1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Toàn cầu hóa và quá trình hội nhập của việt nam

18 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Toàn cầu hóa và quá trình hội nhập của Việt Nam
Người hướng dẫn Trần Thiện Trí
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Kinh doanh quốc tế
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 91,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biểu hiện của toàn cầu hoá có thể dưới dạng khu vực hoá – việc liên kết khu vực và các định chế, các tổ chức khu vực, hay cụ thể, toàn cầu hoá là “quá trình hình thành và phát triển các

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

MÔN HỌC: KINH DOANH QUỐC TẾ

BÀI TẬP CÁ NHÂN

Chủ đề tiểu luận : TOÀN CẦU HÓA VÀ QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP CỦA VIỆT

NAM

Giảng viên hướng dẫn : TRẦN THIỆN TRÍ

Trang 2

Mục lục

I Cơ sở lý luận chung về toàn cầu hóa: 3

1 Khái quát về toàn cầu hóa: 3

a Toàn cầu hóa là gì? 3

b Lịch sử của toàn cầu hóa: 3

2 Bản chất của toàn cầu hóa: 4

3 Ý nghĩa của toàn cầu hóa: 5

II Các tác động của toàn cầu hóa kinh tế: 6

1 Tác động tích cực của toàn cầu hóa kinh tế: 6

2 Tác động tiêu cực của toàn cầu hóa kinh tế: 8

III Ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa đối với doanh nghiệp Việt Nam: 10

1 Cơ hội: 10

2 Thách thức: 12

IV Các giải pháp và phương hướng phát triển đối với doanh nghiệp Việt Nam: 14

1 Điểm mạnh: 14

2. Điểm yếu 15

3 Phương hướng phát triển đối với các doanh nghiệp Việt Nam: 15

4 Các giải pháp phát triển đối với các doanh nghiệp Việt Nam: 15

a Doanh nghiệp cần làm gì để đạt được những điều kiện cần có cho hội nhập toàn cầu: 15 b Chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp lựa chọn trong quá trình toàn cầu hóa 16

Link tham khảo: 18

Trang 3

I Cơ sở lý luận chung về toàn cầu hóa:

1 Khái quát về toàn cầu hóa:

a Toàn cầu hóa là gì?

Toàn cầu hóa (Globalization): là sự thay đổi theo hướng hội nhập và phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn của nền kinh tế thế giới

Theo nghĩa hẹp, toàn cầu hoá là một khái niệm kinh tế chỉ quá trình hình thành thị trường toàn cầu làm tăng sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia Biểu hiện của toàn cầu hoá có thể dưới dạng khu vực hoá – việc liên kết khu vực và các định chế, các tổ chức khu vực, hay cụ thể, toàn cầu hoá là “quá trình hình thành và phát triển các thị trường toàn cầu và khu vực, làm tăng sự tương tác và tuỳ thuộc lẫn nhau, trước hết về kinh tế, giữa các nước thông qua sự gia tăng các luồng giao lưu hàng hoá và nguồn lực (resources) qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành các định chế, tổ chức quốc tế nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế.”

b Lịch sử của toàn cầu hóa:

Toàn cầu hoá, theo nghĩa cổ điển, đã bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ XV, sau khi có những thám hiểm hàng hải quy mô lớn Cuộc thám hiểm lớn lần đầu tiên vòng quanh thế giới

do Ferdinand Magellan thực hiện vào năm 1522 Cũng như việc xuất hiện các trục đường trao đổi thương mại giữa châu

Âu, châu Á, châu Phi và châu Mỹ không phải là hiện tượng gần đây Ngoài những trao đổi về hàng hoá vật chất, một số giống cây cũng được đem trồng từ vùng khí hậu này sang vùng khí hậu khác (chẳng hạn như khoai tây, cà chua và thuốc lá) Do có hai khía cạnh kỹ thuật và chính trị, "toàn cầu hoá" sẽ có nhiều lịch

sử khác nhau Thông thường trong phạm vi của môn kinh tế học và kinh tế chính trị học, toàn cầu hoá chỉ là lịch sử của việc trao đổi thương mại không ngừng giữa các nước dựa trên những

cơ sở ổn định cho phép các cá nhân và công ty trao đổi hàng hoá với nhau một cách trơn tru nhất Thuật ngữ "tự do hoá" xuất hiện

