1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích đánh giá các quy định của pháp luật thi hành án dân sự việt nam hiện hành về thẩm quyền và thời hiệu thi hành án dân sự và nêu kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

18 59 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích, Đánh Giá Các Quy Định Của Pháp Luật Thi Hành Án Dân Sự Việt Nam Hiện Hành Về Thẩm Quyền Và Thời Hiệu Thi Hành Án Dân Sự Và Nêu Kiến Nghị Hoàn Thiện Pháp Luật Về Vấn Đề Này
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Thi Hành Án Dân Sự
Thể loại bài tập nhóm
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 831,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong trường hợp chủ thể chây ỳ, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ thì đồng nghĩa với việc quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể vẫn chưa được bảo đảm, tất yếu dẫn đến thủ tục yêu cầu c

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP NHÓM

MÔN: LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

ĐỀ BÀI: 02

“ Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật Thi hành án dân sự Việt Nam hiện hành

về thẩm quyền và thời hiệu thi hành án dân sự

và nêu kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn

đề này ”

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I Khái quát chung về thẩm quyền và thời hiệu thi hành án dân sự 1

1.1 Khái niệm thẩm quyền thi hành án dân sự 1

1.2 Khái niệm thời hiệu thi hành án dân sự 2

1.3 Ý nghĩa của việc quy định về thẩm quyền và thời hiệu thi hành án dân sự 2

II Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật về thẩm quyền thi hành án dân sự 2

2.1 Thẩm quyền thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân sự 2

2.2 Thẩm quyền thi hành án dân sự của văn phòng thừa phát lại 5

III Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật về thời hiệu thi hành án dân sự 7

3.1 Quyền yêu cầu thi hành án 7

3.2 Cách tính thời hiệu 8

3.3 Thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án 9

3.4 Khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự 9

IV Những vướng mắc trong quy định pháp luật về thẩm quyền và thời hiệu thi hành án dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật 11

4.1 Những vướng mắc trong quy định pháp luật 11

4.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 13

KẾT LUẬN 14

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 4

1

MỞ ĐẦU

Bản án, quyết định dân sự của Tòa án mặc dù có hiệu lực pháp luật nhưng trong nhiều trường hợp mới chỉ khẳng định được quyền và nghĩa vụ của các chủ thể Để các quyền và nghĩa vụ đó được thực thi trong thực tế, trong nhiều trường hợp còn phụ thuộc vào việc các chủ thể có tự nguyện thi hành, nghiêm chỉnh tuân thủ phán quyết của Tòa

án hay không Trong trường hợp chủ thể chây ỳ, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ thì đồng nghĩa với việc quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể vẫn chưa được bảo đảm, tất yếu dẫn đến thủ tục yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp tổ chức thi hành bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Thi hành án dân sự là làm cho các bản án, quyết định dân sự được đưa ra thi hành; thi hành án dân sự là khâu cuối của quá trình tố tụng, nhằm hiện thực hóa những phán quyết của Tòa án vào thực tiễn cuộc sống;

có vị trí, ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thực thi công lý, xây dựng một xã hội trật tự,

kỷ cương và ổn định Cũng giống như pháp luật tố tụng dân sự, luật thi hành án dân sự cũng quy định về thẩm quyền và thời hiệu thi hành án dân sự Qua các thời kì, các quy định này đã ngày một tiến bộ và phát huy được hiệu quả trong thực tiễn, tuy nhiên cũng

có không ít những vướng mắc khi thực thi quy định pháp luật Chính vì vậy, nhằm

nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này, nhóm lựa chọn đề tài: “Phân tích, đánh giá các quy

định của pháp luật Thi hành án dân sự Việt Nam hiện hành về thẩm quyền và thời hiệu thi hành án dân sự và nêu kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.”

