Mô hình chính sách Trong giai đoạn 1978 – 2001, Trung Quốc thực hiện chính sách Thương mại Quốc tế theo mô hình mở cửa, thúc đẩy xuất khẩu kết hợp với bảo hộ một cách có chọn lọc các ngà
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BÀI TIỂU LUẬN MÔN CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI 2
ĐỀ BÀI: Phân tích quá trình điều chỉnh chính sách TMQT và ĐTQT
của Tru g Quốc qua các giai đoạn và thời kì Nêu những điểm cần lưu ý đối với doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hoặc đầu tư sang
thị trường Trung Quốc
Họ và tên : Tống Thị Thủy Tiên
Mã sinh viên: 11203913 Lớp chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế 62B Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Bích Ngọc B
Trang 2CHƯƠNG 1: CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA TRUNG
QUỐC
1 Chính sách thương mại quốc tế của Trung Quốc giai đoạn 1978 – 2001
1.1 Mô hình chính sách
Trong giai đoạn 1978 – 2001, Trung Quốc thực hiện chính sách Thương mại Quốc tế theo mô hình mở cửa, thúc đẩy xuất khẩu kết hợp với bảo hộ một cách có chọn lọc các ngành Công Nghiệp có lợi thế của Trung Quốc
Chính sách thương mại của Trung Quốc được thực hiện gắn liền với những thay đổi chung trong mục tiêu chiến lược khuôn khổ quá trình chuyển đổi kinh tế nói chung Mặc dù, trong mỗi giai đoạn cụ thể thì chính sách thương mại kinh tế thay đổi, tuy nhiên vẫn hướng đến xu hướng chung là mục tiêu tự do hóa thương mại, đáp ứng các nguyên tắc của thị trường và yêu cầu của luật pháp quốc tế Trong giai đoạn 1978 – 2001, chính sách thương mại quốc tế của Trung Quốc thay đổi qua 4 giai đoạn, cụ thể:
Giai đoạn 1 - Từ chính sách thay thế nhập khẩu sang khởi đầu chính sách thúc đẩy xuất khẩu ( 1979 – 1983): sự
chuyển dịch từ chính sách thay thế nhập khẩu truyền thống sang áp dụng chính sách thúc đẩy xuất khẩu, với trọng tâm áp dụng đối với các mặt hàng sử dụng nhiều lao động như dệt, may mặc và giày dép Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu chủ yếu là thành lập các Đặc khu Kinh tế hay Khu kinh tế đặc biệt ( SEZs) và áp dụng các biện pháp chính sách định hướng vùng mục tiêu nói chung, ban hành cơ chế giữ lại ngoại tệ, thiết lập các trung tâm hoán đổi ngoại tệ, thực hiện trợ cấp xuất khẩu và áp dụng chế độ đa tỷ giá Tuy nhiên, thực hiện chính sách trong giai đoạn này chỉ mang tính chất thăm dò, thử nghiệm và mục tiêu chính là triệt tiêu mức độ thiên vị dành cho khu vực thay thế nhập khẩu trong nền kinh tế Nhìn chung, tổng thể hệ thống ngoại thương Trung Quốc trong giai đoạn này vẫn chủ yếu mang tính định hướng thay thế nhập khẩu cao
Giai đoạn 2 – Thực hiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu gắn với bảo hộ ( 1984 – 1990): chính sách thúc đẩy xuất khẩu
được áp dụng chính thức trên phạm vi cả nước Các biện pháp thúc đẩy chủ yếu bao gồm hoàn thuế đối với xuất khẩu, trợ cấp, cải tiến chế độ giữ lại ngoại tệ và tiếp tục áp dụng chế độ đa tỷ giá Tuy nhiên, mức độ bảo hộ cao đối với khu vực thay thế nhập khẩu vẫn được duy trì dưới các hình thức như thuế quan, hạn ngạch, giấy phép
Trang 3nhập khẩu Đây là giai đoạn phản ánh rõ nhất bản chất của “ chiến lực thúc đẩy xuất khẩu gắn với bảo hộ” Mức độ hỗ trợ cho xuất khẩu trung hòa với mức độ thiên vị dành cho khu vực thay thế nhập khẩu song, nhìn chung tổng thể hệ thống ngoại thương của quốc gia này vẫn thiên về thay thế nhập khẩu hơn là thúc đẩy xuất khẩu
