Trong PPGDNN nó có nghĩa hẹp hơn: là môhình tổng hợp hoá quá trình dạy học dựa trên một trong các hướng tiếp cận cụ thể, điểnhình cho các phương hướng cụ thể, có thể là việc sử dụng tài
Trang 11
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY NGOẠI NGỮ 3
CHƯƠNG 4 VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG MÔN
Trang 4CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY NGOẠI NGỮ
Trong lịch sử phương pháp giảng dạy ngoại ngữ (PPGDNN) giảng dạy tiếng luôn gắn liềnvới các trào lưu trong ngôn ngữ học, tâm lí học và sư phạm học Theo Celce - Murcia(1991) thì PPGDNN luôn dựa vào ba hòn đá tảng: bản chất ngôn ngữ (giảng dạy tiếng vàngôn ngữ học), bản chất người học (giảng dạy tiếng và tâm lí học), và mục đích giảng dạy
và học tập (mục đích của cá nhân và nhu cầu xã hội)
Phương pháp giảng dạy là phạm trù cơ bản trong giáo học pháp, thường được hiểu theonhiều cách khác nhau Trong khoa học sư phạm thì nó là phương thức nhận thức, là cáchthức nghiên cứu và giải quyết tình huống Trong PPGDNN nó có nghĩa hẹp hơn: là môhình tổng hợp hoá quá trình dạy học dựa trên một trong các hướng tiếp cận cụ thể, điểnhình cho các phương hướng cụ thể, có thể là việc sử dụng tài liệu giảng dạy, lựa chọn thủ pháp giảng dạy, phương thức tương tác giữa giáo viên và học viên Dựa trên khái niệmcủa Anthony (1963) Richards và Rodgers (1986) nhìn nhận phương pháp như một cái ô bao trùm ba cấp độ: lí thuyết (approach - lối tiếp cận), xử lí (design - thiết kế) và ứngdụng thực tế (procedure - qui trình) Các tác giả trên đã giúp chúng ta định hình được cấutrúc của phương pháp bao gồm vai trò giáo viên và học viên, loại hình chương trình, đặctrưng tổ chức quá trình đào tạo và các ngữ liệu giảng dạy
Trong quá trình phát triển, hơn một thế kỉ qua, ngành PPGDNN được biết đến các phương pháp phổ biến như: Phương pháp dịch-ngữ pháp (Grammar - Translation Method),Phương pháp trực tiếp (Direct Method), Phương pháp nghe khẩu ngữ (Audiolingualism,audiolingual method, mim-mem method), Phương pháp nghe nhìn, còn gọi là phương pháp cấu trúc toàn cầu (Audiovisual Method/ Structural-Global Method), Phương phápgiảng dạy tiếng theo tình huống, còn gọi là lối tiếp cận bằng lời (Situational LanguageTeaching - SLT/ The Oral Approach), Phương pháp/ lối tiếp cận tự nhiên (NaturalMethod/ Natural Approach), và Phương pháp giao tiếp, còn gọi là giảng dạy tiếng giaotiếp (Communicative Method/ Communicative Language Teaching (CLT) Cũng cần bổsung rằng, về thuật ngữ, các nhà phương pháp học có những cách gọi khác nhau Chẳnghạn, Celce - Murcia (1991) thì đồng nhất gọi chúng là Lối tiếp cận (LTC), ví dụ, LTCdịch - ngữ pháp, LTC trực tiếp, LTC đọc, LTC nghe ngôn ngữ, LTC tình huống, LTCnhận thức, LTC hiểu và LTC ảnh hưởng nhân văn trong khi đó Richards và Rodgers
4
Trang 5(1986) lại dùng cả hai thuật ngữ là phương pháp (Phương pháp dịch ngữ pháp) và lối tiếpcận (LTC giao tiếp, LTC tự nhiên).
1 Phương pháp dịch ngữ pháp (The grammar translation approach)
Phương pháp này có tên tiêng Anh là “Grammar - Translation Method” hay còn gọi là phương pháp Truyền thống được áp dụng mạnh mẽ ở Việt Nam vào những năm 1970 chođến tận những năm 1990 Nếu theo phương pháp này, chương trình tập trung chủ yếu vào phát triển kỹ năng đọc hiểu, học thuộc lòng từ vựng, dịch văn bản, viết luận (composition) và phân tích ngôn ngữ (học để nắm chắc quy tắc ngôn ngữ) Quy trình thực hiện: Các bài khóa(texts) được biên soạn và chia ra thành từng đoạn ngắn Việc giảng giải quy tắc ngôn ngữ là
cơ bản Học sinh được học về ngữ pháp rất kỹ trên cơ sở các hiện tượng ngữ pháp cơ bảnđược rút ra từ các bài khóa Để kiểm tra sự thông hiểu về nội dung bài khóa (nội dung vănhóa, đất nước học nói chung) và các quy tắc ngôn ngữ, HS bắt buộc phải dịch các bài khóasang tiếng mẹ đẻ HS không được phép mắc lỗi ngôn ngữ, nếu có phải sửa ngay
Ưu điểm:
- HS được rèn luyện rất kỹ về ngữ pháp và tiếp thu lượng từ vựng khá lớn
- HS nắm được tương đối nhiều các cấu trúc câu cơ bản, thuộc lòng các đoạn vănhay hoặc bài khóa mẫu
- HS có thể đọc hiểu nhanh các văn bản
Hạn chế:
- Không giúp HS “giao tiếp” được Hoạt động chủ yếu trong lớp là người thầy;nghĩa là người thầy giảng giải, nói nhiều, HS thụ động ngồi nghe và ghi chép, không có ýkiến phản hồi hoặc không tham gia giao tiếp (nói) với thầy và bạn bè
- Hoạt động dạy học chỉ diễn ra 1 chiều - HS hoàn toàn bị động, không có cơ hộithực hành giao tiếp trong lớp; khả năng sáng tạo và đặc biệt kỹ năng nói của HS bị hạnchế nhiều
2 Phương pháp trực tiếp (The direct method)
Phương pháp này là một sự phản ứng tích cực của các nhà giáo dục ngôn ngữ đối vớiPhương pháp dịch ngữ pháp Theo Celce-Murcia (1991) thì phương pháp này có nhữngđặc điểm chính như hoàn toàn không sử dụng tiếng mẹ đẻ trên lớp, giáo viên thường làngười bản ngữ hoặc có năng lực ngoại ngữ cao, thường sử dụng tranh ảnh hoặc hành động
để giải nghĩa từ mới, bài học được tiến hành từ các cuộc hội thoại hay những mẩu chuyệnvui, thường là liên quan tới những tình huống sinh hoạt hiện đại, giáo viên có thể kết hợpgiảng dạy các hiện tượng văn hoá theo phương pháp qui nạp, ngữ pháp cũng được giảng
5
Trang 6giải theo phương pháp này nhưng không chuyên sâu nghiên cứu và phân tích ngữ phápnhư ở phương pháp dịch ngữ pháp.
Ưu điểm chính của phương pháp này là học viên có nhiều điều kiện tiếp xúc bằngngoại ngữ Đồng thời họ cũng có thể ứng dụng được ngôn ngữ đã học vào các giao tiếpthực tế Tuy nhiên, người quản lí luôn gặp trở ngại về vấn đề tuyển mộ giáo viên
3 Phương pháp đọc hiểu (The reading approach)
Xuất hiện vào những năm 1930 khi hầu hết các cơ sở đào tạo tiếng không có khảnăng tuyển mộ những giáo viên đạt yêu cầu Với phương pháp đọc hiểu, giáo viên khôngcần phải biết nói giỏi mà chỉ cần có kiến thức từ vựng, ngữ pháp tốt bởi phương pháp nàychỉ chú trọng vào kĩ năng đọc Từ vựng là vấn đề then chốt Các hiện tượng ngữ pháp chỉđược đề cập nếu trợ giúp quá trình đọc hiểu
4 Phương pháp nghe nói khẩu ngữ (The audiolingual approach)
Phương pháp này nhấn mạnh vào việc dạy kỹ năng nói và kỹ năng nghe trước kỹnăng đọc và kỹ năng viết Khác với phương pháp Ngữ pháp - Dịch, phương pháp này đápứng đúng mục tiêu cần đạt của người học là hình thành và phát triển cả bốn kỹ năng,nhưng ưu tiên phát triển nói, nghe trước đọc và viết Việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ(ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) được thực hiện xen lồng trong quá trình dạy học Phương pháp Nghe - Nói không cho phép việc dùng tiếng mẹ đẻ trong lớp; khuyến khích tối đadùng tiếng Anh trong quá trình dạy học Khi thực hiện, người ta nhấn mạnh việc pháttriển hai kỹ năng nói và nghe là chủ yếu Việc dạy học thông qua thực hành cấu trúc câu(structures) và qua các bài tập ứng dụng, người học tự phát hiện và tìm hiểu những điểmgiống nhau (so với tiếng mẹ đẻ) về cấu trúc câu, cách phát ngôn và đưa ra các qui tắcngôn ngữ Yêu cầu người học bắt trước mẫu do người dạy cung cấp, ví dụ: các bài/ mẩuđối thoại mẫu (dialogues) có chứa cấu trúc câu hoặc hiện tượng ngôn ngữ cần truyền đạt
HS luyện tập mẫu đó thực chất là hình thành một thói quen ngôn ngữ theo các hình thứcnhư: hỏi và trả lời về bài đối thoại mẫu, thực hành thêm một số bài tập cấu trúc (thay thế,
bổ sung, chuyển đổi …) …
Ưu điểm:
Có hiệu quả đối với những người mới học, đặc biệt là HS tiểu học hoặc HS ở đầucấp THCS HS cảm thấy phấn khởi và tự tin khi được nghe và tập bắt chước theo giáoviên, ví dụ: HS làm theo lệnh của GV hoặc hát các bài hát tiếng Anh đơn giản
Hạn chế:
- HS có trình độ ngoại ngữ cao rất dễ nhàm chán với phương pháp này nếu không có
sự điều chỉnh phương thức dạy học cần thiết
6
Trang 7- HS áp dụng những gì đã được lĩnh hội trong lớp học vào thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ làkhó Các em không thể vận dụng các hình thức ngôn ngữ (các mẫu lời nói) được luyện tập trênlớp một cách tự nhiên vì tuy HS có khả năng nghe hiểu, nhớ và bắt chước (nói theo) ngay tại chỗtrong lớp học, song các em cũng rất chóng quên và cảm thấy bị “tắc” khi gặp tình huống tương tựtrong giao tiếp thực; tức là không diễn đạt được những gì định nói mặc dù sau một thời gian dàihọc tập.