NỘI DUNG

I Khái quát chung về thẩm quyền và thời hiệu thi hành án dân sự

1.1 Khái niệm thẩm quyền thi hành án dân sự

Hiện nay, trong hệ thống các ngành khoa học nói chung và khoa học pháp lý nói riêng, có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến thẩm quyền Tuy nhiên, dưới góc độ ngành luật thi hành án dân sự, thì thẩm quyền thi hành án dân sự có thể hiểu là tổng thể những quyền và nghĩa vụ của hệ thống cơ quan thi hành án dân sự được pháp luật quy định Cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan chuyên môn trong bộ máy hành chính, họ thực hiện những hoạt động chuyên môn nghiệp vụ đó là thi hành những bản án, quyết định của Tòa án, phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại theo trình tự, thủ tục của pháp luật thi hành án dân sự Ngoài những quy định chung về thẩm quyền của hệ thống cơ quan thi hành án dân sự, pháp luật còn quy định cụ thể những nhiệm vụ, quyền hạn riêng cho từng cơ quan thi hành án dân sự ở các cấp khác nhau như: thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện, cấp quân khu Bên cạnh các cơ quan thi hành án dân sự, Việt Nam còn ghi nhận mô hình thi hành án dân sự tư Các văn phòng thừa phát lại cũng có thẩm quyền trong việc tổ chức thi hành án

Trang 5

2

1.2 Khái niệm thời hiệu thi hành án dân sự

Tại khoản 5 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm

2014) đưa ra khái niệm về thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự như sau: “Thời hiệu yêu

cầu thi hành án dân sự là thời hạn do pháp luật quy định cho người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, thừa phát lại tổ chức thi hành án dân sự” Thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự có thể hiểu là thời hạn

do pháp luật quy định mà trong khoảng thời gian đó đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành bản án, quyết định của Toà án, Trọng tài thương mại Thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự chỉ đặt ra đối với phần bản án, quyết định thi hành theo yêu cầu của đương sự Đối với phần bản án, quyết định việc thi hành mang lại lợi ích cho Nhà nước thì cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm chủ động thi hành

án nên không áp dụng thời hiệu thi hành án dân sự

1.3 Ý nghĩa của việc quy định về thẩm quyền và thời hiệu thi hành án dân sự

Về thẩm quyền thi hành án dân sự: Việc pháp luật phân định thẩm quyền thi

hành án dân sự giữa các cơ quan sẽ tránh được sự chồng chéo trong việc tổ chức thi hành án giữa các cấp, các vùng lãnh thổ với nhau Đồng thời rèn luyện được tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của các cấp cơ quan thi hành án dân sự đối với công việc của mình Hơn thế nữa, sẽ giúp cho việc tổ chức thi hành án dân sự đảm bảo được tính hiệu quả, minh bạch, công khai

Về thời hiệu thi hành án dân sự: Pháp luật quy định thời hiệu thi hành án dân

sự có ý nghĩa trước hết là bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự trong thi hành án dân sự Ngoài ra, việc pháp luật quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự còn có ý nghĩa bảo đảm cho việc tổ chức thi hành án dân sự được thuận lợi, tránh được những trường hợp việc xét xử đã lâu đương sự mới yêu cầu thi hành án sẽ gây khó khăn cho cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại trong việc xác minh tài sản, địa chỉ của người phải thi hành án, tổ chức thi hành án…1

II Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật về thẩm quyền thi hành án dân sự 2.1 Thẩm quyền thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân sự

Về cơ bản, để xác định thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự, cần quan tâm tới ba yếu tố tương tự như xác định thẩm quyền tố tụng dân sự là thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ

1 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Thi hành án dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân,

tr.123

Trang 6

3

2.1.1 Thẩm quyền theo loại việc

Thẩm quyền của cơ quan THADS không chỉ bao gồm những bản án, quyết định của Toà án trong nước mà còn là những bản án, quyết định của cơ quan tài phán nước ngoài Cùng với đó, các quyết định của Chủ tịch Uỷ ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng

xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại cũng nằm trong thẩm quyền thi hành của cơ quan THADS2

Điểm mới rất quan trọng của LTHADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)

là bổ sung thêm phán quyết3 của Trọng tài thương mại vào các đối tượng được thi hành

