1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận) phân tích nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển củalực lượng sản xuất, từ đó làm rõ, phân tích vai trò của người lao động trong giai đoạn hiện nay

26 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Nội Dung Quy Luật Quan Hệ Sản Xuất Phù Hợp Với Trình Độ Phát Triển Của Lực Lượng Sản Xuất, Từ Đó Làm Rõ, Phân Tích Vai Trò Của Người Lao Động Trong Giai Đoạn Hiện Nay
Tác giả Phạm Thùy Dương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế
Thể loại bài tập lớn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂNVIỆN ĐÀO TẠO TIÊN TIẾN, CHẤT LƯỢNG CAO, POHE BỘ MÔN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN ---o0o---BÀI TẬP LỚNĐề tài : Phân tích nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

VIỆN ĐÀO TẠO TIÊN TIẾN, CHẤT LƯỢNG CAO, POHE

BỘ MÔN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

-o0o -BÀI TẬP LỚNĐề tài :

Phân tích nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, từ đó làm rõ, phân tích vai trò của người lao động trong giai đoạn hiện nay

Họ và tên sinh viên : Phạm Thùy Dương

Mã sinh viên : 11221621

Lớp : Quản trị kinh doanh quốc tế CLC 64C

Hà Nội, 2023

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài3 2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Phương pháp nghiên cứu 4

CHƯƠNG I: NỘI DUNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 5

1 Một số khái niệm liên quan 5

1.1 Khái niệm của phương thức sản xuất 5

1.2 Khái niệm của quan hệ sản xuất 6

1.3 Khái niệm của lực lượng sản xuất 7

2 Mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 7

2.1 Tính quy luật của quan hệ 7

2.2 Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất 9

2.3 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất 11

2.4 Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật 14

3 Sự vận dụng quy luật vào đời sống kinh tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam 16

TIỂU KẾT CHƯƠNG I 18

CHƯƠNG II: VAI TRÒ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 20

1 Vai trò của người lao động trong quá trình sản xuất vật chất 20

2 Vai trò của người lao động trong giai đoạn hiện nay 20

3 Thực trạng của người lao động Việt Nam hiện nay 22

4 Giải pháp cho thách thức và hạn chế của người lao động Việt Nam 22

TIỂU KẾT CHƯƠNG II 23

KẾT LUẬN 24

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Theo tiến trình phát triển của lịch sử, xã hội cũng không ngừng vận động và phát triển tới một cấp độ cao hơn, hoàn thiện hơn Động lực căn bản cho sự phát triển này là sự tương thích giữa quan hệ sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, được đưa ra đầy thuyết phục bởi chủ nghĩa Mác Nói cách khác, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản, cốt lõi của mọi sự phù hợp và quyết định sự tiến bộ của các hình thái kinh tế - xã hội Do đó, việc nhận thức và vận dụng quy luật trên là vô cùng quan trọng

Để lực lượng sản xuất phát triển thì các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất cũng phải phát triển, trong đó, người lao động đóng vai trò quyết định Người lao động là chủ thể sáng tạo và tiêu dùng trong sản xuất vật chất Trong thời đại đổi mới, công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay, vai trò của người lao động vẫn không thể thay thế được, tuy nhiên, người lao động cũng đứng trước

vô vàn thách thức và yêu cầu cấp thiết phải tiến bộ vì “Điều này hết sức quan trọng đối với chúng ta khi đất nước đang từng bước tiến tới nền kinh tế tri thức, khi nhiệm vụ trí thức hoá công nhân trở thành đòi hòi bắt buộc, nếu chúng ta muốn đưa đất nước tiến kịp thế giới, tránh tụt hậu xa hơn trong quá trình hội nhập với kinh tế thế giới” 1

Qua quá trình phân tích và tổng hợp, tác giả quyết định chọn “Phân tích nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, từ đó làm rõ, phân tích vai trò của người lao động trong giai động hiện nay” làm đề tài chính thức cho tiểu luận này.