5 Phương pháp tình huống (The oral - situational approach)
Xuất hiện ở Anh, đồng thời với phương pháp nghe nói Bản thân phương pháp này cónhiều yếu tố giống phương pháp trực tiếp nhưng có thêm các yếu tố của giáo dục ngônngữ Với phương pháp này ngôn ngữ giao tiếp bằng lời là cơ bản nhất Các kĩ năng đọc vàviết chỉ được tiến hành sau khi giải quyết xong các vấn đề từ vựng, ngữ pháp bằng lời. Người ta giới hạn danh mục các từ vựng tối thiểu bao gồm khoảng 2000 từ hay dùng nhất
để có thể giao tiếp bằng tiếng Anh Về ngữ pháp, học viên chủ yếu học các cấu trúc phổ biến trong giao tiếp hàng ngày Mục tiêu học tiếng là hình thành khả năng giao tiếp trongngữ cảnh thực tế như ở bưu điện, ở nhà ga, ở hiệu thuốc v.v với các loại hình bài tậpluyện như sử dụng trong phương pháp nghe nói khẩu ngữ Chúng ta có thể dễ dàng nhậndạng phương pháp này qua hệ thống giáo trình rất phổ biến tại Việt Nam như StreamlinesEnglish Departure/ Connection và Destination cùng với các dạng luyện nghe nói trongsêri Speechwork 1,2,3 kèm theo Không thể phủ nhận tác dụng nhanh chóng của phương pháp này đối với học viên, có nghĩa là có thể giao tiếp ngay sau buổi học đầu tiên, tuynhiên đây vẫn chỉ là sự đề cao thái quá với ngôn ngữ khẩu ngữ, chú trọng quá nhiều vàocấu trúc nổi, học viên học tiếng theo kiểu bắt chước và học thuộc lòng
6 Phương pháp học tiếng theo cộng đồng (Community language learning)Charles Curran (1972) tiếp thu tư tưởng giáo dục của Carl Rodgers (dẫn theoBrown, 1994:59) trong mô hình giáo dục “học tư vấn” coi người học trong lớp là mộtnhóm nhỏ chứ không phải là một lớp lớn với những cá nhân khác nhau, với từng khả năngriêng và hoàn cảnh riêng Do đó, người học, giống như những bệnh nhân, cần thiết phảiđược “trị liệu” riêng bệnh, có nghĩa là giảng dạy theo các cách khác nhau Với phương pháp này giáo viên đóng vai trò tư vấn viên, học viên là người cộng tác (Rodgers, 2001).Học viên, thường ngồi đối diện với nhau trong một nhóm nhỏ theo cộng đồng ngôn ngữ,tranh luận bằng tiếng mẹ đẻ trước, sau đó bằng ngoại ngữ, giáo viên có thể dịch nhữngcâu nói đó của học viên sang ngoại ngữ, sau đó học viên nhắc lại lời giáo viên Phương pháp này chú ý tới tính xã hội trong giảng dạy và tính nhân văn, đồng thời duy trì bầukhông khí thân thiện, thoải mái trong lớp học Tuy nhiên nó thể hiện vô số những khiếm7
Trang 8khuyết như chương trình giảng dạy lộn xộn, thiếu tính hệ thống và có thể gây khó khăncho nhà quản lí khi tìm kiếm giáo viên, vừa biết ngoại ngữ của học viên, vừa phải đượcđào tạo kĩ càng bộ môn tâm lí học, mới có thể thực hiện tốt vai trò tư vấn khi sử dụng phương pháp này.
7 Phương pháp học tiếng thư giãn (Suggestopedia)
Năm 1979, một nhà tâm lí sư phạm học người Bulgari tên là Georgi Lozanov, dựavào những triết lí cơ bản của môn phái yôga, thiết kế nên phương pháp này gọi làSuggestopedia Ông tin tưởng sâu sắc rằng quá trình học tiếng diễn ra nhanh hơn 25 lầntrong điều kiện tập trung tư tưởng cao so với phương pháp thông thường Lớp học tiếngthường được tiến hành trong điều kiện thư giãn tối đa, khi học viên có thể ngả lưng trênnhững chiếc ghế nệm êm ái, ánh áng mờ ảo, huyền thoại, lắng nghe những bản nhạc dudương Trong khi đang thư giãn cao độ thì giáo viên nhẹ nhàng đọc bài, giảng giải từ ngữ.Học viên không cần thiết phải học những hiện tượng ngôn ngữ phức tạp mà chỉ chú trọngvào cách sử dụng ngôn ngữ theo các hình thức đóng vai Phương pháp này có nhiều ưuđiểm, nhất là tạo được một lớp học an toàn, thư giãn cho học viên Tuy nhiên, giáo viêngặp trở ngại lớn liên quan tới cơ sở vật chất Hơn nữa, giáo viên dạy theo phương phápnày phải được đào tạo đặc biệt
8 Lối im lặng (The silent way)
Gattegno phát triển phương pháp này năm 1972 với niềm tin vững chắc rằng ngườihọc tiếng cần phải học độc lập, tự giác, biết cộng tác với các thành viên khác trong lớphọc để giải quyết tình huống Quá trình học, theo Gattegno, là quá trình tìm kiếm, pháthiện - một xu hướng phổ biến của những năm 1960, giáo viên thuần tuý là người hỗ trợ nhưng hầu hết giữ trạng thái im lặng với những que tính (Cuisinere Rods) màu dài ngắnkhác nhau, với các bảng ngữ âm, ngữ pháp dán tường Học viên tự phát âm, chỉnh sửa lờinói của mình theo chỉ dẫn bằng hành động của giáo viên (trong trường hợp cần thiết).Richard & Rodgers (1986:99) tóm tắt phương pháp này như là phương pháp có khả năngthúc đẩy quá trình học nếu người học sáng tạo chứ không phải thuần tuý học thuộc lònghay nhắc lại những gì phải học Đồng thời, học viên được tiến hành xử lí tình huốngnhững ngữ liệu phải học Tuy nhiên, với phương pháp này, vai trò của giáo viên trên lớpdường như bị lu mờ và giao tiếp tích cực bằng lời của giáo viên bị hạn chế
9 Phương pháp hoàn toàn bằng hành động (Total physical response)
James Asher phát triển phương pháp này năm 1977 dựa trên lí thuyết ngôn ngữ họccấu trúc, chủ nghĩa hành vi trong tâm lí học và xu hướng nhân văn trong giảng dạy, theonguyên tắc của phương pháp tự nhiên Theo phương pháp này, quá trình học ngoại ngữcũng giống như quá trình cảm thụ tiếng mẹ đẻ của trẻ em, chúng cũng trải qua thời kì “im
8
Trang 9lặng”, có nghĩa là cảm nhận âm thanh, những kết cấu phức tạp trước khi biết nói Hiểucấu trúc được tiến hành dễ dàng hơn nếu học viên được cảm nhận bằng những hành động
cụ thể của những người xung quanh Những cấu trúc được sử dụng hầu hết là ở dạngmệnh lệnh thức Học viên nghe “lệnh” như “giơ tay trái lên”, “hãy sờ vào mũi người bên phải”, “đừng đưa chân trái ra phía trước”, “người mặc áo vàng bên cạnh cửa sỗ hãy đi về phía góc trái trên của lớp học” v.v và hành động theo hiệu lệnh Phương pháp này tỏ rađặc biệt hiệu quả đối với trình độ sơ cấp, khá phù hợp với trẻ em học tiếng nhưng cónhiều hạn chế với trình độ nâng cao, và nhiều phiền toái cho học viên lớn tuổi Một mặt, phương pháp này tạo ra sự an toàn tinh thần cho học viên “chưa cần nói khi chưa sẵnsàng” thì nó vẫn là phương pháp học thụ động, chưa khuyến khích phát triển ngữ nănggiao tiếp ở mức độ tự nhiên và cũng khá cứng nhắc bởi trật tự tiến hành kĩ năng nghetrước nói sau trong học tiếng
10 Phương pháp giao tiếp (Communicative approach)
Phương pháp Giao tiếp hay Đường hướng Giao tiếp (Communicative Approach) được xemnhư phương pháp dạy học ngoại ngữ phổ biến nhất và hiệu quả nhất hiện nay Hầu hết các giáo trình,SGK phổ thông tiếng Anh trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay đều được biên soạn dựa theo quanđiểm của phương pháp này Qua đó, coi mục tiêu cuối cùng của dạy học ngoại ngữ là phát triển kỹnăng giao tiếp/ kỹ năng ngôn ngữ (linguistic skills), năng lực giao tiếp (communicativecompetence) Để giao tiếp được, phương pháp này đòi hỏi phải tính đến phương diện xã hội,văn hóa của ngôn ngữ, các điều kiện xã hội của quá trình sản sinh ngôn ngữ, và tính đến ngônngữ được dùng trong cuộc sống hàng ngày Ngoài ra, phương pháp Giao tiếp còn chú ý tới phương diện nghĩa của ngôn ngữ, hay nói một cách khác cần lưu ý tới ý định giao tiếp(intention of communication) Khái niệm này về sau các nhà ngôn ngữ gọi là chức năng ngônngữ (language function) Như vậy, theo Phương pháp Giao tiếp ngôn ngữ không chỉ là phương tiện diễn đạt tư duy mà còn là phương tiện giao tiếp Mục đích cuối cùng của ngườihọc ngoại ngữ không chỉ tiếp thu và nắm chắc kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) mà cần phải đạt được năng lực (khả năng) giao tiếp; tức là phát triển được tất cả 4 kỹnăng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) và sử dụng được ngôn ngữ để giao tiếp Vì vậy, các tàiliệu dạy học hiện đều hướng đến giúp người học có thể thực hiện được các chức năng ngônngữ khác nhau, chẳng hạn như xin phép, đề nghị, yêu cầu ai đó làm việc gì; mô tả sự vật; bày
tỏ sự quan tâm, thích thú hoặc không thích v.v …. Hơn nữa, để giao tiếp hiệu quả, người họccần phải sử dụng các hình thức ngôn ngữ thích hợp với tình huống giao tiếp (situations),trong đó yêu cầu người tham gia giao tiếp phải thể hiện được ý định giao tiếp (intention)thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau (tasks)
Với phương pháp này, trong giờ dạy giáo viên thực hiện theo 5 bước:
+ Giới thiệu ngữ liệu (Presentation)
9
Trang 10từ vựng và ngữ pháp là phương tiện, điều kiện hình thành và phát triển các kỹ năng giao tiếp.