án Việc bổ sung thêm này là hợp lý và cập nhật sát với thực tiễn các tranh chấp phát sinh thường xuyên trong thực tế hiện nay, đồng thời mở rộng hơn thẩm quyền theo loại việc của cơ quan THADS

Nhìn chung, việc trao thẩm quyền cho cơ quan THADS một cách toàn diện như vậy có thể đánh giá là hợp lý, bởi lẽ cơ quan THADS là cơ quan chuyên trách, các chấp hành viên đều được đào tạo về nghiệp vụ một cách chuyên nghiệp Việc phân chia rõ ràng các loại bản án, quyết định được thi hành như tại Điều 2 cũng góp phần giúp các

cơ quan chuyên trách có thể dễ dàng xác định được thẩm quyền theo loại việc của mình

2.1.2 Thẩm quyền theo cấp

Thẩm quyền thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân sự các cấp là thẩm quyền thi hành án dân sự được xác định theo các cấp cơ quan thi hành án dân sự Hiện nay, sự phân cấp thẩm quyền này được quy định tại Điều 35 LTHADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) Theo đó, việc phân định thẩm quyền thi hành án dân sự các cấp căn cứ vào tính chất đơn giản hay phức tạp của việc thi hành mỗi loại bản án, quyết định

Cơ quan THADS cấp huyện có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định được quy định tại khoản 1 Điều 35 LTHADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) Có thể thấy, những bản án, quyết định được xét xử sơ thẩm tại TAND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì đều thuộc thẩm quyền thi hành án của cơ quan THADS cấp huyện

Vì đây là những bản án, quyết định mà việc thi hành có thể đơn giản cho nên pháp luật quy định cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có thẩm quyền thi hành

Đối với cơ quan THADS cấp tỉnh thì thẩm quyền thi hành án rộng và sâu hơn khá nhiều so với cấp huyện Những bản án, quyết định mà việc thi hành có thể phức tạp như bản án, quyết định về vụ việc tòa án cấp tỉnh xét xử sơ thẩm thì do cơ quan THADS cấp tỉnh thi hành Theo khoản 2 Điều 35 LTHADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), ngoài bản án, quyết định của TAND, cơ quan THADS cấp tỉnh còn có thẩm

2 Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)

3 Khoản 9 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010

Trang 7

4

quyền đối với bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của của Trọng tài nước ngoài được Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban

Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh…4

Cuối cùng, về thẩm quyền của cơ quan thi hành án cấp quân khu, có thể thấy chủ thể này khá đặc biệt khi không phân chia cụ thể như hai trường hợp trên Tính chất đặc thù của những bản án, quyết định mà chủ thể này có thẩm quyền thi hành được quy định

tại khoản 3 Điều 35 LTHADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) như sau: “Quyết

định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa

án quân sự quân khu và tương đương trên địa bàn…” 5

Theo những quy định trên, có thể thấy tuỳ vào mức độ phức tạp và tính chất đặc thù của vụ việc mà mỗi cấp sẽ có thẩm quyền thi hành án khác nhau Tuy nhiên trên thực tế, trong trường hợp cấp dưới gặp khó khăn thì vẫn có thể yêu cầu cơ quan thi hành

án dân sự cấp trên hỗ trợ

Việc phân định thẩm quyền THADS giữa các cơ quan THADS các cấp sẽ tránh được sự chồng chéo trong việc tổ chức thi hành án giữa các cơ quan cấp dưới và cấp trên Theo quy định hiện nay, việc phân định thẩm quyền theo cấp căn cứ hoàn toàn vào tính chất phức tạp của việc thi hành bản án hay quyết định Ở thời điểm hiện tại không

