Tuy nhiên, ý thức chỉ là sự phản ánh chân thật về thế giới khách quan, cho nên tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực cả.. Thời kỳ cổ đại, do trình độ hiểu biết về thế gi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-*** -BÀI TẬP LỚN MÔN THMLN
ĐỀ BÀI:
VAI TRÒ CỦA TRI THỨC ĐỐI VỚI Ý THỨC Ở VIỆT NAM, TRI THỨC CÓ VAI TRÒ GÌ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI
Họ và tên SV : Nguyễn Nhật Minh
Lớp tín chỉ : LLNL1105(222)CLC_04
Mã SV : 11224255
GVHD : TS NGUYỄN VĂN HẬU
HÀ NỘI, NĂM 2023
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG CỦA TRIẾT HỌC VỀ Ý THỨC VÀ TRI THỨC
1 Lý luận về ý thức
1.1 Khái niệm ý thức
1.2 Nguồn gốc của ý thức
1.2.1 Nguồn gốc tự nhiên
1.2.2 Nguồn gốc xã hội
1.3 Bản chất của ý thức
1.4 Vai trò của ý thức
2 Lý luận về tri thức
2.1 Khái niệm tri thức
2.2 Vai trò của tri thức đối với ý thức
3 3 3 3 4 4 6 7 7 7 8 CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA TRI THỨC TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM
1 Tri thức khoa học 1.1 Khái niệm 1.2 Vai trò của tri thức khoa học 2 Tri thức bản địa 2.1 Khái niệm 2.2 Vai trò của tri thức bản địa 2.3 Khoảng trống về tri thức bản địa ở Việt Nam 2.4 Đề xuất ứng dụng tri thức bản địa: chính sách ứng phó, giảm thiểu rủi ro thiên tai và quy hoạch dựng làng 9 9 9 9 10 10 11 12 13 KẾT LUẬN 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
1
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
“Necessity is blind until it becomes conscious Freedom is the consciousness of necessity.” ( Karl Marx )
(Tạm dịch: Sự cần thiết mù cho tới khi nó trở thành ý thức Tự do là ý thức về
sự cần thiết)
Câu nói trên được trích từ lời của triết gia người Đức Karl Marx đã nhấn mạnh vai trò vô cùng quan trọng của ý thức Quả đúng như vậy, lịch sử loài người đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng quá trình hình thành và phát triển văn minh nhân loại chính là quá trình hình thành ý thức từ thấp đến cao Ở thời kỳ nguyên thủy, khi con người còn ăn lông ở lỗ, họ đã nhận thức được sự cần thiết phải săn bắn hái lượm để tồn tại, nhận thức được tầm quan trọng phải cùng nhau lao động và chiến đấu với thú
dữ để tự vệ Chính những tác động của ý thức đã ảnh hưởng rất lớn vào đời sống của con người Nó chính là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn của con người, tạo ra các giá trị thực tiễn cho đời sống xã hội như giúp con người trong việc chế tạo ra công cụ lao động như rìu, mũi dao, làm vũ khí tự vệ
Tuy nhiên, ý thức chỉ là sự phản ánh chân thật về thế giới khách quan, cho nên
tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực cả Mà muốn thực hiện được tư tưởng thì phải sử dụng lực lượng thực tiễn, hay chính là con người Lịch sử xã hội
đã cho chúng ta thấy rằng, bất kì một quốc gia, một dân tộc nào, nền kinh tế đều xuất phát từ một điểm thấp Ví dụ như Việt Nam, với tiềm lực kinh tế - kỹ thuật còn yếu, thị trường còn non trẻ, khoa học công nghệ chưa phát triển, liệu chúng ta có thể đạt được những bước tiến dài trên bản đồ phát triển thế giới hay không? Chúng
ta phải làm gì để có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu” như lời Bác căn dặn? Lời giải đáp cho những thắc mắc trên đó chính là tri thức Có thể ý thức về thế giới và những quy luật khách quan xung quanh là chưa đủ, con người cần phải vận dụng đúng đắn những quy luật đó, phải có ý chí và phương pháp để tổ chức hành động Hay nói cách khác, con người sau khi nhận thức được thế giới khách quan,
họ cần phải có tri thức để cải biến, sáng tạo, xây dựng một xã hội phát triển toàn diện hơn
