Hình ảnh có đánh số hình, nguồn hình, tên hình, hình này mang ý nghĩa gì/ nói về cái gì Kế thừa những thành tựu đã đạt được của các nhà duy vật trong lịch sử, nổi bật là quan niệm của C.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Viện đào tạo Tiên tiến, Chất lượng cao và POHE
MÔN HỌC: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
BÀI THI TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
ĐỀ TÀI:
LÝ LUẬN MÁC XÍT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VIỆC LÀM, THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN ĐÃ TỐT NGHIỆP.
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 4
LỜI CAM ĐOAN 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục tiêu nghiên cứu 6
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng nghiên cứu 7
5 Phạm vi nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Bố cục đề tài 7
B PHẦN NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 8
1.1 Một số khái niệm cơ bản 8
1.1.1 Khái niệm về vật chất 8
1.1.2 Khái niệm về ý thức 8
1.1.3 Khái niệm về mối quan hệ 10
1.2 Lý luận Mác Xít về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 10
1.2.1 Quan điểm duy tâm và quan điểm duy vật siêu hình về “mối quan hệ giữa vật chất và ý thức” 10
1.2.2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về “mối quan hệ giữa vật chất và ý thức” 11
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 15
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VIỆC LÀM, THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN ĐÃ TỐT NGHIỆP 16
2.1 Thực trạng về vấn đề sinh viên thất nghiệp sau khi đã tốt nghiệp 16
2.2 Nguyên nhân của thực trạng 17
2.2.1 Nguyên nhân khách quan 17
2.2.2 Nguyên nhân chủ quan 18
2.3 Một số kiến nghị giải pháp 19
2.3.1 Cơ sở giải pháp 19
a Cơ sở lí luận 19
b Cơ sở thực tiễn 19
Trang 32.3.2 Các biện pháp nhằm cải thiện vấn nạn thất nghiệp, lựa chọn ngành nghề không phù
hợp của sinh viên sau khi tốt nghiệp 20
a Nhóm biện pháp tác động vào sinh viên 20
b Nhóm biện pháp tác động vào gia đình, bố mẹ của học sinh, sinh viên 21
c Nhóm biện pháp tác động vào nhà trường 22
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 23
CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG ĐỜI SỐNG VÀ CẢI TẠO HIỆN THỰC 24
3.1 Ý nghĩa về mặt nhận thức 24
3.2 Ý nghĩa về mặt đời sống 25
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 25
C PHẦN KẾT LUẬN 26
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay cùng với sự phát triển của thời đại, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước, Đảng và nhà nước ta đã nhận thức được tầm quan trọng và vai
trò của vấn đề con người "Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to
lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi cuả công cuộc đổi mới đất nước" [1] Việt Nam đã và đang hình thành, có không ít những bước nhảy vọt ở
nhiều mặt, đưa nền kinh tế xã hội ngày càng vững mạnh Bắt đầu từ năm 1986, đất nước ta đã chuyển đổi từ nền kinh tế cơ chế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang cơchế thị trường Sự tiến bộ của nền kinh tế lệ thuộc phần lớn vào chiến lược con người: cần đào tạo con người một cách có chiều sâu, lấy tư tưởng của chủ nghĩa Mác Xít làm tiền đề để phát triển Lịch sử của triết học cũng như lịch sử của các cuộc đấu tranh đều xoay quanh vấn đề căn bản của triết học đi kèm với hai phạm trù lớn: vật chất và ý thức
Tuy nhiên hiện nay một trong những vấn đề kinh điển của nền kinh tế khiến cho Đảng, nhà nước ta hết sức quan ngại đó chính là vấn đề việc làm, thất nghiệp của các sinh viên ra trường ngày càng tăng Một quốc gia muốn phát triển cần phải đi lên từ lao động, mà sinh viên là lực lượng lao động nòng cốt, cần được sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả Vấn đề việc làm, thất nghiệp của sinh viên sau khi tốtnghiệp sẽ tác động lớn đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, làm nảy sinh các vấn nạn khác như: gia tăng tệ nạn xã hội, trộm cắp, sự phân biệt giàu nghèo, sụt giảm nền kinh tế,…
Qua quá trình phân tích và tổng hợp, nhận thấy được tính cấp thiết của vấn đề Tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Lý luận Mác Xít về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức và sự vận dụng trong giải quyết vấn đề việc làm, thất nghiệp của sinh viên đã tốt nghiệp” làm đề tài chính thức cho bài tiểu luận này
Trang 6B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm về vật chất
(trích nguồn, ko nên chỉ có 1 đoạn, nên phân tích, làm rõ thêm, tránh văn nói: nếu
có thì là; thì là; thì có; thì Hình ảnh có đánh số hình, nguồn hình, tên hình, hình này mang ý nghĩa gì/ nói về cái gì)
Kế thừa những thành tựu đã đạt được của các nhà duy vật trong lịch sử, nổi bật là quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về vật chất, trong cuốn “Chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” V.I.Lênin đã đưa ra định nghĩa nổi tiếng về
vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” [2].