có quy định cụ thể về việc thế nào là bản án hay quyết định có tính chất phức tạp mà cần căn cứ xem cơ quan nào là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, yêu cầu Ví dụ đối với những bản án, quyết định về vụ việc Toà án cấp tỉnh xét xử sơ thẩm thì cơ quan THADS cấp tỉnh sẽ có thẩm quyền thi hành án, bởi lẽ vụ việc cần đến Toà án cấp tỉnh giải quyết thực tế đều có thể gặp rất nhiều những trở ngại trong quá trình thi hành án và ngược lại Hiện nay, ở bất kỳ địa phương nào trên cả nước đều tồn tại mối quan hệ mật thiết giữa Toà án và cơ quan Thi hành án, thậm chí ở rất nhiều địa phương, trụ sở của

cơ quan THADS và TAND được đặt rất gần nhau Từ thực tiễn này, có thể thấy quy định Toà án cấp nào xét xử thì cơ quan THADS cấp đó có thẩm quyền thi hành bản án, quyết định là rất hợp lý Và quy định như hiện nay không chỉ đảm bảo hiệu quả của việc

tổ chức thi hành án dân sự, mà còn tránh được tình trạng thiếu trách nhiệm, ỉ lại của cơ quan THADS cấp dưới

2.1.3 Thẩm quyền theo lãnh thổ

Tương tự như quy định của pháp luật tố tụng dân sự, việc xác định thẩm quyền của cơ quan THADS cũng phụ thuộc vào yếu tố lãnh thổ Cơ sở của việc xác định thẩm

4 Xem thêm tại: Khoản 2 Điều 35 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)

5 Xem thêm tại: Khoản 3 Điều 35 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)

Trang 8

5

quyền này chính là căn cứ vào việc cơ quan THADS tại nơi nào có điều kiện tổ chức thi hành án tốt nhất thì sẽ có thẩm quyền thi hành

Hiện nay không có quy định nào hướng dẫn về việc thế nào là điều kiện thi hành

án tốt nhất, tuy nhiên theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án trước hết phụ thuộc vào nơi cư trú, làm việc của đương sự (thường là

bị đơn, người bị yêu cầu), mà thực tế cho thấy đa phần bị đơn, người bị yêu cầu đồng thời sẽ là người bị thi hành án sau khi vụ việc được giải quyết tại Toà án Bản chất phân định thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ phục vụ việc giải quyết yêu cầu, tranh chấp của đương sự một cách nhanh chóng do điều kiện thuận tiện về mặt địa lý Cũng chính

vì lý do này mà cơ quan thi hành án nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc hoặc nơi

có tài sản liên quan đến việc THADS sẽ là cơ quan THADS có điều kiện tổ chức thi hành án tốt nhất

Về mặt quy định, thẩm quyền THADS theo lãnh thổ của các cơ quan THADS hiện nay được quy định tại Điều 35 Luật THADS Theo đó, thẩm quyền THADS theo lãnh thổ thuộc cơ quan THADS cùng cấp nơi toà án có trụ sở đã giải quyết sơ thẩm vụ việc hoặc cơ quan THADS được uỷ thác

2.1.4 Xác định thẩm quyền thi hành án trong một số trường hợp đặc biệt

Trường hợp thứ nhất là khi bản án, quyết định thuộc thẩm quyền của Chi cục

THADS, tuy nhiên Cục THADS thấy cần thiết cần phải lấy lên để thi hành Vấn đề này được hướng dẫn tại Công văn số 1103/TCTHADS-NV1 của Tổng cục THADS hướng dẫn một số vấn đề về nghiệp vụ THADS Theo đó, Công văn đưa ra 4 trường hợp mà Cục THADS cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể xem xét, quyết định việc rút hồ sơ thi hành án lên để tổ chức thi hành

Trường hợp thứ hai là trường hợp bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều

35 LTHADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) nhưng có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần uỷ thác tư pháp về thi hành án thì thẩm quyền sẽ thuộc cơ quan THADS cấp tỉnh

2.2 Thẩm quyền thi hành án dân sự của văn phòng thừa phát lại

2.2.1 Khái niệm “Thừa phát lại”

Thừ a phát la ̣i được ghi nhâ ̣n ta ̣i khoản 1 Điều 2 Nghi ̣ đi ̣nh 08/2020/NĐ-CP về tổ chứ c và hoa ̣t đô ̣ng của Thừa phát la ̣i như sau: “Thừa phát lại là người có đủ tiêu chuẩn

