu bởi giá

cả của nó thường biến động rất lớn Rủi ro thị trường gắn liền với việc lựachọn thời điểm trong kinh doanh Nếu nhà đầu tư không chọn đúng thời điểmthì rủi ro này sẽ gây những thiệt hại to lớn cho nhà đầu tư Cổ phiếu thường

có rủi ro thị trường nhiều hơn so với trái phiếu

Ngoài ra nhà đầu tư còn phải chịu tác những loại rủi ro mang tính ảnhhưởng dây truyền hoặc lây lan nhanh như chiến tranh, thiên tai đột biến,khủng hoảng chính trị, hay chỉ một chính sách tồi cộng thêm sự kém hiệu quảcủa bộ máy quản lý cũng có thể gây nên thiệt hại rất lớn cho người đầu tư.Chính vì vậy trong đầu tư chứng khoán nói riêng cũng nh trong đầu tư SXKDnói chung cần phải phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến các quyết địnhđầu tư, đặc biệt là đầu tư dài hạn

Đối với bất kỳ hoạt động đầu tư nào cũng đều chứa đựng trong đónhững rủi ro nhất định Nhưng đối với hoạt động đầu tư chứng khoán thì yếu

tố rủi ro luôn tiềm Èn ở mức độ cao hơn bởi rủi ro rất khó lượng hoá hay tínhtoán một cách đầy đủ chính xác Vậy nên chính tính rủi ro của chứng khoánlàm cho người đầu cần phải cân nhắc rất kỹ lưỡng khi đưa ra quyết định đầu

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 11

tư và nó dễ đẩy người đầu tư ra xa, không dám đầu tư chứng khoán Việcnghiên cứu tính rủi ro của chứng khoán có ý nghĩa rất quan trọng đối vớingười đầu tư Nhà đầu tư chỉ đưa ra quyết định đầu tư khi tính sinh lợi củachứng khoán lớn hơn những rủi ro khi đầu tư chứng khoán.

1.1.2.3 Tính thanh khoản của chứng khoán

Đặc trưng cuối cùng tạo nên sự khác biệt giữa chứng khoán với các loạihàng hoá khác đó chính là tính thanh khoản của chứng khoán hay còn gọi là

tính hoán tệ Tính thanh khoản của chứng khoán chính là khả năng dẽ dàng nhanh chóng chuyển đổi chứng khoán ra tiền mặt trong một thời gian ngắn.

Nó làm cho người sở hữu chứng khoán có thể chuyển đổi sang tiền mặt mộtcách nhanh chóng để sử dụng cho mục đích khác Đây là một đặc tính quantrọng, tạo cho người đầu tư chứng khoán có những ưu điểm vượt trội với cáchình thức đầu tư khác

Xuất phát từ tính sinh lợi và tính rủi ro của chứng khoán đã làm nảysinh tính thanh khoản, bởi lẽ các nhà đầu tư nắm chứng khoán vì mục tiêu lợinhuận nhưng họ sẵn sàng bán chứng khoán để thu hồi vốn đầu tư khi xuấthiện rủi ro Do đó người đầu tư thường xuyên xuất hiện nhu cầu mua bánchứng khoán, từ đó làm cho chứng khoán có tính thanh khoản

Để đảm bảo tính thanh khoản của chứng khoán thì trong quá trìnhchuyển đổi từ chứng khoán ra tiền phải đáp ứng các yêu cầu Thứ nhất thờigian chuyển đổi chứng khoán ra tiền phải nhanh chóng và với phí chuyển đổiphải thấp Nh vậy chứng khoán nào đòi hỏi nhiều thời gian và chi phí chuyểnđổi thì chứng khoán đó có tính thanh khoản thấp và ngược lại nếu thời gian vàchi phí chuyển đổi Ýt thì tính thanh khoản càng cao Điều kiện thứ hai làđồng vốn (giá trị tiền tệ) của chứng khoán đó phải được đảm bảo tránh sựthăng trầm giá cả trên thị trường chứng khoán Như vậy tính thanh khoản củachứng khoán cao hay thấp còn phụ thuộc vào từng loại chứng khoán và sự ổn

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 12

định của giá thị trường của chứng khoán đó Trên các TTCK sôi động nếumột loại cổ phiếu nào đó có khối lượng giao dịch hàng ngày trên 30% tổng sốlượng cổ phiếu, thì có thể đánh giá cổ phiếu đó có tính thanh khoản cao.

Bên cạnh khả năng chuyển đổi thành tiền của chứng khoán, tính thanhkhoản của chứng khoán còn thể hiện được vị thế, tiềm lực tài chính, kết quảkinh doanh, triển vọng trong tương lai của tổ chức phát hành chứng khoán.Nếu doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả trong tương lai, trả cổ tức cao, có khảnăng phát triển thì chứng khoán sẽ có tính thanh khoản cao Ngược lại nếudoanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, có nguy cơ phá sản thì chứng khoán rất

Ýt tính thanh khoản

Tính thanh khoản của chứng khoán phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khácnhau nh hiện trạng của nền kinh tế, thực trạng hoạt động của TTCK, tìnhhình SXKD của các doanh nghiệp, lạm phát hay tâm lý của người đầu tư Tuỳ thuộc hoàn cảnh cụ thể mà các nhân tố này tác động nhiều hay Ýt đếntính thanh khoản của chứng khoán

Tính thanh khoản của chứng khoán có ý nghĩa rất quan trọng đối vớinhà đầu tư cũng nh sự phát triển của TTCK Nó giúp cho nhà đầu tư có thể

dễ dàng lưu động hoá tiền vốn bằng cách bán chứng khoán trên TTCK, rútvốn để đầu tư mua chứng khoán khác Nó còn giúp cho nền kinh tế chuyểnnguồn vốn ngắn hạn thành vốn dài hạn qua việc mua bán chứng khoán Vìvậy để đẩy nhanh tính thanh khoản của chứng khoán thì việc hình thànhTTCK là tất yếu khách quan

Qua nghiên cứu các đặc trưng của chứng khoán ta thấy rằng tính sinhlợi, tính rủi ro và tính thanh khoản của chứng khoán không tồn tại độc lập mà

luôn có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau : Tính rủi ro, tính sinh lời có quan hệ ngược chiều với tính thanh khoản của chứng khoán Những chứng

khoán có mức sinh lời cao thì rủi ro càng lớn và càng Ýt tính thanh khoản

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 13

thông thường đó là các loại chứng khoán dài hạn Ngược lại các chứng khoánngắn hạn nh tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng có tính thanh khoản caohơn Ýt rủi ro hơn và tính sinh lời cũng thấp hơn

Tóm lại qua phân tích các đặc trưng của chứng khoán ta thấy tính sinhlợi của chứng khoán đã thu hút được một số lượng nhất định nhà đầu tư nắmgiữ chúng Tuy nhiên tính rủi ro lại là yếu tố tác động buộc họ phải cân nhắclúc nào thì nên đầu tư nắm giữ chứng khoán và lúc nào nên rút vốn đầu tư.Còn tính thanh khoản của chứng khoán sẽ chuyển hoá hình thức đầu tư trung

và dài hạn thành ngắn hạn, làm linh hoạt hóa các công cụ đầu tư, tạo điều kiệncho các nhà đầu tư chứng khoán có thể thu hồi được vốn đầu tư hoặc dichuyển vốn đầu tư một cách dễ dàng Do đó nghiên cứu các đặc trưng củachứng khoán sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư có thể lựa chọn các hìnhthức đầu tư chứng khoán thích hợp và hiệu quả nhất

1.2 PHÂN LOẠI CHỨNG KHOÁN

Cùng với quá trình ra đời và phát triển của TTCK, hàng hoá được muabán trên TTCK còng thay đổi và phát triển theo thời gian Ban đầu hàng hoáchủ yếu là các loại trái phiếu chính phủ, sau này cùng với sự phát triển củacác công ty cổ phần vào cuối TK19 đã làm thay đổi căn bản hàng hoá lưuthông trên TTCK Hiện nay hàng hoá trên TTCK có thể chia thành 3 nhóm cơbản :

+ Các chứng khoán nợ ( hay trái phiếu )

+ Các chứng khoán vốn ( hay cổ phiếu )

+ Các chứng khoán phái sinh ( các công cụ có nguồn gốc chứng khoán)Mỗi loại hàng hoá có những đặc trưng khác nhau, nó sẽ ảnh hưởng đếnquyết định của nhà kinh doanh khi lựa chọn chứng khoán để đầu tư

1.2.1 Trái phiếu

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 14

1.2.1.1 Trái phiếu là gì ?

Trái phiếu là loại chứng khoán xuất hiện đầu tiên và là loại hàng hoáđầu tiên được mua bán trên TTCK từ TK15 Vậy trái phiếu là hàng hoá nhthế nào và tại sao được mua bán trên TTCK

