1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết yêu cầu bồi thường tại tòa án theo luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

87 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Quyết Yêu Cầu Bồi Thường Tại Tòa Án Theo Luật Trách Nhiệm Bồi Thường Của Nhà Nước
Tác giả Nguyễn Đăng Huy
Người hướng dẫn TS. Đặng Vũ Huân
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật dân sự và tố tụng dân sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 797,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu Luật này cho thấy, so với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi, bổ sung toàn diện các quy định về phạm vi TNBTCNN, thiệt hại được bồi thường, cơ quan giải q

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN ĐĂNG HUY

GIẢI QUYẾT YÊU CẦU BỒI THƯỜNG

TẠI TÒA ÁN THEO LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN ĐĂNG HUY

GIẢI QUYẾT YÊU CẦU BỒI THƯỜNG

TẠI TÒA ÁN THEO LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 7

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT YÊU CẦU 7

BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TẠI TÒA ÁN 7

1.1.Khái quát về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 7

1.1.1 K ái niệm trác n iệm bồi t ng của N à n ớc 7

1.1.2 Đặc điểm trác n iệm bồi t ng của N à n ớc 12

1.1.3 Cơ quan thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 18

1.2 Pháp luật về giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa án theo thủ tục tố tụng 26

1.2.1 K ái niệm giải quyết yêu c u bồi t ng n à n ớc tại Tòa án t eo t ủ tục tố tụng 27

1.2.2 Đặc điểm của giải quyết yêu c u bồi t ng n à n ớc tại Tòa án t eo t ủ tục tố tụng 29

Chương 2 35

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT YÊU CẦU BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TẠI TÒA ÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 35

2.1 Thực trạng pháp luật về giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa án theo thủ tục tố tụng ở Việt Nam 35

2.1.1 P áp luật về giải quyết yêu c u bồi t ng n à n ớc tại Tòa án t eo t ủ tục tố tụng t eo Luật Trác n iệm bồi t ng của N à n ớc năm 2009 36

2.1.2 P áp luật về giải quyết yêu c u bồi t ng n à n ớc tại Tòa án t eo t ủ tục tố tụngt eo quy địn của Luật Trác n iệm bồi t ng của N à n ớc năm 2017 40

2.2 Thực tiễn giải quyết bồi thường nhà nước tại Tòa án theo thủ tục tố

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 4

tụng tại Việt Nam 44

2.2.1 Kết quả giải quyết bồi t ng n à n ớc tại Tòa án t eo t ủ tục tố

tụng 44

2.2.2 Hạn chế, bất cập và nguyên nhân trong thực tiễn giải quyết yêu cầu

bồi thường nhà nước tại Tòa án theo thủ tục tố tụng 53 Chương 3 61 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT

YÊU CẦU BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TẠI TÒA ÁN Ở VIỆT

NAM 61 3.1 Định hướng nâng cao hiệu quả giải quyết yêu cầu bồi thường Nhà

nước tại Tòa án theo thủ tục tố tụng 61

3.1.1 Bảo đảm sự lãn đạo c ỉ đạo của Đảng đối với oạt động giải

quyết yêu c u bồi t ng n à n ớc tại Tòa án t eo t ủ tục tố tụng 61 3.1.2 P ân biệt rõ ràng và tác bạc giữa n óm các giải p áp về t ể c ế

và n óm các giải p áp về tổ c ức t ực iện 62

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết yêu cầu bồi thường nhà

nước tại Tòa án theo thủ tục tố tụng ở Việt Nam 62

3.2.1 Nâng cao iệu quả giải quyết bồi t ng n à n ớc bằng t ủ tục tố

tụng 62 3.2.1 Tiếp tục oàn t iện p áp luật về trác n iệm bồi t ng của n à

n ớc 64 3.2.2 T ống n ất n ận t ức trong toàn ngàn Tòa án về oạt động giải

quyết bồi t ng n à n ớc t eo t ủ tục tố tụng tại Tòa án 67 3.2.3 Tăng c ng công tác tuyên truyền p ổ biến p áp luật trác n iệm

bồi t ng của N à n ớc đến mọi đối t ợng qu n c úng n ân dân 68 3.2.4 Kiện toàn tổ c ức và biên c ế t ực iện công tác bồi t ng n à

n ớc trong ngàn Tòa án 69 3.2.5 Tăng c ng công tác tập uấn bồi d ỡng kỹ năng ng iệp vụ công

tác bồi t ng n à n ớc c o đội ngũ t ẩm p án 70

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 5

KẾT LUẬN 71 PHỤ LỤC 1: BẢNG RÀ SOÁT CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP

LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ

NƯỚC 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân nói chung và bảo đảm quyền được Nhà nước bồi thường thiệt hại do người thi hành công

vụ gây ra nói riêng là một trong những mục tiêu cơ bản và quan trọng trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân cũng như trong quá trình đất nước ta hội nhập quốc tế

Ngày 18/6/2009, tại kỳ họp thứ V Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[38] (Luật TNBTCNN năm 2009), Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 Có thể nói, đây là lần đầu tiên

“trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được quy định một cách đầy đủ và toàn diện ở tầm văn bản luật” [62], tr.20] Trong đó, đã thể chế hóa đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng về bảo đảm quyền con người, quyền công dân nói chung, quyền được Nhà nước bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra nói riêng

Sau hơn 06 năm thi hành, Luật TNBTCNN năm 2009 đã thực sự trở thành công cụ pháp lý quan trọng để tổ chức, cá nhân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng cũng như chất lượng hoạt động của bộ máy

nhà nước nói chung Kết quả thi hành Luật TNBTCNN cho thấy: “từ ngày 01/01/2010 đến ngày 31/12/2015 các cơ quan có trác n iệm bồi t ng đã

t ụ lý giải quyết 258 vụ việc yêu c u bồi t ng trong đó đã giải quyết xong

204 vụ việc (đạt tỷ lệ 79%) với tổng số tiền N à n ớc p ải bồi t ng là 111

tỷ 149 triệu 416 ng ìn đồng”[53], tr.1] Thực tiễn thi hành cũng cho thấy,

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 7

2

Luật đã đi vào cuộc sống và cơ bản đã đạt được các mục tiêu đề ra, hoàn thành được vai trò, sứ mệnh của mình trong giai đoạn vừa qua

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Luật TNBTCNN năm 2009 cũng

đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập và những hạn chế, bất cập này đã không chỉ tác động đáng kể đến quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại

mà còn tác động cả đến hoạt động giải quyết bồi thường của cơ quan giải quyết bồi thường nói chung cũng như của Tòa án các cấp nói riêng

Từ thực tiễn đó, ngày 20/6/2017, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV

đã thông qua Luật TNBTCNN năm 2017, Luật này có hiệu lực từ ngày 01/7/2018 Nghiên cứu Luật này cho thấy, so với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi, bổ sung toàn diện các quy định về phạm vi TNBTCNN, thiệt hại được bồi thường, cơ quan giải quyết bồi thường, trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường, trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại… Đặc biệt, các quy định liên quan đến việc giải quyết bồi thường tại Tòa án theo thủ tục tố tụng đã được sửa đổi toàn diện, triệt để

Mặc dù Luật TNBTCNN năm 2017 đã có những sửa đổi, bổ sung để giải quyết những yêu cầu, bất cập phát sinh trong thực tiễn về giải quyết bồi thường tại Tòa án theo thủ tục tố tụng Tuy nhiên, qua theo dõi, nghiên cứu các quy định của pháp luật TNBTCNN và pháp luật có liên quan cũng như thực hiện gần 01 năm thi hành Luật vừa qua, nhiều vấn đề hạn chế, bất cập mới về giải quyết bồi thường tại Tòa án theo thủ tục tố tụng đã phát sinh, đòi hỏi cần tiếp tục làm rõ để bảo đảm thi hành có hiệu quả chế định TNBTCNN

trên thực tiễn Với những lý do đó, học viên lựa chọn đề tài “Giải quyết yêu cầu bồi thường tại Tòa án theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước” làm Luận văn Thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 8

3

Vấn đề TNBTCNN nói chung và giải quyết bồi thường tại Tòa án theo thủ tục tố tụng nói riêng đã được một số tác giả nghiên cứu và đề xuất hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự cũng như pháp luật về TNBTCNN, có thể kể đến như:

- Luận văn Thạc sĩ luật học “Hoàn t iện c ế địn k ởi kiện và t ụ lý án dân sự trong p áp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thu

Hiền, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012[17];

- Luận văn Thạc sĩ luật học “Hoàn t iện c ế địn òa giải trong p áp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thúy, Khoa Luật - Đại

học Quốc gia Hà Nội, năm 2014[61];