được Nhà nước bổ nhiệm để thực hiện tống đạt, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành

án dân sự, tổ chức thi hành án dân sự theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan”

2.2.2 Thẩm quyền thi hành án dân sự của văn phòng thừa phát lại

Trang 9

6

Hiện nay, ở Việt Nam ngoài cơ quan THADS thì văn phòng thừa phát lại cũng

có thẩm quyền tổ chức THADS Thẩm quyền tổ chức thi hành án dân sự của văn phòng thừa phát lại được quy định tại Điều 51 Nghị định 08/2020/NĐ-CP

Theo quy định tại khoản 1 Điều 51, Văn phòng Thừa phát lại có thẩm quyền tổ

chức thi hành án theo yêu cầu của đương sự đối với các bản án, quyết định sau: “Bản

án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị

xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở”… 6

Theo quy định tại khoản 2 Điều 51, Văn phòng Thừa phát lại không tổ chức thi hành phần bản án, quyết định thuộc diện thủ trưởng cơ quan THADS chủ động ra quyết định thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 36 LTHADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)

Với sự hiện diện của các Văn phòng Thừa phát lại và được trao cho những thẩm quyền nhất định bên cạnh hệ thống cơ quan THADS đã cho thấy một số những điểm tích cực, hiệu quả như sau:

Thứ nhất, tạo điều kiện cho người dân được lựa chọn cơ quan, tổ chức để thi

hành án một cách thích hợp và hiệu quả nhất Đồng thời, tạo ra môi trường thi đua, cạnh tranh lành mạnh trong công tác THADS, tạo động lực thúc đẩy các cơ quan THADS trong việc đổi mới phương thức hoạt động nhằm phục vụ tốt hơn cho người dân

Thứ hai, sự tham gia của các Văn phòng Thừa phát lại góp phần bổ khuyết cho

những hạn chế của hoạt động tư pháp, làm cho hoạt động tư pháp được phong phú và hoàn thiện hơn

Thứ ba, việc trao cho Văn phòng Thừa phát lại thẩm quyền THADS đã giảm tải

đáng kể cho hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhất là cho Tòa án và cơ quan THADS; giúp nhà nước tiết kiệm được nhân lực, góp phần tinh giản bộ máy công quyền và về lâu dài sẽ tiết kiệm được NSNN

Bên cạnh những điểm tích cực đó vẫn còn một số hạn chế như sau:

Thứ nhất, thẩm quyền của Văn phòng Thừa phát lại hiện nay còn hạn chế - đây

được xem là bất cập lớn nhất trong hoạt động thi hành án của chế định này So với Điều

34 Nghị định 61/2009/NĐ-CP thì Điều 51 Nghị định 08/2020/NĐ-CP mặc dù vẫn trao quyền tổ chức thi hành án cho Văn phòng Thừa phát lại trong phạm vi các bản án, quyết định của Tòa án như trước nhưng quyền hạn lại bị giảm đi đáng kể Khi tổ chức thi hành

án, Văn phòng Thừa phát lại không được thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 2 Điều 52 Nghị định 08/2020/NĐ-CP Trong đó, nổi bật là việc không được

6 Xem thêm tại: Khoản 1 Điều 51 Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại

Trang 10

7

áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế7 Như vậy, dẫn đến nhiều trường hợp đương sự tẩu tán tài sản ngay sau khi xác minh, gây khó khăn cho hoạt động thi hành án Hiện nay, việc có nên trao cho Văn phòng Thừa phát lại quyền cưỡng chế trong việc thi hành án không vẫn còn là vấn đề có nhiều ý kiến trái chiều

Thứ hai, bất cập trong công tác tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa

án theo yêu cầu của đương sự Theo đó, Văn phòng Thừa phát lại không được tự mình

ra quyết định thi hành án mà phải gửi văn bản đề nghị Chi cục trưởng Chi cục THADS hoặc Cục trưởng Cục THADS nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở ra quyết định thi hành án theo thẩm quyền Sau khi nhận được quyết định thi hành án của Thủ trưởng cơ quan THADS, Văn phòng Thừa phát lại đã đề nghị mới được gửi quyết định thi hành án

đó cho những cá nhân, tổ chức có liên quan để tổ chức việc thi hành (Điều 55 Nghị định 08/2020/NĐ-CP) Trình tự, thủ tục thực hiện hoạt động này tại Văn phòng Thừa phát lại tốn nhiều thời gian hơn so với việc thực hiện bởi cơ quan THADS, dù cùng chung một đầu công việc Điều này khiến cho các đương sự ngần ngại trong việc yêu cầu Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành án dân sự

III Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật về thời hiệu thi hành án dân sự 3.1 Quyền yêu cầu thi hành án

Đối với quyền yêu cầu thi hành án của người được thi hành án quy định tại điểm

a khoản 1 Điều 7 LTHADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) Việc quy định này nhằm nêu bật các quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án và đã đưa quyền yêu cầu thi hành án- một quyền rất quan trọng đối với người được thi hành án nhằm bảo vệ quyền lợi của chính mình

Ngoài ra, quyền yêu cầu thi hành án còn là một quyền của người phải thi hành

án, cụ thể quyền này được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7a LTHADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) Việc thi hành án là một bất lợi cho người phải thi hành án nhưng lại đặt ra quyền yêu cầu thi hành án đối với trường hợp này Vì trong rất nhiều trường hợp, người phải thi hành án chủ động muốn thực hiện bản án, quyết định của Tòa

án nhằm xác định cụ thể các quyền đối với các tài sản của họ, từ đó làm tiền để cho họ thực hiện các quyền cũng như nghĩa vụ dân sự khác, mà chỉ khi họ thực hiện xong các bản án, quyết định của tòa thì họ mới có thể tự mình định đoạt được các tài sản khác

Hơn nữa, việc chủ động thực hiện thi hành án đối với người phải thi hành án sẽ giúp họ được miễn, giảm một số khoản trong thi hành án cũng như được hưởng các chính sách khoan hồng của pháp luật Ví dụ: khi đương sự chủ động thực hiện việc thi

7 Trần Thanh Phương, Thẩm quyền của Thừa phát lại trong thi hành án dân sự - Nhìn từ phương diện Lý luận –

Pháp lý, Tạp chí Nghề luật, Số 6, 2020, tr.40

Ngày đăng: 12/12/2023, 20:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Thị Thanh Hoa, Hồ Quân Chính, Nguyễn Vân Nghĩa, Bình luận Luật Thi hành án dân sự, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận Luật Thi hành án dân sự
Nhà XB: NXB Tư pháp
2. Hoàng Thị Thanh Hoa, “Một số vấn đề về thời hiệu yêu cầu thi hành án”, https://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=919, truy cập ngày 30/8/2023 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề về thời hiệu yêu cầu thi hành án”
3. Nguyễn Công Bình, PGS.TS. Bùi Thị Huyền (2019), Giáo trình “Luật Thi hành án dân sự Việt Nam”, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình “Luật Thi hành án dân sự Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Công Bình, PGS.TS. Bùi Thị Huyền
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2019
5. Trần Thanh Phương, Thẩm quyền của Thừa phát lại trong thi hành án dân sự - Nhìn từ phương diện Lý luận – Pháp lý, Tạp chí Nghề luật, Số 6, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền của Thừa phát lại trong thi hành án dân sự - Nhìn từ phương diện Lý luận – Pháp lý
2. Công văn số 1103/TCTHADS-NV1 ngày 30/07/2017 của Tổng cục Thi hành án dân sự hướng dẫn một số vấn đề nghiệp vụ thi hành án dân sự Khác
4. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) Khác
6. Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự Khác
7. Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại Khác
8. Nghị định 33/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự.B. TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w