Trái phiếu là một chứng thư hay bút toán ghi sổ xác nhận một khoản

nợ của tổ chức phát hành ra nã, trong đó cam kết sẽ trả khoản nợ kèm tiền lãi trong một thời hạn xác định trong tương lai Người sở hữu trái phiếu là các chủ

nợ còn tổ chức phát hành là các con nợ

Trái phiếu khác với các hình thức vay nợ khác ở chỗ chúng có khảnăng trao đổi Người sở hữu trái phiếu nếu cần vốn không cần phải chờ đếnthời hạn thanh toán của trái phiếu, mà có thể đem bán lại trái phiếu trên thịtrường Bằng cách này trái phiếu tạo điều kiện vay dài hạn cho tổ chức pháthành, trong khi người cho vay vẫn có thể thu hồi vốn bất cứ lúc nào nếu có sựtồn tại của TTCK Nh vậy trái phiếu sẽ là một loại hàng hoá được lưu thôngtrên thị trường chứng khoán

Trong việc phát hành trái phiếu, tổ chức phát hành trái phiếu là người

đi vay ( con nợ ) gọi là thụ trái, người mua trái phiếu hay người cho vay là cáctrái chủ ( chủ nợ )

Trái phiếu thường tồn tại dưới dạng một chứng thư có mệnh giá Mệnhgiá của trái phiếu là số tiền ghi trên bề mặt của trái phiếu mà tổ chức pháthành đồng ý hoàn trả cho trái chủ tại thời điểm đáo hạn Mệnh giá tối thiểucủa trái phiếu do luật quy định ( Việt Nam theo Nghị định 144/2003/NĐ-CPthì mệnh giá tối thiểu của trái phiếu là 100.000 VNĐ, các mệnh giá khác làbội số của mệnh giá tối thiểu )

Trái phiếu có thời hạn, thời hạn của trái phiếu là thời hạn đi vay của tổchức phát hành và cũng được ghi trên bề mặt của trái phiếu Thời hạn của tráiphiếu nhỏ hơn 1 năm thì nó còn được gọi là tín phiếu hay kỳ phiếu Trong

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 15

thời hạn của trái phiếu, trái phiếu có thể được mua bán trên TTCK Giá cả củatrái phiếu có quan hệ chặt chẽ với thời hạn của trái phiếu, khi trái phiếu sắphết hạn thì không thể bán với giá cao hơn mệnh giá của nó.

Định kỳ trái chủ sẽ được nhận một khoản lợi tức của trái phiếu gọi làtrái tức Trái tức là tiền lãi vay mà thụ trái phải trả cho các trái chủ theo từng

kỳ nhất định quy định trên trái phiếu Thời hạn trả trái tức của trái phiếu cóthể quy định là tháng, quý, năm tuỳ thuộc vào thời hạn của trái phiếu

Trong suốt thời hạn đi vay, trái chủ không được phép thu hồi vốn trướchạn Tuy nhiên trái phiếu có thể quy định được hoàn vốn trước hạn cho tráichủ khi lãi suất cho vay trên thị trường hạ thấp hơn trái suất của trái phiếu lưuhành Nh vậy quyền lợi của trái chủ không được đảm bảo Bên cạnh đó cónhững loại trái phiếu không được hoàn vốn trước hạn hoặc chỉ được hoàn vốnsau một thời hạn nhất định ghi trên trái phiếu Thời hạn này gọi là thời hạnchống hoàn vốn, đây chính là thời khoảng bảo vệ cho các trái chủ, tuỳ loại tráiphiếu mà thời hạn này ngắn hay dài

Nhằm đảm bảo sự an toàn cho việc thanh toán trái phiếu cho trái chủ,khi phát hành trái phiếu, tổ chức phát hành thường phải có thế chấp hoặcđược bảo lãnh cho việc phát hành Việc thế chấp có thể sử dụng nhiều cáchthức khác nhau : sử dụng tài sản thế chấp hay thế chấp bằng một loại chứngkhoán khác

1.2.1.2 Phân loại trái phiếu

Trái phiếu là một trong những hàng hoá được lưu thông trên TTCKCùng với sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng nh của TTCK,trái phiếu cũng xuất hiện với rất nhiều loại khác nhau

1.2.1.2.1 Căn cứ vào chủ thể phát hành

+ Trái phiếu nhà nước : Là loại trái phiếu do chính quyền trung ương

hay hay chính quyền địa phương phát hành nhằm mục đích bù đắp ngân sách

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 16

hay thực hiện các chương trình đầu tư phát triển của nhà nước Phát hành tráiphiếu để huy động vốn là việc làm cần thiết và thường xuyên đặc biệt ở cácquốc gia trong quá trình công nghiệp hoá như Việt Nam Trái phiếu Nhànước thường có độ tin cậy rất cao và thường có nhiều ưu đãi nên các nhà đầu

tư thường lựa chọn phương án đầu tư vào trái phiếu nhà nước hơn là tráiphiếu doanh nghiệp, đặc biệt đối với những nước đang phát triển Tuỳ thuộchoàn cảnh và điều kiện cụ thể, nhà nước có thể phát hành một số loại tráiphiếu và nó cũng thường được lưu thông trên thị trường chứng khoán

Trái phiếu chính phủ : Do chính quyền trung ương phát hành nhằm

mục đích bù đắp ngân sách trung ương hay thực hiện các chương trình đầu tưphát triển của nhà nước

Trái phiếu địa phương : Do chính quyền địa phương phát hành nhằm

mục đích thực hiện các chương trình đầu tư phát triển cơ sơ hạ tầng hay để bùđắp ngân sách địa phương Loại này được phát hành hạn chế hơn

Trái phiếu công trình : Nhằm mục đích xây dựng các công trình trong

phạm vi ngành

+ Trái phiếu doanh nghiệp : Trái phiếu doanh nghiệp là một loại giấy

chứng nhận nợ có kỳ hạn do các doanh nghiệp phát hành nhằm huy động vốntài trợ cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và đến thời hạn doanhnghiệp phải hoàn trả cả gốc và lãi cho người mua nã Trái phiếu doanh nghiệpthường được phát hành nhằm huy động vốn mở rộng quy mô kinh doanh củadoanh nghiệp Trái phiếu này có mức độ rủi ro cao hơn trái phiếu chính phủ

nên lãi suất thường cao hơn

1.2.1.2.2 Căn cứ vào khả năng chuyển nhượng

+ Trái phiếu vô danh : Là trái phiếu trên bề mặt của nó không ghi tên

người sở hữu thay vào đó là số seri của trái phiếu Khi nhận trái tức hay hoànvốn người sở hữu nó chỉ cần xuất trình giấy chứng nhận quyền sở hữu trái

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 17

phiếu ghi rõ số seri, mệnh giá, trái suất và thời hạn Trái phiếu này được muabán chuyển nhượng tự do trên thị trường và là hàng hoá chủ yếu trên TTCK

+ Trái phiếu ghi danh : Là trái phiếu trên bề mặt của nó ghi tên của

người sở hữu trái phiếu hoặc ghi tên người sở hữu ở phòng đăng ký của tổchức phát hành Loại trái phiếu này không được chuyển nhượng tự do trên thịtrường Khi chuyển nhượng quyền sở hữu, trái chủ phải ghi rõ tên, địa chỉ, sốchứng minh thư của người được chuyển nhượng hoặc thừa kế vào mặt sau củatrái phiếu và ký vào trái phiếu Người thụ hưởng kế tiếp phải mang trái phiếuđến nơi phát hành để đăng ký lại quyền sở hữu trái phiếu

1.2.1.2.3 Căn cứ vào phương thức thanh toán lợi tức

+ Trái phiếu hưởng lãi trước ( Trái phiếu chiết khấu ) : Là loại trái

phiếu mà toàn bộ trái tức được thanh toán một lần ngay tại thời điểm pháthành bằng cách bán trái phiếu thấp hơn mệnh giá ( thường là trái phiếu ngắnhạn )

+ Trái phiếu hưởng lãi sau : Là loại trái phiếu mà toàn bộ trái tức được

thanh toán một lần tại thời điểm trái phiếu đáo hạn

+ Trái phiếu trả lãi định kỳ : Là loại trái phiếu mà trái tức được trả là

nhiều lần ( thường là các trái phiếu dài hạn ) theo kỳ hạn trong suốt thời hạncủa trái phiếu ( Có thể là 6 tháng hay 1 năm một lần trả trái tức )

1.2.1.2.4 Căn cứ vào cơ chế lãi suất

+ Trái phiếu có lãi suất cố định : Là loại trái phiếu có trái suất được

xác định trước và không thay đổi trong suốt thời gian tồn tại của trái phiếu

+ Trái phiếu thả nổi trái suất : Là trái phiếu không có trái suất cố định,

nó được điều chỉnh tương ứng với tốc độ lạm phát của nền kinh tế và lãi suấtvay vốn bình quân trên thị trường tín dụng

