TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN VỚI QUYỀN ĐƯỢC TỰ DO, HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN 2 1.1.. PHẦN MỞ ĐẦU➢ Lý do chọn đề tài Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với quyền được
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI: Nước độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng nghĩa lý gì” của Hồ Chí
Minh và sự vận dụng ở Việt Nam ngày nay
Họ và tên sinh viên: Nghiêm Thục An
Mã sinh viên: 11220022
Lớp tín chỉ: 64A_AEP(222)_12
Số thứ tự : 01
Hà Nội, 10 tháng /năm 2023 5
1
Trang 2MỤC LỤC
I TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN VỚI QUYỀN ĐƯỢC TỰ DO, HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN 2
1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc: “Nước độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng nghĩa lý gì” 2 1.2 Giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đạt 7
II TÌNH HÌNH VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN VỚI QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM NGÀY NAY 8
III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ
3.1 Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa - xã hội hài hòa với phát triển
3.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đổi mới toàn diện và phát triển nhanh sự nghiệp giáo dục và đào tạo 10 3.3 Phát triển khoa học và công nghệ 11
2
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
➢ Lý do chọn đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với quyền được tự do, quyền được sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân là sự nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam Theo người:“Nước độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng nghĩa lý gì." Quan điểm của Người thể hiện sự kế thừa, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại Nó không chỉ là cơ sở
lý luận, đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong thời gian qua
mà còn là cơ sở phương pháp luận cho sự nghiệp đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh mà Việt Nam ta đã không ngừng phấn đấu
Chính vì lý do đó, em đã lựa chọn đề tài: Phân tích luận điểm: “Nước độc
lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng nghĩa lý gì” của Hồ Chí Minh và sự vận dụng ở Việt Nam ngày nay” làm đề tài
cho bài tiểu luận của mình
➢ Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của bài tiểu luận là góp phần làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc thông qua phân tích luận điểm: “Nước độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng nghĩa lý gì” và ý nghĩa của nó đối với việc thúc đẩy sự phát triển của Việt Nam hiện nay
➢ Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích-lý luận
- Phương pháp trích dẫn tài liệu có sẵn
➢ Kết cấu bài tiểu luận
Bài tiểu luận có 3 phần bao gồm:
1
Trang 4- Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với quyền được tự do, hạnh phúc của nhân dân
- Tình hình vận dụng tư tưởng hồ chí minh về độc lập dân tộc gắn với quyền con người ở Việt Nam ngày nay
- Một số giải pháp nâng cao sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
PHẦN NỘI DUNG
I TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN VỚI QUYỀN ĐƯỢC TỰ DO, HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN
1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc: “Nước độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng nghĩa lý gì”
Vào ngày 17 tháng 10 năm 1945, trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các
kỳ, tỉnh, huyện và làng” đăng trên Báo Cứu quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhận định rằng: “Nước độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc, tự
do thì độc lập cũng chẳng nghĩa lý gì." Qua đó, ta thấy được đối với Người, quyền dân tộc và quyền con người là thống nhất trong cả nhận thức và hành động, trong quan điểm, đường lối, chính sách và pháp luật
Quan điểm về quyền con người gắn với độc lập dân tộc của Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống dân tộc Việt Nam và từ bối cảnh thực tiễn cụ thể của đất nước, đồng thời kế thừa có chọn lọc những nội dung hợp lý của tư tưởng nhân quyền hiện đại Trên cơ sở đó, Người đã đưa ra những luận điểm mới, sâu sắc và toàn diện về quyền con người, phù hợp với đặc điểm tình hình cụ thể ở Việt Nam và thời kỳ mới
Hồ Chí Minh quan niệm quyền của mỗi người gắn bó chặt chẽ và không thể tách rời quyền của dân tộc Vì vậy, Người đấu tranh đòi quyền con người cho cả dân tộc, quyền tự quyết và quyền bình đẳng Hơn thế nữa, Người đòi quyền của tất cả các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên thế giới là “Tất cả các dân
2
Trang 5tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do." Như vậy, từ quyền cơ bản của con người được mở rộng thành quyền dân tộc và quyền con người gắn với độc lập dân tộc, dân tộc