- Đề tài nghiên cứu cấp bộ năm 2012 của Cục Bồi thường nhà nước, Bộ

Tư pháp -“Các biện p áp bảo đảm t i àn Luật Trác n iệm bồi t ng của

N à n ớc”[10];

- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Một số vấn đề lý luận và t ực tiễn về trác n iệm bồi t ng t iệt ại của N à n ớc” của tác giả Lê Thái Phương,

Trường đại học Luật Hà Nội, năm 2006[58];

- Luận văn Thạc sĩ Luật học “T ực iện p áp luật về trác n iệm bồi

t ng của n à n ớc trong t i àn án dân sự ở Việt Nam iện nay” của tác

giả Trần Việt Hưng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2014[22];

- Luận văn Thạc sĩ Luật học “P áp luật của Việt Nam và một số quốc gia trên t ế giới về trác n iệm bồi t ng của N à n ớc” của tác giả Hoàng

Xuân Hoan, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013[18];

- Luận văn Thạc sĩ luật học “Trác n iệm bồi t ng của N à n ớc trong oạt động T i àn án dân sự” của tác giả Hoàng Tuấn Tú, Khoa Luật -

Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015[64];

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 9

4

- Luận văn Thạc sĩ luật học “Hoàn t iện p áp luật về Trác n iệm bồi

t ng của N à n ớc ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hải Hà, Học viện

Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2016[16];

Ngoài ra còn có nhiều chuyên đề, bài viết, bài nghiên cứu của một số tác giả làm công tác xây dựng pháp luật với nội dung đề cập đến nhiều vấn đề

cơ bản phục vụ cho quá trình soạn thảo dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi) cũng như trong quá trình triển khai thi hành Luật TNBTCNN năm 2017 cũng là những tài liệu nghiên cứu quan trọng được tác giả lựa chọn tham khảo khi thực hiện đề tài nghiên cứu của Luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận về TNBTCNN nói chung,

về giải quyết bồi thường nhà nước theo thủ tục tố tụng tại Tòa án nói riêng, đánh giá thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về giải quyết bồi thường nhà nước theo thủ tục tố tụng tại Tòa án, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước theo thủ tục tố

tụng tại Tòa án

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:

- Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về TNBTCNN và giải quyết bồi thường nhà nước theo thủ tục tố tụng tại Tòa án

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về giải quyết bồi thường nhà nước theo thủ tục tố tụng tại Tòa án; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế trong thực tiễn giải quyết bồi thường nhà nước theo thủ tục tố tụng tại Tòa án và yêu cầu hướng dẫn các quy định mới của Luật TNBTCNN năm 2017 về vấn đề này

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước theo thủ tục tố tụng tại Tòa án

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 10

5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về giải quyết bồi thường nhà nước theo thủ tục tố tụng tại Tòa án

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung, luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về giải quyết bồi thường nhà nước theo thủ tục tố tụng tại Tòa án, đặc biệt là các quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật TNBTCNN năm 2017 Tuy nhiên, để làm rõ hơn các nội dung nghiên cứu, luận văn cũng khái quát thực tiễn quá trình thi hành Luật TNBTCNN năm

2009 về vấn đề này

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác

- Lênin với phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử

Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài, luận văn còn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp và một số phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp khác

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Về mặt k oa ọc kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng

tỏ phương diện lý luận trong khoa học pháp lý của việc giải quyết bồi thường nhà nước tại Tòa án theo thủ tục tố tụng Ngoài ra, những giải pháp hoàn thiện pháp luật là cơ sở quan trọng để các cơ quan chức năng trong phạm vi, thẩm quyền của mình sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực tương ứng

Về mặt t ực tiễn kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham

khảo hữu ích không chỉ với đội ngũ giảng viên, sinh viên mà còn có giá trị đối với các cán bộ đang làm công tác hoạch định chính sách và xây dựng pháp

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 11

6

luật về giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước theo thủ tục tố tụng tại Tòa án nói chung và pháp luật về tố tụng nói riêng ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu 3 chương, cụ thể:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giải quyết yêu cầu bồi thường nhà

nước tại Tòa án

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết yêu cầu bồi

thường nhà nước tại Tòa án ở Việt Nam

Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa án ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 12

7

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT YÊU CẦU

BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TẠI TÒA ÁN 1.1.Khái quát về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Trong tiếng Việt, thuật ngữ “trách nhiệm” gần nghĩa với thuật ngữ “nghĩa vụ”, theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học năm 2003 thì trách nhiệm là

“Phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm trong, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả; hoặc sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả”[19], tr.1020], nghĩa vụ là “việc mà pháp luật hay đạo đức bắt buộc phải làm đối với xã hội, đối với người khác” [19], tr.679]

Xét về phương diện pháp lý, trách nhiệm là dạng trách nhiệm phát sinh trên cơ sở quy định của pháp luật và được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật Xét về phương diện đạo đức xã hội, trách nhiệm là sự ràng buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện những nghĩa vụ nghiêng về bổn phận mang tính luân lý, đạo đức Ở phương diện này, trách nhiệm của Nhà nước được quan niệm với triết lý: Nhà nước là đại diện chính thức của toàn xã hội, vì vậy nhà nước có quyền thay mặt nhân dân chủ động và độc lập quyết định những vấn đề đối nội và đối ngoại Đó là quyền lực được nhân dân ủy quyền cho Nhà nước đồng thời là trách nhiệm của Nhà nước để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, để bảo đảm an ninh, an toàn và phát triển xã hội, bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân

Trách nhiệm của Nhà nước là khái niệm có phạm vi rộng lớn, nhiều cấp

độ và phức tạp, bởi Nhà nước vốn là một trong những chủ thể chính trị - xã hội và pháp lý thuộc loại phức tạp nhất Trách nhiệm của Nhà nước trước hết bắt nguồn từ khái niệm trách nhiệm trong đời sống xã hội

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 13

8

Như vậy, ở góc độ chung nhất có thể hiểu, trách nhiệm là sự ràng buộc trong các mối liên hệ giữa con người với nhau, trong đó, các cá nhân, tổ chức hoặc tổ chức cao nhất của một quốc gia đó là Nhà nước phải thực hiện các nghĩa

vụ đối với người khác hoặc đối với cộng đồng

Thiệt hại, dưới góc độ ngôn ngữ học, được hiểu là “mất mát, hư hỏng nặng nề về người và của”[42],tr.1571] Trong khoa học pháp lý, theo quan niệm truyền thống thì “thiệt hại” được hiểu là “tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản quyền và lợi ích hợp pháp khác của

cá nhân; tài sản, danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc chủ thể khác được pháp luật bảo vệ”[66],tr.713] Dưới góc độ luật thực định, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong BLDS năm 1995 được xác định bao gồm: “trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần” (Điều 310) Trong BLDS năm 2005 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm: “trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần” (Điều 307) Quy định về căn cứ phát sinh trách

nhiệm bồi thường thiệt hại trong BLDS năm 2015 thì xác định: “Người nào

có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” (Điều 584) Như vậy, theo quan điểm phổ biến hiện nay về thiệt hại thì thiệt hại bao gồm: thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Thiệt hại về tinh thần bao gồm “tổn thất về danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc suy sụp về tâm lý, tình cảm của cá nhân” và thiệt hại về vật chất bao gồm “tài sản bị mất, hủy hoại, bị hư hỏng; chi phí phải bỏ ra để khắc phục, ngăn chặn thiệt hại cùng những hoa lợi, lợi tức không thu được mà đáng ra thu được” Tóm lại, thiệt hại có thể hiểu là sự không nguyên vẹn như trạng thái ban đầu của sự vật sau khi chịu sự tác động từ bên ngoài Dưới góc độ ngôn ngữ học, “bồi thường” được hiểu là việc “đền bù những tổn thất đã gây ra”[42],tr.191] Với quan

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 14

9

niệm thiệt hại là sự không nguyên vẹn như trạng thái ban đầu của sự vật sau khi chịu sự tác động bên ngoài như đã phân tích ở trên, thì bồi thường thiệt hại có thể hiểu là trách nhiệm khôi phục lại tình trạng ban đầu của sự vật hiện tượng; vì vậy, bồi thường thiệt hại là một dạng nghĩa vụ dân sự phát sinh do gây thiệt hại Về mặt pháp lý, thiệt hại là những tổn thất về tài sản, tổn thất về tính mạng, sức khỏe, uy tín, danh dự, nhân phẩm; vì vậy, bồi thường thiệt hại

là sự khôi phục lại những tổn thất trên bằng giá trị vật chất hoặc những cách thức và tiêu chí do pháp luật quy định