1.2.1.2.5 Căn cứ vào khả năng thanh toán

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 18

+ Trái phiếu có đảm bảo : là trái phiếu được đảm bảo khả năng thanh

toán bằng tài sản thế chấp cầm cố của tổ chức phát hành tại một cơ quan quyđịnh của pháp luật Nếu tổ chức phát hành không thanh toán đúng hạn thì tráichủ có quyền phát mại tài sản để thu hồi vốn và trái tức

+ Trái phiếu không đảm bảo : Là loại trái phiếu được đảm bảo bởi uy

tín của tổ chức phát hành Nếu doanh nghiệp bị phá sản trái chủ này được giảiquyết quyền lợi sau các trái chủ có đảm bảo và trước các cổ đông

+ Trái phiếu được bảo lãnh : Là một dạng đặc biệt của trái phiếu có

đảm bảo bởi vì nó được mét tổ chức khác đứng ra bảo lãnh thanh toán khi tổchức phát hành mất khả năng thanh toán Tổ chức bảo lãnh thường là cácNgân hàng Thương mại, Công ty Tài chính, Công ty Bảo hiểm hay Công tyChứng khoán

Ngoài ra còn một số loại trái phiếu đặc thù

+ Trái phiếu tài khoản là trái phiếu không tồn tại dưới hình thức chứng

chỉ chứng khoán mà số tiền mua trái phiếu được chuyển vào tài khoản tráiphiếu đứng tên trái chủ Mua bán trái phiếu này được tiến hành bằng cáchchuyển nhượng tài khoản đó cho trái chủ khác, nếu mua bán toàn phần tráiphiếu Còn nếu mua bán từng phần, thì mở tài khoản trái phiếu mới Tráiphiếu này thường áp dụng với số tiền lớn, thời hạn dài, được giảm chi phíquản lý và lưu thông trái phiếu

+ Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu có thể chuyển đổi sang cổ

phiếu hoặc trái phiếu khác của cùng một doanh nghiệp phát hành nếu như nóđáp ứng được các điều kiện chuyển đổi ( trường hợp chuyển đổi, các yếu tố

chuyển đổi : giá chuyển đổi, tỷ lệ chuyển đổi, phí chuyển đổi)

+ Trái phiếu hoán đổi là loại trái phiếu chuyển đổi nhưng nó có thể

chuyển đổi sang cổ phiếu hoặc trái phiếu khác của một doanh nghiệp khác

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 19

Trái phiếu này được sử dụng trong trường hợp công ty mẹ sở hữu cổ phiếucủa công ty con nên họ có thể phát hành trái phiếu hoán đổi

+ Trái phiếu thu nhập là trái phiếu mà việc thanh toán trái tức cho trái

chủ phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, không quy định tíchluỹ trái tức Trái phiếu này thường được phát hành khi doanh nghiệp mớiphục hồi, giá bán của nó thường thấp hơn mệnh giá

+ Trái phiếu hoàn vốn là loại trái phiếu có thể bị doanh nghiệp hoàn

vốn cho trái chủ trước thời hạn Việc hoàn vốn này có thể xảy ra bất cứ lúcnào trong suốt thời hạn của trái phiếu và cũng có thể quy định là sau một thờihạn nào đó kể từ ngày phát hành

+ Trái phiếu chỉ số là loại trái phiếu sẽ căn cứ vào chỉ số giá sinh hoạt

hàng tháng hay nửa năm để điều chỉnh trái tức cho trái chủ và điều chỉnhmệnh giá khi hoàn vốn

+ Trái phiếu liên đới là loại trái phiếu được bảo lãnh không phải của một tổ chức mà của nhiều tổ chức bảo lãnh

Tóm lại trên TTCK cho dù có rất nhiều loại trái phiếu khác nhau nhưngthực tiễn cho thấy trái phiếu nhà nước có tỷ trọng lớn trong khối lượng tráiphiếu được mua bán trên TTCK Các doanh nghiệp Ýt phát hành trái phiếu

mà chủ yếu thường phát hành cổ phiếu trên TTCK để huy động vốn

1.2.2 Cổ phiếu

1.2.2.1 Cổ phiếu là gì ?

Cổ phiếu là loại hàng hoá cơ bản và chủ yếu được lưu thông trên các

TTCK Sự thăng trầm của TTCK gắn liền với sự biến động của loại hàng hoá

này Cổ phiếu được hiểu là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một

cổ đông đối với một doanh nghiệp cổ phần và được hưởng các quyền do điều

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 20

lệ doanh nghiệp cổ phần quy định Hay nói cách khác cổ phiếu là giấy chứng

nhận việc đầu tư vốn vào công ty cổ phần

Quá trình ra đời của cổ phiếu gắn liền với sự xuất hiện của công ty cổphần Công ty cổ phần là hạt nhân của TTCK, xuất hiện đầu tiên ở Londonvào năm 1553 Công ty cổ phần được thành lập theo lời khuyên của nhà thám

hiểm Sebastien Cabot nhằm khám phá con đường thông thương buôn bán về

phía Đông Bắc đến Trung Hoa Chỉ một trong 3 chiếc tàu của ông còn sống

sót sau chuyến hải trình và được đón tiếp trọng thể tại triều đình của Czar

Ivan the Terrible, vị Hoàng đế đam mê mậu dịch.

Công ty cổ phần là một loại hình công ty TNHH đặc biệt, được hìnhthành trên cơ sở vốn góp của những chủ thể tham gia ( cổ đông ) Vốn gópđược chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Chủ thể nắm giữ cổphần là các cổ đông, đồng sở hữu công ty, được chia cổ tức trên lợi nhuận củacông ty Cổ đông có thể nắm giữ Ýt hay nhiều cổ phần tuỳ khả năng Cổ đôngthực hiện quyền quản trị và kiểm soát công ty, giám sát hoạt động của công

ty, bầu cử và ứng cử vào HĐQT, ban kiểm soát, điều hành công ty Quyềncủa cổ đông được phân chia theo tỷ lệ góp vốn

Hình thức đầu tiên của cổ phiếu là loại cổ phiếu có ghi tên người sởhữu, được gọi là cổ phiếu ghi danh Hình thức này có nhược điểm là khimuốn chuyển nhượng cho người khác phải được hội đồng quản trị cho phép,điều đó đã làm trở ngại cho việc lưu thông cổ phiếu trên TTCK Từ thế kỷ 18

cổ phiếu vô danh ra đời và sang cuối thế kỷ 19 cổ phiếu vô danh gần nh hoàntoàn thay thế cho cổ phiếu ghi danh để làm hàng hoá cho TTCK

Cổ phiếu thường tồn tại dưới dạng một chứng thư có mệnh giá Mệnhgiá của cổ phiếu là số tiền ghi trên bề mặt của cổ phiếu Mệnh giá lớn hay nhá

do luật chứng khoán và điều lệ doanh nghiệp quy định và có thể thay đổitrong trường hợp phải chia nhỏ Mệnh giá thường được ghi bằng nội tệ Ýt khi

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 21

ghi bằng ngoại tệ Mệnh giá tối thiểu của cổ phiếu là 10.000 VNĐ ( Nghị định

số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về chứng khoán và thị trường chứngkhoán)

Thời hạn hiệu lực của cổ phiếu Ýt nhất bằng thời hạn hoạt động còn lạicủa doanh nghiệp ghi trong điều lệ và giấy phép thành lập doanh nghiệp Khihết thời hạn hoạt động cổ đông sẽ được hoàn vốn Tuy nhiên trong thực tếkhông doanh nghiệp nào muốn giải thể khi hết thời hạn hoạt động trừ khidoanh nghiệp bị phá sản Nếu hết thời gian hoạt động doanh nghiệp có thể dễdàng xin giấy phép mới Do vậy có thể coi thời gian hiệu lực của cổ phiếu là

vô hạn

Cổ đông là người tham gia góp vốn vào công ty theo tỷ lệ khác nhau,phần vốn góp được thể hiện bằng các tờ cổ phiếu Cổ phiếu được coi là loạitài sản đặc biệt bởi nó không chỉ đơn thuần gắn liền với lợi Ých kinh tế mà nócòn liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Vì vậy để đảmbảo an toàn luật chứng khoán thường quy định cổ đông không được cất giữ cổphiếu riêng mà phải ký gửi vào kho bạc, ngân hàng hay trung tâm lưu kýchứng khoán Cổ đông sau khi gửi cổ phiếu ở những địa điểm trên sẽ nhậnđược giấy chứng nhận cổ phiếu của các địa chỉ đó cấp phát, nó có giá trị lưuthông, mua bán như cổ phiếu nhưng có độ an toàn cao