tự quyết Mở rộng của Hồ Chí Minh thể hiện tư tưởng lớn về quyền con người, thể hiện tính ưu việt và ý nghĩa không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với thời đại, từ đó các nước trên thế giới đấu tranh giành độc lập và các quyền dân tộc cơ bản của mình Đây là đóng góp rất quan trọng về lý luận và thực tiễn của Hồ Chí Minh về quyền con người Trong sự nghiệp cách mạng, Người đã góp phần to lớn vào việc giải quyết vấn đề quyền con người và suốt đời Người đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người Tư tưởng nhân quyền của Người là kim chỉ nam lý luận và thực tiễn tiếp tục soi đường cho sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thắng lợi của dân tộc Việt Nam
Bên cạnh đó, trong bản Tuyên ngôn độc lập 1945, Bác cũng nhấn mạnh quyền làm người, trong đó có quyền học tập, quyền sáng tạo, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền tự do, quyền công dân, quyền chính trị, kinh tế - văn hóa, xã hội cũng như quyền đối với các nhóm đặc biệt trong xã hội như quyền của các dân tộc thiểu số, quyền của phụ nữ, quyền của trẻ em, quyền của người có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn cần được xã hội quan tâm, tạo điều kiện, giúp đỡ, giúp
họ hòa nhập với cộng đồng xã hội Ngoài ra còn có quyền sở hữu, bình đẳng trước pháp luật, quyền được pháp luật bảo vệ, quyền đi lại, quyền cư trú, quyền dân sự quyền, quyền kết hôn và xây dựng gia đình, quyền sở hữu tài sản, quyền
tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tôn giáo Nội dung quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất phong phú, tạo nên một hệ thống các quyền con người dưới góc độ khoa học và cách mạng Người khẳng định cuộc đời Người chỉ có một mục đích là phấn đấu cho lợi ích của Tổ quốc, hạnh phúc của dân tộc Trong những năm cuối đời, Người tiếp tục khẳng định “Tâm nguyện cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt
3
Trang 6Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, đóng góp xứng đáng cho thế giới cách mạng." Như vậy, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề con người và giải phóng con người, coi đó là mục tiêu cao nhất cần đạt được trong mọi hoạt động cách mạng, trong tư tưởng về độc lập dân tộc của Người Đối với quyền dân tộc, từ năm 1924, vấn đề quyền dân tộc đã được Người đề cập trong tác phẩm Đường Cách mạng Người viết: “Hơn sáu mươi năm nay, đế quốc Pháp giày đạp lên đầu; hơn hai mươi triệu đồng bào chết trong vòng tử thần Phải kêu trời lên, mau cứu nòi giống, không kịp rảnh để vẽ công phu! Cuốn sách này chỉ mong mọi người xem rồi suy nghĩ, suy nghĩ rồi tỉnh ngộ, rồi đứng lên đoàn kết cùng nhau làm nên thiên mệnh.” Từ đó, Người vừa kêu gọi, vừa giáo dục, động viên thanh niên trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên nói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung, đã là người cách mệnh thì phải hành như cách mệnh để đem lại dân quyền Dân tộc phải biết hy sinh, ít tham lam vật chất, đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu Từ quan điểm phương pháp luận Hồ Chí Minh cho rằng, quyền dân tộc là quyết định, là vấn đề sống còn, là nguyên tắc bất biến Đó cũng là tâm nguyện lớn nhất của Người:
“Tự do cho dân tộc tôi, độc lập cho nước tôi, tôi chỉ muốn thế thôi; tôi hiểu thế thôi." Vì vậy trong quá trình tìm đường cứu nước là giải quyết vấn đề quyền dân tộc, đem lại độc lập, tự do cho đất nước và dân tộc
Quyền dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh rõ ràng là một triết lý và tư tưởng hành động, đầy tính sáng tạo, đáp ứng nguyện vọng độc lập, tự do của toàn dân tộc, phù hợp với bối cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam Thông điệp
về quyền dân tộc của Hồ Chí Minh tiếp tục tỏa sáng trước quốc dân đồng bào và thế giới với giọng điệu đanh thép, hùng hồn của bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) ngày 2 tháng 9 năm 1945 Người chỉ ra rằng tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do, Người khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập và trên thực tế đã trở thành một nước tự do, độc lập
4
Trang 7Discover more
from:
LLTT1101
Document continues below
Tư tưởng Hồ Chí
Minh
Đại học Kinh tế…
999+ documents
Go to course
Bài tập lớn - Cơ cấu kinh tế thời kỳ quá…
Tư tưởng
Hồ Chí… 100% (28)
16
Phân tích luận điểm
Hồ Chí Minh: “Nước…
Tư tưởng
Hồ Chí… 100% (25)
15
Bộ câu hỏi trắc nghiệm Tư tưởng…
Tư tưởng
Hồ Chí… 100% (19)
40
Tóm tắt môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng
Hồ Chí… 100% (15)
18
Trang 8Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng
và của cải để giữ vững nền độc lập tự do ấy." Tuyên ngôn Độc lập khẳng định với thế giới cơ sở pháp lý về quyền “được hưởng quyền độc lập tự do” của dân tộc Việt Nam, đồng thời vạch rõ sự thật rằng nước Việt Nam “đã thực sự trở
thành một nước tự do và độc lập."