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Qua nghiên cứu đề tài, tác giả muốn mọi người hiểu rõ các khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; nhận thức được quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Hơn nữa, tác giả muốn giúp mọi người có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò củangười lao động hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nói trên, tác giả thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như sau:

1 Nguyễn Trọng Chuẩn: “Nâng cao nhận thức, bổ sung và phát triển triết học Mác - Lênin nhằm đáp ứng yêucầu của thực tiễn và của thời đại mở rộng giao lưu quốc tế”, Tạp chí Triết học, số 9 (208), tháng 9 - 2008, tr.56,5

Trang 4

- Hệ thống hoá cơ sở lí luận liên quan đến quy luật.

- Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa hai mặt đối lập của quy luật dựa trên các ví dụ lịch sử, từ đó, rút ra ý nghĩa trong đời sống của quy luật

- Mở rộng sự vận dụng quy luật của Việt Nam

- Làm rõ cơ sở lí luận vai trò người lao động trong lực lượng sản xuất, tiến tới

- phân tích vai trò người lao động trong giai đoạn hiện nay

- Liên hệ thực trạng và giải pháp cho người lao động hiện nay

3 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tiến hành thu thập và nghiên cứu, phân tíchthông tin từ giáo trình, website và các công trình nghiên cứu trước đó Phươngpháp này giúp tác giả tìm hiểu về cơ sở lí luận, chỉ ra các khái niệm, vai trò, ý nghĩa của quy luật và vai trò của người lao động trong giai đoạn hiện nay

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: phân tích những tài liệu đã được thu thập

và nghiên cứu nhờ phương pháp nghiên cứu tài liệu Phương pháp này giúp tácgiả nhận thức, phát hiện và khai thác các khía cạnh đa chiều của quy luật và vai trò của người lao động

- Phương pháp lịch sử: sử dụng các sự kiện trong quá khứ, tái hiện quá trình vận động và phát triển của các xã hội trong lịch sử, từ đó làm cơ sở chứng minh cho quy luật quan hệ sản xuất phù hợp trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Chương I

Trang 5

NỘI DUNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI LỰC

LƯỢNG SẢN XUẤT

1 Một số khái niệm liên quan

1.1 Khái niệm của phương thức sản xuất

Để tiến hành sản xuất vật chất, cần phải có những nhân tố tất yếu nhất định: điều kiện địa lí, điều kiện dân số, điều kiện tự nhiên và phương thức sản xuất Trong đó, phương thức sản xuất là điều kiện quyết định sự tồn tại và phát triểncủa xã hội Phương thức sản xuất là phương thức khai thác những của cải vật chất cần thiết cho hoạt động tồn tại và phát triển của xã hội, là cách thức con người tiến hành quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định Tương ứng với mỗi cách thức đó, xã hội sẽ hình thành những tính chất, đặc điểm, kết cấu phù hợp về mặt lịch sử Dựa vào phương thức sản xuất đặc trưng của mỗi giai đoạn lịch sử, có thể phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau, hiểu thời đại đó có hình thái kinh tế - xã hội nào hay trình độ tri thức củacon người thời đó đã phát triển đến đâu

Mỗi phương thức sản xuất đều là sự thống nhất giữa hai phương diện, hay còn gọi là hai quan hệ “song trùng” của nền sản xuất vật chất xã hội, tức quan hệ giữa con người và tự nhiên và quan hệ giữa con người và con người trong quá trình sản xuất vật chất Hai phương diện lần lượt là lực lượng sản xuất, tức phương diện kĩ thuật của phương thức sản xuất và quan hệ sản xuất, hay phương diện kinh tế của phương thức sản xuất

Theo Mác, xã hội loài người trong các giai đoạn lịch sử và ở các khu vực khácnhau có thể trải qua 7 phương thức sản xuất:

- Phương thức sản xuất công sản nguyên thuỷ

- Phương thức sản xuất châu Á

- Phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ

- Phương thức sản xuất xã hội phong kiến

- Phương thức sản xuất tư bản

- Phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa

- Phương thức sản xuất là động lực cơ bản để phân biệt con người và động vật

Trang 6

- Phương thức sản xuất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người

Để tồn tại, con người trước hết phải giải quyết vấn đề nhu cầu cơ bản như

ăn, mặc, ở, sinh hoạt vật chất,… mà phương pháp duy nhất đó là thông qualao động sản xuất vật chất