Cổ phiếu có thể được phát hành lúc vận động thành lập công ty hoặclúc công ty cần gọi thêm vốn để mở rộng SXKD Cổ đông sẽ được hưởngquyền do điều lệ doanh nghiệp cổ phần quy định nh được nhận cổ tức tươngứng với tỷ lệ góp vốn Cổ tức phụ thuộc vào kết quả hoạt động của công ty và

có thể lấy hàng quý, hay năm và do đại hội cổ đông quyết định

1.2.2.2 Phân loại cổ phiếu

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 22

Cổ phiếu là loại hàng hoá được lưu thông trên TTCK Tuy nhiên khôngphải bất cứ loại cổ phiếu nào cũng có thể mua bán tự do trên thị trường Córất nhiều loại cổ phiếu khác nhau được phát hành :

1.2.2.2.1 Căn cứ vào tính chất thu nhập của cổ phiếu:

+ Cổ phiếu thường ( cổ phiếu phổ thông ) : Cổ phiếu thường là loại cổ

phiếu chiếm tỷ trọng lớn trong các doanh nghiệp cổ phần, nó chủ yếu được sửdụng làm hàng hoá lưu thông trên TTCK Cổ phiếu thường không quy định tỷsuất cổ tức mà cổ đông được hưởng mà tỷ suất cổ tức được xác định cuốicùng khi phân phối lợi nhuận của công ty Mức cổ tức cao hay thấp phụ thuộcvào kết quả hoạt động kinh doanh và chính sách phân phối cổ tức của doanhnghịệp phát hành Người sở hữu cổ phiếu thường có những quyền cơ bản :

Quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp theo tỷ lệ % cổphiếu nắm giữ Quyền bỏ phiếu trong các kỳ đại hội cổ đông

Quyền nhận cổ tức

Quyền ưu tiên mua trước

Quyền đối với tài sản còn lại

Quyền bình đẳng với quỹ dự trữ của doanh nghiệp

Quyền bán chuyển nhượng trao đổi cổ phiếu tù do trên thị trường Quyền kiểm tra sổ sách của công ty

Quyền hoàn vốn để nhận chứng khoán khác

+ Cổ phiếu ưu đãi ( cổ phiếu đặc quyền ) : Là loại cổ phiếu có tỷ suất

cổ tức được xác định trước khi phân phối cổ tức cho cổ phiếu thường Nóchiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với cổ phiếu thường và có đặc điểm :

Được hưởng cổ tức cố định hàng năm và mức cổ tức này hầu nhkhông phụ thuộc vào kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp, cổ tứcthường được ghi rõ trên cổ phiếu

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 23

Được ưu tiên chia tài sản còn lại của doanh nghiệp khi giải thể phá sản

trước cổ phiếu thường

Người giữ cổ phiếu ưu đãi không được quyền bỏ phiếu bầu hội đồngquản trị, ban kiểm soát công ty, đề cử ứng cử

Không được chuyển nhượng tự do trên thị trường

Doanh nghiệp chỉ phát hành phát hành một loại cổ phiếu thường nhưng

họ có thể phát hành phát hành nhiều loại cổ phiếu ưu đãi :

Cổ phiếu ưu đãi tích luỹ là loại cổ phiếu mà trong đó quy định cổ tức

năm trước không trả được có thể dồn tích luỹ toàn bộ hay từng phần vào nămsau Doanh nghiệp phải hoàn trả toàn bộ số cổ tức ưu đãi đó sau đó mới chiacho cổ tức cho cổ phiếu thường

Cổ phiếu ưu đãi không tích lũy là loại cổ phiếu mà doanh nghiệp có

lãi đến đâu trả đến đó, phần nợ cổ tức không được tích luỹ vào năm sau

Cổ phiếu ưu đãi dự chia phần là loại cổ phiếu mà doanh nghiệp cam

kết ngoài cổ tức được trả hàng năm, nếu doanh nghiệp có lãi chưa chia sẽ chophép cổ đông có cổ phiếu ưu đãi tham dù chia số tiền lãi chưa chia này

Cổ phiếu ưu đãi hoàn vốn là loại cổ phiếu mà doanh nghiệp dành cho

các cổ đông ưu đãi được quyền hoàn vốn trước cổ đông thường khi doanhnghiệp có chủ trương hoàn vốn

Cổ phiếu ưu đãi thu hồi là loại cổ phiếu mà doanh nghiệp có quyền

thu hồi cổ phiếu hoặc trả lại vốn cho cổ đông hoặc đổi loại cổ phiếu ưu đãikhác có mức cổ tức phù hợp với lãi suất chiết khấu trên thị trường

Cổ phiếu ưu đãi đảm bảo là loại cổ phiếu được một người khác đứng

ra cam kết bảo lãnh thanh toán nếu như doanh nghiệp phát hành không thanhtoán được Người bảo lãnh thường là các ngân hàng, công ty bảo lãnh, công tybảo hiểm tín dụng

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 24

Cổ phiếu hưởng thụ là loại cổ phiếu không vốn, ghi danh do doanh

nghiệp phát hành cho các cổ đông được hoàn vốn Cổ đông cũng được quyềnphân chia lợi nhuận của doanh nghiệp nếu nh doanh nghiệp vẫn còn lợinhuận giữ lại chưa chia Mặc dù đã được doanh nghiệp hoàn vốn nhưng ngườigiữ cổ phiếu hưởng thụ vẫn được hưởng những quyền nhất định đặc biệt làquyền bỏ phiếu biểu quyết

1.2.2.2.2 Căn cứ vào khả năng chuyển nhượng

+ Cổ phiếu ghi danh : Là loại cổ phiếu có ghi tên địa chỉ của cổ đông

trên bề mặt cổ phiếu Cổ phiếu này không được chuyển nhượng tự do Cổphiếu này thường được phát hành trong nội bộ doanh nghiệp cho các sáng lậpviên, người lao động trong doanh nghiệp

+ Cổ phiếu vô danh : Không ghi tên địa chỉ của cổ đông Cổ phiếu này

thường được phát hành rộng rãi ra cho công chúng đầu tư trên TTCK Nóđược chuyển nhượng mua bán tự do trên TTCK

1.2.3 Các chứng khoán phái sinh

Trên thị trường chứng khoán, bên cạnh việc giao dịch mua bán các loại

cổ phiếu, trái phiếu còn có giao dịch mua bán các chứng từ có giá khác cónguồn gốc chứng khoán Chứng khoán phái sinh là những chứng từ được pháthành trên cơ sở các chứng khoán cơ bản đã lưu hành như cổ phiếu, tráiphiếu, nhằm các mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuậnhoặc tạo lợi nhuận cho nhà đầu tư

1.2.3.1 Chứng quyền ( Warrants )

Chứng quyền hay còn gọi là quyền dự tính ưu tiên mua cổ phiếu mới.Chứng quyền thường được phát hành gắn liền với một loại chứng khoán khác,cho phép người sở hữu nó được quyền mua cổ phiếu thường theo một giáđịnh trước gọi là giá đặt mua trong một thời hạn nhất định, giá này cao hơn

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 25

giá thị trường hiện hành của cổ phiếu thường và thường có thời hạn tương đốidài có khi là vĩnh viễn.

Chứng quyền thường được phát hành cùng với các trái phiếu hoặc cổphiếu ưu đãi để giúp cho việc chào bán lần đầu những chứng khoán này trởnên hấp dẫn hơn Chứng quyền cũng có giá trị khi giá thị trường của cổ phiếutăng vượt giá đặt mua, ngược lại chứng quyền không có giá trị Chứng quyềncũng có thể tách rời trái phiếu, do đó nó có thể được mua bán trên thị trườngkhi thị giá cổ phiếu cao hơn giá đặt mua

Giá trị của chứng quyền được quyết định bởi 2 yếu tố cơ bản : giá trịnội tại và thời hạn của chứng quyền

Giá trị nội tại của chứng quyền chính là chênh lệch giữa giá đặt mua vàgiá thị trường của cổ phiếu Ví dụ : một chứng quyền cho phép mua 10 cổphiếu SAM giá 25.000VNĐ/cổ phiếu và thị giá của cổ phiếu hiện tại là30.000VNĐ Chứng quyền sẽ có giá trị nội tại là 50.000VNĐ ( 10 x5000VNĐ ) và sẽ được bán ở mức giá thấp nhất là 50.000VNĐ

Thời hạn của chứng quyền chính là thời hạn hiệu lực còn lại của chứngquyền Thời hạn của chứng quyền ảnh hưởng lớn đến giá của xhứng quyền

Ví nh đối với chứng quyền trên nếu thời hạn còn dài thì nó cũng đóng gópvào giá trị của chứng quyền

Để xác định giá trị chứng quyền ta phải chú ý đến các yếu tố như thờihạn hiệu lực còn lại của chứng quyền, mức chênh lệch giữa giá đặt mua và giáthị trường, sự xem xét của công chúng đầu tư với cổ phiếu này, việc trả cổtức, các mức lãi suất và các điều kiện thị trường Nói chung giá của chứngquyền sẽ có xu hướng tăng trong một thị trường lên giá và giảm trong một thịtrường xuống giá

1.2.3.2 Quyền mua cổ phần (Rights)

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 26

Quyền mua cổ phần là một chứng thư do doanh nghiệp phát hành chocác cổ đông, trong đó quy định quyền của cổ đông được mua một số lượng cổphiếu mới do doanh nghiệp phát hành theo một giá quy định trong thời hạnnhất định.