Trong pháp luật dân sự, bồi thường thiệt hại là việc đền bù những tổn thất và khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm gây ra; vì vậy bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại Khi xem xét chủ thể

trong quan hệ bồi thường thiệt hại thì Nhà nước với tư cách là một chủ thể

đặc biệt, hoạt động với mục tiêu là phải bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của người dân; khi Nhà nước thực hiện quyền lực công (thông qua các hành

vi thi hành công vụ của đội ngũ công chức) mà gây thiệt hại cho các tổ chức,

cá nhân cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường

Hiện nay, có khá nhiều khái niệm về TNBTCNN được nhiều tác giả đưa ra dưới những góc độ tiếp cận khác nhau, cụ thể là:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, “TNBTCNN là hậu quả pháp lý bất lợi

về vật chất và tinh thần mà Nhà nước phải gánh chịu do công chức cơ quan hành chính nhà nước thực hiện trái pháp luật trong thi hành công vụ, gây thiệt hại vật chất, tinh thần cho cá nhân, tổ chức”[24]

Quan điểm thứ hai cho rằng, “TNBTCNN là trách nhiệm khôi phục những tổn thất về tài sản, bù đắp những tổn thất về tinh thần, uy tín, danh dự khi người thi hành công vụ gây thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân trong quá trình thực thi quyền lực công”[22],tr.12] hoặc “TNBTCNN là trách nhiệm

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 15

10

pháp lý mà theo đó, Nhà nước phải bồi thường những thiệt hại về vật chất và

bù đắp tổn hại về tinh thần khi người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật làm gây thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân trong quá trình thực thi quyền lực công”[44] hoặc “TNBTCNN là trách nhiệm pháp lý trong đó Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong một số lĩnh vực hoạt động của Nhà nước”[46]

Quan điểm thứ ba cho rằng, “TNBTCNN là tổng thể các quy định của pháp luật và biện pháp thi hành để thực hiện trách nhiệm của Nhà nước nhằm khắc phục những hậu quả bất lợi về vật chất, tinh thần mà người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã gây ra do xâm phạm quyền tư pháp bằng cách bù đắp, đền bù những tổn thất về vật chất, tinh thần và khôi phục danh dự, uy tín, nhân phẩm cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự” [71] hoặc

“TNBTCNN là việc Nhà nước thực hiện thủ tục do pháp luật quy định để khôi phục, bù đắp những tổn thất tài sản, bù đắp những tổn thất tinh thần khi cán bộ, công chức có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; tài sản, uy tín của tổ chức trong khi thi hành công vụ”[63], tr.30]

Quan điểm thứ tư cho rằng, “TNBTCNN là hệ thống quy tắc xử sự chung thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, do các CQNN có thẩm quyền ban hành

và bảo đảm thực hiện trên nguyên tắc thỏa thuận, bình đẳng, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện TNBTCNN, xử lý trách nhiệm của người thi hành công vụ và hoạt động quản lý nhà nước về công tác bồi thường”[23]

Quan điểm thứ năm cho rằng, TNBTCNN là một dạng trách nhiệm dân

sự nhưng theo nguyên tắc thay thế, theo đó, TNBTCNN là một dạng trách nhiệm dân sự thay thế, tức là, TNBTCNN “được hiểu là trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cho những thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 16

11

ra”[65],tr.94] Quan điểm này cho rằng, TNBTCNN là trách nhiệm của cá nhân người thi hành công vụ nhưng vì người thi hành công vụ nhân danh Nhà nước trong thực thi công vụ nên Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thay cho người thi hành công vụ Cùng dưới góc độ này là quan điểm cho rằng, TNBTCNN là trách nhiệm trực tiếp của Nhà nước mà không phải là trách nhiệm thay thế cho trách nhiệm của người thi hành công vụ Quan điểm này dựa trên lập luận cho rằng “hành vi của người thi hành công vụ được coi

là hành vi của Nhà nước, vì vậy, nếu người thi hành công vụ có hành vi gây thiệt hại thì được coi là Nhà nước gây thiệt hại và đương nhiên Nhà nước có trách nhiệm bồi thường”[46],tr.13]

Quan điểm thứ sáu cho rằng “TNBTCNN là dạng trách nhiệm dân sự của Nhà nước mà trách nhiệm này không thể phát sinh nếu không có sự đồng

ý, chấp nhận của chính Nhà nước hay nói cách khác, về nguyên tắc, Nhà nước không thể bị kiện bởi các cá nhân, tổ chức”[65],tr.131]

Như vậy, các khái niệm về TNBTCNN đưa ra ở trên dưới mỗi một góc

độ tiếp cận khác nhau đều chỉ ra những khía cạnh hợp lý để nhận diện vấn đề TNBTCNN Tuy nhiên, ở mỗi quan điểm, khái niệm đưa ra thì có thể TNBTCNN được đề cập đến nhiều khía cạnh nhưng trong mỗi khái niệm thì lại chỉ có một khía cạnh chính Chính vì vậy, nếu chỉ nhận diện được một khía cạnh chính thì khó có thể giải quyết triệt để được vấn đề là điều chỉnh một cách hài hòa và toàn diện việc thực hiện TNBTCNN

Từ việc nghiên cứu những quan điểm về TNBTCNN nêu trên, xem xét một cách toàn diện nhất, tác giả đưa ra khái niệm về TNBTCNN như sau:

“TNBTCNN là trách nhiệm khôi phục những tổn thất về tài sản, bù đắp những tổn thất về tinh thần, uy tín, danh dự khi cán bộ, công chức nhà nước có hành vi trái pháp luật trong khi thi hành công vụ gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cá nhân, tài sản, uy tín của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác”

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 17

12

1.1.2 Đặc điểm trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Để hiểu rõ TNBTCNN có đặc trưng gì cần hiểu rõ, trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung có những đặc điểm như thế nào, theo đó tác giả nêu nên một số đắc điểm chung của trách nhiệm bồi thường dân sự nói chung sau đây:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại có bản c ất pháp lý là một loại trách

nhiệm dân sự, chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự Trách nhiệm bồi thường thiệt hại thể hiện, khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại được quy định là một quan hệ tài sản do pháp luật dân sự quy định và điều chỉnh

Về điều kiện p át sin , trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra khi

thoả mãn các điều kiện nhất định đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự (nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng), có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại (không phải là điều kiện bắt buộc) Đây là những điều kiện chung nhất để xác định trách nhiệm của một người phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể phát sinh khi không có đủ các điều kiện trên điển hình là các trường hợp bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra

Về ậu quả, trách nhiệm bồi thường thiệt hại luôn mang đến một hậu

quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại Bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì tổn thất đó phải tính toán được bằng một khoản tiền

cụ thể hoặc phải được pháp luật quy định là một đại lượng vật chất nhất định

là cơ sở để tính toán, do lường được nhằm phục vụ cho việc thực hiện được việc bồi thường Do đó, những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật dân sự

để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại Chính vì vậy, thực hiện trách

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 18

13

nhiệm bồi thường thiệt hại là việc làm của cơ quan, người có thẩm quyền giúp khôi phục lại thiệt hại cho người bị thiệt hại

Về c ủ t ể c ịu trác n iệm bồi t ng t iệt ại nói c ung, ngoài

người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn được áp dụng cả đối với những chủ thể khác đó là cha, mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ của người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân gây ra thiệt hại, trường học, bệnh viện trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại hoặc

tổ chức khác như cơ sở dạy nghề…được pháp luật dân sự quy định tương ứng với những hành vi của chủ thể

Nghiên cứu TNBTCNN cho thấy, TNBTCNN cũng là một loại trách nhiệm pháp lý, do đó, ngoài những đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung như do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật và việc áp dụng đó luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế của Nhà nước…Theo đó, TNBTCNN phát sinh khi cán bộ, công chức có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại trong khi thi hành công vụ trong một số lĩnh vực hoạt động của Nhà nước trong điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong quan hệ giữa đại diện của Nhà nước với cá nhân, tổ chức trong xã hội nhằm bảo đảm trật tự chung của xã hội Theo nguyên tắc bồi thường thiệt hại thông thường thì người gây thiệt hại phải tự gánh chịu, buộc phải gánh chịu trách nhiệm đã gây ra và phải bồi thường Tuy nhiên, đối với TNBTCNN có đặc điểm tương đồng như trách nhiệm của pháp nhân đối với hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại do người của pháp nhân gây ra, nhưng ở đây là Nhà nước Nhà nước có bộ máy quyền lực, bộ máy quản lý thực hiện các biện pháp quản

lý, công cụ là pháp luật, công chức làm việc nhân danh Nhà nước mà vi phạm pháp luật thì Nhà nước sẽ đứng ra thực hiện trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại, sau đó cán bộ, công chức đã gây ra thiệt hại đó sẽ phải có

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 19

14

trách nhiệm hoàn trả khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường Tuy vậy, mức

