Trong đó, việc con ngườicó nhận thức được thế giới hay không và bằng cách nào con người có thể nhận thức được thế giới luôn là vấn đề được bàn luận dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng chỉ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO TIÊN TIẾN, CHẤT LƯỢNG CAO & POHE
-o0o -BÀI TIỂU LUẬN
MÔN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Đề tài:
NHẬN THỨC LUẬN MÁC XÍT VÀ SỰ VẬT DỤNG LÝ LUẬN ĐÓ TRONG TIẾN TRÌNH HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN SINH VIÊN
Họ và tên : Phạm Tuấn Minh
Mã sinh viên : 11224295
Lớp : Kiểm toán chất lượng cao 64CC Giảng viên hướng dẫn : Lê Ngọc Thông
Hà Nội - 2023
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ LUẬN NHẬN
THỨC MÁC - XÍT
3 1.1 Bản chất của nhận thức và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
3
1.2 Con đường biện chứng của quá trình nhận thức 7
Chương 2 Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ SỰ VẬN DỤNG
LÝ LUẬN NHẬN THỨC MÁC - XÍT TRONG TIẾN TRÌNH HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN SINH VIÊN
11
2.1 Những ý nghĩa phương pháp luận cơ bản rút ra từ con đường biện chứng của quá trình nhận thức
11 2.2 Vận dụng quan điểm của triết học Mác - Lênin về con đường biện chứng của quá trình nhận thức trong tiến trình học tập của bản thân
11
MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết
Trong dòng chảy của lịch sử triết học từ khi ra đời cho đến ngày nay luôn diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
Trang 3duy tâm xoay quanh vấn đề vấn đề cơ bản của triết học Trong đó, việc con người
có nhận thức được thế giới hay không và bằng cách nào con người có thể nhận thức được thế giới luôn là vấn đề được bàn luận dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng chỉ
có lý luận nhận thức mácxít mới luận giải một cách khoa học, triệt để về vấn đề này Đây là cơ sở luận cứ khoa học vững chắc, không những giúp cho con người trong nhận thức thế giới khách quan, mà còn có ý nghĩa to lớn giúp cho con người trong chỉ đạo hoạt động thực tiễn góp phần cải tạo thế giới theo nhu cầu, mục đích của con người
Xã hội loài người đang ngày càng phát triển, văn minh, con người có điều kiện đi sâu nghiên cứu, khám phá để hiểu biết sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về bản chất của thế giới, nhiều hiện tượng kỳ lạ, mới mẻ lần lượt được con người phát hiện, trong đó có những hiện tượng mà con người chưa thể giải thích đúng đắn, đầy đủ Song, lý luận nhận thức mácxít vẫn luôn là cơ sở, nền tảng lý luận khoa học vững chắc để con người xem xét, giải quyết các vấn đề khác trong tự nhiên,
xã hội và tư duy, giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn, toàn diện về thế giới, về cuộc sống dưới nhiều góc độ khác nhau Đối với sinh viên, việc nắm vững, vận dụng sáng tạo vấn đề này trong học tập, rèn luyện và hoạt động thực tiễn có nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phát triển nhận thức, tư duy, lối suy nghĩ đồng thời góp phần tích cực nang cao chất lượng, hiệu quả học tập cũng như
trong công việc và cuộc sống Vì vậy, em xin nghiên cứu chủ đề: “Nhận thức luận Mác - xít và sự vận dụng lý luận đó trong tiến trình học tập của bản thân sinh viên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ nội dung cơ bản nhận thức luận mác - xít; rút ra ý nghĩa đối với tiến trình học tập của sinh viên Việt Nam hiện nay
3 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu: khái quát hóa, trừu tượng hóa, lịch sử - lôgic, phân tích - tổng hợp, so sánh, dẫn chứng
4 Kết cấu
Tiểu luận được kết cấu gồm: Mở đầu, nội dung (02 chương), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
1
Trang 4Chương 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ LUẬN NHẬN THỨC MÁC - XÍT 1.1 Bản chất của nhận thức và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
1.1.1 Bản chất của nhận thức
Trên cơ sở kế thừa những yếu tố hợp lý trong lý luận nhận thức trước đó,
Trang 5những thành tựu của khoa học, đồng thời xuất phát từ thực tiễn đời sống xã hội, Triết học Mác - Lênin khẳng định: Bản chất của nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào đầu óc của con người trên cơ sở thực tiễn.