Khái niệm vật chất của V.I.Lênin bao chứa những nội dung căn bản sau:
Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan – cái tồn tại hiện thực bên ngoài ý
thức và không phụ thuộc vào ý thức
Thứ hai, vật chất là cái khi mà tác động, gây ảnh hưởng vào các giác quan
của con người, đem lại cho con người cảm giác
Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản chiếu lại từ vật
chất
Ý nghĩa được rút ra từ định nghĩa vật chất của Lênin:
Giúp chúng ta nhận biết được sự khác nhau cơ bản giữa phạm trù vật chất với tư cách là phạm trù triết học, khoa học chuyên ngành, từ đó khắc phục được những thiếu sót trong quan niệm của các nhà triết học trước đây, cung cấp căn cứ khoa học để xác định những gì thuộc và không thuộc về vật chất
Giải quyết tận gốc hai mặt vấn đề căn bản của triết học đó là vật chất là cái xuất hiện trước, ý thức là cái xuất hiện sau, vật chất quyết định ý thức Con người có khả năng nhận thức được thực tại khách quan thông qua sự chụp lại, chép lại, phản ánh của họ đối với thế giới khách quan
Góp phần tạo cơ sở nền tảng, tiền đề để xây dựng quan niệm duy vật về xã hội
lại
Trang 711
Trang 8 Thứ ba, vật chát là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó
1.1.2 Khái niệm về ý thức
Ý thức là một trong những phạm trù căn bản của triết học và thuộc lĩnh vực tinh thần của con người, bao gồm bộ não, tủy sống, hệ thống mạch nơ ron và hạch tủy
Theo V.I.Lênin: “Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách
quan, là quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của con
người” [3].
Hay theo Karl Marx: “Ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào
trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó”, “ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn như vậy đến chừng nào con người còn tồn tại" [4].
* Bản chất của ý thức được bao hàm trong các nội dung cơ bản sau:
- Thứ nhất, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, hình ảnh đó do thế giới khách quan quy định cả về hình thức biểu hiện, lẫn nội dung nhưng nó không còn nguyên bản như thế giới khách quan mà nó đã biến đổi thông qua lăng kính chủ quan của con người
Theo Ph Ăng ghen: “Trên thực tế, bất kì phản ánh nào của hệ thống thế giới vào
trong tư tưởng cũng đến bị hạn chế về mặt khách quan bởi những điều kiện về lịch
sử, và về mặt chủ quan bởi những đặc điểm về thể chất và tinh thần của tác giả”
[5]
Hình 1.1 Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Triết 1 100% (35)
Trang 9Nguồn: i581880/
https://cand.com.vn/Nhan-dam/Chung-ta-that-su-co-y-thuc-tuyet-doi Thứ hai, ý thức là sự phản ánh tích cực, năng động, sáng tạo, gắn bó chặt chẽ vớithực tiễn xã hội Điều đó thể hiện ở quá trình con người chủ động khám phá không ngừng, tạo ra, tác động vào các đối tượng phản ánh một cách có định hướng, chọn lọc, tùy theo nhu cầu của mình
Ví dụ: Con người tạo ra những giả tưởng, giả thuyết, huyền thoại, trong đời sống tinh thần hoặc khái lược bản chất, quy luật khách quan, tạo nên các mô hình tư tưởng, tri thức trong các hoạt động của con người
- Thứ ba, ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội Ý thức chịu sự chi phối không chỉ của các quy luật sinh học mà chủ yếu là các quy luật của xã hội,
do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt của xã hội quy định Nó phản ánh ngày càng sâu sắc, từng bước xâm nhập các tầng bản chất, quy luật, điều kiện đem lại hiệu quả hoạt động thực tiễn
1.1.3 Khái niệm về mối quan hệ
“Mối quan hệ” là một phạm trù triết học được dùng nhằm để chỉ các mối ràng buộctương hỗ, gây ảnh hưởng, tác động và quy định lẫn nhau giữa các bộ phận, yếu tố trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau Quan hệ là mối liên kết giữa hai (hoặc lớn hơn hai) đối tượng nếu sự thay đổi của một trong số chúng nhất định làm đối tượng còn lại bị thay đổi
1.2 Lý luận Mác Xít về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc
biệt là của triết học hiện đại” [6].