Vì vậy, phương pháp Giao tiếp thực sự giúp cho HS có khả năng sử dụng được tiếng Anh đểgiao tiếp
Hạn chế: Phương pháp Giao tiếp nhấn mạnh vào việc hình thành và phát triển 4 kỹ năngngôn ngữ: nghe, nói, đọc, viết trong quá trình dạy học, trong đó kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm,
từ vựng và ngữ pháp) không được quan tâm một cách thích đáng Kết quả là một số HS cảmthấy khó có thể “giao tiếp” vì HS làm sao có thể nghe, nói, đọc, viết được một khi các emkhông nắm chắc hệ thống qui tắc ngôn ngữ Mặt khác, theo quan điểm của phương pháp này,quan hệ giữa ý định giao tiếp (bao gồm các hành động lời nói hay là các chức năng ngôn ngữhọc được) và hiện thực là quá phức tạp, không rõ ràng Nói cách khác, người ta khó có thể lựachọn các phát ngôn theo chức năng phù hợp với nhu cầu giao tiếp thực tế đa dạng và rất phứctạp
Trong quá trình dạy học, giáo viên giữ vai trò là người hướng dẫn, tổ chức thực hiện; HSđóng vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học; tức là phải phát huy cao độ tính tích cực của các
em trong luyện tập thực hành Ở trường THCS (lớp 8 và lớp 9), HS cần tập trung rèn luyện sâutừng kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Muốn thực hiện được, cá nhân HS phải tích cực và tự giáctham gia thực hành, không sợ mắc lỗi, và cần lưu ý rằng độ lưu loát/ trôi chảy (fluency) tronggiai đoạn này là rất quan trọng Điều kiện tối thiểu để HS thực hành kỹ năng ngôn ngữ là mỗilớp học không quá đông (khoảng 35 HS/ lớp); có đầy đủ thiết bị nghe nhìn, băng/ đĩa CD, tranhtình huống Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập nên nhấn mạnh vào 4 kỹ năng, và một phầnnhỏ kiến thức ngôn ngữ Kiểm tra kỹ năng ngôn ngữ luôn luôn được ưu tiên trong bất kỹ hìnhthức nào
Để thực hiện thành công giờ dạy theo phương pháp này, giáo viên cần:
+ Giảm tối đa thời gian nói của mình trên lớp, tăng thời gian sử dụng ngôn ngữ cho HS.+ Dạy học theo cách gợi mở - GV chỉ gợi mở và dẫn dắt để HS tự tìm ra lời giải đáp hoặccon đường đi của mình
+ Khai thác kiến thức sẵn có/kiến thức nền về văn hoá, xã hội cũng như ngôn ngữ của HStrong luyện tập ngôn ngữ
10
Trang 11+ Có thái độ tích cực đối với lỗi ngôn ngữ của HS Chấp nhận lỗi như một phần tất yếutrong quá trình học ngoại ngữ, giúp HS học tập được từ chính lỗi của bản thân và bạn bè.+ Không chỉ chú ý đến sản phẩm cuối cùng của bài luyện tập (product) mà còn chú trọngđến cả quá trình (process) luyện tập và phương pháp học tập của HS.
Nhìn chung, sẽ dễ dàng chấp nhận nhận định: không có một phương pháp tối ưu cho tất
cả mọi trường hợp Mỗi phương pháp đều có những ưu và nhược điểm nhất định Giáo viêncần lựa chọn, tổng hợp và khai thác để sử dụng hài hoà các phương pháp sao cho phù hợp vớiđối tượng giảng dạy
Trang 12CHƯƠNG 2: DẠY THÀNH TỐ NGÔN NGỮ
2.1 DẠY TỪ VỰNG
Thông thường, cách dạy từ vựng nhanh và tiết kiệm thời gian nhất là dạy theo cáchdịch nghĩa, nhưng trong dạy học theo đường hướng giao tiếp, cách dạy này không đượcđánh giá cao do không tạo được sự tương tác giữa gv và người học, hoặc giữa người họcvới nhau Sau đây là một số phương pháp dạy từ vựng đơn giản và hiệu quả khác
GIỚI THIỆU TỪ BẰNG ĐỒ VẬT CÓ THẬT (REALIA)
Khi dạy những từ vựng liên quan đến khung cảnh lớp học, buổi ngoại khoá hoặcmột số bộ phận cơ thể, gv có thể chỉ ngay những vật, bộ phận này kèm theo từ tiếng Anh
để người học đoán nghĩa Sau đó, gv đưa ra nghĩa của từ
Ví dụ: khi dạy những từ như door (cửa ra vào), desk (bàn), curtain (rèm cửa), leg (chân), trainers (giày thể thao)… gv có thể áp dụng thủ thuật này
DẠY TỪ BẰNG TRANH (VISUAL)
Ở phương pháp này, gv chuẩn bị tranh ảnh có chứa nội dung kiến thức cần giảngdạy Gv giơ từng bức tranh và yêu cầu hs nhận biết nội dung chứa đựng trong bức tranh.Dạy bằng tranh là một cách sinh động, dễ tạo hiệu ứng tốt cho người học Gv chuẩn bịmột số bức tranh cho những từ chỉ đồ vật hoặc nghề nghiệp để giới thiệu trước lớp kèmtheo từ tiếng Anh Người học sẽ dễ dàng đoán nghĩa của từ
Ví dụ: khi dạy những từ như engineer (kĩ sư), musical instrument (nhạc cụ), ski (trượt tuyết) …
Đặc biệt, hiện nay trong một số phòng học được trang bị máy chiếu, gv có thể tìmtranh trên mạng Internet hoặc scan tranh trong sách giáo khoa để trình chiếu và dạy từ. ĐƯA TÌNH HUỐNG (SITUATION) để giới thiệu từ
Với một số từ, cách giới thiệu tốt nhất là đưa ra tình huống Gv đưa ra tình huống,nhấn mạnh từ giới thiệu và yêu cầu người học đoán nghĩa của từ
Ví dụ, một số từ như trolley (xe đẩy), frightened (sợ hãi) vv… gv có thể đặt ra tìnhhuống như: Yesterday I went to Big C and bought a lot of things Then I put them all in atrolley and I pushed the trolley all around the supermarket (Hôm qua tôi đi Big C vàmua được rất nhiều đồ Rồi tôi để chúng vào một cái trolley Sau đó tôi đẩy chiếc trolleykhắp xung quanh siêu thị)
VẼ HÌNH (DRAWING)
Khi dạy một số danh từ, tính từ và động từ gv có thể minh hoạ bằng cách vẽ pháchoạ đơn giản trực tiếp trên bảng đế hs có thể đoán từ như những ví dụ ở dưới đây
12
Trang 13happy sad T-shirt gloves jump
MINH HỌA BẰNG HÀNH ĐỘNG (MIMING)
Cách này rất thích hợp khi dạy một số động từ chỉ hành động của con người hoặctính từ chỉ cảm xúc, thái độ Ở phương pháp này gv dùng hành động, cử chỉ nét mặt củamình Trên cơ sở đó người học quan sát và đoán nghĩa của từ mới
Ví dụ: khi dạy từ angry (giận dữ), sad (buồn), smile (cười), wash your face (rửa mặt)…
Gv làm các cử chỉ điệu bộ minh hoạ cho các từ này để người học đoán từ
SỬ DỤNG VÍ DỤ (EXAMPLE)
Gv đưa ra một loạt các ví dụ, người học phải nhóm chúng lại với nhau và tìm ramột từ khái quát nhất Phương pháp giảng dạy này phát huy khả năng khái quát hoá củangười học đồng thời nó buộc người học phải tư duy sáng tạo và lôgic Sử dụng ví dụ đểgiới thiệu từ vựng cũng là một cách hiệu quả đối với những danh từ chung hoặc gồmnhiều bộ phận: computer (máy tính), building (toà nhà), zoo (vườn bách thú), flower (hoa), animal (động vật)
Ví dụ: khi dạy từ animal, gv có thể lấy ví dụ cat, bird, snake, tiger are animals, so,what does animal mean? (mèo, chim, rắn, hổ là animals, vậy animal nghĩa là gì?)
SỬ DỤNG TỪ ĐỒNG NGHĨA HOẶC TRÁI NGHĨA (SYNONYM or ANTONYM)
Một cách dạy từ vựng khác nữa là sử dụng từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa, vớidấu >< để thể hiện từ trái nghĩa, và = để biểu thị đồng nghĩa, gv có thể giúp người họcdựa trên những kiến thức sẵn có để học những từ chưa biết
Ví dụ: khi giới thiệu từ win (thắng) gv có thể dựa vào từ lose (thua) để giới thiệu nghĩavới người học bằng cách biểu thị win>< lose; peaceful (thanh bình/ yên ả) = quiet vv
SỬ DỤNG VIDEO
Một kĩ thuật sử dụng hình ảnh khác để dạy từ vựng là tìm những đoạn phim hoặcvideo có sử dụng những từ xuất hiện trong bài học Gv có thể vào phần You TubeTeachers’ Language Artsđể tìm phim và video có nội dung phù hợp với bài học
Với những thủ thuật giới thiệu từ vựng trên đây, người học sẽ được tương tác với
gv và có thể trao đổi với bạn cùng học ngay từ giai đoạn đầu tiên của bài học, chú trọng
13
Trang 14vào sự tư duy, hướng sự tập trung chú ý của người học vào các từ đang học Việc lựachọn thủ thuật nào là do ý nghĩa của từ được đưa ra.