- Phương thức sản xuất là tiền đề cho mọi mối quan hệ trong xã hội loài người, bao gồm quan hệ giữa con người và tự nhiên hay quan hệ giữa con người và con người

- Phương thức sản xuất quyết định tính chất và sự chuyển biến các chế độ

xã hội bởi

1.2 Khái niệm của quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất chính là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người trong trong quá trình sản xuất vật chất Đây chính là quan hệ vật

chất quan trọng nhất trong các quan hệ vật chất giữa con người với nhau - quan hệ kinh tế Quan hệ này mặc dù được con người tạo ra, nhưng nó tồn tại độc lập, khách quan, không bị ảnh hưởng hay phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người

Quan hệ sản xuất gồm ba mặt: quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan

hệ trong tổ chức quản lí và trao đổi hoạt động với nhau và quan hệ phân phối sản phẩm lao động

- Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn ngườitrong việc chiếm hữu, sử dụng tư liệu sản xuất xã hội Đây là quan hệ mang tính xuất phát, cơ bản, đặc trưng cho quan hệ sản xuất trong từng xã hội, đóng vai trò quyết định với các quan hệ còn lại

- Quan hệ về tổ chức và quản lí sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc tổ chức sản xuất và quản lí phân công lao động Quan hệ này tác động trực tiếp tới đến quá trình sản xuất, vì nó đóng vai trò quyết định tới quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất

- Quan hệ phân phối sản phẩm lao động là quan hệ chặt chẽ với nhau vì mụctiêu chung là sử dụng hợp lí và có hiệu quả tư liệu sản xuất để làm cho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất, mở rộng nâng cao phúc lợi cho người lao động

Lịch sử phát triển loài người đã chứng kiến sự xuất hiện của hai hình thức sở hữu đối với tư liệu sản xuất, đó là sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng Ví dụ,

xã hội công xã nguyên thuỷ được đặc trưng bởi chế độ công hữu về tư liệu sảnxuất, bởi thời gian này chưa có yếu tố phân công lao động, mọi thành quả lao động đều sẽ được chia đều cho tất cả mọi người, dựa trên nguyên tắc bình đẳng

Các mặt của quan hệ sản xuất thống nhất với nhau, có mối quan hệ hữu cơ, tácđộng qua lại, chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau Trong đó, quan hệ sở hữu quyết định các mặt còn lại, đồng thời, quan hệ tổ chức quản lí và quan hệ phân phối tác động trở lại quan hệ sở hữu theo hai hướng tích cực và tiêu cực Tất cả tạo

Trang 8

nên một hệ thống có tính ổn định tương đối so với sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất

1.3 Khái niệm của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo

ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội, đồng thời, cũng biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất

Lực lượng sản xuất biểu thị mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, tức trongquá trình sản xuất vật chất, con người chinh phục tự nhiên bằng các sức mạnh hiện thực của mình, sức mạnh đó được chủ nghĩa duy vật lịch sử định nghĩa thành lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất cũng thể hiện năng lực thực tiễn trong quá trình sản xuất của cải vật chất của người lao động Lực lượng sản xuất được xem xét và nghiên cứu ở hai mặt: người lao động( kinh tế - kĩ thuật)

và tư liệu sản xuất( kinh tế - xã hội)

Lực lượng sản xuất được đặc trưng chủ yếu bởi mối quan hệ giữa người lao động và công cụ lao động Lực lượng sản xuất là kết quả của năng lực thực tiễn của con người, nhưng nó cũng chịu sự ảnh hưởng của các quy luật khách quan của xã hội Do đó, lực lượng sản xuất mang tính khách quan nhưng quá ,

trình phát triển lực lượng sản xuất lại là kết quả của sự thống nhất biện chứng khách quan và chủ quan Khi nghiên cứu sự phát triển của lực lượng sản xuất, cần phải xem xét sự phát triển ở cả hai mặt trình độ và tính chất Trình độ của lực lượng sản xuất được thể hiện ở trình độ công cụ lao động; trình độ tổ chức lao động xã hội; trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất; trình độ, kinh nghiệm, kĩ năng của người lao động và quan trọng nhất, trình độ phân công lao động Tính chất của lực lượng xã hội nói lên tính cá nhân hay xã hội hoá của việc sử dụng tư liệu sản xuất