Như vậy, có thể nói ý thức và tri thức có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của nhân loại Nhưng bản chất của ý thức và mối quan hệ giữa ý thức và tri thức tác động đến đời sống xã hội như thế nào? Tìm hiểu về ý thức và tri thức sẽ giúp con người có những biện pháp đúng đắn tạo điều kiện cho sự phát triển của xã hội Bài tiểu luận này em chọn đề tài “Vai trò của tri thức đối với ý thức Ở Việt Nam, tri thức có vai trò gì trong hoạt động sản xuất của con người’’ Do trình độ còn hạn chế nên sẽ không thể tránh được những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp và chỉ dạy của thầy
2
Trang 4CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG CỦA TRIẾT HỌC VỀ Ý THỨC
VÀ TRI THỨC
1 Lý luận về ý thức
1.1 Khái niệm về ý thức
Để đưa ra được định nghĩa toàn vẹn nhất về ý thức, con người đã phải trải qua một quá trình lịch sử lâu dài với những quan niệm còn thô sơ, sai lệch và không trọn vẹn
Thời kỳ cổ đại, do trình độ hiểu biết về thế giới xung quanh và về chính bản thân mình còn thấp, con người không hiểu được bản chất các hiện tượng tinh thần, tư tưởng như trí nhớ, giấc mơ, những hình ảnh xuất hiện trong đầu óc nên họ cho rằng tinh thần, ý thức của con người không phải là sản phẩm của quá trình hoạt động mà là
do một loại thực thể gọi là “linh hồn” cấu thành Linh hồn có thể trú ngụ trong con người làm cho con người có ý thức và linh hồn cũng có thể tồn tại bên ngoài con người
Các nhà triết học duy tâm cho rằng “linh hồn” là thực thể tinh thần Thực thể tinh thần này không những khác với vật chất, tồn tại độc lập với vật chất mà còn là nguyên nhân sinh ra vật chất Các nhà triết học duy vật thời kỳ cổ đại thì cho rằng linh hồn con người, hay ý thức con người có nguồn gốc vật chất, do đó không thể tách rời
cơ thể và cũng sẽ chết khi cơ thể chết
Nhìn chung những quan niệm triết học ở thời kỳ cổ đại về ý thức còn rất mộc mạc, thô sơ Đó đều là những giả định dựa trên tài liệu mang tính trực quan, cảm tính của con người nhằm giải thích các hiện tượng tinh thần, ý thức Sau này, nhờ có sự phát triển tiến bộ của khoa học, các nghiên cứu của con người về bản thân mình, về cơ cấu hoạt động của hệ thần kinh, về mối liên hệ giữa những hiện tượng tâm sinh lý của con người ngày một đầy đủ và sâu sắc hơn, nên quan niệm về ý thức đã có sự luận giải sâu sắc hơn
Theo quan điểm của triết học Mác-Lênin, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan được sáng tạo lại theo nhu cầu và mục đích của con người
Khái niệm ý thức được Mác diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn: ý thức chẳng qua chỉ là thế giới khách quan được di chuyển vào trong bộ óc của con người và được cải biến đi ở trong đó
Khi nói ý thức là “hình ảnh chủ quan” là muốn nhấn mạnh đặc điểm của những
“ánh phản” từ thế giới khách quan vào bộ não con người
Khi nói ý thức là sự “sáng tạo lại” thế giới khách quan là muốn nhấn mạnh tính năng động của phản ánh, đó là khả năng sáng tạo giới tự nhiên để tạo ra giới tự nhiên thứ hai phù hợp với ước muốn và mục đích của con người Qua đây khắc phục quan điểm duy vật siêu hình coi ý thức là sự phản ánh thụ động giản đơn
1.2 Nguồn gốc của ý thức
Ý thức là sự phản ảnh hiện thực khách quan vào bộ não con người, muốn hình thành ý thức cần phải có yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội Nói khác đi, ý thức bao gồm nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
3
Trang 51.2.1 Nguồn gốc tự nhiên
Ý thức con người không phải là độc lập, có sẵn được các đấng siêu tự nhiên