Quyền mua có đặc điểm là ngắn hạn ( thường là 2 tuần đến 20 ngàytrước khi cổ phiếu mới chính thức được phát hành) , giá đăng ký mua cổphiếu ghi rõ trong quyền mua thường bé hơn giá chào mời ra công chúng của

cổ phiếu Do đó quyền mua cũng có giá trị nội tại nếu đem bán cho ngườikhác, nên nó cũng có giá cả Tuy nhiên, bằng cách nào thì cổ đông cũng phảithực hiện theo thời hạn ghi trên quyền mua, nếu quá thời hạn thì quyền muakhông còn giá trị

Việc phát hành quyền mua nhằm bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông khidoanh nghiệp phát hành cổ phiếu mới : Bù đắp thiệt hại cho các cổ đông hiệnhành do ảnh hưởng của việc phát hành cổ phiếu mới và ưu tiên cho cổ đônghiện hành để đảm bảo quyền bỏ phiếu không thay đổi trong các đại hội cổđông

Mỗi cổ phần lưu hành được đi kèm với một quyền Số lượng quyềnmua cần thiết để mua một cổ phiếu mới sẽ được quy định tuỳ theo từng đợtphát hành Các công ty có thể xác định lượng quyền mua cần thiết để muamột cổ phiếu mới nh sau :

Số lượng quyền cần = Số lượng cổ phiếu cũ đang lưu hành

để mua 1 cổ phiếu mới Số lượng cổ phiếu mới

VD : Một công ty có 1.000.000 cổ phiếu đang lưu hành, nay muốn pháthành thêm 100.000 cổ phiếu mới để huy động vốn Khi đó tỷ lệ chuyển đổi là

cứ 10 cổ phiếu cũ thì được mua một cổ phiếu mới, hay có thể dùng 10 quyềnmua để mua một cổ phiếu mới

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 27

Nh vậy, trong thời hạn của quyền mua nếu cổ đông không muốn thựchiện quyền mua họ có thể bán chuyển nhượng quyền mua cho người khác trênthị trường để kiếm lời Giá của quyền mua có thể lên xuống trong thời gianchào bán do giá thị trường của cổ phiếu tăng hay giảm Quyền mua có thểđược mua bán trên TTCK với giá cả cụ thể

VD : Một công ty có 100.000 cổ phần, nay muốn phát hành thêm

10.000 cổ phiếu mới Khi đó tỷ lệ chuyển đổi là cứ 10 cổ phiếu cũ thì đượcmua một cổ phiếu mới, hay có thể dùng 10 quyền mua để mua một cổ phiếumới Giả sử giá mua cổ phiếu khi có quyền mua là 15.000đ/cp, thị giá cổphiếu là 20.000đ/cp thì giá quyền mua là (20.000-15.000)/10 =500đ

1.2.3.3 Hợp đồng quyền lựa chọn ( Options)

Hợp đồng quyền lựa chọn là hợp đồng cho phép người nắm giữa nóđược mua hoặc bán một khối lượng hàng hoá nhất định với một giá quy địnhtại thời gian xác định và hy vọng giá sẽ tăng lên thì thực hiện quyền mua hoặc

hy vọng giá sẽ giảm xuống thì thực hiện quyền bán Các hàng hoá cơ sở cóthể là cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số giá chứng khoán, đồng tiền hay các loạihàng hoá thông thường khác Trên TTCK hàng hoá cơ sở chủ yếu là cổ phiếu

và chỉ số giá chứng khoán

Mọi hợp đồng quyền lựa chọn đều bao gồm các yếu tố cơ bản : Loạiquyền, tên hàng hoá và khối lượng mua bán theo quyền, ngày hết hạn, giáthực hiện, phí hợp đồng Người sở hữu hợp đồng có thể thực hiện hợp đồng,

có thể bán hợp đồng cho người khác hoặc huỷ hợp đồng Nh vậy hợp đồngquyền lựa chọn có thể được mua bán trên TTCK với một mức giá xác định.Giá của hợp đồng quyền lựa phụ thuộc vào giá thị trường của hàng hoá cơ sở,giá thực hiện theo quyền lựa chọn và phí hợp đồng

Hợp đồng quyền lựa chọn bao gồm 2 loại :

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 28

 Hợp đồng quyền chọn mua là hợp đồng trong đó cho phép người

mua hợp đồng được quyền mua một số lượng chứng khoán nhất định theomột giá quy định, tại một thời hạn xác định trong tương lai Người mua hợpđồng phải trả cho người bán hợp đồng một khoản phí chọn mua gọi là tiềncược thuận hay giá trị quyền chọn mua Người mua hợp đồng mong muốn giáchứng khoán tăng lên để thực hiện quyền mua chứng khoán

Ví dô : Nhà đầu tư A ký hợp đồng quyền chọn mua 1.000 cổ phiếu

công ty SAM với giá 30.000VNĐ/cổ phiếu, đáo hạn tháng 8/2004 với phíchọn mua 1000VNĐ/cổ phiếu Nhà đầu tư dự đoán giá cổ phiếu SAM sẽ tănglên 40.000VNĐ trong thời gian tới

* Giả sử đến tháng 3/2004 giá tăng lên 40.000VNĐ/cổ phiếu, nhà đầu

tư có thể thực hiện hợp đồng :

+ Mua 1.000cp SAM với giá 30.000VNĐ/cổ phiếu hết 40.000.000VNĐ+ Trả phí chọn mua 1.000 cổ phiếu x 1000VNĐ = 1.000.000VNĐ+ Bán 1.000 cổ phiếu với giá tháng 3/2004 là 40.000VNĐ/cổ phiếu thuđược 40.000.000 VNĐ

+ Lãi 40.000.000VNĐ-30.000.000VNĐ-1.000.000VNĐ = 9.000.000đ+ Tỷ suất lợi nhuận ( 9.000.000 : 31.000.000 ) x 100% = 29%

* Bán hợp đồng

Do giá cổ phiếu SAM tăng nên phí bán hợp đồng quyền chọn mua vớigiá cổ phiếu 40.000VNĐ/cổ phiếu đã tăng lên là 10.000VNĐ Nhà đầu tư cóthể bán hợp đồng cho người khác khi đó

+ Lãi bán hợp đồng :(10.000-1000) x 1.000cổ phiếu = 9.000.000VNĐ

* Giả sử đến ngày hợp đồng đáo hạn, cổ phiếu SAM không tăng màgiảm xuống 25.000VNĐ/cổ phiếu Nhà đầu tư có thể lựa chọn giải pháp huỷhợp đồng khi đó chỉ lỗ có 1.000.000 VNĐ

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 29

 Hợp đồng quyền chọn bán là hợp đồng trong đó cho phép người mua

hợp đồng được quyền bán một số lượng chứng khoán nhất định theo một giáquy định, tại một thời hạn xác định trong tương lai Người mua hợp đồng phảitrả cho người bán hợp đồng một khoản phí chọn bán gọi là tiền cược nghịchhay giá trị quyền chọn bán Người mua hợp đồng mong muốn giá chứngkhoán giảm xuống để thực hiện quyền bán chứng khoán

Ví dô : Nhà đầu tư B ký hợp đồng quyền chọn bán 1.000 cổ phiếu công

ty REE với giá 15.000VNĐ/cổ phiếu, đáo hạn tháng 8/2004 với phí chọn bán1000VNĐ/cổ phiếu Nhà đầu tư dự đoán giá cổ phiếu REE sẽ giảm xuống10.000VNĐ trong thời gian tới

* Giả sử đến tháng 4/2004 đúng nh dự đoán của nhà đầu tư B giá cổphiếu REE giảm xuống 10.000VNĐ/cổ phiếu, nhà đầu tư có thể thực hiện hợpđồng :

+ Mua 1.000 cổ phiếu REE với giá tháng 4/2004 là 10.000VNĐ/cổphiếu hết 10.000.000VNĐ

+ Trả phí chọn bán 1.000 cổ phiếu x 1000VNĐ = 1.000.000VNĐ

+ Bán 1.000 cổ phiếu REE theo hợp đồng quyền chọn bán với giá15.000VNĐ/cổ phiếu thu được 15.000.000 VNĐ

+ Lãi 15.000.000VNĐ-10.000.000VNĐ-1.000.000VNĐ = 4.000.000đ+ Tỷ suất lợi nhuận ( 4.000.000 : 11.000.000 ) x 100% = 36,4%

* Bán hợp đồng

Do giá cổ phiếu REE giảm nên phí bán hợp đồng quyền chọn bán vớigiá cổ phiếu 15.000VNĐ/cổ phiếu đã tăng lên là 5000VNĐ Nhà đầu tư có thểbán hợp đồng cho người khác khi đó

+ Lãi bán hợp đồng :(5000-1000) x 1.000cổ phiếu = 4.000.000VNĐ

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 30

* Giả sử đến ngày hợp đồng đáo hạn, cổ phiếu REE không giảm màtăng lên 20.000VNĐ/cổ phiếu Nhà đầu tư có thể lựa chọn giải pháp huỷ hợpđồng khi đó chỉ lỗ có 1.000.000 VNĐ.