2 Mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

2.1 Tính quy luật của quan hệ

Quy luật được triết học định nghĩa như sau: quy luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các sự vật, hiện tượng, giữa các đối tượng, giữa các nhân tố tạo thành đối tượng, giữa các thuộc tính của các sự vật cũng như giữa các thuộc tính của cùng một sự vật, hiện tượng Như vậy, quy luật

không chỉ đơn giản là hiện tượng logic, lặp lại thường xuyên, mà còn là sự liên

hệ về chất, mang tính cốt lõi, tất yếu, vận động khách quan

Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thể hiện đầu tiên ở tính quy luật của nó Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triểncủa lực lượng sản xuất, nền sản xuất sẽ tăng trưởng, tất yếu dẫn tới sự phát triển của xã hội Ngược lại, nếu quan hệ sản xuất lỗi thời, không phù hợp với

sự tăng trưởng và phát triển của lực lượng sản xuất, sản xuất sẽ bị kìm hãm, lâu dài sẽ làm chất lượng đời sống xã hội suy giảm do người dân không được đáp ứng các nhu cầu chính yếu

300 CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM TRIẾT HỌC…

Triết học Mác Lênin 100% (2)

35

Tiểu luận lượng chất

Triết học Mác Lênin 100% (2)

19

Phân tích mối quan

hệ giữa vật chất và …

Triết học Mác Lênin 100% (1)

12

CH1018GK2019 2 Giáo trình triết học…

-Triết học Mác Lênin 100% (1)

4

đọc triết

Triết học Mác Lênin 100% (1)

6

một nửa sự thật có

là sự thật không

Triết học Mác Lênin 100% (1)

3

Trang 9

Trong mối quan hệ này, lực lượng sản xuất là nội dung, mặt kĩ thuật xuyên suốt quá trình sản xuất, bao gồm hai yếu tố quan trọng là người lao động và tư liệu sản xuất Trong đó, người lao động, với vai trò quyết định, luôn không ngừng vận động và phát triển, tuân theo yêu cầu ngày càng cao của xã hội và thế giới Sự lớn mạnh không ngừng của kinh tế - xã hội với sự phát triển của khoa học công nghệ vừa là cơ hội, vừa là thách thức với người lao động hiện nay, khiến họ phải luôn thu nạp tri thức, trau dồi kĩ năng của mình để không bịđào thải Đây chính là một trong những nguyên nhân trọng yếu nhất cho sự vận động và biến đổi liên tục của người lao động Người lao động phát triển không ngừng, tất sẽ dẫn tới sự biến đổi của tư liệu sản xuất Sự vận động và phát triển của hai nhân tố này tất yếu sẽ làm lực lượng biến đổi Do đó, lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất của quá trình sản xuất Trái ngược lại, quan hệ sản xuất, đóng vai trò là hình thức xã hội của sản xuất, thường biến đổi chậm và ít Nhưng, mỗi sự biến đổi của nó đều là sự thay đổi lớn, hoàn toàn về chất.

Do lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất thay đổi thì quan hệ sản xuất thay đổi Sự thay đổi của hai yếu tố này tất yếu dẫn tới sự biến đổi của phương thức sản xuất Mỗi hình thái kinh tế xã hội được đặc trưng bởi một phương thức sản xuất riêng biệt, phản ảnh trình độ tri thức

và khả năng chinh phục tự nhiên của con người tại một thời điểm lịch sử nhất định Ví dụ, thời nguyên thuỷ, con người chủ yếu hái lượm hoặc săn bắt muông thú bằng tay hay những nguyên vật liệu vô cùng thô sơ như đá được mài hoặc vót nhọn, cho thấy tri thức của con người thời đó chưa cao Vì vậy,

sự thay đổi của phương thức sản xuất sẽ khiến hình thái kinh tế - xã hội biến đổi Hình thái kinh tế - xã hội thay đổi tất sẽ dẫn tới sự tiêu vong của xã hội

cũ, sự ra đời của một xã hội mới Đây chính là quy luật khách quan, bất biến của lịch sử phát triển xã hội loài người