Để bảo đảm thực hiện quyền con người gắn với độc lập dân tộc, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần có những điều kiện sau:
Thứ nhất, về chính trị, quyền con người phải gắn liền với quyền dân tộc, bao gồm cả quyền tự quyết, và độc lập
Thứ hai, quyền con người trong suy nghĩ của Bác không khác gì quyền có cơm ăn áo mặc, quyền được học hành của mọi người “Chúng ta đã hy sinh và phấn đấu cho độc lập Chúng ta giành được độc lập tự do mà nhân dân chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng chẳng làm được gì Con người chỉ biết đến
những giá trị của tự do và, độc lập khi được ăn no, mặc ấm." Vì vậy, nhằm phục
vụ cho nhân dân, Đảng, Chính phủ ta và mỗi cán bộ phải chăm lo đời sống của nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân dựa trên các mục tiêu của chính phủ: “Một là, giúp mọi người có thức ăn Hai
là, giúp mọi người có quần áo Ba là, giúp mọi người có nhà ở Bốn là, giúp mọi người được học hành.”
Thứ ba, về cơ chế quản lý, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, bảo đảm quyền con người gắn với độc lập dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa
là nhân đạo, ưu việt nhất, đem lại hạnh phúc cho đại đa số nhân dân vì “Không
có chế độ nào coi trọng con người, coi trọng lợi ích cá nhân và bảo đảm con
người được thoả mãn như chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ cộng sản chủ nghĩa " Lợi ích cá nhân thuộc về lợi ích tập thể, là một bộ phận của lợi ích tập thể Lợi ích riêng của Tư tưởng Hồ Chí Minh về Quyền con người cá nhân phải
phục tùng lợi ích chung của tập thể “Đất nước chúng ta là một nước dân chủ;
5
BT lớn Tư tưởng Hồ Chí Minh_20212022
Tư tưởng
Hồ Chí… 100% (14)
14
Trắc nghiệm tư tưởng Hồ Chí Minh…
Tư tưởng
Hồ Chí… 95% (44)
15
Trang 9mọi lợi ích đều vì người dân.” Đối với Hồ Chí Minh, bảo đảm quyền con người
là trách nhiệm của Đảng và các tổ chức xã hội hợp thành hệ thống chính trị, trong đó trách nhiệm chính thuộc về Đảng và chính quyền Xây dựng chủ nghĩa
xã hội nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, là hiện thực hóa giải phóng con người phù hợp với lý tưởng nhân văn tiến bộ của thế giới
Thứ tư, về mặt pháp lý, quyền con người phải được pháp luật bảo vệ Với
tư cách là người khai quốc ra nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc xây dựng pháp chế quốc gia, đặc biệt là việc xây dựng hệ thống pháp luật bảo vệ quyền công dân và quyền con người Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nhà nước mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phù hợp với pháp quyền Hiến pháp (năm 1946) được công bố, tất cả các nguyên tắc và thể chế cơ bản của một nhà nước
và xã hội mới được thiết lập, trong đó các nguyên tắc về quyền con người như bình đẳng, tự do, tôn trọng nhân phẩm được nêu rõ và bảo vệ quyền của người nước ngoài Sau đó là ba bản Hiến pháp (1959, 1980, 1992) nhưng đến nay quyền con người trong Hiến pháp năm 1946 vẫn còn nguyên giá trị
Thứ năm, về ngoại giao, Hồ Chí Minh yêu cầu phải có tinh thần đoàn kết quốc tế vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, ngoài việc khẳng định độc lập, chủ quyền dân tộc,
Hồ Chí Minh luôn mong muốn duy trì và phát triển quan hệ quốc tế bình đẳng với mọi dân tộc, kể cả những nước từng xâm lược các nước khác như Pháp, Mỹ Người nói: “Về chính sách đối ngoại: thân thiện với người nước ngoài, đặc biệt
là Hoa kiều Đối với người Pháp, chỉ đánh thực dân, còn những người Pháp xa
xứ không làm tổn hại đến nền độc lập của chúng ta, chúng ta sẽ bảo vệ tính mạng và tài sản của họ " Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh luôn coi trọng phương pháp hòa bình nhằm tạo điều kiện thuận lợi để bảo