độ hoàn trả khoản tiền Nhà nước đã bồi thường có thể không bằng khoản tiền nhà nước đã bỏ ra, điều này phụ thuộc vào mức độ thực hiện hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại theo quy định của pháp luật Nói đến TNBTCNN phải gắn với thiệt hại xảy ra phải thuộc phạm vi TNBTCNN

là thiệt hại đó được gây ra bởi hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ Từ việc nghiên cứu nhứng đặc điểm chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, có thể nhận thấy, TNBTCNN còn

có những đặc điểm riêng sau đây:

1.1.2.1 Trác n iệm bồi t ng của N à n ớc là trác n iệm dân sự

về bồi t ng t iệt ại ngoài ợp đồng

Pháp luật Việt Nam kể từ BLDS 1995 đến nay đều quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra là quan hệ pháp luật dân sự

Nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật thì có thể mang một

trong hai tư cách, một là, tư cách như một chủ thể thông thường, trong những

quan hệ pháp luật mà Nhà nước tham gia với tư cách là một chủ thể thông thường để thực hiện một số nội dung thỏa thuận với các chủ thể khác sẽ được thực hiện bằng các hợp đồng và được điều chỉnh bởi các quy định về giao

dịch dân sự nói chung và các quy định về hợp đồng nói riêng; hai là, tư cách

của chủ thể của quyền lực công, theo đó, những quan hệ pháp luật mà Nhà nước tham gia với tư cách là chủ thể mang quyền lực công không phải là những quan hệ hợp đồng Những quan hệ pháp luật mà Nhà nước tham gia và nhân danh quyền lực công phải là những quan hệ pháp luật có liên quan đến việc thực hiện những hoạt động thuộc về chức năng chính của Nhà nước Trong quá trình thực hiện những hoạt động này mà Nhà nước gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì Nhà nước sẽ phải bồi thường Việc bồi thường không phải do vi phạm các nghĩa vụ về hợp đồng, chính vì vậy trách nhiệm

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 20

15

bồi thường của Nhà nước đối với các thiệt hại gây ra bởi hoạt động công quyền là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

1.1.2.2 Trác n iệm bồi t ng của N à n ớc là trác n iệm kép

TNBTCNN như đã khẳng định là một loại trách nhiệm dân sự Theo

đó, TNBTCNN không chỉ là trách nhiệm bồi thường về tài sản mà còn là trách nhiệm khôi phục lại những tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại Như vậy, trách nhiệm này bao gồm trách nhiệm về tài sản (trong trường hợp tài sản bị thiệt hại) và trách nhiệm khôi phục những tổn thất về tinh thần (trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm)

1.1.2.3.Trác n iệm bồi t ng của N à n ớc có đặc điểm riêng đó là yếu tố “công vụ” trong mối quan ệ N à n ớc và bên bị t iệt ại

Chế định pháp luật về TNBTCNN chỉ điều chỉnh trường hợp Nhà nước gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật cho cá nhân, tổ chức khi cán bộ, công chúc làm việc nhân danh nhà nước, bằng quyền lực công - tức là Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp gây ra thiệt hại khi công chức thực thi công vụ Tuy nhiên, việc hiểu như thế nào về khái niệm “công vụ” có

ý nghĩa quan trọng vì đây là một trong những yếu tố quyết định việc có phát sinh hay không TNBTCNN Tác giải đưa ra và so sánh khái niệm công vụ với khái niệm công việc để thấy được điểm riêng của TNBTCNN Theo đó, “công vụ” có gì khác với “công việc” trong chế định trách nhiệm bồi thường của pháp nhân đối với những thiệt hại gây ra khi thực hiện “công việc” của pháp nhân? Xét ở góc độ xã hội hóa hoạt động quản lý nhà nước, theo đó có nhiều

tổ chức (không phải là các cơ quan, tổ chức của Nhà nước) trong xã hội được Nhà nước giao một số nhiệm vụ quản lý nhất định thì liệu những hành vi này

có được coi là công vụ hay không? Có học giả đã khẳng định rằng, cần phải coi những hành vi mang tính chất hành vi công quyền do các cơ quan và tổ chức không phải là bộ phận hữu cơ của bộ máy nhà nước nếu gây thiệt hại thì cũng phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 21

“Công vụ” cũng có sự khác biệt nhất định so với “công việc” trong chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của pháp nhân Trong chế định này pháp nhân phải bồi thường cho mọi thiệt hại gây ra khi thực hiện các công việc của pháp nhân, mà những công việc này không nhất thiết phải thuộc về chức năng hoạt động chính của pháp nhân

“Công vụ”, hay nói một cách đầy đủ là hành vi công quyền, là những hành vi trực tiếp hoặc nhằm thực hiện chức năng chính của Nhà nước là chức năng quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, đồng thời thực hiện chức năng tổ chức phục vụ các nhu cầu chung của xã hội không vì mục đích lợi nhuận Hoạt động công vụ do những người có trách nhiệm nhân danh Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội Chỉ những hành vi nào trực tiếp hoặc nhằm thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước mới được coi là công vụ Như vậy, đối

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 22

1.1.2.5 K ác t ể trong quan ệ trác n iệm bồi t ng của N à n ớc

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 23

18

công dân và lợi ích, uy tín của Nhà nước vì “khi xảy ra bất kỳ một vụ oan, sai thì không chỉ có công dân là người duy nhất bị thiệt hại mà luôn kéo theo những tổn thất của Nhà nước Một mặt, Nhà nước phải bồi thường vật chất, tinh thần cho người bị oan Mặt khác, thiệt hại của Nhà nước tưởng chừng như vô hình nhưng hậu quả trên thực tế vẫn có thể dễ dàng nhận thấy được

Đó là sự giảm sút uy tín của Nhà nước, là sự xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước”[2],tr.60]

1.1.3 Cơ quan thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Liên quan đến việc bảo đảm quyền được bồi thường nhà nước, qua nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới thì cơ quan thực hiện TNBTCNN được quy định khá đa dạng, trong

đó, bao gồm những loại cơ quan chủ yếu sau đây: “T ứ n ất, cơ quan thực

hiện việc giải quyết bồi thường (GQBT) đối với yêu cầu bồi thường

(YCBT); T ứ ai, cơ quan thực hiện việc xác định tính hợp pháp hoặc bất

hợp pháp của hành vi gây thiệt hại của người thi hành công vụ để các cá

nhân, tổ chức bị thiệt hại làm căn cứ thực hiện quyền YCBT; T ứ ba, cơ

quan đại diện Nhà nước trong các vụ việc cá nhân, tổ chức bị thiệt hại

YCBT; T ứ t , cơ quan kiểm soát việc thực hiện TNBTCNN”

[59],tr.186-194]

1.1.3.1 Cơ quan t ực iện việc giải quyết bồi t ng

Một là, cơ quan trực tiếp quản lý ng i t i àn công vụ gây t iệt ại

là cơ quan t ực iện việc giải quyết bồi t ng

Trong số các nước có Luật về TNBTCNN thì đa số các nước đều quy định Tòa án là cơ quan thực hiện giải quyết bồi thường Chỉ một số ít nước quy định cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại là cơ quan thực hiện việc giải quyết bồi thường Ngoài Luật TNBTCNN 1980 của Đài Loan, Luật TNBTCNN 1994 của Trung Quốc (State Compensation Law 1994) cũng quy định cơ quan quản lý hành chính hoặc cơ quan tiến hành tố

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 24

19

tụng trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại là cơ quan giải quyết bồi thường

Hai là, cơ quan cấp trên của cơ quan trực tiếp quản lý ng i t i àn

công vụ gây t iệt ại là cơ quan t ực iện việc giải quyết bồi t ng

Trong số pháp luật của một số ít nước thì có quy định cơ quan cấp trên của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại là cơ quan thực hiện việc giải quyết bồi thường Như đã nêu trên, ngoài quy định

cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại là cơ quan thực hiện việc giải quyết bồi thường thì Luật TNBTCNN 1980 của Đài Loan còn quy định cơ quan cấp trên của cơ quan đó cũng là cơ quan thực hiện việc giải quyết bồi thường Tại Cộng hòa Pháp, mặc dù không có Luật riêng

về TNBTCNN nhưng thực tiễn thi hành quyền khiếu nại trong hoạt động quản lý hành chính cho thấy, đối với những thiệt hại gây ra trong hoạt động quản lý hành chính thì cơ quan thực hiện việc giải quyết bồi thường là cơ quan hành chính cấp trên của cơ quan hành chính trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại nếu người bị thiệt hại không đồng ý với kết quả giải quyết của cơ quan hành chính gây thiệt hại và tiếp tục khiếu nại lên cơ quan cấp trên