Một hình thái kinh tế - xã hội mới ra đời tương ứng với sự xuất hiện của một

xã hội mới Xã hội mới này là một địa bàn phát triển hoàn hảo cho phương thức sản xuất mới ra đời, tuy nhiên, sự phù hợp này chỉ diễn ra trong giai đoạnđầu của xã hội mới Đến giai đoạn giữa, lực lượng sản xuất vận động và biến đổi không ngừng, khiến tính chất và trình độ của quan hệ sản xuất phát triển không theo kịp, dẫn tới mâu thuẫn nội tại giữa hai mặt thống nhất trong quá trình sản xuất Càng gần tới giai đoạn cuối của xã hội, sự không phù hợp càng biểu hiện rõ ràng Khi sự mâu thuẫn đạt tới đỉnh điểm, tất sẽ phá bỏ phương thức sản xuất cũ, hình thành một phương thức sản xuất mới phù hợp, tạo điều kiện cho xã hội mới phát triển Trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiện thành mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng Mâu thuẫn này tất yếu dẫn đến đấu tranh giai cấp, nổ ra cách mạng xã hội thay thế quan hệ xã hội cũ, lạc hậu bằng một quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn, ra đời phương thức sản xuất mới cao hơn, tượng trưng cho sựxuất hiện của một xã hội mới

Trang 10

Lịch sử nhân loại đã chứng kiến sự xuất hiện và phát triển của năm hình thái kinh tế - xã hội, lần lượt từ thấp đến cao là hình thái kinh tế - xã hội công xã nguyên thuỷ, xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa Ở xã hội công xã nguyên thuỷ, con ngườichủ yếu săn bắt, hái lượm với những dụng cụ lao động thô sơ, đơn giản Do

đó, thành quả lao động con người kiếm được thường không nhiều, chỉ đủ cho cuộc sống hàng ngày Lúc này, quan hệ sản xuất đang phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất Sau khi trải qua một quãng thời gian dài con người tích luỹ tri thức, kinh nghiệm, các dụng cụ lao động được cải tiến, hiện đại hơn, tối ưu hơn, giúp con người không chỉ đáp ứng được nhu cầu tối thiểu,

mà còn có của cải dự trữ Điều này đã dẫn tới sự thay đổi trong quan hệ sở hữuđối với tư liệu sản xuất, từ công hữu sang tư hữu, dần dần đã hình thành xung đột về lợi ích giữa các lực lượng trong xã hội Giai đoạn này đã dần thấy được

sự không phù hợp giữa quan hệ sản xuất và sự phát triển của lực lượng sản xuất Sự không phù hợp này đạt tới đỉnh điểm khi mâu thuẫn không thể điều hoà được, và đã xuất hiện giai cấp Xã hội chiếm hữu nô lệ là xã hội có giai cấp đầu tiên, phân thành hai tầng lớp cơ bản: chủ nô và nô lệ Phương thức sảnxuất đã thay đổi từ những dụng cụ lao động thô sơ sang những vật phẩm đượccải tiến hơn, đồng thời, mối quan hệ xã hội cũng biến đổi sang chiếm hữu nô

lệ, tư hữu về tư liệu sản xuất thay vì công hữu Điều này cũng đánh dấu sự chuyển giao từ xã hội công xã nguyên thuỷ sang xã hội chiếm hữu nô lệ, là tiền đề cho sự phát triển của xã hội mới

2.2 Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất

C.Mác đã từng khẳng định: “ Chỉ có đem những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem những quan hệ sản xuất vào trình độ của lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên” 2

Trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt

có mối quan hệ biện chứng với nhau làm, kích thích sản xuất phát triển Lực lượng sản xuất là sự thống nhất hữu cơ giữa người lao động và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động Con người không thể sản xuất hiệu quả nếu hoạt động riêng lẻ, mà phải liên kết, phối hợp với nhau, tác động lẫn nhau

Do đó, nếu thiếu một trong hai nhân tố này thì không thể sản xuất vật chất Trong đó, lực lượng sản xuất có vai trò quyết định đối với lực lượng sản xuất,

vì mỗi loại quan hệ sản xuất được hình thành trên cơ sở tương thích với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất Do vậy, sự biến đổi của lực lượng sản xuất tất yếu sẽ dẫn tới quan hệ sản xuất thay đổi theo Có thể nói, sự phát triển của lực lượng sản xuất là động lực căn bản thúc đẩy sự phát triển của nhân loại