Giai đoạn 3 – Thực hiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu trong bối cảnh khởi đầu tự do hóa thương mại ( 1991 – 1993): giai đoạn này gồm những chuyển biến quan trọng trong
chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc, như việc quốc gia này vẫn tiếp tục thực hiện các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu, nhưng đồng thời bắt đầu thực hiện một số cải cách quan trọng theo hướng thúc đẩy tự do hóa, bao gồm:
+ Cắt giảm: mức thuế suất nhập khẩu, số lượng các mặt hàng được kiểm soát bằng kế hoạch pháp lệnh, hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu
+ Xóa bỏ: thuế điều tiết nhập khẩu, trợ cấp xuất khẩu, tất cả các quy định, hướng dẫn và chính sách liên quan đến thay thế nhập khẩu
Sau một thời gian thực hiện những chính sách đó, các doanh nghiệp Trung Quốc bắt đầu hoạt động trong môi trường ít có sự bóp méo giá cả hơn Tuy nhiên, nhìn chung quá trình tự do nhập khẩu mới chỉ là bước khởi đầu ở quốc gia này
Năm 1992, thuế quan nhập khẩu của Trung Quốc vẫn đứng ở mức cao so với các nước đang phát triển khác, chính sách bảo hộ vẫn mang tính cơ cấu cao do sự khác biệt lớn về mức độ thuế giữa các ngành công nghiệp Ngoài ra, tác động của các biện pháp kiểm soát ngoại hối và trợ cấp nhập khẩu thông qua chính sách tỷ giá thì mức độ bảo hộ đối với sản xuất trong nước cho đến 1994 thì có thể
cao gấp đôi so với mức công bố ( mức thuế trung bình năm 1994 là
21,74%, các biện pháp ngoại hối và tỷ giá hối đoái còn tạo ra mức bảo hộ quy đổi ra mức thuế quan tương đương là 21,55%)
Giai đoạn 4 – Đẩy manh tự do hóa thương mại ( 1994 – 2001): chính sách thúc đẩy xuất khẩu được thực hiện trong bối cảnh
quá trình chuyển đổi bước sang một giai đoạn lich sử mới – giai đoạn xây dưng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa
Từ năm 1994, Trung Quốc thực hiện một loạt các biện pháp cải cách sâu rộng theo định hướng thị trường, liên quan đến tất cả các lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế, hướng tới mục tiêu đối nội – đối ngoại
Trang 4Chính sách thúc đẩy xuất khẩu của nó được thực hiện trong khuôn khổ những cải cách theo hướng thiết lập hệ thống kinh tế thị trường dựa trên luật định, tạo lập môi trường hoạt động bình đẳng cho doanh nghiệp, xây dựng những thể chế cần thiết để hỗ trợ cho hoạt động của thị trường và cải cách doanh nghiệp nhà nước
Để khuyến khích xuất khẩu: tăng cường sử dụng những chính sách được coi là không trái với các quy định của GATT/WTO như cung ứng tín dụng xuất khẩu, hoàn thuế VAT đối với hàng xuất khẩu
Từ 1995, thực hiện những vòng cắt giảm mạnh thuế quan nhập khẩu Các rào cản thương mại được cắt giảm về quy mô, số lượng, được điều chỉnh về cơ cấu theo hướng gia tăng ức độ trung lập của
hệ thống ngoại thương Nhìn chung, những chính sách này bắt nguồn từ áp lực hội nhập, từ động cơ thúc đẩy xuất khẩu Điều đó cho thấy rằng Trung Quốc đã nhận thực được việc thực hiện tự do hóa và hội nhập toàn diện vào kinh tế thế giới chính là giải pháp dài hạn và hiệu quả nhất trong việc thúc đẩy xuất khẩu
2 Giai đoạn từ 2001 đến nay: 2001 TQ gia nhập WTO