Hoạt động 1: Gv yêu cầu hs chuẩn bị giấy và bút chì màu Gv miêu tả 1 nhân vật, hs
vẽ theo miêu tả của gv
My friend is Susan She is short and plump She has a round face with chubby cheeks, shoulder-length red curly hair, big blue eyes and a turned-up nose …
(Bạn tôi tên là Susan Bạn ấy thấp và khá bụ bẫm Bạn ấy có gương mặt tròn, hai má phúng phính, mái tóc đỏ xoăn dài đến ngang vai, đôi mắt xanh và chiếc mũi hếch …)Hoạt động 2: Yêu cầu hs cầm tranh của mình, tả lại cho bạn bên cạnh
Hoạt động 3: Làm việc theo cặp Một hs vừa vẽ, vừa tả nhân vật của mình để bạn vẽtheo Sau đó làm ngược lại Cuối cùng hai hs so sánh tranh đã vẽ của mình với nhau Gv
sẽ tuyên dương những cặp có tranh giống nhau nhất
Hoạt động này có thể mở rộng ra nhiều chủ đề: tả đồ vật, vị trí các vật sử dụng giới từ
ĐỐ VUI TỪ VỰNG (VOCABULARY QUIZ)
- Gv chuẩn bị khoảng 10 câu, trong đó 10 từ trong chủ đề đã học được để trống, cóthể gợi ý chữ cái đầu tiên
Ví dụ: 1 There are _ terms in a academic year in England
2 Schooling is c _ until the age of 16
* Cách 1: - Chia nhóm, mỗi nhóm khoảng 5-7 hs
- Mỗi nhóm cử 1 đại diện lấy câu hỏi số 1 về nhóm, thảo luận tìm câu trả lời,ghi ra giấy rồi lên đưa cho gv Nếu đó là đáp án đúng, nhóm sẽ nhận được câu hỏi thứ2
Cứ như vậy, nhóm nào trả lời hết 10 câu hỏi nhanh nhất sẽ là nhóm thắng cuộc
* Cách 2: - Phát phiếu câu hỏi cho hs
- Chia nhóm, mỗi nhóm 5 hs
- Yêu cầu hs làm việc cá nhân để điền từ, sau đó chia sẻ trong nhóm và thốngnhất câu trả lời cho từng câu
14
Trang 15- Gv đọc từng câu hỏi, yêu cầu các nhóm viết câu trả lời ra bảng phụ, gv tínhđiểm cho câu trả lời đúng.
- Tìm ra nhóm thắng cuộc
TRÒ CHƠI GIẢI THÍCH NGHĨA CỦA TỪ (EXPLAINING GAME)
Hoạt động này có thể dùng để ôn tập từ vựng cho cả 1 chủ đề lớn
* Cách 1:
- Yêu cầu hs làm việc theo nhóm và đặt tên cho nhóm của mình
- Gv chuẩn bị các thẻ, trên mỗi thẻ có 1 câu có chứa 1 từ khóa đã học được gạch chân
- Phát cho mỗi hs một thẻ Yêu cầu hs tìm cách giải thích từ được gạch chân trong thẻcủa mình (không được đọc từ gạch chân) Hs được phép nhờ sự giúp đỡ của các bạn trongnhóm để giải thích từ của mình
- Bắt đầu chơi như sau:
Lượt 1: Một hs của nhóm 1 giải thích từ trong thẻ của mình, các nhóm khác lắng nghe
và đoán từ Nếu có nhóm trả lời đúng:
Nhóm giải thích từ được 1 điểm
Nhóm đoán đúng được thẻ có chứa từ đó
Lượt 2: Một hs của nhóm 2 giải thích từ trong thẻ của mình, các nhóm khác lắng nghe
và đoán từ Cách tính điểm tương tự
Lượt 3: ………
Cho đến khi tất cả hs trong lớp đều chơi xong lượt của mình hoặc hết giờ
Tổng kết: Cộng số thẻ và số điểm của các nhóm để tìm ra nhóm thắng cuộc
* Cách 2:
- Yêu cầu hs làm việc theo nhóm
- Gv chuẩn bị các xấp thẻ (tương ứng với số nhóm), trên mỗi thẻ có 1 câu có chứa 1
từ khóa đã học được gạch chân
- Đặt xấp thẻ giữa bàn:
Hs 1 lấy thẻ thứ nhất và giải thích từ được gạch chân trong thẻ của mình (không đượcđọc từ gạch chân) Các hs khác trong nhóm đoán từ Với mỗi câu trả lời đúng, hs đoánđúng từ được tính 1 điểm
Hs 2 lấy thẻ thứ hai và giải thích từ được gạch chân trong thẻ của mình (không đượcđọc từ gạch chân) Cách tính điểm tương tự
- Kết thúc hoạt động, hs nào có số điểm cao nhất sẽ là người thắng trong trò chơi này.ĐOÁN TỪ QUA GỢI Ý (WORD CLUES)
15
Trang 16- Gv chuẩn bị sẵn 1 số thẻ chứa các từ đã học liên quan đến 3, 4 chủ đề, ví dụ: với chủ
đề travel (du lịch) thì chuẩn bị các thẻ có các từ: passport (hộ chiếu), plane (máy bay), beach (bãi biển), hear (nghe), sightseeing (ngắm cảnh) vv…
- Chia lớp thành 2 đội, gv đưa ra từ chủ đề travel, cả hai đội đọc các từ liên quan đến chủ đề này, từ nào trùng với từ gv chuẩn bị sẵn (vd beach) thì gv dán thẻ (card) chứa từ
đó lên bảng ở phần tính điểm của đội đó
- Hoạt động này diễn ra theo trật tự lặp lại như vậy, cuối cùng, đội nào đoán được nhiều từ hơn là đội thắng cuộc
TÌM NGƯỜI QUA LIÊN HỆ VỚI TỪ CÓ SẴN (FIND SOMEONE WHO)
- Gv chuẩn bị cho mỗi người học một bảng gồm 2 cột và 1 số dòng tương ứng với các câu hỏi cho sẵn, hs nên có các câu hỏi khác nhau
- Yêu cầu họ đi quanh lớp học và tìm ra ai có thể trả lời hoặc phù hợp với nội dung miêu tả trong câu đó, viết tên người đó vào bảng câu hỏi của mình
- Hết thời gian cho phép, ai điền được nhiều tên nhất sẽ là người thắng cuộc Bảng từ
và câu hỏi có thể được thiết kế theo hình minh hoạ dưới đây:
Find some one who
1 can name three things that are expensive
2 can think of 3 words that start with
te-3 knows what grandmother, niece and aunt are
4 knows 3 places where we can buy things
5 can think of 3 words that describe a person
Name
………
………
………
………
……… THỬ TÀI TRÍ NHỚ (MEMORY GAMES)
Hoạt động này có thể dùng để luyện tập và kiểm tra các nhóm từ theo chủ đề tính từ (đối lập), động từ chỉ hoạt động, sức khoẻ, quan hệ gia đình…
- Vẽ 1 bảng gồm 16 ô (4x4) lên bảng, (gv có chuẩn bị bảng phụ trước) và đánh dấu các cột là A, B , C, D; các hàng là 1, 2 , 3, 4 Viết 1 từ vào mỗi ô vuông như ví dụ dưới
- Gv chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm khoảng 4-5 người
- Các nhóm có 30 giây để đọc và ghi nhớ thông tin trên bảng Sau đó cứ mỗi hai nhóm gần nhau (nhóm A và B) thì đố nhau
16
Trang 17Ví dụ, đội A nói tên ô vuông (ví dụ B-3), đội B phải đọc được đúng từ trái nghĩa với từ
ở trong ô này và được điểm cho mỗi đáp án đúng Nếu đội B sai thì đội A có quyền trảlời
- Sau đó các nhóm đổi vai Nhóm B chỉ ô vuông để nhóm A đoán từ
SỬ DỤNG HÀNH ĐỘNG (MIMING)
Như đã nêu cách này rất phù hợp khi dạy 1 số động từ chỉ hành động của con ngườihoặc tính từ chỉ thái độ Ví dụ khi dạy từ angry (giận dữ), sad (buồn), smile (cười), wash your face (rửa mặt)…, gv có thể tổ chức 1 số hoạt động như sau:
- Gv yêu cầu 1 số hs, mỗi hs thực hiện 1 hành động theo chủ đề đã học để các hs khácđoán từ
- Hs làm việc theo nhóm lớn Mỗi nhóm cử 1 đại diện đứng trước nhóm của mình Sau
đó cả nhóm thực hiện từng hành động theo yêu cầu của gv, đại diện nhóm đoán từ
Gv có thể tính điểm cho các nhóm để tăng tính cạnh tranh, tiết học sẽ vui và thú vị hơn.TÌM TỪ BIẾT NGHĨA (SLAP THE BOARD)
- Gv viết các từ mới học (10 - 15 từ) lên bảng
- Chia lớp thành 2 đội, mỗi đội cử 1 đại diện lên bảng, gv đọc nghĩa tiếng Việt, đến từnào thì thành viên này chạy lên đập tay vào từ đó, nếu đúng từ và nhanh hơn, đội có thànhviên đó được tính một điểm
Ví dụ: trên bảng có các từ như toothache (đau răng), optician (bác sĩ nhãn khoa),wave (vẫy tay) …; gv đọc vẫy tay, 2 thành viên của 2 đội đập tay vào từ wave, gv đọc hết lượt từ
- Có thể gọi nhiều lượt hs lên bảng Cuối cùng, đội nào nhiều điểm hơn, đội đó thắng.DỪNG XE (STOP THE BUS)
Hoạt động này có thể dùng để ôn tập từ vựng
Ví dụ: Ôn từ vựng Unit 1, 2, 3 sách Tiếng Anh 10 thí điểm - Hs làm việc nhóm 5người
- Gv đặt tình huống: trên xe có 3 hành khách là family life, your body and you vàmusic
- Gv nói hoặc viết 1 chữ cái lên bảng, các nhóm tìm 3 từ thuộc 3 chủ điểm trên Nhómnào tìm được thì hô Stop the bus rồi đọc to 3 từ đó Đọc đúng nhóm sẽ được tính 1 điểm
Ví dụ: Gv: chữ s - Hs: Stop the bus! split (unit 1), stomach (unit 2), season (unit 3)