Khẳng định nguyên tắc mang tính đảng trong triết học, V.I.Lênin đã từng viết: “
Triết học hiện đại cũng có tính đảng như triết học hai nghìn năm về trước Những đảng phái đang đấu tranh với nhau, về thực chất – mặc dù thực chất đó bị che giấu bằng những nhãn hiệu mới của thủ đoạn lang băm hoặc tính phi đảng ngu xuẩn – là của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm” [7].
1.2.1 Quan điểm duy tâm và quan điểm duy vật siêu hình về “mối quan hệ giữa vật chất và ý thức”
a) Chủ nghĩa duy tâm
Trang 10Hình 1.2 Sơ đồ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức theo chủ nghĩa duy tâm.
Chủ nghĩa duy tâm quan niệm rằng, ý thức và tinh thần vốn có của con người đã bịbiến đổi, trừu tượng hóa, tách khỏi con người hiện thực thành một lực lượng thần
bí, tiên thiên Họ coi ý thức (tư duy) có trước vật chất (tồn tại) và quyết định vật chất (tồn tại) Theo cách khác, chủ nghĩa duy tâm cho rằng bản chất của thế giới là tinh thần; ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai; ý thức ra đời trước và quyết định vật chất
Trên thực tế, chủ nghĩa duy tâm là nền tảng lý luận của tôn giáo, chủ nghĩa ngu dân Mọi con đường mà chủ nghĩa duy tâm mở ra đều dẫn con người đến với thần học, với “đường sáng thế” Trên thực tế, người duy tâm phủ định tính khách quan, cường điệu vai trò chủ quan, duy ý chí, hành động không suy xét tới điều kiện, quyluật khách quan
b) Chủ nghĩa duy vật siêu hình
Hình 1.3 Sơ đồ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức theo chủ nghĩa duy vật siêu
hình.
Trái lại, chủ nghĩa duy vật siêu hình tuyệt đối hóa yếu tố vật chất, cho rằng vật chất(tồn tại) có trước ý thức (tư duy) và quyết định ý thức (tư duy) Hay nói cách khác, chủ nghĩa duy vật cho rằng bản chất của thế giới là vật chất; vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai; vật chất có trước ý thức và quyết định ý thức, phủ định tính độc lập tương đối của ý thức, không thấy được tính năng động, sáng tạo và vaitrò to lớn của ý thức trong hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan Do vậy, họ đã phạm nhiều sai lầm có tính nguyên tắc bởi thái độ “khách quan chủ nghĩa”, thụ động, ỷ lại, trông chờ, không đem lại hiệu quả trong hoạt động thực tiễn
Ý th c ứ V t chấất ậ
Ph đ nh vai ủ ị trò c a v t ủ ậ chấất
V t chấất ậ Ý th c ứ Ph đ nh vai ủ ị
trò c a ý th c ủ ứ
Trang 111.2.2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về “mối quan hệ giữa vật chất và ý thức”
Theo quan điểm triết học của Mác – Lênin, vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, trong đó vật chất chi phối ý thức, còn ý thức tác động trở lại vật chất
Hình 1.4 Sơ đồ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức theo chủ nghĩa duy vật biện
chứng.