Nhờ những biện pháp cải cách trong những giai đoạn trước đó
đã mở đường cho Trung Quốc gia nhập WTO vào năm 2001, đây có thể là một bước ngoặt đáng kể đến của quốc gia này
Giai đoạn 1 – Thực hiện các cam kết gia nhập WTO và tiếp tục tự do hóa thương mại ( 2002 – 2005): Nội dung cải
cách chủ yếu của Trung Quốc từ thời điểm này trở đi là đẩy mạnh tự
do hóa thương mại và đầu tư, cải cách hệ thống luật pháp cho phù hợp với yêu cầu của WTO, làm cho hệ thống ngoại thương của Trung Quốc giai đoạn này có tính trung lập cao hơn, từ đó có tác dụng khuyến khích xuất khẩu
Trung Quốc tiếp tục duy trì các chính sách thúc đẩy truyền thống phù hợp với thông lệ quốc tế, đẩy mạnh áp dụng các chính sách hỗ trợ xuất khẩu được áp dụng rộng rãi trên thế giới như: + Chính sách cung cấp dịch vụ tín dụng và cho vay đối với người mua nước ngoài
+ Cho vay ưu đãi theo hiệp định cấp chính phủ
+ Dịch vụ bảo hiểm và bảo lãnh tín dụng xuất khẩu
Đây là những biện pháp rất có hiệu quả trong việc khuyến khích xuất khẩu những mặt hàng công nghệ mới – công nghệ cao
Trang 5Tạo điều kiện để hàng hóa nước này tiếp cận vững chắc thị trường xuất khẩu chủ yếu, đồng thời xâm nhập vào những thị trường nhập khẩu tiềm năng
Từ khi gia nhập WTO, Trung Quốc ưu tiên chính sách thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực và ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương Thực ra, quốc gia này bắt đầu chuyển hướng sang thực hiện chính sách này bắt đầu từ khi cuộc khủng hoảng tài chính khu vực bùng nổ năm 1997, nhưng sau khi gia nhập WTO thì mới thực sự đẩy mạnh và bộc lộ rõ ràng hơn Đặc biệt, sự chuyển hướng của chính sách như vậy thể hiện sự tính toán mang tính chiến lược của Trung Quốc, giúp Trung Quốc trong việc tiếp cận và mở rộng thị trường xuất khẩu, hạn chế bớt khả năng áp dụng những biện pháp bảo hộ chống lại hàng hóa Trung Quốc của các bạn hàng thương mại ( kể cả những nước có công nghiệp phát triển)
Giai đoạn 2 – Điều chỉnh chính sách thương mại trong bối cảnh chuyển đổi chiến lược tăng trưởng kinh tế ( 2006 – 2008): do có sự bất đồng trong nội bộ của quốc gia này nên việc cải
cách theo hướng tự do hóa thương mại bắt đầu chậm lại trong giai đoạn này Sự bất đồng này chủ yếu về những hướng ưu tiên trong chương trình cải cách kinh tế định hướng thị trường cũng như do có những chỉ trích về sự kém của Trung Quốc trong đàm phán gia nhập WTO
Trong giai đoạn này, thuế suất trung bình không được tiếp tục cắt giảm Tuy nhiên, nhiều hạn ngạch thuế được xóa bỏ Vào năm
2008, chỉ còn một số ít mặt hàng như lương thực, đường, len, phân bón vẫn là đối tượng được áp dụng hạn ngạch thuế
Sau khi gia nhập WTO, với việc các rào cản thương mại trên thị trường xuất khẩu được dỡ bỏ, xuất khẩu nước này tăng mạnh, dẫn tới thặng dư thương mại khổng lồ Tỷ trọng cán cân vãng lai trong GDP đạt mức cao kỷ lục là 11% năm 2007 Đối diện với thực trạng
đó, Trung Quốc đẩy mạnh quá trình chuyển đổi phương thức tăng trưởng thương mại để đối phó với tình trạng lạm phát trong nước và
áp lực quốc tế do mức thặng dư thương mại lớn gây ra
Một trong những điều chỉnh quan trọng trong chính sách thương mại của Trung Quốc là tăng cường hạn chế xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp, bao gồm các mặt hàng sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, gây ô nhiễm và có hàm lượng công nghệ thấp Các biện pháp chính bao gồm:
+ Tăng thuế xuất khẩu
Trang 6+ Giảm mức hoàn thuế VAT đối với xuất khẩu
+ Tăng cường sử dụng hạn ngạch xuất khẩu và chế độ cấp phép xuất khẩu
Giai đoạn 7 – Chính sách thương mại trong bối cảnh phục hồi kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu ( 2008 đến nay): Khủng hoảng tài chính nổ ra vào năm 2008 đã tác động
tiêu cực đến hoạt động ngoại thương của Trung Quốc
Năm 2001, xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng lên khiến cán cân thương mại bị thâm hụt, ảnh hưởng nặng nề đến tăng trưởng kinh
tế Trước bối cảnh đó, quốc gia đã điều chỉnh chính sách thương mại,
từ chỗ ưu tiên duy trì thặng dư thương mại sang ổn định nhu cầu bên ngoài và kích thích nhu cầu nội địa
Một mặt, Trung Quốc tìm cách ổn định tăng trưởng xuất khẩu thông qua việc tăng trưởng xuất khẩu thông qua việc tăng cường tài trợ cho thương mại, nới lỏng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu và tăng mức hoàn thuế VAT đối với xuất khẩu Các biện pháp kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài được dỡ bỏ, và thủ tục xét duyệt trở nên
dễ dàng hơn
Mặt khác, Trung Quốc thực hiện một số biện pháp bảo hộ nhập khẩu tạm thời để giảm bớt tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính Thuế suất ưu đãi đối với một số mặt hàng được tạm thời bãi
bỏ Chế độ cấp phép tự động được áp dụng đối với nhiều mặt hàng nhập khẩu Một số luật được thông qua nhằm bảo vệ các ngành công nghiệp nội địa, tuy nhiên so với các nước khác thì những hạn chế thương mại mới của Trung Quốc là rất khiêm tốn
Có thể thấy rằng, Trung Quốc vẫn duy trì các nỗ lực tự do hóa thương mại mặc dù trong giai đoạn khủng hoảng tài chính đó, chẳng hạn như việc mở cửa rộng hơn thị trường dịch vụ du lịch và thông tin tài chính
Chính bởi sự điều chỉnh hợp lý của những chính sách thương mại đó nên quốc gia này đã vượt qua được khủng hoảng tài chính và cải thiện được hoạt động thương mại, đặc biệt vào cuối giai đoạn khủng hoảng Cùng với sự phục hồi của nền kinh tế thế giới, ngoại thương Trung Quốc đã đạt được mức tăng trưởng dương vào tháng 11/2010 và từ năm 2011 có sự tăng trưởng mạnh
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ QUỐC TẾ CỦA TRUNG QUỐC
Trang 7Discover more
from:
QTKD1
Document continues below
Quan Tri Kinh
Doanh 1
Đại học Kinh tế…
999+ documents
Go to course
ĐỀ CƯƠNG QTKD -Lecture notes 1
Quan Tri
Kinh… 99% (92)
24
Phân tích SWOT của
TH true milk
Quan Tri
Kinh… 100% (37)
8
Tài liệu ôn tập trắc nghiệm QTKD1
Quan Tri
Kinh… 100% (34)
25
Môi trường kinh doanh công ty…
Quan Tri
Kinh… 98% (127)
36
Trang 82.1 Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1.1 Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 1979 – 2001
Giai đoạn 1979 – 1985: Thời kỳ “ phôi thai” của quá trình tạo lập môi trường pháp lý đối với FDI của Trung Quốc:
Chính sách thu hút và sử dụng FDI của Trung Quốc trong giai đoạn này chủ yếu được thực thi một các thận trọng và mang tính chất thử nghiệm, cũng giống như chính sách thương mại quốc tế của Trung Quốc trong giai đoạn này