Ba là, cơ quan độc lập t ực iện việc giải quyết bồi t ng

Trong số pháp luật của một số rất ít nước thì có quy định một cơ quan độc lập là cơ quan thực hiện việc giải quyết bồi thường Điển hình là Luật TNBTCNN 1967 của Hàn Quốc (State Compensation Act 1967) quy định việc giải quyết bồi thường thuộc trách nhiệm Nhà nước hoặc thuộc trách nhiệm của chính quyền địa phương sẽ do một Hội đồng đại diện đứng ra giải quyết gọi là Hội đồng bồi thường nhà nước Ở trung ương, một Hội đồng Trung ương được thành lập ở Bộ Tư pháp để xem xét vụ việc có đơn yêu cầu bồi thường đối với Nhà nước ở trung ương Ngoài ra, một Hội đồng Đặc biệt được thành lập ở Bộ Quốc phòng để xem xét đơn yêu cầu bồi thường

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 25

20

đối với thiệt hại do các quân nhân hoặc công chức trong hoạt động quốc phòng gây ra Hội đồng Trung ương và Hội đồng Đặc biệt nêu trên thành lập một Hội đồng cấp quận, huyện để xem xét thảo luận và quyết định các nội dung liên quan đến yêu cầu bồi thường Mỗi Hội đồng có thẩm quyền, cơ cấu, hoạt động theo quy định tại Sắc lệnh của Tổng thống Luật TNBTCNN

1985 của Canada (Crown Liability and Proceedings Act 1985) thì quy định phạm vi TNBTCNN rất rộng, trong đó, có cả TNBTCNN do vi phạm cam kết tại các Hiệp ước quốc tế Hiệp ước quốc tế theo quy định của Luật của Canada bao gồm Hiệp ước giữa Canada với các nước có liên quan trên 02 lĩnh vực là: hợp tác về môi trường và hợp tác về lao động Riêng đối với trường hợp này thì Luật quy định một cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc GQBT là một “Ban Hội thẩm” Theo đó, “Ban Hội thẩm” được định nghĩa là một Hội đồng trọng tài hoặc một Hội đồng xem xét lại được triệu tập theo quy định của Hiệp ước hợp tác về môi trường hoặc Hiệp ước hợp tác về lao động và chức năng của “Ban Hội thẩm” là ra một quyết định theo quy định của một Hiệp ước hợp tác về môi trường hoặc Hiệp ước hợp tác về lao động, trong quyết định đó sẽ xác định một khoản tiền mà Nhà nước Canada phải trả

Bốn là, cơ quan t ực iện việc giải quyết bồi t ng là Tòa án

Có thể nhận định chung là trong pháp luật của các nước có quy định

về TNBTCNN đều quy định bảo đảm quyền tiếp cận Tòa án trong thực hiện quyền yêu cầu bồi thường Theo đó, trong pháp luật của các nước thì đều quy định Tòa án là cơ quan thực hiện việc giải quyết bồi thường Tuy nhiên, mỗi nước lại quy định vai trò, sự tham gia của Tòa án cũng như trình tự tố tụng được áp dụng để Tòa án thực hiện việc giải quyết bồi thường Cụ thể:

T ứ n ất, về vai trò của Tòa án trong mối liên hệ giữa hai giai đoạn:

(i) Đánh giá một quyết định, hành vi gây thiệt hại của người thi hành công

vụ là hợp pháp hay bất hợp pháp; (ii) Giải quyết bồi thường sau khi đã xác

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 26

do cơ bản hay không? Nếu Tòa án nhân quyền Châu âu xác định là có sự xâm phạm nhân quyền hoặc các quyền tự do cơ bản, thì người bị thiệt hại sẽ dựa trên phán quyết này của Tòa án để yêu cầu Nhà nước Estonia bồi thường

Ngược lại, ở các nước mà pháp luật không quy định tách biệt giữa giai đoạn xác định tính hợp pháp hay bất hợp pháp của quyết định, hành vi gây thiệt hại với giai đoạn giải quyết bồi thường thì Tòa án sẽ đồng thời thực hiện 02 chức năng là đánh giá tính hợp pháp hay bất hợp pháp của quyết định, hành vi gây thiệt hại và giải quyết bồi thường Điển hình là Luật về TNBTCNN 1947 của Nhật Bản (Law on State Compensation Liability 1947) quy định người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ngay ra Tòa án để yêu cầu giải quyết bồi thường và Tòa án có thẩm quyền của Nhật Bản là cơ quan vừa xác định tính hợp pháp hoặc bất hợp pháp của quyết định, hành vi gây thiệt hại và vừa giải quyết bồi thường

T ứ ai, về vai trò của Tòa án trong mối liên hệ với cơ quan có thẩm

quyền giải quyết bồi thường khác trong giai đoạn giải quyết bồi thường

Ở các nước mà pháp luật quy định quyền của người bị thiệt hại được khởi kiện ngay ra Tòa án để yêu cầu giải quyết bồi thường thì khi đó Tòa án

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 27

vụ không đạt được thì người bị thiệt hại có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường

T ứ ba, về loại hình tố tụng mà Tòa án áp dụng để giải quyết bồi

thường Về vấn đề này, pháp luật các nước quy định rất khác nhau, cụ thể:

Đa số pháp luật các nước quy định loại hình tố tụng mà Tòa án áp dụng để giải quyết bồi thường là tố tụng dân sự Điển hình là Luật TNBTCNN 1947 của Nhật Bản quy định dẫn chiếu áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết bồi thường

Một số nước thì quy định nhiều loại hình tố tụng để Tòa án áp dụng khi thực hiện việc giải quyết bồi thường Điển hình là Bulgaria và Cộng hòa Pháp Luật TNBTCNN 2006 của Bulgaria (Act on the Liability for Damage Incurred by the State and the Municipalities 2006) quy định 02 loại hình tố tụng tương ứng với hai trường hợp, theo đó, đối với thiệt hại gây ra trong lĩnh vực quản lý hành chính, thủ tục tố tụng được áp dụng để giải quyết bồi thường là tố tụng hành chính, trong khi đó, đối với thiệt hại gây ra trong lĩnh

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 28

23

vực tố tụng hình sự, pháp luật mà Tòa án áp dụng để giải quyết bồi thường

là tố tụng dân sự Tương tự như pháp luật của Bulgaria, thực tiễn xét xử của Cộng hòa Pháp cũng quy định 02 loại hình tố tụng để Tòa án áp dụng khi giải quyết bồi thường, đối với thiệt hại gây ra trong lĩnh vực quản lý hành chính, thủ tục tố tụng được áp dụng để giải quyết bồi thường là tố tụng hành chính (Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa hành chính và ở cấp cao nhất

là Tham chính Viện - Tòa Hành chính tối cao Pháp), trong khi đó, đối với thiệt hại gây ra trong lĩnh vực tố tụng hình sự, thủ tục tố tụng được áp dụng

để giải quyết bồi thường là tố tụng dân sự

Một số rất ít nước thì quy định việc giải quyết bồi thường có thể được Tòa án thực hiện kết hợp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Điển hình

là Luật Đền bù hình sự 1950 của Nhật Bản (Criminal Compensation Act 1950) quy định, theo đó, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự tại Tòa án thì nếu Tòa án tuyên bị cáo là vô tội thì sẽ phải đồng thời xác định thiệt hại

và tuyên luôn mức bồi thường thiệt hại đối với người bị thiệt hại trong bản

án

1.1.3.2 Cơ quan t ực iện việc xác địn tín ợp p áp oặc bất ợp

p áp của àn vi gây t iệt ại của ng i t i àn công vụ

Như đã phân tích ở trên, ở các nước mà pháp luật quy định tách bạch giai đoạn đánh giá một quyết định, hành vi gây thiệt hại của người thi hành công vụ là hợp pháp hay bất hợp pháp với giai đoạn GQBT thì đều có quy định về cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc xác định tính hợp pháp hoặc bất hợp pháp của hành vi gây thiệt hại của người thi hành công vụ Việc đánh giá, xác định tính hợp pháp hay bất hợp pháp này nhằm mục địch chỉ

ra căn cứ để các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại thực hiện quyền YCBT của họ Ngoài Luật của Estonia như đã ví dụ ở trên, Luật của nhiều nước mà nhất là các nước theo hệ thống thông luật (Common Law) đều có quy định đặc thù

về việc xác định tính hợp pháp hoặc bất hợp pháp của hành vi gây thiệt hại

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 29

24

của người thi hành công vụ để các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại làm căn cứ thực hiện quyền YCBT đối với thiệt hại gây ra bởi các lực lượng vũ trang (armed forces hoặc defense forces) Điển hình là Luật TNBTCNN 1965 của Cộng hòa Zambia (State Proceeding Act 1965) quy định đối với các thiệt hại gây ra bởi lực lượng quốc phòng thì Nhà nước Zambia sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu người đó là thành viên của lực lượng quốc phòng và