Trong quá trình sản xuất vật chất, lực lượng sản xuất là yếu tố năng động, cáchmạng, thường xuyên vận động và phát triển Tiền đề cho sự vận động và phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất là:

2 V.I.Lênin Toàn tập,Nxb Tiến bộ, Macxcova, 1978, t1, tr.163

Trang 11

- Quan hệ biện chứng giữa sản xuất và nhu cầu của con người: Sự thay đổi, nâng cao trong nhu cầu của con người đóng vai trò thúc đẩy sản xuất phát triển Vào thời kì sau chiến tranh, khi nhân dân Việt Nam vẫn còn đói khổ, nhu cầu ưu tiên là có đủ cái ăn cái mặc Vì vậy, người dân chỉ tập trung tănggia sản xuất, trồng lúa, ngô, chăn nuôi gia súc, gia cầm nhằm đáp ứng nhu cầu tối thiểu đó Ngày nay, khi đời sống kinh tế - xã hội phát triển hơn, người dân không còn chỉ tập trung vào các nhu cầu cơ bản, mà còn chú trọng vào các nhu cầu khác như giải tri, giáo dục, Điều này như một liều thuốc kích thích sản xuất phát triển, từ thay đổi các công nghệ sản xuất tới nâng cao chất lượng sản phẩm, phục vụ nhu cầu của người dân Ngược lại, sự chuyển đổi, phát triển không ngừng của sản xuất cũng tác động mạnh

mẽ lại nhu cầu của con người, khiến nhu cầu ngày càng cao Sản xuất và nhu cầu của con người tác động lẫn nhau, tạo nên một vòng tuần hoàn không ngừng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

- Tính năng động, cách mạng của sự phát triển công cụ lao động: Trình độ tri thức và kinh nghiệm của con người ngày càng cao, công cụ lao động sẽ ngày càng được phát triển và cải tiến nhằm phục vụ nhu cầu của con người

Vì con người luôn không ngừng thu nạp kiến thức, rèn giũa kĩ năng của mình, công cụ lao động cũng phải phát triển để không bị “ tụt lại”, lạc hậu

so với sự tiến bộ của tri thức nhân loại, nếu không sẽ không thể hỗ trợ người lao động trong quá trình sản xuất vật chất Do vậy, mỗi sự biến đổi của công cụ lao động đều sẽ mang tới một cuộc thay đổi xã hội mang tính cách mạng bởi nó góp phần hoàn toàn phương thức sản xuất, cũng như tác động không nhỏ tới chế độ chính trị - xã hội đương thời

- Vai trò của người lao động: Người lao động là chủ thể sáng tạo, là lực lượng sản xuất hàng đầu Người lao động ứng dụng sức sáng tạo vô hạn củamình vào quá trình sản xuất, góp phần cải tiến công cụ lao động, đồng thời, phát minh ra những máy móc, công nghệ hiện đại phục vụ các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống Không chỉ vậy, bản năng ham học hỏi, khám phá những tri thức mới giúp người lao động ngày càng nâng cao trình độ của bản thân, giữ vững vị thế là lực lượng sản xuất hàng đầu, tiên phong của sản xuất vật chất Chính những điều kiện trên đã giúp người lao động đóng góp vào sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất

- Sự kế thừa khách quan của phát triển lực lượng sản xuất trong lịch sử: Xuyên suốt tiến trình của lịch sử, lực lượng sản xuất đã và đang trải qua quátrình phát triển, trình độ của lực lượng sản xuất sau lại cao hơn trình độ lực lượng sản xuất cũ Lực lượng sản xuất lỗi thời, lạc hậu, không đáp ứng đượcnhu cầu của con người, sau một quãng thời gian tích luỹ, mài giũa, sẽ chuyển đổi sang một hình thức mới Hình thức này dù tân tiến và hiện đại hơn lực lượng cũ, nhưng nó không xoá bỏ hoàn toàn đặc trưng của lực lượng sản xuất cũ, mà trên cơ sở chọn lọc những ưu điểm phù hợp, xoá bỏ những tiêu cực, không phù hợp với giai đoạn lịch sử mới Hơn nữa, tính kế

Trang 12

thừa khách quan còn được thể hiện ở chỗ con người không được tự do chọn lựa lực lượng sản xuất.