“thổi” vào thể xác con người như quan niệm của chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo Ý thức cũng không phải là một dạng vật chất như quan điểm của chủ nghĩa duy vật tầm thường: tư tưởng do bộ óc người sinh ra như gan tiết ra mật Ý thức là cái riêng có của con người, là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao nhất là bộ óc người Bộ não con người là cơ quan của ý thức, ý thức là chức năng của bộ não con người Sở dĩ như vậy là vì bộ não người là một dạng vật chất đặc biệt, có trình độ tổ chức rất cao bao gồm từ 15 đến 17 tỷ tế bào thần kinh, có khả năng thực hiện những chức năng khác nhau của quá trình phản ánh hiện thực khách quan ở trình độ cao Chính những khả năng đó là cơ sở để ý thức tồn tại
Tuy nhiên nội dung của ý thức không có sẵn trong não con người Để hình thành nội dung của ý thức cần phải có thông tin về các đối tượng vật chất trong hiện thực khách quan Những thông tin đó phải do các đối tượng vật chất tác động vào giác quan con người và được lưu giữ trong não con người dưới hình thức “cải biến đi ở trong đó”
Như vậy, sự xuất hiện con người và hình thành bộ óc của con người có năng lực phản ánh hiện thực khách quan là nguồn gốc tự nhiên của ý thức Tuy nhiên quá trình hiện thức khách quan tác động vào bộ não con người là một quá trình phản ánh rất phức tạp hay còn gọi là quá trình phản ánh sáng tạo hiện thực khách quan Để thấy rõ điều này, chúng ta tìm hiểu lý luận phản ảnh của Lênin
Lênin cho rằng phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất, là năng lực giữ lại đặc điểm của một sự vật này trên một sự vật khác khi hai sự vật đó tác động với nhau Sự phản ánh phụ thuộc vào vật tác động và vật nhận tác động, đồng thời luôn mang nội dung thông tin của vật tác động Phản ánh là quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ thụ động đến chủ động, có tổ chức, điều khiển và lựa chọn đối tượng phản ánh
Trong thế giới tự nhiên vô sinh có kết cấu vật chất đơn giản, do vậy trình độ phản ánh đặc trưng của chúng là phản ánh cơ học, vật lý, hóa học Đây là những phản ánh đơn giản, thụ động, không lựa chọn Giới tự nhiên hữu sinh ra đời với kết cấu vật chất phức tạp hơn, do đó thuộc tính phản ánh cũng phát triển lên một trình độ mới khác về chất so với giới tự nhiên vô sinh Đó là trình độ phản ánh sinh học trong các
cơ thể sống có tính định hướng, lựa chọn, giúp cho các cơ thể sống thích nghi với môi trường để tồn tại Phản ánh tâm lý là hình thức phản ánh cao nhất của các động vật có
hệ thần kinh trung ương, bao gồm phản xạ có điều kiện và không điều kiện Phản ánh tâm lý đem lại cho con vật thông tin về các thuộc tính, quan hệ của sự vật bên ngoài và
về cả ý nghĩ của chúng đối với đời sống của con vật Tuy nhiên, tâm lý động vật chưa phải là ý thức mà đó vẫn là trình độ phản ánh mang tính bản năng của loài động vật bậc cao Sự phản ánh có ý thức chỉ xuất hiện khi có con người và xã hội loài người 1.2.2 Nguồn gốc xã hội
Chỉ với những yếu tố tự nhiên: bộ não hoàn thiện và sự tác động của hiện thực khách quan vào bộ não là chưa đủ điều kiện để hình thành ý thức Muốn hình thành ý
4
Trang 6thức bên cạnh các yếu tố tự nhiên còn phải có các yếu tố xã hội Chúng ta có thể khẳng định điều này bởi vì thực tế đã chứng minh các loài động vật bậc cao hiện nay như các loài vượn, khỉ, tinh tinh, v.v có đầy đủ những yếu tố tự nhiên giống như con người, chẳng hạn: có bộ não phát triển, sống trong môi trường tự nhiên như con người, nhưng không hình thành được ý thức, bởi vì chúng không có những hoạt động như con người
để tạo ra những điều kiện mới – điều kiện xã hội cho ý thức ra đời và phát triển Vậy những hoạt động đó là gì?