để chỉ sự kết hợp của học thuyết kinh tế về thị trường tự do tuyệt đối và sự hủy bỏ các rào cản đối với việc lưu thông hàng hoá Điều này dẫn tới sự chuyên môn hoá không ngừng của các nước

Trang 4

trong lĩnh vực xuất khẩu, cũng như tạo ra áp lực chấm dứt hàng rào thuế quan bảo hộ và các rào cản khác Thời kỳ bắt đầu dùng vàng làm tiêu chuẩn của hệ thống tiền tệ (bản vị vàng) và

tự do hoá trong thế kỷ thứ XIX thường được chính thức gọi là

"thời kỳ đầu của toàn cầu hoá" Cùng với thời kỳ bành trướng của đế quốc Anh (Pax Britannica) và việc trao đổi hàng hoá bằng các loại tiền tệ có sử dụng tiền xu, thời kỳ này là cùng với giai đoạn công nghiệp hoá Cơ sở lý thuyết là công trình của David Ricardo nói về lợi thế so sánh và luật cân bằng chung của Jean-Baptiste Say, cho rằng, về cơ bản các nước sẽ trao đổi thương mại một cách hiệu quả, và bất kỳ những bất ổn tạm thời về cung hay cầu cũng sẽ tự động được điều chỉnh Việc thiết lập bản vị vàng bắt đầu ở các nước công nghiệp hoá chính khoảng giữa năm 1850 và năm 1880, mặc dù chính xác khi nào các nước này áp dụng bản vị vàng vẫn còn là đề tài gây nhiều tranh cãi "Thời kỳ đầu của toàn cầu hoá" rơi vào thoái trào khi bắt đầu bước vào Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, và sau đó sụp đổ hẳn khi xảy ra khủng hoảng bản vị vàng vào cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930 Trong môi trường hậu Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thương mại quốc tế đã tăng trưởng đột ngột do tác động của các tổ chức kinh tế quốc tế và các chương trình tái kiến thiết Kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các Vòng đàm phán thương mại do GATT khởi xướng, đã đặt lại vấn đề toàn cầu hoá và từ đó dẫn đến một loạt các hiệp định nhằm gỡ bỏ các hạn chế đối với "thương mại tự do" Vòng đàm phán Uruguay đã đề ra hiệp ước thành lập Tổ chức thương mại thế giới hay WTO, nhằm giải quyết các tranh chấp thương mại Các hiệp ước thương mại song phương khác, bao gồm một phần của Hiệp ước Maastricht của châu Âu và Hiệp ước mậu dịch tự

do Bắc Mỹ (NAFTA) cũng đã được ký kết nhằm mục tiêu giảm bớt các thuế quan và rào cản thương mại Từ thập kỷ 1970, các tác động của thương mại quốc tế ngày càng rõ rệt, cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực

2 Bản chất của toàn cầu hóa:

Toàn cầu hóa xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới Toàn cầu hóa thể hiện sự biến đổi tương quan giữa quan hệ sản

Trang 5

xuất nhằm tới sự điều chỉnh thích ứng lực lượng sản xuất biến thiên liên tục trên quy mô thế giới Toàn cầu hóa làm cho các nền kinh tế quốc gia bị hòa nhập vào và được cấu trúc lại trên quy mô quốc tế thông qua một loạt quy trình, giao lưu, trao đổi Như vậy, toàn cầu hóa không chỉ là sự phụ thuộc lẫn nhau, dù là phụ thuộc toàn diện giữa các nền kinh tế mà là sự hòa nhập các nền kinh tế này để xu thế hình thành nên một nền kinh tế toàn cầu thống nhất Một mặt, Toàn cầu hóa là xu thế khách quan gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế Bản chất khách quan của toàn cầu hóa được quy định bởi tính tất yếu khách quan của quá trình quốc tế hóa Những phát kiến địa lý, giao thông vận tải đã mở ra cơ hội cho quá trình quốc tế hóa kinh tế vào thế kỷ XV, nhưng tiến trình này chỉ thực sự tăng tốc sau khi cách mạng công nghiệp ở Anh Quá trình quốc tế hóa mang tính tất yếu khách quan, do đòi hỏi của bản thân nền sản xuất, đặc biệt là