Trái với sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất lại mang tính ổn định tương đối trong bản chất xã hội của nó, vì nó gắn liền với thiết chế xã hội và lợi ích của giai cấp cầm quyền Quan hệ sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của giai cấp thống trị, nên mỗi sự thay đổi của nó đều chậm, ít và thường diễn ra cùng với một cuộc cách mạng toàn xã hội Tính

ổn định, phù hợp của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất càng cao thì lực lượng sản xuất càng có khả năng phát triển, nhưng chính sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất lại tiềm ẩn nguy cơ phá vỡ sự thống nhất của các quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thái xã hội cho sự phát triển của

nó Sự mâu thuẫn giữa tính “ vận động” của lực lượng sản xuất và tính “ đứng im” tương đối của quan hệ sản xuất khiến quan hệ sản xuất từ thúc đẩy, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển đến giới hạn, kìm hãm sự đi lên của lực lượng sản xuất Yêu cầu tất yếu của nền sản xuất xã hội là phá bỏ quan

hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất Vì vây, có thể nói, bản chất của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập

2.3 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất

Nếu lực lượng sản xuất có vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất thì quan

hệ sản xuất cũng tác động trở lại mạnh mẽ vào lực lượng sản xuất, không chỉ

vì quan hệ sản xuất, với vai trò là hình thái xã hội của quá trình sản xuất vật chất mang tính độc lập tương đối, mà còn vì những nguyên nhân sau:

- Quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất

- Quan hệ sản xuất quy định hệ thống tổ chức, quản lí sản xuất và xã hội

- Quan hệ sản xuất quy định phương thức phân phối sản phẩm lao động, củacải người lao động được hưởng ít hay nhiều

Do quan hệ sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ của lực lượng sản xuất chủ yếu của xã nội, nó tạo ra những điều kiện kích thích hoặc hạn chế cải tiến công cụ lao động, áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, hợp tác và chuyên môn hoá lao động

Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất vào lực lượng sản xuất được thực hiệndựa trên cơ sở sự phù hợp biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Sự phù hợp có thể định nghĩa là sự cân bằng, thống nhất giữa các mặt đối lập và mang tính tạm thời Sự phù hợp không phải là tương đồng tuyệt đối,

mà chỉ mang tính tương đối Sự phù hợp là một quá trình vận động và phát triển, thường xuyên xuất hiện mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn Quá trình vận động và phát triển của sản xuất vật chất đi từ phù hợp đến không phù hợp cuối cùng đến phù hợp ở một trình độ cao hơn, nhưng sự phù hợp chỉ tạm thời,ngắn ngủi Nếu muốn tạo ra sự phù hợp vĩnh viễn của quan hệ sản xuất với lựclượng sản xuất là bất khả thi, đi ngược lại với quy luật khách quan Vì thế, chỉ

Trang 13

khi nhận thức được sự phát triển trong mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mới quan niệm được sự phát triển trong sản xuất

Trong mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, sựphù hợp còn là một trạng thái mà tại đó, quan hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, tức nó quy định cách thức, mục đích của sản xuấthay phân phối thành quả lao động Ngoài ra, quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất khi nó tạo địa bàn đầy đủ cho lực lượng sản xuất phát triển Để xác định sự phù hợp của quan hệ sản xuất với sự phát triển của lực lượng sản xuất, cũng phải căn cứ trên cơ sở xem xét những yếu tố sau:

- Các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất; các yếu tố tạo thành quan hệ sản xuất hoặc giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất phải được kết hợp đúng đắn vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của quá trình sản xuất vật chất

- Tạo điều kiện tối ưu cho sử dụng và kết hợp người lao động và tư liệu sản xuất cũng là một nhân tố quan trọng trong nhận thức sự phù hợp của quan

hệ sản xuất với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất “ Tạo điều kiện tối ưu” ở đây có nghĩa là những phương diện như lợi ích người lao động được hưởng sau khi hoàn thành quá trình sản xuất, nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất ra thành phẩm hay trình độ tri thức, kinh nghiệm của người lao động được chuẩn bị kĩ lưỡng nhằm sử dụng, kết hợp hiệu quả người lao động và tư liệu sản xuất Ngoài ra, người lao động cũng cần được tạo điều kiện sáng tạo và ứng dụng những ý tưởng sáng tạo lên cácsản phẩm thực tế, cũng như được hưởng thụ thành quả lao động của mình

Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất quy định mục đích,

xu hướng phát triển của sản xuất Căn cứ vào mức độ phù hợp giữa hai phương diện trên, con người dựa trên khả năng lí luận, nhận thức của mình, cũng như điều kiện thực tiễn để định ra hướng đi phù hợp cho nền sản xuất

xã hội Đồng thời, nó cũng tác động tới khả năng thúc đẩy sản xuất phát triển vì sự kết hợp giữa các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất; các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất và giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất cho phép trình độ nhất định của phát triển sản xuất Quan trọng nhất, sự phùhợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất, tác động không nhỏ tới đời sống kinh tế -

xã hội của con người

Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất theo hai chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực

Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển nhất định của quan hệ sản xuất, nền sản xuất xã hội sẽ phát triển đúng hướng, phù hợp với tiềm năng và thực trạng phát triển thực tế; quy mô sản xuất vật chất ngày càng được mở rộng; công cuộc áp dụng các công nghệ khoa học - kĩ thuật tân tiến vào quá trình sản xuất, quản lí và phân phối sản phẩm vật chất được

Ngày đăng: 12/12/2023, 14:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới , Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII , Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
6. Nguyễn Trọng Chuẩn (2008). Nâng cao nhận thức, bổ sung và phát triển triết học Mác - Lênin nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và của thời đại mở rộng giao lưu quốc tế, Tạp chí Triết học, số 9 (208), tháng 9 - 2008 Khác
7. Nguyễn Văn Dương (2022). Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, 25/01/2023, từ <https://luatduonggia.vn/quy-luat-quan-he-san-xuat-phu-hop-voi-trinh-do-phat-trien-cua-luc-luong-san-xuat/&gt Khác
8. Phạm Đông (2021). Thể hiện vai trò của người lao động trong xây dựng, phát triển đất nước, 28/01/2023, từ <https://laodong.vn/cong-doan/the-hien-vai-tro-cua-nguoi-lao-dong-trong-xay-dung-phat-trien-dat-nuoc-928443.ldo&gt Khác
9. Nguyễn Văn Hùng (2020). Về mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, 26/01/2023, từ<https://hdll.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/ve-moi-quan-he-giua-phat-trien-luc-luong-san-xuat-va-xay-dung-hoan-thien-tung-buoc-quan-he-san-xuat-trong-dieu-kien-hien-nay-o-viet-nam.html&gt Khác
10. Quyên Lưu (2017). Vai trò của người lao động trong sự thúc đẩy phát triển kinh tế thời hội nhập, từ <https://moit.gov.vn/tin-tuc/quoc-te/vai-tro-cua-nguoi-lao-dong-trong-su-thuc-day-phat-trien-kinh.html&gt Khác
11. Lê Minh Nghĩa (2019). Giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (phần 1), 24/01/2023, từ <https://hdll.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/gia-tri-cot-loi-cua-chu-nghia-mac-lenin-ve-moi-quan-he-giua-luc-luong-san-xuat-va-quan-he-san-xuat--phan-1.html&gt Khác
12. Tổng cục Thống kê (2022). Thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm quý IV năm 2021 và chỉ số phát triển con người Việt Nam 2016-2020, 28/01/2023, từ<https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2022/01/thong-cao-bao-chi-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-iv-nam-2021-va-chi-so-phat-trien-con-nguoi-viet-nam-2016-2020/&gt Khác
13. Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa (2016). Vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, 27/01/2023, từ <http://truongchinhtrithanhhoa.gov.vn/web/trang-chu/khoa-hoc-thong-tin-tu-lieu/bai-viet-chuyen-de/van-dung-quy-luat-ve-su-phu-hop-cua-quan-he-san-xuat-voi-trinh-do-phat-trien-cua-luc-luong-san-xuat-trong-cong-cuoc-doi-moi-o-nuoc-ta-hien-nay.html&gt Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w