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan do đó ý thức không có sẵn
và không tự tạo ra trong óc con người được mà phải hình thành trong quá trình con người hoạt động, tác động vào tự nhiên và xã hội Tác động của con người vào tự nhiên khác với động vật ở chỗ động vật chỉ dựa vào cái có sẵn trong tự nhiên và thỏa mãn với những cái sẵn có đó, còn con người không thỏa mãn với những cái sẵn có trong tự nhiên mà còn cải biến nó nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của mình Những hoạt động vật chất cải biến tự nhiên một cách có mục đích đó của con người được gọi là hoạt động sản xuất vật chất, hay lao động Hoạt động sản xuất vật chất ngay từ những hình thức đơn giản nhất đã làm cho các sự vật trong hiện thực khách quan bộc lộ các thuộc tính của nó, giúp con người cảm nhận được những đặc tính và ý nghĩa của các sự vật đối với đời sống của mình Từ đó con người mới có thể hình thành và củng cố trong óc mình hình ảnh về sự vật, tức là hình thành nên nội dung của ý thức trong bộ não Và nhờ vậy, con người có thể sáng tạo ra các sự vật khác chưa từng có trong tự nhiên mang thuộc tính, đặc điểm của
sự vật trước đó, đồng nghĩa với việc tạo ra một tự nhiên mới Tóm lại, lao động có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển ý thức Người ta đã từng nói
“Một kiến trúc sư tồi còn hơn một con ong giỏi” Quả đúng như vậy, bởi vì trước khi xây một ngôi nhà người kiến trúc sư phải phác thảo trong đầu anh ta hình ảnh ngôi nhà, còn con ong chỉ là xây tổ theo bản năng
Mặt khác, hoạt động sản xuất vật chất không những gắn kết con người với tự nhiên mà còn gắn kết con người với nhau, hình thành nên các quan hệ xã hội khách quan Quan hệ xã hội dần dần xuất hiện trong mọi lĩnh vực đời sống, từ đó làm xuất hiện nhu cầu trao đổi tư tưởng giữa con người, từ đó đưa đến sự ra đời ngôn ngữ Ngôn ngữ vừa là phương tiện trao đổi tư tưởng của con người, vừa là phương tiện để con người phản ánh khái quát hiện thực khách quan Nhờ khả năng phản ánh khái quát hiện thực khách quan bằng ngôn ngữ, con người đã xây dựng được hình ảnh tinh thần ngày càng toàn diện về thế giới vật chất trong bộ não của mình, tích lũy và phát triển tri thức từ thế hệ này qua thế hệ khác, làm cho kho tàng tri thức của con người ngày càng lớn lên Như vậy có thể nói trước tiên là lao động và cùng với lao động là ngôn ngữ là hai yếu tố xã hội chủ yếu nhất có ý nghĩa quyết định nhất để thực hiện bước chuyển về chất từ trình độ phản tâm lý của động vật sang trình độ phản ánh ý thức của con người
Tóm lại, xem xét nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của ý thức cho thấy,
ý thức xuất hiện là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên, của lịch sử trái đất, đồng thời là kết quả trực tiếp của thực tiễn xã hội – lịch sử của con người
5
Trang 7Discover more
from:
Document continues below
Triết 1
Đại học Kinh tế…
999+ documents
Go to course
Sơ đồ tư duy Triết chính thức
Triết 1 99% (114)
7
PHÂN TÍCH QUAN NIỆM DUY VẬT BIỆN… Triết 1 100% (44)
12
Tiểu luận triết học Ý thức và vai trò của t… Triết 1 99% (91)
25
tóm tắt triết học Mac Lenin
Triết 1 100% (39)
58
TIỂU LUẬN TRIẾT 1 Triết 1 100% (34)
19
NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI
11
Trang 8Trong đó, nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần, còn nguồn gốc xã hội là điều kiện đủ
để ý thức hình thành, tồn tại và phát triển Nếu chỉ nhấn mạnh mặt tự nhiên mà quên đi mặt xã hội hoặc ngược lại đều dẫn đến những quan niệm sai lầm, phiến diện của chủ nghĩa duy tâm hoặc duy vật siêu hình, không thể hiểu được thực chất của hiện tượng ý thức, tình thần của loài người
1.3 Bản chất của ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng trên cơ sở nhận thức đúng đắn nguồn gốc ra đời của ý thức và nắm vững thuyết phản ánh đã luận giải một cách khoa học bản chất của
ý thức Theo quan điểm của triết học Mác-Lênin, ý thức không phải là có sẵn trong óc, cũng không phải là sự phản ánh giản đơn, thụ động, một chiều thế giới khách quan vào trong đầu óc con người như sự phản xạ ánh sáng của chiếc gương, bởi vậy nên “ bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của óc người”
Như vậy, khi xem xét ý thức về mặt bản thể luận thì ý thức chỉ là “hình ảnh” về hiện thực khách quan được phản ánh trong óc người Thế giới khách quan là nguyên bản, là tính thứ nhất, còn ý thức chỉ là bản sao, là tính thứ hai
Ý thức có đặc tính tích cực, sáng tạo gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội Đây