Do tính chất của hợp đồng quyền lựa chọn nên người ta có thể sử dụnghơp đồng này nh một công cụ tự bảo hiểm để chống lại rủi ro chứng khoán

Giá của hợp đồng quyền lựa chọn thường bao gồm 2 yếu tố :

+ Giá trị nội tại của một hợp đồng quyền chọn là giá trị mà người nắmgiữ quyền lựa chọn sẽ nhận được bằng cách thực hiện quyền ngay lập tức(chênh lệch giữa giá thị trường với giá thực hiện hợp đồng) Do người muahợp đồng không bắt buộc phải thực hiện quyền và trong thực tế họ sẽ khônglàm điều đó nếu nh không thu được hiệu quả kinh tế nào từ việc thực hiệnquyền, nên giá trị nội tại của một quyền thấp nhất bằng 0 Một hợp đồngquyền chọn mua có giá trị nội tại khi giá thị trường lớn hơn giá thực hiện hợpđồng Đối với hợp đồng quyền chọn bán thì ngược lại, nó chỉ có giá trị nội tạikhi giá thị trường thấp hơn giá thực hiện hợp đồng

+ Giá trị thời gian là giá trị chênh lệch giữa giá của một quyền chọn sovới giá trị nội tại của nó

Nh vậy nếu hợp đồng quyền lựa chọn nào vừa có giá trị nội tại và cógiá trị thời gian điều đó chứng tỏ giá cổ phiếu vẫn còn tiếp tục tăng ( đối vớihợp đồng quyền chọn mua ) hoặc tiếp tục giảm ( đối với đồng quyền chọnbán) Nếu hợp đồng chỉ có giá trị nội tại, không có giá trị thời gian thì chứng

tỏ giá cổ phiếu đã tăng đến mức cao nhất và sắp xuống ( quyền chọn mua)hay giảm thấp nhất và sắp tăng ( quyền chọn bán )

1.2.3.4 Hợp đồng tương lai ( Future contracts)

Hợp đồng tương lai là hợp đồng mà người bán cam kết bán chứngkhoán và người mua sẽ trả tiền khi nhận được chứng khoán đó với một giáxác định, tại một thời điểm xác định trong tương lai được xác định trước ở

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 31

hiện tại khi ký kết hợp đồng Hai bên phải ký quỹ lúc ký hợp đồng để hợpđồng được tôn trọng.

Chức năng kinh tế cơ bản của hợp đồng tương lai là cung cấp một cơhội cho những người tham gia thị trường để phòng ngừa rủi ro về những biếnđộng giá bất lợi Hợp đồng tương lai là những sản phẩm do các Sở giao dịchtạo ra Trước năm 1972 chỉ có các hợp đồng tương lai liên quan đến các nôngsản truyền thống nh ngũ cốc, gia súc, thực phẩm nhập khẩu ( cà phê, ca cao,đường ) hay hàng công nghiệp được giao dịch gọi chung là hợp đồng tươnglai hàng hoá Các hợp đồng tương lai tài chính bao gồm : hợp đồng tương laichứng khoán, chỉ số chứng khoán, lãi suất, tiền tệ

Hợp đồng tương lai là sự thoả thuận pháp lý chắc chắn giữa người muahay người bán với một sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm thanh toáncủa sở giao dịch Tại đó người mua (bán) đồng ý sẽ nhận (giao) một loạichứng khoán nào đó tại một mức giá cụ thể vào lúc kết thúc của một thời kỳđược xác định Mức giá theo đó các bên thoả thuận giao dịch trong tương laigọi là giá hợp đồng tương lai Thời hạn được Ên định theo đó các bên phảitiến hành giao dịch đựoc gọi là thời hạn thanh toán hay thời hạn giao nhận

Ví dụ : Nhà đầu tư A ký một hợp đồng tương lai mua 1000 cổ phiếu X,thời hạn thanh toán sau 6 tháng với giá 20.000VNĐ/cổ phiếu Tới thời thanhtoán, A nhận 1000 cổ phiếu X và trả 20.000.000VNĐ

Các hợp đồng tương lai có thể thực hiện hợp đồng thông qua giao hànghoặc bù đắp Các hợp đồng tương lai Ýt được thực hiện bằng việc giao hàng

mà chủ yếu thực hiện bằng việc bù đắp hay thoát khỏi một vị thế Một bêncủa hợp đồng tương lai có 2 sự lựa chọn đối với việc giải toả một vị thế

Thứ nhất vị thế có thể được thanh lý trước hạn thanh toán Để làm điềunày bên tham gia phải mở một vị thế triệt tiêu trong cùng hợp đồng Đối với

người mua hợp đồng tương lai phải bán một hợp đồng có cùng số lượng, cùng

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 32

tháng giao hàng ; còn đối với người bán phải mua một hồng đồng tương laitương tự Chênh lệch giữa giá của hai giao dịch thể hiện khoản lợi nhuận hoặc

lỗ của nhà đầu tư

Một cách khác là chờ cho tới hạn thanh toán Tại thời điểm này bênmua một hợp đồng tương lai sẽ nhận chứng khoán với giá đã thoả thuận ; bênbán hợp đồng tương lai sẽ thanh lý vị thế bằng việc giao chứng khoán theo giáthoả thuận Đối với một số hợp đồng tương lai việc thanh toán chỉ thực hiệnbằng tiền mặt và được gọi là các hợp đồng thanh toán bằng tiền mặt

về giá chứng khoán Như vậy người bán khống sẽ vay chứng khoán của cácnhà đầu trong một khoảng thời gian nhất định Đến hạn họ sẽ trả lại chứngkhoán cho người đầu tư và khoản lãi để người cho vay có lợi

Bán khống là hành vi đầu cơ chờ giá giảm Người bán khống vaychứng khoán để giao dịch ở hiện tại và mong đợi trong tương lai giá chứngkhoán sẽ giảm xuống để kiếm lời qua sự chênh lệch giá chứng khoán Khi giágiảm họ có thể mua chứng khoán vào để trả nợ hay nhượng lại hợp đồng bánkhống cho người khác Qua đó hợp đồng bán khống cũng trở thành hàng hoáđược lưu thông trên TTCK

Ví dụ : Nhà đầu tư không có cổ phiếu HAP, nhưng anh ta thấy rằngtrong tương lai giá HAP sẽ giảm Anh ta vay 1000 cổ phiếu HAP, bán với giá30.000VNĐ/cổ phiếu Giả sử sau đó giá cổ phiếu HAP giảm xuống còn

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 33

25.000VNĐ/cổ phiếu, anh ta sẽ mua vào cổ phiếu HAP để trả nợ và sẽ lãi5000VNĐ/cổ phiếu Nếu giá HAP tiếp tục giảm và vẫn chưa đến hạn trả cổphiếu HAP, anh ta có thể nhượng lại hợp đồng bán khống cho người khác

Tuy nhiên rủi ro đối với người bán khống là giá tăng Đặc biệt khi đếnhạn phải trả chứng khoán mà giá chứng khoán tăng lên, người bán khống phảimua chứng khoán để trả nợ với bất kỳ giá nào Đó chính là cơ hội để đẩy giáchứng khoán lên cao

Bán khống là hành vi đầu cơ nên nó rất có hại cho TTCK, đặc biệt cácTTCK mới nổi Chính vì vậy ở Việt Nam, bán khống là hành vi bị cấm.Thực tiễn cho thấy, bán khống đã gây ra những thiệt hại không nhỏ ở cácTTCK trong khu vực :

Bán khống đã làm bay 30 tỷ USD trong quỹ dự trữ ngoại hối của TháiLan buộc Ngân hàng Trung ương Thái lan phải thả nổi đồng Baht : từ25,5Baht/USD đến 54Baht/USD (1997)