- Gv nói hoặc viết 1 chữ cái khác lên bảng.… tiếp tục chơi
- Gv tổng kết điểm và tuyên dương nhóm thắng cuộc
ĐỌC CHÍNH TẢ KIỂU MỚI (NEW DICTATION)
17
Trang 18Thay vì tổ chức hoạt động đọc chính tả thông thường, gv có thể thay đổi 1 chút đểhoạt động thú vị hơn như sau:
- Gv đọc một đoan văn có chứa các tính từ Hs nghe và viết các tính từ trái nghĩa vớitính từ nghe thấy
- Yêu cầu hs chia sẻ bài làm của mình với bạn và tìm ra người viết được nhiều nhất. Những hình thức tổ chức hoạt động trên, đôi khi kết hợp cả các kĩ năng nói, nghe, đọc,viết trong cùng 1 hoạt động giúp cho các từ được khai thác và luyên tập sâu và quá trìnhghi nhớ từ diễn ra tự nhiên Việc lựa chọn hoạt động nào tùy vào đối tượng, số lượng hstừng lớp và thời gian tổ chức hoạt động trên lớp
Các kĩ năng kiểm tra được thực hiện ở mỗi giờ dạy khác nhau để tạo ra sự mới mẻ,không gây nhàm chán cho hs Song ta cũng cần chú ý đến đối tượng hs, hay chính là trình
độ nhận thức của hs nhanh hay chậm để đảm bảo việc kiểm tra được thực hiện thườngxuyên và với mọi hs Đối với các hs khá, tiếp thu nhanh gv sử dụng các kĩ năng thườngmang tính chất yêu cầu hs tái tạo lại phần từ đã học Đối với hs yếu, tiếp thu chậm hơn thì
sử dụng các cách kiểm tra mang tính gợi mở từ
18
Trang 192.2. DẠY NGỮ PHÁP
Các quan điểm về dạy và học ngữ pháp tiếng Anh
a Quan điểm thứ nhất: coi ngôn ngữ là 1 hệ thống các quy tắc ngữ pháp và từ vựng.Muốn làm chủ một ngôn ngữ người học phải nắm được hệ thống câc quy tắc ngữ pháp
và từ vựng của ngôn ngữ ấy Đai diện cho quan điểm này là đường hướng “ngữ pháp dịch” Đường hướng này cho rằng việc dạy ngữ pháp tập trung vào các quy tắc ngữ pháp
-ở cấp độ câu và giới hạn -ở việc dạy cấu trúc và dạng biến đổi từ Hình thức luyện tập chủyếu là làm bài tập ngữ pháp và dịch các câu riêng lẻ sang tiếng mẹ đẻ Ngữ cảnh sử dụngngữ pháp không được đề cập đến trong quá trình dạy học Gv dành nhiều thời gian trênlớp thuyết trình hoặc giải thích các hiện tượng ngôn ngữ Hs lắng nghe, ghi chép, ghi nhớ
và trả lời các câu hỏi của gv Đại diện cho quan điểm này là phương pháp dịch truyềnthống, những năm gần đây người ta nhận ra rằng đây không phải là cách tối ưu nhất trongviệc dạy và học ngữ pháp tiếng Anh, thậm chí nay còn bị coi là lạc hậu bởi gv không pháthuy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong học tập của hs thông qua các hoạtđộng tương tác trong giao tiếp, hs khá thụ động, không biết ứng dụng tốt vào thực tế Chủyếu hs ghi nhớ các công thức 1 cách máy móc mà không hề suy nghĩ về nó 1 cách sâu sắchơn, việc học thuộc lòng lý thuyết đơn thuần, sẽ khiến hs dễ quên, không phát triển được
tư duy và hệ thống hóa các điểm ngữ pháp và ít có cơ hội luyện tập để hình thành và pháttriển kỹ năng ngôn ngữ
b Quan điểm thứ hai cho rằng ngữ pháp sẽ được tiếp thu tự nhiên thông qua việc tiếp xúc với ngôn ngữ
Nói khác đi, việc dạy ngữ pháp chỉ có hiệu quả khi hs tự khái quát các quy tắc ngữ pháp thông qua thực hành Đại diện cho quan điểm này là “phương pháp trực tiếp”. Những gv theo “phương pháp trực tiếp” thường bỏ qua việc phân tích các quy tắc ngữ pháp mà yêu cầu người học sử dụng ngôn ngữ cho mục đích giao tiếp với hi vọng ngườihọc sẽ rút ra được các quy tắc chi phối ngôn ngữ ấy
c Quan điểm thứ ba là quan điểm theo “đường hướng giao tiếp”
Quan điểm này coi ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người vàngữ pháp là 1 trong những phương tiện ngôn ngữ để thực hiện chức năng giao tiếp Nhưvậy, dạy và học ngữ pháp là cần thiết nhưng không phải là mục đích cuối cùng của việchọc ngoại ngữ Mục tiêu của việc dạy và học ngữ pháp là:
- Giúp hs có kiến thức cơ bản, tương đối hệ thống và hoàn chỉnh về ngữ pháp tiếng Anh,đặt nền móng cho việc phát triển kỹ năng giao tiếp
- Giúp hs ý thức được những yếu tố cơ bản cũng như ý thức được sự tồn tại của ngữ phápviết và nói để hs có thể định hướng cho việc tự bồi dưỡng kiến thức ngôn ngữ
19
Trang 20Nguyên tắc dạy và học ngữ pháp
a Kết hợp phương pháp quy nạp và diễn dịch
Qui nạp và diễn dịch là hai phương pháp trái ngược nhau trong dạy học
Phương pháp qui nạp là cách dạy “từ dưới lên”, hs được giảng viên hướng dẫn
tı m hiểu và tự khám phá các qui tắc ngữ pháp thông qua làm bài tập Giảng viên đưa racác vı du sau đó từ từ lái hs vào hướng phát triển các qui tắc, lı thuyết Chẳng hạn, hs đọc
1 bài đọc hiểu bao gồm ha ng loạt như ̃ng câu mô ta ̉ như ̃ng việc mà 1 ngươ i đa ̃ la m trongnga y bi nh thươ ng Sau đo gia ̉ng viên co thể bắt đầu đưa ra 1 va i câu ho ̉i như: Nhân vậttrong ba i đa ̃la m việc A, việc B trong bao lâu? Đa ̃ bao giơ đến địa điểm X, Y na o đo trong
ba i chưa? Khi na o? Tiê p theo, đê ̉ giúp hs hiê ̉u đươ c sư khác nhau giữa hai thì: Qúakhứ đơn và Hiê n ta i hoàn thành, những câu hỏi đi sâu hơn bă t đâ u đươ c đă t ra như: Câuhỏi nào trong sô những câu hỏi vừa rô i đê câ p đê n 1 điê ̉m thời gian cu thể trong quákhứ? Câu hỏi nào đê câ p đê n kinh nghiê m đã từng trải của 1 người? Từ đó gv bă t đâ uquay la i giải thích vê sư khác biê t giữa hai thì này; những ví du minh ho a có thê ̉ đươ c
lâ y từ chính bài tâ p mà hs vừa làm đê ̉ giúp ho tìm hiểu và tư khám phá ra qui tă c ngữ pháp và hiểu đươ c sư áp du ng trong thư c tê của lí thuyê t vừa ho c Sử du ng phương phápnày thường mâ t nhiê u thời gian hơn, nhưng thường đa t hiê u quả cao nhâ t nê u như gvmuô n hs:
- Tư ho c cách tìm ra chủ đê chính hay các nguyên tă c của bài ho c
- Biê t ứng du ng các khái niê m đê ̉ giải quyê t vâ n đê mà hs chưa từng gă p trước đó
- Biê t khi nào sử dụng như thê nào những câ u trúc đã đươ c ho c
- Biê t luôn đă t câu hỏi, tư duy vê những gì mình chưa biê t - Hiểu bản châ t của vâ n đê .Phương pháp diê ̃ n dịch là phương pháp “da y từ trên xuô ng” Đây là phương pháp da y đúng theo chuẩn mà trong đó gv đưa ra các qui tă c, lí thuyê t ngữ pháp và giảithích cho hs trước khi ho làm bài tâ p ứng du ng Gv giới thiê u cấu trúc ngữ pháp kèm các bài tâ p giúp người ho c nắm vững cấu trúc ngữ pháp đó Với phương pháp diê ̃n di ch,viê c da y ngữ pháp đa t hiê u quả cao nhâ t khi gv muô n hs hiểu bài mô t cách nhanh vàchính xác, thường là bài tâ p trên lớp hoă c trong sách Phương pháp diê ̃n di ch không yêu
câ u sư đô ng não nhiê u, do đó ít thách thức đô i với người ho c trong khi phương pháp qui
na p yêu câ u người ho c phải tư tìm tòi và suy nghĩ do đó giúp quá trình ho c hiê u quảhơn, câ u trúc ngữ pháp đươ c nghi nhớ lâu hơn tuy mâ t nhiê u thời gian hơn Hai phương pháp trên có thê ̉ đươ c minh ho a đô i chiê u như sau:
Phương pháp qui nạp: Ví du cu thể >>>> Qui tă c NP
Phương pháp diễn dịch: Qui tă c NP >>>> Ví du cu thể
Vâ y khi nào nên dùng phương pháp diê ̃n di ch hay khi nào dùng phương pháp qui
na p?
20
Trang 21Mô t sô gv cho răng hs cân đươ c ta o điêu kiê n để dê ̃ dàng chủ động lĩnh hô i kiên thứcnên thường dùng phương pháp qui na p Tuy nhiên cũng có những lúc gv câ n phải giảithích các khái niê m và hiê n tươ ng ngữ pháp thì hs mới có thê ̉ thâ y đươ c tâ m quan tro ngcủa vâ n đê mà ho đang ho c và khi đó gv câ n áp du ngphương pháp diê ̃n di ̣ ch.