Trước hết, nhận thức là quá trình tác động biện chứng giữa chủ thể
nhận thức và khách thể nhận thức Chủ thể của nhận thức là con người phát
triển bình thường, cân đối cả về mặt sinh học và mặt xã hội Ví dụ: Giảng
viên, sinh viên là các chủ thể nhận thức Mỗi chủ thể có trình độ, khả năng nhận thức khác nhau Tuy nhiên không phải mọi người đều là chủ thể của quá trình nhận thức, mà phải là con người phát triển bình thường, cân đối cả về mặt sinh học và mặt xã hội Ví dụ: Năm 1920, ở Ấn Độ phát hiện một bé gái
bị lạc vào rừng được thú vật nuôi thì không có ý thức như con người Bởi vì không được tiếp xúc với môi trường xã hội trong thời gian dài Người bị khiếm thính, khiếm thị, khuyết tật bộ phận khác trên cơ thể vẫn là chủ thể nhận thức nhưng khả năng nhận thức sẽ bị hạn chế Khách thể nhận thức là một bộ phận của hiện thực khách quan Không phải toàn bộ hiện thực khách quan mà là những bộ phận mà nhận thức của con người có khả năng hướng tới nắm bắt, phản ánh Nó nằm trong phạm vi tác động của hoạt động nhận thức… Những điều con người chưa bao giờ biết đến thì không thể trở thành khách thể nhận thức Hiện nay vẫn còn những điều con người chưa biết
Thứ hai, bản chất của nhận thức là một quá trình tích cực, tự giác và sáng
tạo Trên cơ sở những tri thức phản ánh về sự vật, nhận thức đã tạo ra tự nhiên thứ
hai Chủ thể nhận thức chế tạo ra công cụ nối dài giác quan để phản ánh đúng
đắn sự vật Ví dụ: Nhìn con chuồn chuồn nghiên cứu chế tạo ra máy bay; chế tạo
ra cái điện thoại để truyền thông tin được xa hơn, chính xác, đầy đủ hơn, Bằng mắt thường con người khó quan sát vũ trụ xa xôi, không thể nhìn sâu vào lòng đất, không thể quan sát được nguyên tử, tế bào… Để khắc phục sự hạn chế đó của các giác quan, con người sáng tạo ra tàu vũ trụ, kính thiên văn, máy khoan, máy thăm dò, kính hiển vi, để đi xa, đi sâu hơn nghiên cứu thế giới
Thứ ba, nhận thức phản ánh hiện thực khách quan trên cơ sở thực tiễn.