do sự phát triển của lực lượng sản xuất Cách mạng khoa học-công nghệ tạo tiền đề cho bước quá độ từ cơ sở vật chất-kỹ thuật truyền thống sang cơ sở vật chất-kỹ thuật hoàn toàn mới về chất ở một số nước kinh tế phát triển Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ, loài người đang từng bước tiến vào kinh tế tri thức, lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa cao độ, phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội, thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển, đồng thời tạo ra những phương tiện có hiệu quả đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa Mặt khác, Toàn cầu hóa trong giai đoạn hiện nay gắn liền với chủ nghĩa tư bản và hiện đang bị chủ nghĩa tư bản, nhất là các nước tư bản phát triển chi phối, lợi dụng để phục vụ cho mục đích của họ Hay nói cách khác, toàn cầu hóa hiện nay đang trong quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản

Theo logic của C.Mác, quá trình quốc tế hóa kinh tế dù mang trong

nó yếu tố khách quan, nhưng bên trong nó và thúc đẩy nó luôn là ý muốn áp đặt chủ quan của những thể lực nắm giữ sức mạnh kinh tế Nói cách khác, toàn cầu hóa không phải là cái gì khác ngoài kết quả của tính tất yếu khách quan của sản xuất và ý đồ chủ quan của chủ nghĩa tư bản vì mục tiêu lợi nhuận

3 Ý nghĩa của toàn cầu hóa:

- Thuật ngữ toàn cầu hoá xuất hiện vào những năm 1950, với sự

phổ biến các phương tiện vận tải có động cơ và sự gia tăng các trao đổi thương mại; và được chính thức sử dụng rộng rãi từ những năm 1990 của thế kỷ thứ XX "Toàn cầu hóa" có thể có nghĩa là:Sự hình thành nên một ngôi làng toàn cầu — dưới tác động của những tiến bộ trong lĩnh vực tin học và viễn thông,

Trang 6

quan hệ giữa các khu vực trên thế giới ngày càng gần gũi hơn, cộng với sự gia tăng không ngừng về các trao đổi ở mức độ cá nhân và sự hiểu biết lẫn nhau cũng như tình hữu nghị giữa các

"công dân thế giới", dẫn tới một nền văn minh toàn cầu,

- Toàn cầu hoá kinh tế — "thương mại tự do" và sự gia tăng về

quan hệ giữa các thành viên của một ngành công nghiệp ở các khu vực khác nhau trên thế giới (toàn cầu hoá một nền kinh tế) ảnh hưởng đến chủ quyền quốc gia trong phạm vi kinh tế