Viê c sử du ng phương pháp nào trong hai phương pháp trên là hơ p lí nhâ t phu thuô c vào
mu c tiêu của gv với câ u trúc ngữ pháp câ n da y Tuy nhiên, cách tô t nhâ t đê ̉ da y ngữ pháp là kê t hơ p cả hai phương pháp trong quá trình da y ho c
b. Đảm bảo mô ́i quan hê ̣ giữa câ ́u trúc ngữ pháp và chức năng giao tiê p ́
Như phân tích ở trên, các câ u trúc ngữ pháp chỉ có ý nghĩa khi chúng đươ c sử
du ng trong giao tiê p Theo phương pháp truyê n thô ng, câ u trúc ngữ pháp thường đươ ctách biê t khỏi ngữ cảnh, vì vâ y người ho c ít có điê u kiê n làm quen với ngữ nghĩa vàngữ du ng của câ u trúc ngữ pháp Ví du, khi ho c thể bị đô ng, hs đươ c giới thiê u câ utrúc bị đô ng, cách biê n đổi từ câu chủ đô ng sang bị đô ng và thư c hành làm bài tâ pchuyển đổi câu chủ đô ng sang bị đô ng Với cách da y như vâ y, hs không nă m đươ c khinào sử du ng thể bị đô ng thay cho thể chủ đô ng trong giao tiê p bă ng tiê ng Anh
Để khă c phu c đươ c nhươ c điểm trên, gv câ n da y câ u trúc ngữ pháp trong giao tiê p
thư c tê , qua đó làm rõ mô i quan hê giữa câ u trúc ngữ pháp với chức năng giao tiê p Cu
thể trong trường hơ p trên, gv có thể giải thích tại sao thể bị đô ng đươ c sử du ng thay thểchủ đô ng trong giao tiếp để nhấn ma nh tới hành đô ng hơn là chủ thể hành đô ng Tóm la i, khi đưa ra mô t hiê n tươ ng ngữ pháp mới, gv có thể hình dung ra hoàn cảnh
áp du ng của hiê n tươ ng ngữ pháp đó Ngữ cảnh minh ho a càng cu thể và dê ̃ hiểu thì hscàng dê ̃ tiê p thu bài ho c mới, các em cảm thâ y hào hứng và ghi nhớ hơn Cũng có thể gv
để hs tư phát hiê n và nhâ n ra hiê n tươ ng ngữ pháp mới trong ví du mà gv đưa ra Gvnên đưa ra ngữ cảnh bă ng tiê ng Anh để hs quen dâ n với ngoa i ngữ ho đang ho c Gv cũng
câ n nhớ đừng lướt qua bài ho c mới quá nhanh để chă c chă n ră ng hs có đủ thời gian để
“ngâ m” những kiê n thức mới ho c Viê c nhă c đi nhă c la i mô t kiê n thức mới không baogiờ là thừa bởi viê c nhă c la i thông qua luyê n tâ p sẽ giúp hs ghi nhớ dê ̃ dàng hơn
c Phát triê ̉n khả năng sử du ̣ ng ngữ pháp trong giao tiê p hơn là có kiê ́ ́n thức vê ̀ ngữ pháp
21
Trang 22câu hs áp dụng tiêng Anh vào thư c tê băng cách yêu câu hs sử dụng các mẫu câu đã ho c đê ̉
22
Trang 23Quy trình dạy và học ngữ pháp
Cho dù gv cho n kê t hơ p các phương pháp như thê nào thì việc dạy và học ngữ phápcũng thường thông qua qui trình ba giai đoạn: giới thiệu, luyện tập và vâ n dụng
- Giới thiê ̣ u:Mục tiêu của giai đoạn này là giúp học sinh nhận diện câ u trúc ngữ pháp
vê dạng thức và ngữ nghĩa cũng như các khía cạnh khác nhau của câ u trúc Đây là giaiđoạn học sinh sử dụng trí não ngă n hạn Giáo viên câ n giới thiệu câ u trúc trong ngữ cảnh,sau đó tách cấu trúc khỏi ngữ cảnh và gỉai thích cấu tạo của cấu trúc cũng như các quiluật chi phô i dạng thức và hoạt động của nó Giáo viên có thê ̉ giái thích ngă n go n các
câ u trúc ngữ pháp tương đô ng với tiê ng me đẻ Việc giới thiệu vâ n đê và câ u trúc ngữ pháp trong mô t bô i cảnh cu thê ̉ và có ý nghĩa sẽ khiê n cho các vâ n đê ngữ pháp đó dê ̃
hiê ̉u và dê ̃ ghi nhớ hơn đô i với học sinh Nhờ có tình huô ng cu thê ̉ mà học sinh có thê ̉
đoán đươ c cách thức sử dụng của câ u trúc ngữ pháp Sau đó những phỏng đoán nàyđươ c giáo viên kiê ̉m chứng lại, học sinh sẽ có khá năng ghi nhớ lâu hơn râ t nhiê u Đô ivới mô t sô vâ n đê ngữ pháp, việc sử dụng hình ảnh là một sư lư a cho n tô i ưu giúp giáoviên đưa ra câ u trúc một cách sinh động, trư c tiê p và rõ ràng trong một tình huô ng cu thê ̉.Việc sử dụng hình ảnh thông qua sư trơ giúp của các phương tiện nghe nhìn (visual aids)trong giảng dạy sẽ giúp các giáo viên truyê n tải hiệu quả và dê ̃ dàng hơn các khái niệm khó
và trừu tươ ng Hình ảnh sẽ giúp học sinh tiê p cận và nă m bă t thông tin nhanh hơn vì các
em có thê ̉ hình dung ngữ cảnh rõ ràng Cách thức giới thiệu ngữ pháp thông qua hìnhảnh khá thú vị nhưng không phải lúc nào ta cũng có thể làm được, đặc biệt trong nhữngtrường hợp cấu trúc hay vấn đề ngữ pháp khó và phức tạp cũng như khi giáo viênkhông có thời gian tim kiê m hình ảnh thích hơ p Trong những trường hợp như thế nàythì việc giới thiệu vấn đề hay cấu trúc ngữ pháp trong một tình huống thực tế cụ thể sẽ làcách giúp học sinh tiếp cận vấn đề tốt và nhanh hơn Ngoài ra, cách giới thiệu này cũng rất
có ích trong quá trình thực hành sau này bởi học sinh đã biết cách sử dụng cấu trúc ngữ pháp trong tình huống cụ thể ngoài đời Đây là phương pháp giảng dạy ngữ pháp phổ biến nhất từ trước đến nay ở Việt Nam vì các giáo viên luôn đưa ra các câu ví dụ điểnhình rồi mới phân tích cấu trúc ngữ pháp có trong các câu ví dụ đó
Đô i với 1 sô vâ n đê ngữ pháp, việc sử dụng hình ảnh là 1 sư lư a cho n hay giúp gvđưa ra câ u trúc 1 cách sinh động, trư c tiê p và rõ ràng.
Ví du ̣khi giới thiệu câ ́u trúc: “Too + adjective + to do something ”
Gv có thê ̉ với tay lên trâ n nhà và hỏi hs: “Can I touch it ?” Hs sẽ trả lời: “No, youcan’t”
Sau đó giáo viên có thê ̉ dê ̃ dàng đưa ra câ u trúc bă ng cách nói:
“You’re right I can’t do it because it’s too high to touch”
23
Trang 24Khi giới thiệu một vân đê ngữ pháp mới, giáo viên không nên dùng những từ phức tạphoặc học sinh chưa biê t đê ̉ giải thích bài giảng mà nên đưa ra ví dụ đơn giản đê ̉ làm cho
vâ n đê ngữ pháp trở nên dê ̃ hiê ̉u hơn đô ng thời học sinh cũng có thê ̉ tập trung vào bảnthân câ u trúc ngữ pháp đó Điê u quan tro ng nhâ t là giáo viên phải biê t cách đơn giản hóangôn ngữ cũng như từ vư ng khi giải thích một câ u trúc ngữ pháp Hơn nữa, bâ t cứ khinào một vâ n đê mới đươ c giới thiệu thì giáo viên cũng nên nhă c lại những vâ n đê liênquan mà học sinh đã đươ c ho c trước đây đê ̉ kiê n thức của học sinh có thê ̉ dâ n dâ n đươ cnâng lên thông qua biện pháp ôn tập cuô n chiê u này Nội dung bài ho c câ n đươ c giáo viên
in să ̃n rô i phát cho học sinh hoặc ghi lên bảng và yêu câ u học sinh chép vào vơ ̉ ghi Các
mâ ̃u câu và câ u trúc câ n đươ c ghi chính xác, rõ ràng và câ n đươ c đóng khung hoặc đánh
dâ u đê ̉ dê ̃ tra cứu Mô ̃i câu cũng câ n đươ c ghi chú một cách ngă n go n (gô m định nghĩa,cách sử dụng, vv )
Giáo viên nên hướng dâ ̃n học sinh phân biệt giữa thông tin nào câ n học thuộc lòng vàthông tin nào câ n tư duy đê ̉ nhớ Chă ̉ng hạn, khi dạy thì quá khứ đơn, giáo viên yêu câ u họcsinh ho c thuộc lòng các động từ bâ t qui tă c Tuy nhiên khi dạy cách sử dụng của thì này,giáo viên có thê ̉ giúp học sinh phát triê ̉n tư duy bă ng cách yêu câ u học sinh vâ n dụng vàocác tinh huô ng trong quá khứ, so sánh các điê ̉m cũng như các câ u trúc ngữ pháp có mô itương quan nhă m hiê ̉u sâu, phân biê t rõ ràng và tránh nhâ m lâ ̃n
- Luyê ̣ n tâ ̣ p
Sau khi da y những khái niê m cơ bản, giáo viên cho học sinh làm bài tâ p ngay
dư a vào những kiê n thức mới Những bài tâ p này lúc đâ u thường đơn giản và dê ̃ hiê ̉unhă m giúp học sinh nă m vững khái niê m cơ bản Giáo viên câ n sử du ng nhiê u loa i bài
tâ p khác nhau để học sinh luyê n tâ p nhă m ghi nhớ sâu hơn cấu trúc mới ho c Đây là giaiđoa n học sinh chuyê ̉n kiê n thức từ từ trí nhớ ngă n ha n sang trí nhớ dài ha n Do mô ̃i câ utrúc ngữ pháp có nhiê u khía ca nh khác nhau (da ng thức, ngữ nghĩa, ngữ du ng), nên giáoviên câ n sử du ng các loa i hoa t đô ng đa da ng và phong phú như: điền vào chô ̃ trô ng; đô ̉i
da ng câu; di ch; câu hỏi đa lư a cho n; ghép câu; sửa lô ̃i; vv Các da ng bài tâ p này phâ nlớn đươ c giới thiê u trong giáo trình Sau đó, học sinh câ n phải đươ c làm các bài tâ pnâng cao hơn đê ̉ vừa tăng tính tư duy, vừa kích thích học sinh ho c Tuy nhiên các bài
tâ p này cũng không nên quá khó khiê n các học sinh ho c yê u hơn sẽ dê ̃ thâ y nản
Viê c giao bài tâ p vê nhà cho học sinh cũng là câ n thiê t và giáo viên cũng câ ndành thời gian chữa bài tâ p cũng như giải thích những khúc mă c của học sinh Đê ̉ làmđươ c viê c này thì giáo viên phải luôn ta o không khí thoải mái trong giờ da y, ta o điềukiê n cho các em không thấy nga i khi muốn bày tỏ những vấn đề còn chưa rõ
-Vâ ̣ n du ̣ ng
Nê u trong giai đoa n luyê n tâ p, học sinh tâ p trung chú ý vào hình thức và cách sử
du ng của câ u trúc thì trong giai đoa n vâ n du ng, học sinh thư c hành sử du ng câ u trúc24
Trang 25ngữ pháp đáp ứng các mu c tiêu giao tiê p thư c tê Trong cuô c sông, chúng ta sư ̉ du ngngôn ngữ đê ̉ truyê n đa t và trao đô ̉i thông tin với người khác qua khâ ̉u ngữ hay bút ngữ.