+ Tháng 7/1979: Luật Hợp tác Đầu tư giữa Trung Quốc với nước ngoài (Luật Doanh nghiệp liên doanh) được thông qua Mặc dù chỉ bao gồm 15 điều khoản và có tính hạn chế cao, song nó đánh dấu sự chuyển hướng cơ bản từ chính sách đóng cửa sang thực hiện cải cách mở cửa kinh tế ở Trung Quốc, đồng thời chính thức đặt nền móng cho quá trình hình thành khuôn khổ pháp lý đối với FDI ở Trung Quốc
+ Năm 1983: Quy định hướng dẫn thực hiện Luật Doanh nghiệp liên doanh được ban hành để khắc phục những hạn chế của
nó Quy đinh này hướng dẫn chi tiết hơn về những vấn đề như chuyển giao công nghệ, hồi hương lợi nhuận và sử dụng ngoại tệ Điều này đã cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư và tạo lập lòng tin từ phái các nhà đầu tư nước ngoài
Mặc dù chính sách trong giai đoạn này còn nhiều hạn chế, nhưng nó đã tạo ra sự khởi đầu cần thiết để khẳng định rằng FDI có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của Trung Quốc
Giai đoạn 1986 – 1994: bước ngoặt cơ bản trong chính sách thu hút và sử dụng FDI đề thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc
+ Năm 1986: Luật Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thông qua, đánh dấu sự cho phép về mặt pháp lý hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài trên phạm vi cả nước Sau đó bốn năm,
Quy định hướng dẫn thực hiện Luật Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được ban hành Đây là kết quả của sự chuyển biến mạnh mẽ
về tư tưởng và là bước đi táo bạo của Trung Quốc trong nỗ lực thu hút FDI Thêm vào đó, một trong những nỗ lực khác là việc ban hành
Quy định về khuyến khích đầu tư nước ngoài ( Quy định 22 điều khoản) Văn bản này không chỉ dừng lại ở việc làm rõ những quy
định pháp lý đối với FDI, mà còn đưa ra nhiều biện pháp giúp FIEs giải quyết những khó khăn phát sinh trong quá trình hoạt động
Vinamilk - Lecture notes 4
Quan Tri Kinh… 98% (48)
33
C4 BÀI TÂP HQKD -Lecturer: Nguyen T…
Quan Tri Kinh… 100% (22)
14
Trang 9+ Năm 1988: Với việc Luật doanh nghiệp hợp tác kinh doanh
có hiệu lực, quốc gia này đã căn bản xây dựng cơ sở pháp lý điều tiết hoạt động của 3 loại hình FDI chủ yếu ( JVs, WFOEs, CJVs)
+ Năm 1990: Trung Quốc đã tiến hành sửa đổi Luật doanh
nghiệp liên doanh theo hướng có lợi hơn cho nhà đầu tư
+ Năm 1991: Luật Thuế thu nhập thống nhất đối với các FIEs
được thông qua, chấm dứt tình trạng phân biệt đối xử đối với các hình thức FDI khác nhau
+ Năm 1992: Chính sách kinh tế mới cho phép các công ty nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực trước đây còn bị cấm hoặc hạn chế như : dịch vụ bán lẻ, bất động sản, vận tải, tài chính và ngân hàng, và được thành lập các công ty cổ phần
Nhìn chung, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Trung Quốc đã thay đổi từ “ có gì nhận đấy” sang chính sách thu hút FDI
có chọn lọc, gắn với mục tiêu công nghiệp hóa Nhờ những chính sách đó, Trung Quốc từ chính sách thu hút FDI thụ động sang chủ động, thông qua những công cụ đòn bẩy kích thích
Giai đoạn 1995 – 2001: Từ những năm 90, Trung Quốc tiếp tục những biện pháp nhằm duy trì và cải thiện môi trường kinh doanh thuận lợi đối với các FIEs
Để khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các khu vực miền Trung và Tây, từ 1996, Trung Quốc đã cho phép chính quyền địa phương ở khu vực này có quyền thông qua các dự án có vốn nước ngoài với tổng vốn đầu tư lên tới 30 triệu USD