3
Trang 6Suy cho cùng, nhận thức xuất phát từ thực tiễn, do thực tiễn quy định và quay trở lại phục vụ hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người
Thứ tư, nhận thức là một quá trình biện chứng phức tạp Đó là sự tiến gần
mãi mãi và vô hạn của tư duy đến khách thể.Ví dụ: Vào thời điểm này năm ngoái, dịch bệnh Covid- 19 diễn biến vô cùng phức tạp, tác động tiêu cực đến cuộc sống Hiện thực đó đã tác động vào nhận thức của con người Trên cơ sở nhận thức được sự nguy hiểm, mỗi quốc gia phải đi tìm hiểu, nghiên cứu các đặc điểm của nó
để tìm ra cách phòng ngừa và chữa trị Mới đầu chưa biết rõ nên hoang mang, lo sợ nhưng dần dần nắm được đặc điểm của nó thì sẽ tìm ra cách điều trị Đó là cơ sở để triển khai các biện pháp phòng chống và đẩy lùi dịch bệnh
Lý luận nhận thức mácxít mang tính khoa học, cách mạng bởi vì nó được xây dưng trên cơ sở những nguyên tắc nhất định, đó là:
Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người Nguyên tắc này chỉ ra rằng phải thừa nhận tính thứ nhất của
vật chất theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khi giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học Vật chất là cái có trước, là cái giữ vai trò quyết định Ví dụ: Các hiện tượng như mưa, gió, sấm, chớp, là các hiện tượng tự nhiên, tuân theo quy luật tự nhiên, con người không thể đảo ngược được Hô mưa gọi gió chỉ có Thủy Tinh mới làm được
Hai là, thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người Lý
luận nhận thức mácxít phê phán toàn diện thuyết không thể biết, đồng thời khẳng định sức mạnh của con người trong việc nhận thức và cải tạo thế giới Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người Không có gì con người không nhận thức được, chỉ có những cái con người chưa nhận thức được nhưng sẽ nhận thức được, một con người ở những thời điểm nhất định chưa nhận thức được sự vật nhưng cả loài người trong tiến trình lịch sử sẽ nhận thức được thế giới khách quan Ví dụ: Hiện tượng ma trơi: đốm lửa lập lòe do hợp chất photpho dưới hoạt động của vi khuẩn, bốc lên, gặp điều kiện thích hợp thì bốc cháy thành đốm lửa xanh nhạt, ban ngày khó nhìn thấy Khi chạy thì tạo thành luồng khí làm nó bị hút
Trang 7Discover more
from:
Document continues below
Triết 1
Đại học Kinh tế…
999+ documents
Go to course
Sơ đồ tư duy Triết chính thức
Triết 1 99% (114)
7
PHÂN TÍCH QUAN NIỆM DUY VẬT BIỆN…
Triết 1 100% (44)
12
Tiểu luận triết học Ý thức và vai trò của t…
Triết 1 99% (91)
25
tóm tắt triết học Mac Lenin
Triết 1 100% (39)
58
TIỂU LUẬN TRIẾT 1
Triết 1 100% (34)
19
Trang 8Ba là, khẳng định nhận thức là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định nhận thức là một
quá trình diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn Đồng thời cho rằng nhận thức không phải là sự thu nhận tri thức một cách thụ động, giản đơn mà là quá trình tích cực, chủ động và sáng tạo thông qua hoạt động thực tiễn
Bốn là, thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý Đây là điểm khác biệt giữa lý luận nhận thức duy vật
biện chứng với các quan điểm triết học trước Mác Đưa thực tiễn thành phạm trù nền tảng của lý luận nhận thức, từ đó giải thích khoa học các vấn đề của lý luận nhận thức
1.1.2 Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Thực tiễn là một trong những phạm trù trung tâm, nền tảng, không chỉ trong lý luận nhận thức mácxít mà còn của toàn bộ triết học Mác - Lênin Nó là cơ sở để nghiên cứu nhiều vấn đề triết học, nó không chỉ chỉ có ý nghĩa đối với quá trình nhận thức, mà còn mang nhiều ý nghĩa về mặt thế giới quan Triết học Mác
-Lênin quan niệm: Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