họ chết hoặc bị thương khi đang trong quá trình thực hiện nhiệm vụ với tư cách là thành viên của lực lượng quốc phòng, hoặc, dù người đó không đang trong quá trình thực hiện nhiệm vụ với tư cách là thành viên của lực lượng quốc phòng nhưng người đó đang ở trên bất kỳ vùng đất, tòa nhà, tàu biển, tàu bay hoặc phương tiện nào trong thời gian mà các vật nêu trên được sử dụng cho các mục đích của lực lượng quốc phòng Để được bồi thường thì phải có một chứng nhận của Bộ trưởng Bộ Tài chính về thiệt hại xảy ra Đối với tình huống tương tự, Luật TNBTCNN 1947 của Vương quốc Anh (Crown Proceeding Act 1947) thì quy định việc chứng nhận này thuộc trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao còn Luật TNBTCNN 1998 của Cộng hòa Ghana (State Proceedings Act 1998) thì quy định việc chứng nhận này thuộc trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Tại Trung Quốc, Luật TNBTCNN 1994 thì quy định, đối với các thiệt hại gây ra trong lĩnh vực quản lý hành chính thì để YCBT, cá nhân, tổ chức bị thiệt hại phải có một văn bản xác định hành vi gây thiệt hại của người thi hành công vụ là trái pháp luật

1.1.3.3 Cơ quan đại diện N à n ớc trong các vụ việc cá n ân tổ

c ức bị t iệt ại yêu c u bồi t ng

Có thể nói cơ quan đại diện Nhà nước trong các vụ việc cá nhân, tổ chức bị thiệt hại yêu cầu bồi thường đa số chỉ được quy định trong pháp luật của các nước theo hệ thống thông luật (common law) Vai trò của cơ quan độc lập này thể hiện ở tính “hai chiều” trong quy định của Luật về

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 30

25

TNBTCNN, theo đó, các nước này đều quy định cơ quan độc lập nêu trên vừa là cơ quan đại diện Nhà nước trong các vụ việc mà Nhà nước là nguyên đơn nhưng cũng vừa là cơ quan đại diện Nhà nước trong các vụ việc mà Nhà nước là bị đơn - trong đó có các vụ việc yêu cầu bồi thường

Luật TNBTCNN của Vương quốc Anh quy định, về nguyên tắc, cơ quan đại diện Nhà nước là Tổng chưởng lý hoặc là một cơ quan được Chính phủ ủy quyền Đối với cơ quan không phải là cơ quan Tổng chưởng lý thì

Bộ trưởng khối các cơ quan dân sự sẽ công bố một danh sách xác định các

cơ quan của Chính phủ được ủy quyền và tên và địa chỉ của người là luật sư của các cơ quan đó Theo Luật của Vương quốc Anh thì Tổng chưởng lý hoặc cơ quan được Chính phủ ủy quyền sẽ đại diện cho Vương quốc Anh trong mọi vụ kiện yêu cầu Nhà nước bồi thường Luật TNBTCNN của Cộng hòa Ghana quy định trong mọi vụ kiện mà Nhà nước là bị đơn thì Tổng chưởng lý sẽ là đại diện Nhà nước với tư cách là bị đơn Nếu có sự thay đổi

về nhân sự liên quan đến cơ quan Tổng chưởng lý thì vụ kiện vẫn được tiến hành bình thường mà không bị ảnh hưởng Tương tự, Luật TNBTCNN 1992 của Bang Nam Úc (Crown Proceedings Act 1992 of South Australia) quy định Tổng chưởng lý là cơ quan đại diện cho Nhà nước tại bất kỳ vụ án hình

sự hoặc dân sự nào mà trong đó Nhà nước là một bên đương sự

Ở Châu Á, pháp luật của Nhật Bản thì quy định cơ quan đại diện Nhà nước là Bộ Tư pháp Nhật Bản Cụ thể, theo Luật về quyền hạn và trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong vấn đề liên quan đến trách nhiệm của Nhà nước thì quy định Bộ trưởng Bộ Tư pháp là đại diện cho Nhà nước với tư cách là bị đơn trong các vụ án dân sự về yêu cầu Nhà nước bồi thường Để giúp Bộ Tư pháp thực hiện nhiệm vụ nêu trên thì tại Bộ Tư pháp Nhật Bản có bộ phận công tác tố tụng thuộc Văn phòng Bộ Tư pháp và do một Phó chánh văn phòng công tác tổng hợp trực tiếp phụ trách Các phòng công tác tố tụng thuộc Văn phòng Bộ bao gồm: phòng kế hoạch công tác tố

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 31

là cơ quan kiểm soát việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân nói chung cũng như quyền được bồi thường nói riêng

Như vậy, trong quan hệ pháp luật về TNBTCNN có thể thấy, Tòa án

có thể có nhiều vai trò, bao gồm: một là, vai trò là cơ quan xác định tính hợp

pháp hoặc bất hợp pháp của hành vi, quyết định của Nhà nước gây thiệt hại;

hai là, cơ quan giải quyết bồi thường với tư cách là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại là ba là, cơ quan giải quyết bồi thường

với tư cách là cơ quan xét xử theo thủ tục tố tụng

1.2 Pháp luật về giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa

án theo thủ tục tố tụng

Như đã nêu trên, Tòa án có thể có nhiều vai trò trong công tác bồi thường nhà nước nói chung cũng như trong quan hệ pháp luật về TNBTCNN nói riêng Đặt trong khuôn khổ pháp luật về TNBTCNN của Việt Nam hiện nay, Tòa án có những vai trò như sau[70],tr.60]: (i) Tòa án là cơ quan giải quyết vụ án dân sự về TNBTCNN; (ii) Tòa án là cơ quan giải quyết vụ án hình sự có yêu cầu bồi thường nhà nước; (iii) Tòa án là cơ quan giải quyết vụ

án hành chính có yêu cầu bồi thường nhà nước; (iv) Tòa án là cơ quan trực

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 32

27

tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại thực hiện giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự đối với các yêu cầu bồi thường thuộc trách nhiệm của Tòa án và (v) Tòa án là cơ quan phối hợp thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước

Trong phạm vi khuôn khổ của Luận văn, tác giả chỉ đề cập đến vị trí, vai trò của Tòa án với tư cách là cơ quan giải quyết bồi thường theo thủ tục tố tụng theo Luật TNBTCNN

1.2.1 Khái niệm giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa án

theo thủ tục tố tụng

Hiện nay chưa có một khái niệm nào được đưa ra về giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước nói chung và giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa án theo thủ tục tố tụng nói riêng Tuy nhiên, có nhiều quy định có liên quan gián tiếp đề cập đến giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước, cụ thể:

Khoản 7 Điều 3 Luật TNBTCNN năm 2017 về cơ quan giải quyết bồi thường có quy định: “Cơ quan giải quyết bồi thường là cơ quan trực tiếp quản

lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết

vụ án theo quy định của pháp luật về tố tụng” Ngay quy định này cũng cho ta thấy, Luật TNBTCNN Việt Nam quy định “Cơ quan giải quyết bồi thường là

cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại- vậy cơ quan này là những cơ quan nào? Có bao gồm tòa án không? Thưa rằng là có; bởi tòa án ở Việt Nam không chỉ có duy nhất một chức năng xét xử mà còn có chức năng quản lý (thẩm phán thực hiện xét xử- người thi hành công vụ- thực thi quyền lực nhà nước- nhân danh Nhà nước) Do vậy, với vế thứ nhất của quy định này, Tòa án cũng là cơ quan nhà nước cũng có thể phải đứng ra chịu trách nhiệm bồi thừng đại diện cho Nhà nước.Đây là điểm khác biệt lớn nhất của pháp luật về TNBTCNN Việt Nam với thế giới, được cho là các cơ quan nhà nước bình đẳng với nhau trong mọi quan hệ, kể cả quan hệ công vụ

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 33

28

Luật TNBTCNN năm 2017 dành 01 chương là Chương IV, gồm 8 điều (từ Điều 33 đến Điều 40) để quy định về cơ quan giải quyết bồi thường trong các lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự và thi hành án dân sự; và Luật TNBTCNN năm

2017 dành hẳn 01 chương là Chương V, gồm 15 Điều (từ Điều 41 đến Điều 55) để quy định về trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại cũng như tại Tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tố tụng hành chính và

tố tụng hình sự

Như vậy, theo tác giả, căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành

- nói cách khác là dưới góc độ luật thực định - mà cụ thể là thông qua các quy định về cơ quan giải quyết bồi thường (Điều 3 và Chương IV Luật TNBTCNN năm 2017) và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường (Chương V Luật TNBTCNN năm 2017) thì có thể định nghĩa giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước như sau:

“Giải quyết yêu c u bồi t ng n à n ớc là việc cơ quan trực tiếp quản lý ng i t i àn công vụ gây t iệt ại oặc Tòa án có t ẩm quyền t eo quy địn của p áp luật về tố tụng và p áp luật TNBTCNN áp dụng các quy địn của p áp luật về TNBTCNN và p áp luật k ác có liên quan xem xét, quyết địn xử lý trác n iệm bồi t ng của N à n ớc đối với về n ững tổn

t ất về vật c ất và tin t n trên cơ sở đơn yêu c u bồi t ng của ng i yêu

c u bồi t ng”

Với tư cách là một cơ quan giải quyết bồi thường theo thủ tục tố tụng,

có thể định nghĩa giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa án theo thủ tục tố tụng như sau:

“Giải quyết yêu c u bồi t ng n à n ớc tại Tòa án t eo t ủ tục tố tụng là việc Tòa án có t ẩm quyền t eo quy địn của p áp luật về tố tụng và

p áp luật TNBTCNN áp dụng các quy địn của p áp luật về TNBTCNN và

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 34

29

p áp luật k ác có liên quan xem xét quyết địn xử lý trác n iệm bồi t ng của N à n ớc đối với về n ững tổn t ất về vật c ất và tin t n trên cơ sở đơn yêu c u bồi t ng của ng i yêu c u bồi t ng”

1.2.2 Đặc điểm của giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa

án theo thủ tục tố tụng

Có thể nói, việc giải quyết mối quan hệ giữa Luật TNBTCNN với các Luật, Bộ luật có liên quan có tác động không nhỏ tới việc giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa án theo thủ tục tố tụng Bởi vì, khi giải quyết bồi thường, ngoài các quy định của pháp luật về tố tụng, Tòa án còn có trách nhiệm phải tuân thủ các quy định có liên quan trong Luật TNBTCNN Vấn đề này cũng đã được đặt ra ngay từ giai đoạn đầu sửa đổi, bổ sung Luật TNBTCNN năm 2009 bởi sau khi Luật TNBTCNN năm 2009 được ban hành,

hệ thống pháp luật đã có sự thay đổi, trong đó, đáng kể nhất là việc Quốc hội khóa XIII thông qua Hiến pháp 2013 Đối với các đạo luật có liên quan mật thiết tới Luật TNBTCNN cũng đã có sự sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, bao gồm: BLDS 2015, BLHS 2015, BLTTDS 2015, BLTTHS 2015, Luật Tố tụng hành chính (TTHC) 2015, Luật Khiếu nại (KN) 2011, Luật Thi hành án hình sự (THAHS) 2010 Các đạo luật mới nêu trên đã có nhiều nội dung thay đổi đáng kể so với các đạo luật trước đây và điều này đã đặt ra nhiều yêu cầu đối với việc sửa đổi Luật TNBTCNN cho bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ[43],tr.32]

Với những đặc thù của quan hệ pháp luật về TNBTCNN thông qua các đặc điểm như đã nêu trên, đồng thời, với những quy định mang tính chất chuyên ngành trong Luật TNBTCNN mà việc giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa án theo thủ tục tố tụng cũng sẽ có những đặc điểm riêng so với giải quyết các vụ án dân sự, hình sự, hành chính thông thường Cụ thể là:

1.2.2.1 Tòa án c ỉ áp dụng các quy địn của p áp luật về trác n iệm bồi t ng của N à n ớc

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 35

30

Theo quy đinh của Luật TNBTCNN thì Tòa án chỉ áp dụng các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mà không áp dụng các quy định có liên quan của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi giải quyết vụ án về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Như đã phân tích ở trên, TNBTCNN được xác định là một quan hệ pháp luật dân sự đặc thù về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Do đó, quan

hệ pháp luật này sẽ chịu sự điều chỉnh của BLDS (hiện nay là BLDS 2015) Tuy nhiên, tại Điều 598 BLDS 2015 về bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra đã quy định: “Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.” Như vậy, BLDS 2015 đã hoàn toàn “phó thác” vấn đề TNBTCNN cho Luật TNBTCNN quy định

Đồng thời, khoản 1 Điều 4 Luật TNBTCNN năm 2017 cũng quy định:

“Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này” Đây là quy định mới được bổ sung trong Luật TNBTCNN năm 2017, theo đó, việc quy định này là nhằm xác định rõ “ranh giới” giữa Luật TNBTCNN với các Luật, Bộ luật khác có liên quan[51],tr.4-5] Với quy định nêu trên thì

“trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được điều chỉnh bằng một khuôn khổ pháp lý riêng là Luật TNBTCNN mà không theo bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào khác”[6],tr.20]

Như vậy, dựa trên các quy định nêu trên trong BLDS 2015 và Luật TNBTCNN năm 2017 thì khi giải quyết bồi thường theo thủ tục tố tụng, Tòa

án sẽ lưu ý:,

T ứ n ất, việc xác định bị đơn trong vụ án dân sự về TNBTCNN hoặc

việc xác định bị đơn dân sự trong vụ án hình sự có yêu cầu bồi thường nhà nước hoặc việc xác định người bị kiện trong vụ án hành chính có yêu cầu bồi thường nhà nước được thực hiện trên cơ sở áp dụng các quy định về cơ quan

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 36

31

trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại tại các Điều từ Điều 33 đến Điều 39 Luật TNBTCNN năm 2017 mà không căn cứ vào các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hoặc tố tụng hình sự hoặc tố tụng hành chính

T ứ ai, việc xác định phạm vi TNBTCNN, thiệt hại được bồi thường

được thực hiện trên cơ sở áp dụng các quy định về phạm vi TNBTCNN, thiệt hại được bồi thường quy định tại các Chương II và III của Luật TNBTCNN năm 2017 mà không áp dụng các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong BLDS năm 2015 Như vậy, trong trường hợp các quan

hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết mối quan hệ Bồi thường nhà nước mà Luật TNBTCNN chưa điều chỉnh thì sẽ rất khó có cơ chế giải quyết triệt để, bởi sẽ có một vấn đề nào đó sẽ nằm ngoài “ranh giới” điều chỉnh của hai luật

1.2.2.2 Xác địn t ẩm quyền của Tòa án t eo quy địn của p áp luật

về trác n iệm bồi t ng của N à n ớc mà k ông t eo quy địn của p áp luật về tố tụng

Về vấn đề này, tương tự như trên với ràng buộc tại khoản 1 Điều 4 Luật TNBTCNN năm 2017 thì việc xác định thẩm quyền của Tòa án được thực hiện theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2017, cụ thể là:

(1) Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú, làm việc của người yêu cầu bồi thường hoặc nơi đặt trụ sở của bị đơn theo lựa chọn của người yêu cầu bồi thường là Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm yêu cầu bồi thường trong trường hợp bị đơn là các cơ quan sau đây: (1-1) Ủy ban nhân dân cấp huyện; (1-2) Ủy ban nhân dân cấp xã; (1-3) cơ quan có thẩm quyền cung cấp thông tin theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin ở cấp huyện và cấp xã; (1-4) cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố cáo theo quy định của Luật Tố cáo ở cấp huyện và cấp xã; (1-5) cơ quan ra quyết định

xử lý kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức ở cấp huyện và cấp xã; (1-6) cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện và (1-7) cơ quan thi hành án cấp huyện

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 37

1.2.2.3 Trìn tự t ủ tục mà Tòa án áp dụng để giải quyết là t eo trìn

tự quy địn tại Luật trác n iệm bồi t ng của N à n ớc

Khoản 5 Điều 52 Mục 2 Chương 5 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Tòa án được thực hiện theo quy định tại Mục này; trường hợp Mục này không quy định thì áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Như vậy, các quy định Luật TNBTCNN được ưu tiên áp dụng trước áp dụng các quy định của pháp luật về tố tụng dân

sự

Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường trong các trường hợp: (1) Người yêu cầu bồi thường chưa yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết yêu cầu bồi thường; (2) Người yêu cầu bồi thường rút yêu cầu bồi thường trước khi cơ quan giải quyết bồi thường tiến hành xác minh thiệt hại

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết bồi thường quy định tại Điều 47 của Luật này mà người yêu cầu bồi thường không đồng ý với quyết định đó hoặc kể từ ngày có biên bản kết quả thương lượng thành quy định tại khoản 7 Điều 46 của Luật này mà cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại không ra quyết định giải quyết bồi thường hoặc kể từ ngày có biên bản kết quả thương lượng không thành quy định tại khoản 7 Điều 46 của Luật này thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 38