- Tác động tiêu cực của các tập toàn đa quốc gia tìm kiếm lợi

nhuận — việc sử dụng các phương tiện luật lệ và tài chính mạnh

mẽ và tinh vi để vượt qua giới hạn của các tiêu chuẩn và luật pháp địa phương hòng lợi dụng nhân công và dịch vụ của các vùng phát triển chưa đồng đều lẫn nhau Sự lan rộng của chủ nghĩa tư bản từ các quốc gia phát triển sang các quốc gia đang phát triển Khái niệm này cũng chia sẻ một số tính chất với khái niệm quốc tế hoá và có thể dùng thay cho nhau được, mặc dù có một số người thích dùng "toàn cầu hoá" để nhấn mạnh sự mờ nhạt của ý niệm nhà nước hay biên giới quốc gia Toàn cầu hóa được định nghĩa một cách khách quan nhất là sự phụ thuộc qua lại không ngừng giữa các quốc gia và các cá nhân Sự phụ thuộc qua lại có thể xảy ra trên lĩnh vực kinh tế, công nghệ, môi trường, văn hoá hay xã hội Rõ ràng cần phân biệt toàn cầu hoá kinh tế với khái niệm rộng hơn là toàn cầu hoá nói Khái niệm chủ nghĩa toàn cầu, nếu chỉ được sử dụng trong phạm vi kinh tế, có thể được xem là trái ngược hẳn với khái niệm chủ nghĩa kinh tế quốc gia và chủ nghĩa bảo hộ Nó có liên quan đến khái niệm chủ nghĩa tư bản không can thiệp và chủ nghĩa tân tự do

1 Tác động tích cực của toàn cầu hóa kinh tế:

- Phát huy được lợi thế so sánh để phát triển: Lợi thế so sánh

luôn biến đổi phụ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nước Nước nào có nền kinh tế càng kém phát triển thì lợi thế so sánh càng suy giảm

- Tăng nguồn vốn đầu tư: Kinh tế toàn cầu hóa, khu vực hóa

biểu hiện nổi bật ở dòng luân chuyển vốn toàn cầu Điều đó tạo

cơ hội cho các nước đang phát triển có thể thu hút được nguồn vốn bên ngoài cho phát triển trong nước, nếu nước đó có cơ chế thu hút thích hợp Thiết lập một cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư

Trang 7

nội địa hợp lý là cơ sở để định hướng thu hút đầu tư nước ngoài Các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm các ưu đãi từ những điều kiện và môi trường đầu tư bên trong để thúc đẩy chương trình đầu tư của họ Các nước đang phát triển đã thu hút và sử dụng một lượng khá lớn vốn nước ngoài cùng với nguồn vốn đó, vốn trong nước cũng được huy động

- Nâng cao trình độ kỹ thuật – công nghệ: Trong quá trình toàn

cầu hóa, khu vực hóa các nước đang phát triển có điều kiện tiếp cận và thu hút những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới, qua đó mà nâng dần trình độ công nghệ sản xuất của các nước đang phát triển Do vậy, mà ngày càng nâng cao được trình độ quản lý và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế các nước đang phát triển Toàn cầu hóa, khu vực hóa được đánh giá như một công cụ đặc hiệu để nâng cao trình độ kỹ thuật - công nghệ ở các nước đang phát triển Bởi lẽ, trong quá trình tham gia vào liên doanh, liên kết sản xuất quốc tế, hợp đồng hợp tác kinh doanh, các dự án FDI các nước đang phát triển có điều kiện tiếp cận những công nghệ, kiến thức và kỹ năng hết sức phong

phú, đa dang của các nước đang phát triển Thay đổi được cơ

cấu nền kinh tế theo hướng tích cực: toàn cầu hóa, khu vực

hóa đòi hỏi nền kinh tế của các quốc gia, trong đó có các nước đang phát triển phải tổ chức lại với cơ cấu hợp lý Kinh tế thế giới đang chuyển mạnh từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Nhưng ở các nước phát triển những ngành có hàm lượng chất xám, hàm lượng công nghệ cao, hàm lượng vốn lớn đang chiếm ưu thế, còn ở những nước đang phát triển chỉ

có thể đảm nhận những ngành có hàm lượng cao về lao động, nguyên liệu và hàm lượng thấp về công nghệ, vốn Tuy nhiên, nếu nước đang phát triển nào chủ động, biết tranh thủ cơ hội, tìm ra được con đường phát triển rút ngắn thích hợp, thì có thể vẫn sớm có được nền kinh tế tri thức

- Mở rộng kinh tế đối ngoại: toàn cầu hóa, khu vực hóa làm cho

quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế trở thành xu hướng tất yếu và diễn ra hết sức mạnh mẽ do sự phát triển cao của lực lượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học -công nghệ Toàn cầu hóa, khu vực hóa đang diễn ra với tốc độ cao, càng đòi hỏi mạnh mẽ việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi nền kinh tế, đặc biệt là đối với các nước đang