Đó là toàn bộ hoạt động vật chất mang trực tiếp, cảm tính, con người sử dụng công cụ phương tiện tác động vào đối tượng vật chất, những hoạt động nói chung của con người, nó khác với hoạt động tinh thần Thực tiễn là hoạt động có mục đích nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và cải tạo chính bản thân con người đáp ứng nhu cầu của con người Thực tiễn có 3 hình thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học Trong đó hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động cơ bản, quyết định nhất Nhận thức của con người nảy sinh từ thực tiễn, do thực tiễn quyết định Cho nên thực tiễn có vai trò vô cùng quan trọng đối với nhận thức Chủ nghĩa
duy vật biện chứng khẳng định: Thực tiễn có vai trò to lớn, là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, là tiêu chuẩn của chân lý Cụ thể:
NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI
Triết 1 100% (35)
11
Trang 9Một là, thực tiễn là cơ sở của nhận thức Bởi vì, thực tiễn, là cầu nối liền
giữa chủ thể nhận thức với khách thể nhận thức, cung cấp nội dung cho nhận thức Không có thì không có nhận thức Thực tiễn là cơ sở của nhận thức vì: muốn nhận thức trước hết phải xuất phát từ thực tiễn, do thực tiễn quy định Qua thực tiễn, nhận thức con người được hình thành, phát triển Bằng thực tiễn, con người tác động vào các sự vật, làm chúng bộc lộ các thuộc tính, những mối liên
hệ bên trong, từ đó con người nhận thức được bản chất, quy luật vận động phát triển của sự vật Ví dụ: Có trồng trọt, chăn nuôi mới biết thuần hóa động vật, mới biết giống tốt, đất phì nhiêu khoa học mới hình thành và phát triển/ Có vấp ngã mới biết tránh hòn đá
Hai là, thực tiễn là động lực của nhận thức Thực tiễn luôn vận động biến đổi đặt ra các mâu thuẫn đòi hỏi con người cần nhận thức, khám phá, giải quyết
để tồn tại và phát triển (mâu thuẫn giữa khả năng và nhu cầu: Thực tiễn luôn đặt
ra nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao, nhu cầu của con người cũng ngày càng cao, trong khi khả năng đáp ứng nhu cầu của con người có hạn) Giải quyết mâu thuẫn này sẽ làm cho nhận thức phát triển Ví dụ: Không thể quan sát được con virus nCoV nên phải chế tạo kính hiển vi/ Đáp ứng nhu cầu tính toán thì chế tạo ra cái computer
Ba là, thực tiễn là mục đích của nhận thức Con người không chỉ nhận
thức còn cải tạo thực tiễn, lý luận khoa học không có mục đích tự thân Ví dụ: Công nghệ sinh học để ứng dụng vào sản xuất làm tăng năng suất Bởi vì nhận thức phải quay về phục vụ thực tiễn Kết quả nhận thức phải hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, các ngành khoa học đã ra đời và phát triển, có vai trò tác động to lớn trở lại góp phần chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người Song, lý luận khoa học chỉ có ý nghĩa thật sự khi được vận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn Công nghệ sinh học để ứng dụng vào sản xuất làm tăng năng suất/ Bệnh viện Trung ương QĐ
108 thực hiện thành công ca ghép tay, được các giáo sư bác sĩ hàng đầu thế giới ghi nhận
Bốn là, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý Thực tiễn là thước đo giá trị
6
Trang 10của những tri thức đã đạt được, qua đó bổ sung, phát triển và hoàn thiện nhận
thức Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra nhận thức.Ví dụ: Khi nhận xét về một sinh viên, phải thông qua thực tiễn quá trình học tập, rèn luyện mới biết được
học viên đó học tốt hay kém Thông qua thực tiễn để bổ sung, phát triển lý luận,
khắc phục bệnh giáo điều, bảo thủ, chủ quan duy ý chí Ví dụ: Có những người chỉ thích nói lý luận sách vở, nói thì hay nhưng không làm được Đối với người cán bộ quân sự nói phải đi đôi với làm
Như vậy, thực tiễn có vai trò quan trọng đối với quá trình NT của con người.