6
Trang 10đảm ngày càng nhiều hơn các quyền dân sinh, kinh tế, văn hóa, xã hội cho nhân dân
Theo Người, độc lập dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế; lấy tinh thần thiện chí, hòa bình để giải quyết những bất đồng trên cơ sở gắn lợi ích quốc gia với lợi ích của các nước trong khu vực và lợi ích chung của nhân loại tiến bộ Tư tưởng đó đã trở thành xu thế phát triển mới của thế giới, và Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã có nhiều đóng góp vào cuộc đấu tranh vì quyền con người, vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại ở thời điểm hiện tại
1.2 Giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đạt
Các quan điểm về độc lập dân tộc gắn với quyền con người của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã trở thành kim chỉ nam cho những hành động và chính sách của Đảng và nhân dân ta, tiếp tục soi sáng cho sự nghiê ’p đổi mới của nhân dân ta trong thời đại ngày nay Qua đó, thiết lập mục tiêu phát triển đất nước thông qua các biện pháp xây dựng kinh tế xã hô ’i đúng đắn, giữ vững đô ’c lâ ’p chủ quyền,
ổn định chính trị, phát triển kinh tế, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế
đi kèm với việc nâng cao chất lượng cuộc sống và niềm hạnh phúc của người dân
Mặt khác, khi mà xu hướng toàn cầu hóa ngày càng phổ biến và sự phức tạp trong diễn biến tình hình thế giới ngày một nâng cao dẫn đến việc thực hiện các chính sách đối ngoại không ngừng xuất hiện nhiều thách thức, khó khăn mới Trong bối cảnh đó, việc gắn các chính sách nhân quyền, phát triển cuộc sống ấm no hạnh phúc cho người dân ta với các biện pháp bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, độc lập dân tộc giúp đẩy mạnh tinh thần đoàn kết và kiên quyết đấu tranh khắp cả nước Điều này góp phần to lớn trong việc ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu của thế lực thù địch, duy trì sự ổn định trong chính trị cũng như an ninh quốc gia
7
Trang 11Bên cạnh đó, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng đã khẳng định: “Mở rộng quan hệ và đẩy mạnh hợp tác với các lực lượng chính trị, xã hội và nhân dân các nước, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác phát triển
và tiến bộ xã hội" Tất cả là nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc và bền vững
II TÌNH HÌNH VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN VỚI QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM NGÀY NAY
2.1 Thành tựu
Về sự vận dụng, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy chủ quyền Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và có điều kiện phát triển toàn diện."
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII cũng đã thiết lập các đường lối, biện pháp xuyên suốt nhằm đảm bảo quyền lợi của nhân dân cả nước Theo đó, Đảng và Nhà nước đã luôn nỗ lực hoàn thiện và cải tiến các quy định trong hệ thống pháp luật của đất nước Trong đó, phải kể đến một số khung pháp lý nổi bật như: Hiến pháp 2013, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, Luật Khiếu nại 2011, Luật Tố cáo 2018, Luật Trưng cầu ý dân 2015, v.v Nhờ sự xuất hiện của các đạo luật này, người dân được trao quyền thực hiện các hoạt động chính trị, góp phần tham gia vào việc xây dựng chính quyền cũng như quản lý Nhà nước và xã hội Tại đại biểu Quốc hội, các phiên chất vấn cũng được tổ chức thường xuyên, góp phần cho sự phát triển chung của cả nước
Bên cạnh đó, các chính sách nâng cao giá trị phụ nữ Việt Nam cũng là một trong những thành tựu to lớn của đất nước trong việc đảm bảo thực hiện
8