https://sangtaotrongtamtay.vn/vat-chat-quyet-dinh-y-thuc-vi-du-1641123654/
a Vật chất quyết định ý thức
Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được thể hiện trên một số yếu tố sau:
Thứ nhất, vật chất quyết định sự ra đời của ý thức Chủ nghĩa khẳng định vật chất
tồn tại trước ý thức, quyết định ý thức, ý thức là cái phản ánh, cho nên là cái xuất hiện sau, là cái bị quyết định; vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai Vật chất tồn tại khách quan, riêng lẻ với ý thức và là gốc rễ sinh ra ý thức Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao, tổ chức đặc biệt Đó là bộ óccon người Vì vậy, không có bộ óc con người, ý thức không thể tồn tại Hơn nữa, ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh
sự vật
Ví dụ: Người xưa có câu: “Có thực mới vực được đạo” [8] hay “Thực túc, binh
cường” [9].
Thứ hai, vật chất quyết định nội dung phản ánh của ý thức Dưới bất kì hình thức
nào, ý thức đều là phản ánh thế giới khách quan Hay nói một cách khác, có thế giới hiện thực chuyển động, phát triển theo các nguyên lí khách quan của nó, được phản ánh vào ý thức mới có nội dung của ý thức Thế giới khách quan, trước hết vàphần lớn là hoạt động thực tiễn có tính xã hội – lịch sử của loài người, là thứ quyết
Trang 12định nội dung mà ý thức phản ánh Ý thức chỉ là sự phản ánh của thế giới khách quan
Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức Phản ánh và sáng tạo là hai thuộc
tính không tách rời khỏi nhau trong bản chất của ý thức, trong đó sự phản ánh của con người là sự thể hiện tích cực, chủ động, sáng tạo thông qua thực tiễn Khác vớichủ nghĩa duy vật trước đây, xem xét thế giới vật chất như là những sự vật, hiện tượng cảm tính, chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét thế giới vật chất là thế giới của con người hoạt động thực tiễn Chính thực tiễn là hoạt động vật chất có tính cảithiện và làm xoay chuyển thế giới của loài người – là tiền đề để phát triển, hình thành nên ý thức
Ví dụ: Trong quá trình lao động nhằm cải tạo thế giới khách quan, con người tác động vào sự vật một cách có định hướng, chọn lọc, linh hoạt tùy theo nhu cầu của mình Cụ thể trong hoạt động dựng nhà, cày ruộng, đào mương, xây cầu, làm đường, mỗi giai đoạn, mỗi thời kì hay ở mỗi địa phương có sự khác biệt và đều được con người tác động theo mục đích, nhu cầu khác nhau phù hợp điều kiện vật chất, văn hóa, xã hội,
Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức Tất cả các sự tồn
tại, phát triển đều gắn với quá trình chuyển đổi của vật chất, vật chất thay đổi không sớm hay muộn cũng dẫn đến ý thức phải thay đổi theo Đi kèm với mỗi bước phát triển của sản xuất, tư duy là ý thức của con người cũng ngày càng mở rộng, đời sống tinh thần của con người ngày càng đa dạng và phong phú Sự vận động, biến đổi không ngừng nghỉ của thực tiễn, của thế giới vật chất là yếu tố quyết định sự biến đổi, vận động của ý thức, tư duy của con người Trong đời sống
xã hội, vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được thể hiện ở vai trò của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần, kinh tế đối với chính trị, tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội
Ví dụ: Khi sản xuất xã hội hình thành chế độ tư hữu, ý thức chính trị, pháp luật và quyền hạn cũng dần thay thế cho ý thức quần cư, cộng đồng thời nguyên thuỷ
Theo quan điểm biện chứng của V.I Lênin, rằng “sự đối lập giữa vật chất và ý
thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn chế: trong trường hợp này chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì có trước và cái gì có sau Ngoài giới hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó là tương đối” [10] Ở đây, tính tương đối trong sự đối lập giữa ý thức và
vật chất được thể hiện qua mối quan hệ giữa thực thể vật chất đặc biệt – bộ óc con người và thuộc tính của bản thân nó Vì vậy một chính sách đúng đắn là cơ sở liên kết hợp hai yếu tố vật chất và ý thức
Trang 13Ví dụ: Giáo dục, chính trị, tư tưởng gắn liền với khuyến khích lợi ích vật chất như đạt danh hiệu thi đua, được phần thưởng.
b Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Chủ nghĩa duy vật Mác Xít cũng cho thấy, tuy vật chất chi phối ý thức, song chủ nghĩa Mác không bao giờ xem nhẹ vai trò của ý thức Ý thức cũng có tính năng động, sáng tạo, cho nên thông qua những hoạt động thực tiễn của con người có thể gây ảnh hưởng, tác động trở lại vật chất theo hướng thúc đẩy hoặc hạn chế tới một mức độ nào đó các điều kiện vật chất, góp phần thay đổi, cải biến thế giới khách quan
Thứ nhất, tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ ý thức là sự phản chiếu
thế giới hiện thực vào trong tâm trí con người, do vật chất sinh ra, tuy nhiên khi đã
ra đời, ý thức có “đời sống” độc lập, có quy luật vận động, phát triển riêng, không phụ thuộc một cách máy móc vào vật chất Ý thức một khi ra đời có tính độc lập tương đối, gây ảnh hưởng trở lại thế giới vật chất Ý thức có thể thay đổi nhanh, chậm, song hành với hiện thực, nhưng nhìn chung nó thường thay đổi chậm hơn sovới những sự biến đối của thế giới vật chất
Hình 1.5 Ý thức là sự phản chiếu thế giới hiện thực vào trong óc con người.
Trang 14Thứ hai, sự ảnh hưởng của ý thức lên vật chất phải thông qua hành động thực tiễn
của con người Nhờ hành động thực tiễn, ý thức có khả năng làm biến chuyển và thay đổi các điều kiện, hoàn cảnh vật chất, thậm chí còn hình thành nên “thiên nhiên thứ hai” nhằm phục vụ cho đời sống của con người Còn tự bản thân ý thức không có khả năng biến đổi được thực tiễn Con người dựa trên những tri thức về thế giới khách quan, hiểu biết những quy luật khách quan, từ đó hình thành ra các chủ trương, đường lối, phương pháp và tinh thần quyết tâm nhằm thực hiện thắng lợi mục đích đã xác định Đặc biệt là ý thức tiến bộ, cách mạng một khi thâm nhập vào quần chúng nhân dân – lực lượng vật chất xã hội có sức ảnh hưởng vô cùng
lớn C.Mác cho rằng: "Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự
phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [11].
Thứ ba, vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo, điều khiển hoạt động, hành vi
của con người; nó có khả năng quyết định làm cho hành vi của con người đúng haysai, thành công hay thất bại Khi phản ánh đúng thực tiễn, ý thức có thể dự báo, tiên đoán một cách chuẩn xác cho hiện thực, có khả năng tạo ra những lý luận, định hướng đúng đắn, trở thành động cơ giúp thúc đẩy vật chất phát triển Trái lại,
ý thức có thể là lực cản phá vỡ sự vận động và tiến bộ của vật chất khi ý thức phản ánh sai, làm sai lệch các quy luật vận động khách quan của vật chất
Ví dụ: Hiểu được tính chất vật lý của sắt là nóng chảy ở nhiệt độ hơn 1000°C, người ta đã sáng tạo nên các nhà máy gang thép giúp sản xuất thép đủ kích cỡ mà không cần dùng đến phương pháp thủ công xa xưa
Thứ tư, xã hội ngày càng phát triển, tiến bộ, dẫn đến vai trò của ý thức ngày càng
to lớn, đặc biệt là trong thời đại của thông tin, kinh tế tri thức, kỉ nguyên của nhữngcuộc cách mạng khoa học và công nghiệp tân tiến, hiện đại, khi mà tri thức khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vai trò của tri thức khoa học, của tư tưởng nhân văn là vô cùng to lớn