“ Trận chiến ” bán khống ở Hông Kông ( 29/8/1998 ), doanh số bán

khống lên tới 79 tỷ HKD Chính quyền Hông Kông đã phải bỏ ra 70 tỷ HKD(khoảng 10 tỷ USD ) trong sè 750,3 tỷ HKD dự trữ ngoại hối để mua chứngkhoán và giữ cho chỉ số giá Hangseng không tụt giảm

1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN HÀNG HOÁ CHO TTCK CỦA MỘT

SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Nền kinh tế nước ta phát triển sau có thuận lợi rất lớn đó chính là kinhnghiệm của các quốc gia đi trước trong việc phát triển kinh tế thị trường Việcphát triển TTCK cũng vậy, chúng ta cần phải nắm bắt và rót ra được nhữngkinh nghiệm của những quốc gia trong khu vực cũng nh trên thế giới, đặcbiệt là các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi nh Nga, các nước Đông Âu,Trung quốc Tuy nhiên việc phát triển thị trường không được dập khuôn,máy móc mà chúng ta phải biết ứng dụng hài hoà gắn liền với điều kiện thực

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 34

tiễn của Việt Nam Có nh vậy những giải pháp đưa ra mới có thể đem lạihiệu quả cho sự nghiệp phát triển TTCK ở Việt Nam

Muốn phát triển TTCK, đa số các quốc gia trên thế giới đều phải cóchiến lược phát triển hàng hoá cho TTCK Để tăng khả năng cung cấp chứngkhoán cho thị trường chứng khoán hầu hết các nước trên thế giới đều thựchiện hai giải pháp chính :

+ Một là khuyến khích các công ty đủ điều kiện phát hành chứng khoán

ra công chúng và đăng ký niêm yết chứng khoán để giao dịch trên thị trườngchứng khoán tập trung

+ Hai là thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và đăng ký cổ

phiếu đó trên thị trường chứng khoán tập trung

Hầu hết các TTCK trong khu vực, số lượng các công ty cổ phần niêmyết trên TTCK tập trung ( SGDCK) vào khoảng từ 150 đến 500 công ty Hơnnữa, ở các nước này các công ty cổ phần có đủ tiêu chuẩn niêm yết nhưngchưa tham gia thị trường còn khá lớn Đó chính là cơ hội để có thể phát triểnhàng hoá cho TTCK

Đa số các nước khi muốn phát triển hàng hoá cho thị trường đềukhuyến khích công ty cổ phần đủ tiêu chuẩn đăng ký niêm yết Ở Hàn Quốc,Đài Loan và Thái Lan đã thực hiện nhiều ưu đãi về thuế nh giảm thuế đối vớicác công ty có cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung ỞHàn Quốc còn ưu đãi cả việc vay vốn ngân hàng Một số nước khác cho phépcác loại chứng khoán chưa đăng ký vẫn được giao dịch trên Sở giao dịch, gọi

là chứng khoán được giao dịch Tại Pháp từ 1/1/1987, nhà nước tuyên bốmiễn thuế cho việc phát hành các loại trái phiếu mới

Bên cạnh đó, tất các các nước trong khu vực cũng nh trên thế giới gầnđây đã thực hiện rộng rãi việc tư nhân hoá toàn bộ hay từng phần các doanh

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 35

nghiệp nhà nước Các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá đã đăng kýniêm yết đã làm tăng một lượng chứng khoán đáng kể trên thị trường

Tại các nước Đông Âu, để thực hiện chương trình tư nhân hóa, họ đãthiết lập ngay thị trường chứng khoán Các Sở giao dịch chứng khoán rất chútrọng phát triển thị trường phát hành Thông qua thị trường chứng khoán, nhànước thực hiện phát hành cổ phiếu cổ phần hoá và chính việc phát hành cổphiếu cổ phần hoá sẽ làm cho thị trường chứng khoán phong phú sôi độnghơn

Tại Pháp, kết quả của quá trình tư nhân hoá 65 tập đoàn nhà nước đãtạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển Chỉ tính riêng từ tháng12/1986 đến tháng 7/1987 số lượng cổ đông ở Pháp đã tăng từ 1,5 triệu lênđến 6 triệu Tổng số vốn thu được do tư nhân hoá đến cuối năm 1987 là 100

tỷ Frăng Phát hành chứng khoán từ 1981 đến 1987 tăng 3,5 lần và đạt452,3tỷ Frăng

Tại Trung Quốc, từ tháng 10/1987 chương trình cổ phần hoá các doanhnghiệp nhà nước đã thực sự làm thị trường chứng khoán thay da đổi thịt Cácloại chứng khoán được đa dạng và phong phú hơn từ đó xuất hiện nhu cầumua bán chứng khoán dẫn đến sự ra đời của thị trường OTC Có 4 loại cổphiếu được phát hành : Cổ phiếu loại A ( bằng Nhân dân tệ bán cho người bản

xứ ), cổ phiếu loại B ( bằng ngoại tệ bán cho người nước ngoài ), cổ phiếu H (niêm yết trên TTCK Hồng Kông ) và cổ phiếu N ( niêm yết trên NYSE ).Chính phủ Trung Quốc rất quan tâm khai thác các nguồn đầu tư nước ngoài

Cụ thể là cuối 1991 đã có 10 công ty phát hành cổ phiếu loại B đến 1994 đã

có 50 công ty phát hành trái phiếu này với khối lượng vốn chu chuyển trongnhững năm qua ước tính trên 2000 tỷ USD Ngoài ra Trung Quốc còn thựchiện chương trình “ Phá bỏ để xây mới ”, cho phép các doanh nghiệp quốcdoanh thua lỗ phá sản, cổ phần hoá, sát nhập với các doanh nghiệp làm ăn có

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 36

lãi qua, cùng một số cải cách khác qua đó hiệu quả kinh doanh đã được cảithiện

Tại Hàn Quốc, chương trình tư nhân hoá được chính phủ thực hiện từnăm 1987 và được thực hiện cho đến nay Kết quả là chỉ tính riêng 2 công tysản xuất thép và điện lực đã thu hút được 2,5 triệu người đầu tư Tháng8/1989 Malaysia cũng đã thông qua chương trình tư nhân hoá 246 xí nghiệp.Indonesia đưa ra chương trình tư nhân hoá 50 xí nghiệp từ tháng 6/1989 TháiLan gần đây đã chủ trương tư nhân hoá một số ngân hàng thương mại quốcdoanh và đăng ký niêm yết các cổ phiếu của các ngân hàng này trên sở giaodịch chứng khoán

Hiện nay, đa số các quốc gia trong khu vực khuyến khích các doanhnghiệp mới niêm yết và chào bán cổ phiếu lần đầu (IPO) và thực tế cho thấy

cổ phiếu lần đầu rất ăn khách Từ Nhật Bản đến các quốc gia trong khu vựcChâu Á - Thái Bình Dương đều có lượng IPO khá cao Tại Trung Quốc chủtrương đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá sẽ là yếu tố quyết định tới mức độphát hành IPO Trung Quốc đang đứng đầu thế giới về lượng phát hành IPOvới tổng giá trị đạt 2,1 tỷ USD và 33 loại IPO Nhiều doanh nghiệp TrungQuốc trong đó có Công ty Bảo hiểm nhân dân Trung Quốc, Công ty Bảo hiểmnhân thọ Trung Quốc, Công ty Bảo hiểm Ping An vừa hoàn tất kế hoạchphát ra thị trường lượng IPO với tổng trị giá khoảng 5,6 tỷ USD TrongASEAN, Indonesia dự kiến tăng tổng giá trị IPO lên 329 triệu USD,Singapore đạt 566,4 triệu USD với 21 loại IPO ( 6 tháng đầu năm 2003) đứngthứ 8 thế giới Một nguyên nhân dẫn đến thành công ở Singapore chính là khixem xét các đăng ký niêm yết, cơ quan ngoại hối và chứng khoán chú trọngđến tính liêm chính trong quản lý và sự kiểm soát của các cổ đông hơn là kích

cỡ của công ty Cơ quan tiền tệ Singapore có thể đáp ứng hay đình chỉ thủ

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 37

tục đối với người phát hành cổ phiếu nếu cho rằng có những thông tin sai lệchtrong các tài liệu liên quan.