là một đặc tính căn bản để phân biệt trình độ phản ánh ý thức người với trình độ phản ánh tâm lý động vật
Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ: trong quá trình phản ánh, những thông tin về sự vật được lưu giữ trong ý thức có sự chọn lọc theo định hướng, mục đích rõ ràng của con người Bản thân lao động là hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị tự nhiên của con người, ý thức không chụp lại một cách nguyên si, thụ động sự vật mà đã
có cải biến Hình ảnh của sự vật trong ý thức con người không phải là bản thân sự vật
mà là hình ảnh tinh thần rất năng động về sự vật Bên cạnh đó, trên cơ sở những thông tin, tài liệu, hình ảnh về sự vật đã có trong trí nhớ, con người có khả năng tạo ra trong
ý thức của mình hình ảnh mới về sự vật, hay thậm chí có thể tưởng tượng ra cái chưa
có trong thực tế, có thể tiên đoán, dự báo tương lai Điều này cho thấy tính chất phức tạp, thậm chí có thể coi là bí hiểm của quá trình sáng tạo ra đời sống tâm lý – ý thức của con người mà khoa học còn phải tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ
Phản ánh và sáng tạo có liên quan chặt chẽ với nhau không thể tách rời Hiện thực đã cho thấy rằng: không có phản ánh thì không có sáng tạo, vì phản ánh là điểm xuất phát, là cơ sở của sáng tạo Ngược lại, không có sáng tạo thì không phải là sự phản ánh của ý thức.đây là mối quan hệ biện chứng giữa hai quá trình thu nhận và xử
lý thông tin, là sự thống nhất giữa các mặt khách quan và chủ quan trong ý thức Tính xã hội của ý thức thể hiện ở chỗ sự ra đời tồn tại của ý thức gắn liền với thực tiễn xã hội, chịu sự chi phối của đời sống xã hội, của quá trình sản xuất vật chất
và đấu tranh cải tạo xã hội, của quá trình giáo dục, học tập, giao tiếp giữa con người với nhau trong những giai đoạn lịch sử nhất định Ý thức trước hết là tri thức của con người về xã hội, về thế giới khách quan đang diễn ra xung quanh, về mối liên hệ giữa người với người trong xã hội Do đó ý thức xã hội được hình thành cùng ý thức cá nhân, ý thức xã hội không thể tách rời ý thức cá nhân Con người suy nghĩ và hành
6
Triết 1 100% (35)
Trang 9động không chỉ bằng bàn tay khối óc của mình mà còn bị chi phối bởi khối óc bàn tay của người khác, của xã hội nhân loại nói chung Tự tách ra khỏi môi trường xã hội thì con người không thể có ý thức, tình cảm thực sự
Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh và sáng tạo
Sự thống nhất đó thể hiện ở tính năng động chủ quan của ý thức, ở quan hệ giữa vật chất và ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới của con người
1.4 Vai trò của ý thức
Ý thức đóng một vai trò quan trọng đối với thực tiễn cuộc sống, ý thức là sản phẩm, là sự phản ánh chân thật về thế giới khách quan Điều này đã tạo cho con người
sự thông minh, nhạy bén để có thể ứng phó kịp thời với các tác động của môi trường xung quanh Từ đó giúp tạo nên các giá trị thực tiễn cho đời sống xã hội, nhiều công trình kiến trúc được tạo nên, nhiều phát minh khoa học được hình thành do ý thức của con người dự đoán được những thiên tai hay thậm chí là những thay đổi sẽ xảy ra trong tương lai Không những vậy, việc ý thức tốt về thế giới khách quan xung quanh giúp cho con người hạn chế những hành vi vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến
sự phát triển của quốc gia
Như vậy, nói tới vai trò của ý thức thực chất là nói tới vai trò của con người, vì
ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực Do đó, muốn thực hiện
tư tưởng phải sử dụng thực tiễn Nghĩa là con người muốn thực hiện quy luật khách quan thì phải nhận thức, vận dụng đúng đắn những quy luật đó, phải có ý chí và phương pháp để tổ chức hành động Vai trò của ý thức là ở chỗ chỉ đạo hoạt động của con người, có thể quyết định làm cho con người hành động đúng hay sai, thành công hay thất bại trên cơ sở những điều kiện khách quan nhất định Do đó, con người càng phản ánh đầy đủ, chính xác thế giới khách quan thì càng cải tạo thế giới có hiệu quả
Vì vậy, phải phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động, cải tạo thế giới khách quan
2 Lý luận về tri thức
2.1 Khái niệm về tri thức
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn đề cao, coi trọng vai trò của đội ngũ trí thức đối với sự nghiệp Cách mạng Người từng nhấn mạnh rằng: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng thế” Trải qua một thời gian dài phát triển của lịch sử, vai trò của tri thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội là vô cùng quan trọng Vậy tri thức là gì?