Do đó viê c da y ngữ pháp không chỉ đơn thuâ n là giới thiê u và luyê n câ u trúc ngôn ngữ
mà còn pha ̉i giúp người ho c tham gia giao tiê p, trao đô ̉i thông tin và vâ n du ng ngữ pháptrong các tình huô ng mô phỏng giao tiê p hàng ngày Chính điê u này la i giúp học sinhtăng hứng thú giao tiê p đô ng thời hiê ̉u và sư ̉ du ng đươ c câ u trúc đó ngoài mu c đích đơnthuâ n
Học sinh luôn thích thú khi đươ c să m vai mô t người khác Hoa t đô ng đóng vai ta o cơ
hô i đê ̉ cho học sinh thư c hành, vâ n du ng ngữ pháp có kiê ̉m soát hay tương đô i tư do.Các bài tâ p sư ̉ du ng các câ u trúc ngữ pháp đê ̉ truyê n đa t và trao đô ̉i thông tin trong cáctình huô ng giả tưởng sẽ mang la i hiê u quả cao và gây hứng thú ho c tâ p cho học sinh.Chă ̉ng ha n vâ n du ng sử du ng thời quá khứ sẽ thú vi hơn khi học sinh đươ c yêu câ u diê ̃nvai hai người ba n lâu năm mới gă p la i nhau và ôn la i những kỉ niê m hay viê c làm trongquá khứ: hay học sinh diê ̃n vai chỉ đường cho mô t khách du li ch khi các em đươ c ho c vê
các giới từ chỉ phương hướng
Ngoài ra các hoa t đô ng, trò chơi có các tình huô ng vâ n du ng câ u trúc ngữ phápđươ c ho c cũng là những hình thức đươ c nhiê u giáo viên lư a cho n Tuy nhiên, cần lưu
ý rằng những hoa t đô ng này luôn mất nhiều thời gian và khó quản lí lớp
Giải pháp
Để giúp các em có hứng thú học môn ngữ pháp tiếng Anh và có thể áp dụng kiếnthức ngữ pháp vào giao tiếp trong các tình huống thực tế, giáo viên đã cố gắng vận dụngmột số trò chơi vào việc dạy ngữ pháp cho các em học sinh học sinh Dưới đây giáoviên chỉ xin trình bày một số trò chơi giáo viên vẫn hay sử dụng trên lớp
Thứ nhất, giáo viên áp dụng một số trò chơi để giúp các em có thể ghi nhớ tốt kiếnthức ngữ pháp vừa học Các trò chơi này thường được sử dụng vào giai đoạn củng cố và
ôn tập của tiết học
1 Trò chơi đầu tiên là trò “Lucky number”. Giáo viên chia học sinh thành 2 đội A và B.Học sinh ở 2 đội lần lượt chọn số và làm theo yêu cầu đã ghi trong mỗi ô số trên powerpoint (có thể là đặt câu hay trả lời câu hỏi .) Trong các số này có 1 số may mắn. Nếu 1 đội chọn số mà không trả lời được câu hỏi thì đội còn lại có quyền trả lời và ghiđiểm Đội nào đạt được nhiều câu đúng sẽ ghi nhiều điểm hơn và là đội chiến thắng
Ví dụ:
Giáo viên chia học sinh thành 2 đội A và B Học sinh ở 2 đội lần lượt chọn số vàđặt câu với 1 động từ ở thì quá khứ đơn
7 come 8 Lucky number 9 Eat 10 Sit 11 Ride 12 Go
25
Trang 26Hoặc khi ôn tập kiểm tra tổng hợp nhiều bài học, nhiều phần kiến thức 1 lúc,chúng ta cũng có thể sử dụng trò “lucky number” dưới dạng các câu hỏi.
Ví dụ:
Giáo viên chia học sinh thành 2 đội A và B Học sinh ở 2 đội lần lượt chọn số vàlàm theo các yêu cầu đã được ghi trong các ô số
1 Answer the question: What is the plural noun of “child”?
2 Give the past tense of the verb “shop”
3 Correct the mistakes in the following sentence: “There are two chairs inthe room.”
Với trò chơi này, học sinh sẽ có nhiều hứng thú trong tiết học hơn vì trò chơi nàymang tính cạnh tranh cao giữa 2 đội và đội thắng cuộc sẽ giành được phần thưởng.Thông thường giáo viên dùng điểm để thưởng cho các em nhằm khuyến khích độngviên tinh thần học tập của các em
2 Trò chơi tiếp theo giáo viên cũng hay sử dụng đó là trò “sentence arranging” Tròchơi này được dùng để ôn lại 1 số cấu trúc ngữ pháp trong tiết học hoặc trong các tiết ôntập Giáo viên chuẩn bị các tấm bìa giấy (có thể sử dụng bìa cứng hoặc tờ lịch treotường để làm) kích thước to hay nhỏ phụ thuộc vào nội dung cần kiểm tra Giáo viênchuẩn bị sẵn một số câu cần ôn tập và viết mỗi từ của các câu này lên 1 tấm bìa (tùytheo trình độ của học sinh mà giáo viên có thể chuẩn bị câu dài hay ngắn, khó hay dễ).Chia lớp thành 2 nhóm A và B Tùy theo số từ của mỗi câu để giáo viên gọi số học sinhcủa mỗi nhóm lên trước lớp (ví dụ câu có 6 từ thì gọi 6 học sinh) Giáo viên xáo trộn các
từ trong câu trước khi phát cho số học sinh được gọi lên bảng mỗi em 1 từ Trongkhoảng thời gian nhất định (ví dụ 30 giây) những học sinh này phải đưa từ của mình ra phía trước và tự sắp xếp trong đội để có 1 câu hoàn chỉnh và đúng Đội nào sắp xếpđúng và nhanh nhất được giáo viên cho 2 điểm Giáo viên tổng kết đội nào nhiều điểmhơn sẽ thắng cuộc
Với trò chơi này, học sinh sẽ ôn lại được mẫu cấu trúc câu vừa học một cách hiệuquả Thông qua các trò chơi học sinh sẽ học tích cực hơn, hứng thú hơn, khôngkhí trong lớp học sôi động hơn đồng thời phát huy tinh thần hoạt động nhóm một cáchhiệu quả
3 Giáo viên sử dụng trò chơi đóng vai trong tiết học ngữ pháp nhằm giúp các em vậndụng kiến thức ngữ pháp thực hành giao tiếp trong các tình huống thực tế Trò chơi đóngvai thường được sử dụng để phát huy tinh thần hoạt động theo cặp thông qua các đoạn hộithoại Mỗi cấu trúc ngữ pháp thường được dạy thông qua các mẩu hội thoại màtrong đó các em học sinh sẽ được phân vai để thực hành hội thoại
26
Trang 27Giáo viên thường đọc qua các đoạn hội thoại lấy ví dụ trong hội thoại cho các em
để yêu cầu các em tìm ra cấu trúc ngữ pháp nào đó Sau đó giáo viên đưa cấu trúc chínhxác cho các em viết vào vở Tiếp theo giáo viên cho cả lớp đọc và nhắc lại hội thoại theogiáo viên Cuối cùng giáo viên sẽ yêu cầu các em tự phân vai thực hành hội thoại theocặp Giáo viên sẽ chỉnh sửa lỗi (nếu có) sau khi các em thực hành trước lớp mà khôngngắt quãng quá trình các em thực hành Trong quá trình thực hành giáo viên luôn khích
lệ các em mạnh dạn nói thật nhiều mà không quan tâm nhiều đến lỗi ngữ pháp đểcác em không sợ hãi, rụt rè khi giao tiếp Sau đó giáo viên khái quát lỗi chung của cảlớp Khi còn nhiều thời gian giáo viên sẽ cố gắng cho các em tự xây dựng hội thoại theocác tình huống khác nhau, không phải đọc lại hội thoại mẫu để kích thích sự sáng tạocủa các em
Ví dụ như, khi nói về cấu trúc ngữ pháp của động từ khuyết thiếu “can” với cách sửdụng là diễn tả khả năng năng lực của 1 ai đó, giáo viên cho các em thực hành hội thoạithông qua việc các em đóng vai 1 người phỏng vấn và 1 người được phỏng vấn Các em
sẽ hỏi câu hỏi thông dụng mà khi đi phỏng vấn người ta vẫn hay hỏi Qua đó các em sẽthực hành được nhuần nhuyễn cách trả lời các câu hỏi sau này khi đi phỏng vấn thật sự.Hoặc khi cho học sinh thực hành luyện tập về thì quá khứ đơn, giáo viên đưa ra tìnhhuống thực tế trong cuộc sống để cho học sinh thực hành giao tiếp
Ví dụ: Tình huống đưa ra là khi đi du lịch em đã làm mất một chiếc ví Em đến
cơ quan công an trình báo để mong họ tìm giúp Sử dụng thì quá khứ để viết
đoạn hội thoại và thực hành hội thoại trong đó miêu tả lại chiếc ví và toàn bộ sự việcmất chiếc ví Làm việc theo cặp phân vai thực hành hội thoại (một người đóng vai làcảnh sát, một người đóng vai là người bị mất chiếc ví)
Giáo viên có đưa ra một số gợi ý cho các em Giáo viên đưa ra một số câu lờithoại mấu sau đó giáo viên yêu cầu các em viết tiếp lời thoại, các em có thể viết tiếngviệt trước sau đó chuyển sang tiếng Anh
Chẳng hạn giáo viên đưa ra các gợi ý như sau:
May I help you? Yes, I lost my wallet yesterday afternoon I
am trying to find it Can you help me tofind it?