Để phát triển hàng hoá cho TTCK, các quốc gia trong khu vực khôngchỉ tác động đến cung, mà họ tác động cả đến cầu chứng khoán Nếu chỉ dừnglại ở việc khuyến khích phát hành, chứng khoán được phát hành nhưng khôngbán được còn gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn Chính vì vậy khi phát triểnhàng hoá cho TTCK, các quốc gia đều phải đưa ra các giải pháp để tăng nhucầu đầu tư chứng khoán, đặc biệt với nhà đầu tư nước ngoài, dần nới lỏng sựkiểm soát của nhà nước Tại Hông Kông, Singapore tất cả mọi người nướcngoài đều có quyền mua chứng khoán trên thị trường, không hạn chế sốlượng, trừ một số ngoại lệ Hàn Quốc bắt đầu từ 1992 còng cho nhà đầu tưnước ngoài trực tiếp mua chứng khoán nhưng có giới hạn Đài Loan, TháiLan và các nước ASEAN khác đều cho phép người nước ngoài trực tiếp muachứng khoán trên thị trường với giới hạn nhất định : Thái Lan 49%,Indonesia 40%, Malaysia 30%

Thành lập các quỹ đầu tư, công ty đầu tư chứng khoán để tăng cầu đầu

tư chứng khoán, nâng cao hiệu quả của đầu tư Để khuyến khích sự ra đời củacác tổ chức này, ở nhiều nh nước Pháp, Nhật họ đã áp dụng nguyên tắckhông đánh thuế vào các quỹ đầu tư Họ coi quỹ đầu tư là phương tiện công

cụ đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân hay tổ chức chứ không phải là một phápnhân kinh doanh Ngay cả trong trường hợp quỹ là một pháp nhân, một sốnước cũng áp dụng chế độ miễn trừ nhất định để quỹ này được hưởng ưu đãithuế hoàn toàn Qua đó khuyến khích được người đầu tư cá nhân đầu tư quaquỹ

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 38

Để phát triển hàng hoá cho TTCK, thì việc thành lập các công ty chứngkhoán cũng hết sức cần thiết Các công ty môi giới chứng khoán với vai trò làngười tư vấn phát hành và bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư và môi giớichứng khoán, là trợ thủ đắc lực không thể thiếu của đơn vị phát hành và nhàđầu tư chứng khoán Để tăng cường năng lực hoạt động cho các công tychứng khoán một số nước trong khu vực cũng đã cho phép các Ngân hàng vàcác công ty tài chính tham gia vào kinh doanh chứng khoán thông(qua cáccông ty con mà họ nắm 100% vốn Hầu hết các nước và lãnh thổ đều khuyếnkhích sự thâm nhập của các công ty nước ngoài : Hông Kông những năm gầnđây đã sửa đổi quy chế tăng mức góp vốn vào công ty chứng khoán của ngườinước ngoài Hàn Quốc đã cho phép các văn phòng đại diện của các công tychứng khoán nước ngoài nâng lên thành chi nhánh Đài Loan, Singapore đãcho phép một số công ty nước ngoài mở chi nhánh và trở thành thành viêngiao dịch của TTCK Malaysia, Thái Lan, Indonesia khuyến khích cácnhà buôn chứng khoán nước ngoài thiết lập các công ty chứng khoán liêndoanh

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HÀNG HOÁ TRÊN TTCK VIỆT NAM

2.1 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH

VÀ LƯU THÔNG CHỨNG KHOÁN TRÊN TTCK VIỆT Nam

2.1.1 Những đặc trưng cơ bản của hoạt động phát hành chứng khoán

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 39

Phát hành chứng khoán vào lưu thông là giai đoạn khó khăn và phứctạp nhất Nếu tính toán không chính xác, không đúng các điều kiện phát hành

có thể bị thất bại vì không tiêu thụ được chứng khoán, gây tổn thất tài sản vàlàm mất uy tín của tổ chức phát hành Đây là giai đoạn quan trọng nhất choviệc xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán

Mặt khác để bảo vệ quyền lợi cho người mua chứng khoán không bịlừa đảo mất tài sản, cơ quan quản lý nhà nước về phát hành và kinh doanhchứng khoán phải có những quy định chặt chẽ và kiểm soát nghiêm ngặt việcphát hành bất kỳ loại chứng khoán mới nào Xử lý nghiêm khắc mọi hànhđộng phạm pháp nhằm ngăn ngừa những hành vi gian lận của bất kỳ tổ chứcphát hành chứng khoán nào Đó là cơ sở cho việc phát triển thị trường chứngkhoán trong tương lai

Việc phát hành chứng khoán thường được thực hiện qua thị trường sơcấp ( thị trường phát hành) Thông qua hoạt động phát hành sẽ góp phần huyđộng vốn cho nền kinh tế bằng việc tạo ra nhiều cơ hội đầu tư cho nhữngngười có tiền nhàn rỗi Đối với chính phủ việc phát hành chứng khoán giúpgiải quyết đựoc các vấn đề : thiếu hụt ngân sách, có thêm vốn để thực hiệncác dự án xây dựng cơ sơ hạ tầng mà không phải phát hành thêm tiền tạo rasức Ðp về lạm phát Đối với doanh nghiệp, việc phát hành chứng khoán tạođiều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận với một kênh huy động vốn linh hoạt,

có hiệu quả cao Nếu thiếu vốn doanh nghiệp có thể phát hành chứng khoán

để huy động vốn Đặc biệt đây là nguồn vốn trung và dài hạn ổn định nêndoanh nghiệp không phải quá lo lắng về thời gian hoàn trả nh vay vốn ngânhàng Ngược lại, nếu doanh nghiệp dư thừa vốn nhưng chưa có nhu cầu sảnxuất kinh doanh, các doanh nghiệp có thể đầu tư chứng khoán kiếm lợi

2.1.1.1 Chủ thể phát hành chứng khoán

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Trang 40

Chính phủ : Chính phủ từ trung ương đến địa phương là một trong

những chủ thể phát hành chứng khoán nhiều nhất của thị trường Chính phủphát hành chứng khoán nhằm bù đắp thiếu hụt của ngân sách, bổ sung vốn tàitrợ cho việc đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật thực hiện công cuộc côngnghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

Doanh nghiệp : Trong nền kinh tế thị trường, có rất nhiều hình thức tổ

chức kinh doanh khác nhau Tại Việt Nam doanh nghiệp nhà nước, công tyTNHH và công ty cổ phần được phép phát hành chứng khoán để huy độngvốn Còn các loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp tư nhân, hợp tác

xã không được phép phát hành chứng khoán Doanh nghiệp nhà nước và công

ty TNHH chỉ được phép phát hành trái phiếu còn các công ty cổ phần đượcphát hành cả cổ phiếu lẫn trái phiếu để huy động vốn

Quỹ đầu tư chứng khoán : Quỹ đầu tư được coi là một phương tiện

đầu tư tập thể, là một tập hợp tiền của các nhà đầu tư và được uỷ thác cho cácnhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp tiến hành đầu tư để mang lại lợi nhuận caonhất cho những người góp vốn Quỹ đầu tư giúp các nhà đầu tư nhỏ, cá thểphân tán rủi ro và giảm chi phí đầu tư Nếu quỹ đầu tư dạng công ty, quỹ sẽphát hành cổ phần để huy động vốn Nếu các quỹ dưới dạng hợp đồng, quỹ sẽphát hành các chứng chỉ quỹ đầu tư xác nhận số đơn vị tương đương với sốvốn người đầu tư góp vào quỹ

2.1.1.2 Các phương thức phát hành

2.1.1.2.1 Phát hành riêng lẻ

Phát hành riêng lẻ là việc phát hành trong đó chứng khoán được bántrong phạm vi một số người nhất định, với những điều kiện hạn chế và khôngtiến hành một cách rộng rãi ra công chúng Việc phát hành này thường đượcđiều chỉnh bởi Luật công ty và chứng khoán được phát hành không phải là đốitượng được niêm yết mua bán trên thị trường chứng khoán tập trung

Luận văn thạc sĩ Kinh tế

Ngày đăng: 13/12/2023, 14:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 : Quy trình giao dịch tổng quát - Luận văn thạc sĩgiải pháp nhằm phát triển hàng hoá cho thị trường chứng khoán việt nam
Hình 2.1 Quy trình giao dịch tổng quát (Trang 52)
Bảng 2.1 : Tình hình niêm yết Chứng khoán đến hết 31/12/2003 - Luận văn thạc sĩgiải pháp nhằm phát triển hàng hoá cho thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.1 Tình hình niêm yết Chứng khoán đến hết 31/12/2003 (Trang 53)
Bảng 2.2: Kết quả tổng hợp phát hành trái phiếu Kho bạc và - Luận văn thạc sĩgiải pháp nhằm phát triển hàng hoá cho thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.2 Kết quả tổng hợp phát hành trái phiếu Kho bạc và (Trang 55)
Bảng 2.5 : Kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết - Luận văn thạc sĩgiải pháp nhằm phát triển hàng hoá cho thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.5 Kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết (Trang 66)
Bảng 2.7 : Giao dịch khớp lệnh và giao dịch thoả thuận - Luận văn thạc sĩgiải pháp nhằm phát triển hàng hoá cho thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.7 Giao dịch khớp lệnh và giao dịch thoả thuận (Trang 68)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w