Hiện nay, vẫn chưa có định nghĩa chính xác nào về tri thức Khi nói đến tri thức, chúng ta sẽ nghĩ đến học vấn, trình độ và ý thức Chúng ta có thể hiểu nôm na rằng: “Tri thức bao gồm những kiến thức, thông tin, sự hiểu biết, sáng tạo, hay kỹ năng để ứng dụng nó vào việc tạo ra cái mới nhằm mục đích phát triển kinh tế - xã hội” Tri thức mà con người có được là nhờ thông qua trải nghiệm thực tế, giáo dục hay tự học hỏi
Trong quản trị tri thức, rất nhiều loại tri thức đã được phân chia thành để hỗ trợ việc xây dựng hệ thống quan trị Tuy nhiên, có hai loại tri thức chính đó là tri thức ẩn
và tri thức hiện Tri thức ẩn là những hiểu biết mang tính chủ quan, cảm nhận, trực
7
Trang 10giác, linh cảm, dự đoán khó diễn tả bằng lời, khó trao đổi với người khác Ví dụ như các kỹ sư muốn chế tạo dây chuyền công nghệ tự động hóa mô phỏng cách thức làm bánh, làm rượu ngon thì họ thường phải bắt đầu bằng việc trở thành thợ học việc Sau khi tự mình lĩnh hội bí quyết cách làm (tri thức ẩn) của các bậc tiền bối thì họ mới có thể sáng tạo ra công nghệ phù hợp.Tri thức hiện là tri thức khách quan, được lưu giữ trong các cơ sở dữ liệu, tài liệu, trang web, email, và có thể truyền tải, chia sẻ bằng các ngôn ngữ chính thức và hệ thống Ví dụ, đối với doanh nghiệp, tri thức hiện được thể hiện dưới dạng báo cáo, kế hoạch kinh doanh, bằng phát minh, nhãn hiệu, danh sách khách hàng được tích lũy và lưu trữ để mọi người dễ dàng tiếp cận khi cần Tri thức ẩn và tri thức hiện luôn bổ sung và hỗ trợ cho nhau
2.2 Vai trò của tri thức đối với ý thức
Tri thức là hiểu biết của con người về thế giới khách quan xung quanh Bởi vậy nên, tri thức đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự hình thành, phát triển và cải tạo thế giới tự nhiên của con người Muốn cải tạo được sự vật, trước hết con người phải có sự hiểu biết sâu sắc về sự vật đó Chính vì vậy, nội dung và phương thức tồn tại cơ bản của ý thức phải là tri thức Nếu không dựa vào tri thức thì ý thức chỉ là một
sự trừu tượng trống rỗng, không giúp ích gì cho con người trong hoạt động thực tiễn Con người tích lũy được càng nhiều tri thức thì ý thức càng cao, càng đi sâu vào bản chất sự vật và từ đó giúp cải tạo thế giới có hiệu quả hơn Chúng ta cần phải nhấn mạnh rằng, tri thức, tình cảm và ý chí đều là ba lớp cấu trúc của ý thức và chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, liên quan và ảnh hưởng với nhau Trong đó, tri thức chính là yếu tố cốt lõi nhất, căn bản nhất và quan trọng nhất của ý thức, nó tác động trực tiếp hay còn là tiền đề của tình cảm và ý chí Nếu tình cảm và ý chí không đi kèm với tri thức thì tình cảm và ý chí lúc đó sẽ trở nên mù quáng, không có mục đích nội dung rõ ràng Ngược lại, nếu tri thức mà không đi kèm với tình cảm và ý chí thì nó cũng sẽ không được khai thác và sử dụng triệt để Sự hòa quyện giữa tri thức với tình cảm và ý chí tạo nên tính bền vững của niềm tin thôi thúc con người hoạt động khám phá, vươn lên trong mọi hoàn cảnh
Tóm lại, ý thức bao gồm những yếu tố tri thức và cả những yếu tố tình cảm, niềm tin, ý chí của con người Các yếu tố này luôn liên hệ, tác động qua lại với nhau nhưng về căn bản, ý thức có nội dung tri thức và vì vậy luôn hướng tới tri thức
8