Trang 8

phát triển Và chỉ bằng cách đó mới có thể khai thác có hiệu quả nguồn lực quốc tế

- Cơ sở hạ tầng được tăng cường: Quá trình toàn cầu hóa, khu

vực hóa đã tạo ra cơ hội để nhiều nước đang phát triển phát triển

hệ thống cơ sở hạ tầng về giao thông vận tải, về bưu chính viễn thông, về điện, nước ở các nước đang phát triển, mức thu nhập tính theo đầu người rất thấp, do đó tích luỹ cũng vô cùng thấp vì phần lớn thu nhập dùng vào sinh hoạt Trong khi đó các nước đang phát triển lại rất cần những lượng vốn lớn để xây dựng kết cấu hạ tầng và xây dựng những công trình thiết yếu nhằm phát triển kinh tế Bởi vậy, xuất hiện khoảng cách lớn giữa nhu cầu đầu tư và tích luỹ vốn Cho nên các nước đang phát triển muốn tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng thì phải biết tạo môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài Chỉ có thông qua các quan hệ kinh tế đối ngoại mới có thể cải tạo, đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của các cơ sở sản xuất hiện có; cải tiến, hiện đại hoá công nghệ truyền thống; xây dựng những hướng công nghệ hiện đại Nhờ đó mà xây dựng cơ sở vật chất

- kỹ thuật, cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế

- Học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến: Các nước có nền kinh

tế phát triển thường có phương thức, cách thức quản lý nền kinh

tế tiên tiến với những công cụ quản lý hiện đại Thông qua các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế các nước ĐPT học tập những kinh nghiệm quản lý tiên tiến hiện đại của các nước phát triển Học tập trực tiếp qua các dự án đầu tư, qua các Xí nghiệp, Công

ty liên doanh , qua việc đàm phán ký kết các hợp đồng kinh tế

2 Tác động tiêu cực của toàn cầu hóa kinh tế:

- Tăng trưởng kinh tế không bền vững do phụ thuộc vào xuất khẩu: Nền kinh tế các nước đang phát triển đang cơ cấu lại theo

chiến lược kinh tế thị trường mở, hội nhập quốc tế Nhưng trong quá trình đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nhiều nước đang phát triển phụ thuộc phần lớn vào xuất khẩu Mà xuất khẩu lại phụ thuộc vào sự ổn định của thị trường thế giới, vào giá cả quốc tế, vào lợi ích của các nước nhập khẩu, vào độ mở cửa thị trường của các nước phát triển do vậy, mà chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn, khó lường trước

Trang 9

- Lợi thế của các nước đang phát triển đang bị yếu dần: Nền

kinh tế thế giới đang chuyển mạnh từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Do vậy mà những yếu tố được coi là lợi thế của các nước đang phát triển như tài nguyên, lực lượng lao động dồi dào, chi phí lao động thấp sẽ yếu dần đi, còn ưu thế về kỹ thuật - công nghệ cao, về sản phẩm sở hữu trí tuệ, về vốn lớn lại đang là ưu thế mạnh của các nước phát triển Ba dòng luân chuyển toàn cầu là kỹ thuật - công nghệ, thông tin và vốn đang trở thành động lực thúc đẩy tòa cầu hóa – khu vực hóa Trong quá trình đó, lợi thế so sánh của các nước cũng biến đổi căn bản: trên phạm vi toàn cầu lợi thế đang nghiêng về các nước phát triển vì ở đó dang có ưu thế về trí tuệ, hàm lượng công nghệ cao và vốn lớn Các nước đang phát triển đang bị giảm dần

ưu thế do lợi thế về lao động rẻ, tài nguyên phong phú đang bị suy yếu Và các nước càng kém phát triển thì càng phải chịu nhiều thua thiệt và rủi ro do sự suy giảm về lợi thế so sánh gây ra