Bàn về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức V.I.Lênin viết: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức”
(V.I.Lênin, toàn tập, tập 18,Nxb CTQG, H.2005 tr.167-168)
1.2 Con đường biện chứng của quá trình nhận thức
Nhận thức không phải một lúc, một lần là song, mà đó là một quá trình biện chứng diễn ra phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn, và cấp độ khác nhau
V.I.Lênin khái quát: “Từ TQSĐ đến TDTT và từ TDTT đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” (V.I.Lênin, toàn tập, tập 29, Nxb.CTQG, H.2006 tr.179) Như vậy, theo
lý luận nhận thức mácxít, con đường biện chứng của quá trình nhận thức chân lý bao gồm các giai đoạn:
Giai đoạn 1: Trực quan sinh động
Trực quan sinh động (nhận thức cảm tính) là giai đoạn con người sử dụng các giác quan tác động trực tiếp vào các sự vật nhằm nắm bắt các sự vật ấy Đây là giai đoạn đầu của quá trình nhận thức Phản ánh (nhận thức) mang tính chất trực tiếp, cụ thể, dựa vào các giác quan (tai nghe, mắt thấy, tay sờ) Nhận thức ở trình
độ thấp, cung cấp cho ta những hiểu biết về những hiện tượng, những mối liên
hệ bên ngoài của sự vật, quá trình, sự hiểu biết kinh nghiệm cụ thể (nhận thức lý
tính) Bao gồm 3 hình thức cơ bản đó là: Cảm giác, tri giác và biểu tượng.
Cảm giác là sự phản ánh từng mặt, từng thuộc tính bên ngoài của sự vật khi chúng trực tiếp tác động vào giác quan của con người Khi các sự vật hiện tượng bên ngoài tác động vào các giác quan thì gây nên trong ta những cảm giác
Trang 11về màu sắc, âm thanh nhiệt độ… Mỗi cảm giác giúp ta nhận biết một thuộc tính của sự vật, mỗi giác quan cho ta một cảm giác Ví dụ: Nhìn quả cảm thấy hình cầu màu xanh, sờ vào thấy sần sùi, ăn vào có vị ngọt Cảm giác có vai trò to lớn, đem lại những tài liệu đầu tiên cho quá trình nhận thức Tất cả những hình thức tiếp theo đều dựa trên những tài liệu do cảm giác đem lại
Tri giác là hình ảnh tương đối toàn vẹn về sự vật khi sự vật đó đang trực tiếp tác động vào giác quan Khi tiếp xúc với sự vật, sự vật thường một lúc tác động lên nhiều giác quan, giúp ta cảm nhận được nhiều thuộc tính của nó Sự tổng hợp của nhiều cảm giác phản ánh nhiều thuộc tính trong mối liên hệ hữu
cơ với nhau về sự vật gọi là tri giác Ví dụ: Tri giác về quả cam thì biết được nó
có màu xanh, hình cầu, vỏ sần sùi, có mùi thơm, có vị ngọt So với cảm giác, tri giác cho ta tri thức đầy đủ hơn, phong phú hơn, hoàn chỉnh hơn, nhưng vẫn là cảm tính, bề ngoài cụ thể của khách thể
Biểu tượng là hình ảnh của sự vật còn lưu lại trong trí nhớ Sự tiếp xúc với một sự vật cụ thể nhiều lần, lặp đi lặp lại của cảm giác và tri giác về một sự vật để lại trong ta ấn tượng, những hình ảnh ấn tượng và sâu sắc đến mức có thể hiện lên trong ký ức ngay cả khi sự vật không còn ở trước mắt Đó là biểu tượng Ví dụ: Xa nhà nhưng hình ảnh người thân vẫn hiện rõ trong trí nhớ Biểu tượng là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của TQSĐ Đó là hình ảnh cảm tính và tương đối hoàn chỉnh còn lưu giữ lại trong bộ óc người về sự vật khi sự vật không còn tác động vào giác quan Tuy là hình ảnh cảm tính nhưng biểu tượng đã chứa đựng những yếu tố gián tiếp Nó là hình thức trung gian giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
Nhận thức của con người không dừng lại ở nhận thức cảm tính mà còn tiếp tục phát triển lên giai đoạn cao hơn là tư duy trừu tượng
Giai đoạn 2: Tư duy trừu tượng
Tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính) là giai đoạn phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát những thuộc tính những đặc điểm bản chất của đối
tượng Là giai đoạn cao hơn về chất của quá trình nhận thức, phản ánh mang
8