Ok Where did you lose it? What
was there in your wallet?
What colour is your wallet?
Was it new or old?
I lost it on the beach
There was some money, my passport and
Trang 28họ tìm giúp Sử dụng thì quá khứ để viết đoạn hội thoại và thực hành hội thoại trong đómiêu tả lại con trai mình và toàn bộ chi tiết sự việc Làm việc theo cặp phân vai thựchành hội thoại (một người đóng vai là cảnh sát, một người đóng vai là người bị lạc mấtcon)
Giáo viên sẽ yêu cầu các em làm tương tự như tình huống trên nhưng các em phải
tự viết lời thoại, giáo viên không viết mẫu Cuối cùng khi các em đã hoàn thành xong bàicủa mình, giáo viên sẽ chữa và có thể đưa ra thêm những lời thoại gợi ý them Bài tập nàygiúp học sinh hoạt động tích cực hơn vào bài học, kích thích sự sáng tạo của các em đểxây dựng các đoạn hội thoại của riêng mình đồng thời giúp các em vận dụng kiến thứctổng hợp của nhiều bài học trước để có thể thực hành giao tiếp trong tình huống thực tế
2.3 DẠY PHÁT ÂM
Tìm hiểu về ngữ âm Tiếng Anh
Vậy ngữ âm là gì? Đó là học ngữ điệu và âm thanh Bất kỳ ngôn ngữ nào đều cóngữ điệu và âm thanh riêng Ở Việt Nam nói riêng và rất nhiều quốc gia trên thế giới nóichung, những người học tiếng Anh cảm thấy khó phát âm chuẩn như người bản xứ vì ngữđiệu và âm thanh của Tiếng Anh khác với tiếng mẹ đẻ của họ Những nhân tố chính gâynên khó khăn này có thể kể đến như sau:
Thứ nhất, âm mới. Trong Tiếng Anh xuất hiện một số âm mà trong tiếng Việtkhông có, và chúng làm cho học sinh cảm thấy khó có thể phát âm chuẩn được Hãy lấy
ví dụ với âm /†/ Khi được nghe qua về cách đọc của phụ âm này thì học sinh cho rằngthật dễ, song thực tế lại hoàn toàn khác Có không ít học sinh không thể phát âm đúng và
dễ dàng nản lòng với cách đọc của chỉ một âm, chứ chưa nói đến những âm khác
Thứ hai, cách phát âm bị "Việt hoá". Vốn đã quen với cách phát âm trong tiếngViệt, nên các bộ phận tạo nên âm thanh, đặc biệt như lưỡi, môi, răng rất khó điều chỉnh để phát âm đúng trong Tiếng Anh Bản thân học sinh thấy bất lực trong việc điều khiển28
May I help you?
Ok Where did you lose him?
What happened?
What is his name?
How old is he?
What did he wear?
What does he look like?
Was he tall or short?
Yes, I lost my son yesterday afternoon I am trying tofind him Can you help me to find him?
I lost him on the beach
I and my son played together, built sand castles
on the beach and my wife swam in the sea But after that, I left him alone for a short time to run toward mywife to give her the mobile phone Then I came back but he disappeared I tried to find him but Icouldn’t find him
Trang 29chúng theo ý muốn của mình Khi muốn đặt một chút đầu lưỡi giữa hai hàm răng để phát
âm âm /ð/ thì răng cứ míp chặt và lưỡi lại thụt vào trong
Thứ ba, trọng âm của từ Trong Tiếng Anh, với những từ có 2 âm tiết trở lên thìđều có trọng âm Trọng âm của từ sẽ rơi vào một trong những âm tiết nhất định, và âm tiết
đó sẽ được đọc nhấn mạnh hơn so với những âm tiết còn lại Trong tiếng Việt của chúng
ta không có trọng âm của từ, vì từ trong tiếng Việt là những từ có 1 âm tiết Và đây lại làmột khó khăn khác với học sinh
Thứ tư, ngữ điệu của câu. Ngữ điệu của câu trong tiếng Anh rất đa dạng và phong phú Có thể cùng một câu nói, nhưng chúng ta có thể lên giọng, hoặc xuống giọng ở cuốicâu nhằm chuyển tải thông tin khác nhau đến người nghe Tiếng Việt cũng vậy Songchính vì tiếng Việt cũng như vậy, nên lại làm cho học sinh cảm thấy khó Các em đã quenvới cách lên xuống của câu trong tiếng Việt, nên khi chuyển sang tiếng Anh, không ít thìnhiều, ngữ điệu của câu trong tiếng Việt sẽ ảnh hưởng sang tiếng Anh, hoặc nếu không, sẽmất rất nhiều thời gian để học và sửa
Tất cả mọi người khi bắt đầu học ngoại ngữ đều phải học các quy tắc phát âm, điềunày rất quan trọng trong việc phát âm một cách chính xác Mục đích chính của việc họcngoại ngữ là để có thể giao tiếp với mọi người, nhưng phát âm tồi có thể gây ra nhiều hiểunhầm không đáng có Vì thế, các quy tắc phát âm quan trọng với người học ngoại ngữ làđiều hiển nhiên Cần giới thiệu cho các em biết qua về các ký hiệu phiên âm quốc tế màcác em sẽ phải làm quen trong quá trình học môn Tiếng Anh Ban đầu các em có thểchẳng hiểu gì và biết gì về nó cả Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là sau này các emcũng sẽ không hiểu gì về nó cả Trong bảng giới thiệu các ký hiệu đó, có các ký hiệu phiên âm quốc tế và các âm tương ứng của nó trong Tiếng Việt để cho học sinh dễ hìnhdung
Ví dụ trong SGK Tiếng Anh 7
UNIT 1: MY HOBBIES
Trong đơn vị bài học này, học sinh được học 2 nguyên âm /ə/ và /ɜ:/
a) Short vowel /ə/ Nguyên âm ngắn /ə/)
Hướng dẫn và luyện tập theo link: anh-co-ban/1514-short-vowel-%C9%99-nguyen-am-ngan-%C9%99.html
http://www.tienganh123.com/phat-am-tieng-29
Trang 30- /ə/ is a short vowel sound.
- Open your mouth very slightly and simply
- The lips and tongue are relaxed
I suppose it's possible /aɪ səˈpəʊz ɪts ˈpɒsəbl/
That's an excellent question /ðæts ən ˈeksələnt ˈkwestʃən/
1 "a" được phát âm là /ə/
2 "e" được phát âm là /ə/
3 "o" được phát âm là /ə/
4 "u" được phát âm là /ə/
5 "ou" được phát âm là /ə/
b) Long vowel /ɜ:/(Nguyên âm dài /ɜ:/)
30
Trang 31Hướng dẫn và luyện tập theo link: anh-co-ban/1513-long-vowel-%C9%9C:-nguyen-am-dai-%C9%9C:.html
http://www.tienganh123.com/phat-am-tieng /ɜː/ is a long vowel sound
- Your mouth and tongue should be relaxed
The girl saw the circus first /ðə ɡɜːrl sɔː ðə ˈsɜːrkəs fɜːrst/
That is the worst journey in the world /ðæt ɪz ðə wɜːrst ˈdʒɜːrni ɪn ðə wɜːrld/Identify the vowels which are pronounced /ɜː/ (Nhận biết các nguyên âm được phát
âm là /ɜː/)
1 "o" thường được phát âm là /ɜː/ trong một số trường hợp
2 "u" còn được phát âm là /ɜː/
3 "i", "e", "ea" và "ou" thỉnh thoảng cũng được phát âm là /ɜː/ khi trọng âm rơivào những từ này
Trình tự dạy phát âm theo 3 bước
3.1 PRESENTATION – TRÌNH DIẾN ÂM
3.1.1 Giới thiệu âm riêng biệt bằng cách đọc to, rõ và chuẩn âm đó lên 2-3 lần để họcsinh nhận biết Ví dụ âm /a:/
31
Trang 323.1.2 Đọc âm đó khi đặt trong một hoặc nhiều từ cụ thể carp, heart, cart Đối chiếu âm
đó với một hay nhiều âm tương tự có thể dễ gây nhầm lẫn
3.1.4 Giải thích cách phát ra của âm đó - bằng hình ảnh hoặc âm thanh
3.1.5 Yêu cầu học sinh trong lớp phát âm đồng thanh lại âm đó 2-3 lần
3.1.6 Yêu cầu từng học sinh phát âm lại âm đó cho chuẩn
3.2 PRACTICE – THỰC HÀNH ÂM
3.2.1 Giải thích âm cho học sinh hiểu cách đọc của âm đó
Ví dụ: / a: / is a long sound Put your tongue down and back
3.2.2 Đưa ra bài tập thực hành:
• Khi âm nằm trong một từ:
Ví dụ: âm / a: / trong từ heart
• Khi âm nằm trong một nhóm từ hoặc cụm từ:
Ví dụ: âm / a: / trong heart cancer
• Khi âm nằm trong nhóm so sánh đối chiếu:
Ví dụ: âm / a: / khi đối chiếu heart vs hat
• Khi âm nằm trong câu đầy đủ: âm /a:/ trong câu “She is suffering from heart cancer.”
• Khi âm nằm trong những bài đọc "tongue twister"
• Khi âm nằm trong một đoạn hội thoại:
Margaret: Where's your glass, Barbara?
Barbara: It's on the bar
Martin: Barbara! Margaret! Come into the garden Martha and Charles are
dancing in the dark
Margaret: In the garden? What a laugh!
Barbara: So they are! They're dancing on the grass!
Margaret: They're dancing under the star
Martin: And Arnold's playing the guitar!
Barbara: Doesn't Martha look smart?
Margaret: Look at Charles! What a marvelous dancer!
Barbara: Ah! Let's take a photograph of Martha and Charles
32