- Nợ nần của các nước đang phát triển tăng lên: Sau một thời

gian tham gia toàn cầu hóa – khu vực hóa nợ nần của nhiều nước đang phát triển ngày càng thêm chồng chất Khoản nợ quá lớn (trên 2200 tỷ USD) là gánh nặng đè lên nền kinh tế của các nước đang phát triển, nó là lực cản kéo lùi tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước này

- Sức cạnh tranh của nền kinh tế yếu kém: toàn cầu hóa – khu

vực hóa đã làm cho vấn đề cạnh tranh toàn cầu trở nên ngày càng quyết liệt Xuất phát điểm và sức mạnh của mỗi quốc gia khác nhau, nên cơ hội và rủi ro của các nước là không ngang nhau Nền kinh tế của các nước đang phát triển dễ bị thua thiệt nhiều hơn trong cuộc cạnh tranh không ngang sức này Càng phải phá bỏ hàng rào bảo hộ thì thách thức đối với các nước đang phát triển càng lớn Chính sự yếu kém về kỹ thuật, công nghệ, vốn, kỹ năng tổ chức nền kinh tế của các nước đang phát triển sẽ làm cho chênh lệch về trình độ phát triển giữa các nước đang phát triển với các nước phát triển sẽ ngày càng cách xa hơn Từ đó cho thấy rằng: việc áp dụng nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng cho các nước có trình độ kinh tế khác xa nhau thực chất là một sự bất bình đẳng Trên một sân chơi ngang bằng, cạnh tranh ‘’bình đẳng’’ những nền kinh tế lớn mạnh, những

Trang 10

công ty có sức mạnh nhất định sẽ chiến thắng những nền kinh tế còn kém phát triển, những công ty còn nhỏ yếu Tính chất bất bình đẳng trong cạnh tranh quốc tế hiện nay đang đem lại những thua thiệt cho các nước đang phát triển

- Mở rộng lãnh thổ, tăng thêm dân số: Trước khi CHXH ở Liên

Xô và Đông Âu (cũ) tan rã, các nước đang phát triển trên thế giới là 163/191 quốc gia và khu vực Hiện nay con số này là 180/210 Bởi lẽ các nước Liên Xô và Đông Âu là 9 nước, nay đã chia tách thành 28 nước Điều đó làm cho dân số ở các nước đang phát triển hiện nay tăng thêm khoảng hơn 400 triệu, đất đai tăng thêm hơn 25 triệu km2

- Phân hoá giàu nghèo giữa hai nhóm nước: phát triển và đang phát triển tăng lên: Quá trình toàn cầu hóa – khu vực hóa

là quá trình làm tăng thêm sự phân hoá giàu nghèo giữa hai nhóm nước: phát triển và đang phát triển

- Môi trường sinh thái ngày càng xấu đi: Việc chuyển dịch

những ngành đòi hỏi nhiều hàm lượng lao động, tài nguyên nhiều những ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường sang các nước đang phát triển; việc các nhà tư bản nước ngoài đầu tư vào các nước đang phát triển ngày càng trở nên xấu đi nhanh chóng Hơn nữa, trong quá trình toàn cầu hóa sự phát triển của các nước phát triển không chỉ dựa vào tài nguyên giá rẻ, sức lao động rẻ, thị trường giá rẻ, hàng hoá và dịch vụ rẻ; mà còn dựa vào đầu độc môi trường sinh thái ở các nước đang phát triển

Nam:

Hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như toàn cầu hóa tạo ra nhữ cơ hội mới

và những thách thức mới cho các doanh nghiệp Việt Nam

1 Cơ hội:

Có một thị trường rộng lớn để có thể tiêu thụ sản phẩm được sản xuất ra trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thu hút vốn đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài, các nguồn viện trợ phát triển của các nước và các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) ; có điều kiện tiếp nhận công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý thông qua các dự án đầu tư + Thị trường ở đây bao gồm cả thị trường tiêu thụ và thị trường

Ngày đăng: 12/12/2023, 20:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w