Từ 1999, khu vực miền Tây có các dự án đầu tư vào các tỉnh nằm sâu trong nội địa được hưởng nhiều ưu đãi hơn Khi thời hạn ưu đãi về thuế theo quy định chấm dứt, các dự án đầu tư có vốn nước ngoài ở các khu vực này có thể được giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm tiếp theo
Tháng 10/2000, chính thức sửa đổi Luật Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và Luật Doanh nghiệp hợp tác kinh doanh cho phù hợp với việc gia nhập WTO Những bổ sung mới mang lại quyền tự chủ hơn cho FIEs trong việc mua nguyên liệu đầu vào tại Trung Quốc hoặc bất kì nơi nào khác, bãi bỏ các yêu cầu về thu chi ngoại tệ, về
tỷ lệ xuất khẩu, tỷ lệ tiêu thụ nội địa đối với các doanh nghiệp này Thêm vào đó, Trung Quốc phải mở rộng quy chế “ đãi ngộ quốc gia” đối với tất cả các FIEs và một số thuế đối với họ cũng sẽ được bãi bỏ
Trang 102.1.2 Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ 2002 – nay
2005, Trung QUốc đã sửa đổi căn bản Luật Doanh nghiệp, thủ
tục đối với việc thành lập doanh nghiệp được đơn giản hóa, quyền của các cổ đông tronh doanh nghiệp được gia tăng Các điều khoản liên quan đến doanh nghiệp có vốn FDI được điều chỉnh theo hướng không khuôn ẫu, với các quy định điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp đó
Từ 2003, ban hành Quy định tạm thời về thôn tính và sáp
nhập doanh nghiệp nội địa của các nhà đầu tư nước ngoài
2006 , chính thức ban hành Quy định về thôn tính và sáp nhập doanh nghiệp nội địa của các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó quy định mới đối với các công ty nước ngoài quan tâm đến việc mua lại các công ty Trung Quốc: cho phép các công ty nước ngoài có thể thôn tính và sáp nhập các doanh nghiệp nội địa của Trung Quốc, và
có thể được thực hiện dưới 2 hình thức sau: mua lại cổ phần hoặc mua lại tài sản của các doanh nghiệp đó
2007, thông qua Luật Chống độc quyền, quy định tằng: ngăn chặn và nghiêm cấm các hành vi độc quyền, bảo vệ cạnh tranh trên thị trường, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế,
2009, để Quy định về M&A tương đồng hơn với Luật Chống độc quyền, họ đã điều chỉnh và thông qua Quy định mới về thôn tính
và sáp nhập doanh nghiệp nội địa của các công ty nước ngoài
Năm 2002 và 2004, Trung Quốc đã tiếp tục sửa đổi Quy định
hướng dẫn các dự án đầu tư nước ngoài So với các danh mục liệt kê
trong Quy định vào năm 1997, số lượng các lĩnh vực thuộc diện khuyến khích trong 2002 tăng từ 186 lên 262, trong khi đó lĩnh vực thuộc diện hạn chế đầu tư giảm từ 112 còn 75, còn lĩnh vực cấm đầu
tư vào được dữ nguyên Thêm vào đó, các dự án thuộc diện khuyến khích còn được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập, thuế VAT ( dưới hình thức hoàn thuế),
Năm 2007, sửa đổi và ban hành Quy định mới về hướng dẫn
các dự án đầu tư nước ngoài để thay thế cho quy định năm 2004 Số
lượng các đối tượng được khuyến khích có sự gia tăng đáng kể Theo
đó, các dự án FDI thuộc ngành công nghiệp chế tạo truyền thống và các lĩnh vực định hướng xuất khẩu không còn thuộc diện khuyến khích, thay vào đó và FDI ngành công nghệ cao, ngành sản xuất nguyên liệu mới, ngành công nghiệp hiện đại, dịch vụ cao cấp, được khuyến khích Đưa vào diện bị cấm là các ngành có nguy cơ gây ô