33

Việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi

thường được thực hiện bởi: Cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ

gây thiệt hại có trách nhiệm chi trả tiền bồi thường cho người yêu cầu bồi thường; Cơ quan, tổ chức, người có liên quan phải thực hiện việc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác cho người bị thiệt hại theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường

Tương tự như vậy việc xác định thẩm quyền của tòa án như đã phân tích ở trên cũng thực hiện theo luật TNBTCNN

Như vậy, khi Tòa án thực hiện thụ lý vụ án yêu cầu bồi thường nhà nước thì trình tự thủ tục giải quyết vụ kiện sẽ áp dụng các quy định của Luật TNBTCNN như điều kiện khởi kiện, thẩm quyền của tòa án hay việc thi hành quyết, bản án của tòa án có hiệu lực pháp luật Các quy định khác của Luật tố tụng dân sự như thủ tục rút gọn và các thủ tục khác cũng sẽ được áp dụng để giải quyết trong quá trình giải quyết vụ kiện này nhưng ở mức độ thứ yếu

Đối với việc giải quyết bồi thường tại Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính và tố tụng hình sự thì Luật TNBTCNN năm 2017 dẫn chiếu áp dụng quy định của Luật Tố tụng hành chính và Bộ luật Tố tụng hình sự Đồng thời, Luật cũng giao Tòa án nhân dân tối cáo có trách nhiệm hướng dẫn thi hành các quy định có liên quan về giải quyết bồi thường trong quá trình tố tụng hành chính và quá trình tố tụng hình sự tại Tòa án

Kết luận Chương 1

Có thể nói, mặc dù là một quan hệ pháp luật dân sự nhưng xuất phát từ đặc thù là sự vận hành của yếu tố công vụ trong quá trình làm phát sinh TNBTCNN đã khiến cho TNBTCNN có những đặc thù riêng có so với một quan hệ pháp luật dân sự thông thường Trước hết, TNBTCNN là trách nhiệm khôi phục những tổn thất về tài sản, bù đắp những tổn thất về tinh thần, uy tín, danh dự khi cán bộ, công chức nhà nước có hành vi trái pháp luật trong khi thi hành công vụ gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cá

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 39

34

nhân, tài sản, uy tín của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể

khác TNBTCNN có những đặc điểm cơ bản sau: một là, TNBTCNN là trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; hai là, TNBTCNN

không chỉ là trách nhiệm tài sản mà còn là trách nhiệm khôi phục lại những

tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại; ba là, TNBTCNN phát sinh từ việc thi hành công vụ gây ra thiệt hại; bốn là, chủ thể của TNBTCNN luôn là Nhà nước; năm là, khách thể trong quan hệ TNBTCNN là khách thể kép, theo

đó, không chỉ là lợi ích vật chất hoặc tinh thần mà các chủ thể pháp luật mong muốn đạt được khi tham gia các quan hệ pháp luật mà còn là uy tín của Nhà nước

Để thực hiện TNBTCNN thì có nhiều cơ quan có liên quan có thể tham gia vào quá trình thực hiện TNBTCNN, trong đó, Tòa án là một trong những cơ quan có nhiều vai trò trong quá trình này Theo đó, Tòa án có thể giữ vai trò là cơ quan xác định tính hợp pháp hoặc bất hợp pháp của hành vi, quyết định của Nhà nước gây thiệt hại hoặc có thể giữ vai trò là cơ quan giải quyết bồi thường với tư cách là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại và quan trọng nhất, Tòa án còn là cơ quan giải quyết

bồi thường với tư cách là cơ quan xét xử theo thủ tục tố tụng

Với vai trò là cơ quan xét xử theo thủ tục tố tụng thì giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa án theo thủ tục tố tụng chính là việc Tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng và pháp luật TNBTCNN

áp dụng các quy định của pháp luật về TNBTCNN và pháp luật khác có liên quan xem xét, quyết định xử lý trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với

về những tổn thất về vật chất và tinh thần trên cơ sở đơn yêu cầu bồi thường của người yêu cầu bồi thường Và, so với việc xét xử một vụ án bình thường thì việc giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa án theo thủ tục tố tụng sẽ có những đặc điểm riêng đặc thù

Luận văn thạc sĩ Luật học

Trang 40

35

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT YÊU

CẦU BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TẠI TÒA ÁN Ở VIỆT NAM HIỆN

NAY

2.1 Thực trạng pháp luật về giải quyết yêu cầu bồi thường nhà

nước tại Tòa án theo thủ tục tố tụng ở Việt Nam

Ở Việt Nam, có thể nói quy định TNBTCNN đã được quy định từ rất sớm Ngay từ thời phong kiến, các Bộ luật nổi tiếng như Quốc triều hình luật, Quốc triều khám tụng điều lệ, Hoàng việt luật lệ… đã quy định về TNBTCNN Mặc dù ở thời kỳ phong kiến, TNBTCNN không phải là trách nhiệm của Nhà nước phong kiến đối với các thiệt hại gây ra cho người dân

mà là “quan lại trực tiếp bồi thường cho người bị thiệt hại Mối quan hệ bồi thường là giữa cá nhân với cá nhân”[45],tr.34] Có thể nói, kể từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho tới nay, một đặc điểm chung xuyên suốt của pháp luật TNBTCNN của Việt Nam được thể hiện rất rõ nét đó là quyền được Nhà nước bồi thường của người bị thiệt hại “luôn là một quyền hiến định”[60],tr.55], theo đó, quyền này luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp qua các thời kỳ Tác giả cho rằng, kể từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho đến nay, có thể phân chia quá trình hình thành và phát triển của chế định pháp luật về TNBTCNN thành các giai đoạn sau đây: (1) giai đoạn trước khi ban hành Luật TNBTCNN năm 2009; (2) giai đoạn khi

có Luật TNBTCNN năm 2009 và (3) giai đoạn khi có Luật TNBTCNN năm

2017

Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả xin phép giới hạn nêu ra và phân tích, đánh giá các quy định về giải quyết bồi thường nhà nước tại Tòa án theo thủ tục tố tụng ở hai giai đoạn như sau:

Luận văn thạc sĩ Luật học

Ngày đăng: 13/12/2023, 14:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Mai Anh Bồi t ng t iệt ại do ng i có t ẩm quyền của cơ quan tiến àn tố tụng gây ra, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi t ng t iệt ại do ng i có t ẩm quyền của cơ quan tiến àn tố tụng gây ra
3. Lê Thái Phương & Vũ Ngọc Anh (2014), T ực tiễn giải quyết bồi t ng trong oạt động quản lý àn c ín , Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề “Thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: T ực tiễn giải quyết bồi t ng trong oạt động quản lý àn c ín
Tác giả: Lê Thái Phương & Vũ Ngọc Anh
Năm: 2014
4. Vũ Ngọc Anh (2017), T ống n ất quản lý n à n ớc về công tác bồi t ng n à n ớc t eo Luật Trác n iệm bồi t ng của N à n ớc năm 2017 Số c uyên đề “Triển k ai t i àn Luật Trác n iệm bồi t ng của N à n ớc năm 2017, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T ống n ất quản lý n à n ớc về công tác bồi t ng n à n ớc t eo Luật Trác n iệm bồi t ng của N à n ớc năm 2017 Số c uyên đề “Triển k ai t i àn Luật Trác n iệm bồi t ng của N à n ớc năm 2017
Tác giả: Vũ Ngọc Anh
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2017
6. Nguyễn Văn Bốn (2017), N ững nội dung cơ bản của Luật Trác n iệm bồi t ng của N à n ớc năm 2017, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: N ững nội dung cơ bản của Luật Trác n iệm bồi t ng của N à n ớc năm 2017
Tác giả: Nguyễn Văn Bốn
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2017
7. Bộ Tài chính (1998), Thông t số 38/1998/TT-BTC ngày 30/3/1998 của Bộ Tài c ín ớng d n việc lập dự toán ngân sác n à n ớc c o bồiLuận văn thạc sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông t số 38/1998/TT-BTC ngày 30/3/1998 của Bộ Tài c ín ớng d n việc lập dự toán ngân sác n à n ớc c o bồi
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 1998
1. Bộ Công an (2004), T ông t số 18/2004/TT-BCA ngày 09/11/2004 của Bộ Công an ớng d n bồi t ng t iệt ại c o các tr ng ợp bị oan do ng i có t ẩm quyền trong oạt động tố tụng ìn sự t uộc công an nhân dân gây ra Khác
5. Bộ Tư pháp Bộ Tài chính (2012), T ông t liên tịc số 71/2012/TTLT- BTC-BTP ngày 9/5/2012 của Bộ Tài c ín và Bộ T p áp quy địn việc lập dự toán quản lý sử dụng và quyết toán kin p í t ực iện trác n iệm bồi t ng của N à n ớc Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w