Ý nghĩa của quan điểm duy vật mácxít về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong nhận thức và cải tạo hiện thực .... Quan điểm của các nhà khoa học trước Mác về v ật ch t ấ Vật chất đề
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ KINH TẾ SỐ
Hà Nội, tháng 06/2023
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, Việt Nam đã chuyển sang mô hình kinh tế thị trường và đang chứng kiến sự gia tăng đáng kể về số lượng doanh nghiệp và tổ chức Điều này đòi hỏi sự hiện diện của nhân lực chất lượng cao Sự thay đổi này mang lại nhiều khía cạnh tích cực cho nền kinh tế, giúp đất nước ngày càng phát triển và thoát khỏi hệ thống quản lý kinh tế đã lạc hậu Chúng ta không chỉ hướng đến mục tiêu phát triển nội địa, mà còn nhấn mạnh vào quá trình hội nhập toàn cầu
Để đạt được mục tiêu này, nguồn nhân lực chất lượng cao là một yếu tố cần thiết Sinh viên tốt nghiệp đại học được xtôi là nguồn nhân lực trẻ tiềm năng Họ đã tích luỹ kiến thức và nhận được bằng cấp sau những năm học tập đầy cống hiến Với tấm bằng và kiến thức đó, họ trở thành những cánh cửa quan trọng để đất nước tiến tới những thành tựu mới
Tuy nhiên, thực tế không khớp với những kỳ vọng ban đầu và một phần lớn sinh viên sau khi tốt nghiệp đang đối mặt với tình trạng thất nghiệp Vậy nguyên nhân của tình trạng nghịch lý này là gì? Có thể đây là do nguồn nhân lực thiếu chất lượng hay do hệ thống đào tạo không đáp ứng đủ nhu cầu Tất cả những vấn đề này sẽ được khám phá và giải thích trong bài tiểu luận với đề tài: “LÝ LUẬN MÁC – XÍT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VIỆC LÀM, THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN ĐÃ TỐT NGHIỆP”
Trang 32
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
MỤC LỤC 2
I QUAN NIỆM VỀ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 3
1 Vật chất 3
1.1 Quan điểm của các nhà khoa học trư c Mác vớ ề ậ v t ch t 3 ấ 1.2 Quan điểm của triế ọc Mác – Lê nin về ật h v t ch t 3 ấ 2 Phạm trù ý thức 5
2.1 Ngu n g c cồ ố ủa ý thức 6
2.2 B n ch t cả ấ ủa ý thức 7
2.3 K t c u cế ấ ủa ý thức 8
II MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 8
1 Vật chất quyết định ý thức 8
2 Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất 9
3 Ý nghĩa của quan điểm duy vật mácxít về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong nhận thức và cải tạo hiện thực 9
III VẬN DỤNG TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VIỆC LÀM, THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN ĐÃ TỐT NGHIỆP 10
1 Thực trạng về vấn đề việc làm, thất nghiệp cảu sinh viên đã tốt nghiệp 10
2 Nguyên nhân của vấn đề 11
2.1 T ừ phía nền kinh t - ế xã hội 11
2.2 V ề phía đào tạo 12
2.3 Cơ cấu đào tạo 12
2.4 Chất lượng đào tạo 12
2.5 Chính sách nhà nước 13
2.6 V bề ản thân và gia đình 13
3 Kiến nghị giải pháp 13
3.1 Phát triển và mở ộng các ngành nghề ả r s n xu t kinh doanh 13 ấ – 3.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền 14
3.3 V ề phía các trường Đạ ọi h c 14
3.4 V ề phía sinh viên 15
KẾT LUẬN 16
IV LIÊN HỆ BẢN THÂN 16
V TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 4I QUAN NIỆM VỀ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1 Vật chất
Phạm trù vật chất là nền tảng của chủ nghĩa duy vật Triết học Bởi vậy, để khẳng định được tính khoa học và đúng đắn của chủ nghĩa duy vật về thế giới, cần nhận thức đúng đắn phạm trù này
1.1 Quan điểm của các nhà khoa học trước Mác về v ật ch t ấ
Vật chất đề cập đến một hoặc nhiều chất và yếu tố khách quan tồn tại trong thế giới tự nhiên, tạo nên cơ sở cho sự tồn tại của mọi hiện tượng trong thế giới
Phương pháp luận chung: Để hiểu thế giới, ta cần nghiên cứu cấu trúc cơ bản của nó Với quan điểm như vậy, các nhà duy vật trước Mác đã phát triển phương pháp luận tích cực để phát triển nhận thức khoa học về thế giới Đặc biệt, họ tìm hiểu về cấu trúc khách quan của vật chất trong các hiện tượng tự nhiên, tạo nền tảng cho việc giải quyết đúng các vấn đề về tương tác tích cực giữa con người
và thế giới tự nhiên, đồng thời cho sự tồn tại và phát triển của con người Tuy nhiên, những quan điểm này vẫn chỉ là trực giác và cảm tính, chưa đồng nhất vật chất nói chung với các vật thể hữu hình và cảm tính hiện tại
1.2 Quan điểm của tri t hế ọc Mác Lê nin về ậ– v t ch t ấ
a Quan niệm của C.Mác & Ph.Ăng-ghen
Vì các điều kiện lịch sử, Karl Marx và Friedrich Engels chưa đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh
về vật chất Tuy nhiên, họ đã trình bày những quan điểm khoa học khá rõ ràng về vật chất, bao gồm các khía cạnh sau:
Phân biệt phạm trù vật chất và bản thân sự vật hiện tượng: Marx và Engels nhận thức rằng vật chất tồn tại độc lập với ý thức và có sự tồn tại khách quan Vật chất là thực tại vật lý, trong khi sự vật hiện tượng là cách mà chúng ta nhận thức và tương tác với vật chất
Vật chất không có sự tồn tại cảm tính: Họ cho rằng vật chất không có ý thức, cảm xúc hay ý chí Vật chất tồn tại độc lập với ý thức con người và không phụ thuộc vào ý thức để tồn tại Nội hàm của phạm trù vật chất: Marx và Engels nhấn mạnh rằng vật chất được tóm tắt bằng cách liệt kê các thuộc tính chung của nó, như khối lượng, hình dạng, màu sắc, v.v Những thuộc tính này có thể được cảm nhận và quan sát
Đặc tính chung của sự vật, hiện tượng: Họ nhận thức rằng vật chất có tính vật chất riêng, tồn tại độc lập và không phụ thuộc vào ý thức Tính tồn tại độc lập của vật chất nghĩa là nó tồn tại bên ngoài và độc lập với nhận thức và ý thức của con người
Trang 54
b Quan niệm của V.I.Lênin
Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, một loạt phát minh khoa học đã gây khủng hoảng cho các quan niệm duy vật siêu hình Các phát minh vật lý trong thời kỳ này đã làm xáo trộn quan điểm truyền thống về vật chất, bao gồm:
• Wilhelm Röntgen đã phát hiện ra tia X vào năm 1895
• Antoine Henri Becquerel (1852-1908) và Marie Curie (1867-1934) đã phát hiện hiện tượng phóng xạ trong chất uranium vào năm 1896
• Joseph John Thomson đã phát hiện ra điện tử vào năm 1897
• Nhà vật lý Đức, Kaufmann, đã phát hiện ra sự thay đổi khối lượng của điện tử
• Lý thuyết tương đối hẹp của Albert Einstein
Các phát minh khoa học này đã gây ra khủng hoảng trong triết học vật lý Một số nhà vật lý đã
cố gắng giải thích các hiện tượng vật lý theo quan điểm tâm linh và cho rằng vật chất là không thực
tế Trong bối cảnh đó, các triết gia chủ quan đã tận dụng cơ hội này để khẳng định sự "phi vật chất" của thế giới và vai trò của các lực lượng siêu nhiên trong quá trình tạo ra thế giới Các nhà triết học duy vật đã phải đấu tranh để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật Trong tác phẩm "Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán", V.I Lenin đã đưa ra một định nghĩa cổ điển về vật chất: "Vật chất là một khái niệm triết học dùng để chỉ sự tồn tại khách quan được cảm giác mang lại cho
con người, được cảm giác của chúng ta ghi chú, tái hiện và tồn tại độc lập với cảm giác."
Lenin phân biệt hai vấn đề quan trọng:
• Phân biệt vật chất là khái niệm triết học khác với các quan niệm trong khoa học tự nhiên về cấu trúc và các thuộc tính cụ thể của các dạng vật chất khác nhau
• Trong lĩnh vực nhận thức luận, nhận biết vật chất thông qua thuộc tính thực tại khách quan - tức là sự tồn tại khách quan và độc lập với ý thức con người Thuộc tính này là tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt cái thuộc về vật chất và cái không thuộc về vật chất
i Nội dung của định nghĩa
Vật chất là một phạm trù triết học: Với tư cách là phạm trù triết học, vật chất được định nghĩa thông qua sự đối lập với ý thức Đây là phạm trù khái quát và toàn diện nhất, không có phạm trù nào rộng hơn nó từ phương pháp luận
Vật chất là thực tại khách quan được cảm giác đtôi lại: Vật chất được sự cảm giác của con người chép lại, phản ánh, và tồn tại độc lập với cảm giác Nó không phụ thuộc vào trạng thái cảm giác của con người để tồn tại
Trang 6Thuộc tính của vật chất: Vật chất tồn tại dưới dạng các đối tượng cụ thể (vật thể), và mỗi vật thể có nhiều thuộc tính khác nhau Tuy nhiên, tất cả vật thể đều có một thuộc tính cơ bản là thực tại khách quan
Thực tại khách quan được cảm giác phản ánh: Thực tại khách quan được con người chép lại, chụp lại, và phản ánh thông qua giác quan Con người có khả năng nhận thức và nhận biết vật chất thông qua giác quan của mình
Vật chất gây ra cảm giác ở con người: Cảm giác và nhận thức của con người xuất phát từ sự phản ánh của giác quan về thế giới vật chất Tuy nhiên, không phải mọi hiện tượng vật chất đều được con người nhận biết, có những trường hợp con người nhận biết gián tiếp và cũng có những trường hợp con người không nhận thức nhưng vật chất vẫn tồn tại khách quan Nguyên tắc là không có đối tượng nào không thể nhận biết được, chỉ có những đối tượng chưa được nhận thức mà thôi
ii Ý nghĩa của định nghĩa
Định nghĩa vật chất đã vượt qua các sai lầm cơ bản của chủ nghĩa duy vật trước Mác và đã đưa
ra một khái niệm cụ thể mới, phù hợp với những tiến bộ khoa học mới
Nó là cơ sở khoa học để nhận thức về vật chất dưới dạng xã hội, bao gồm các quan hệ sản xuất
và cơ sở hạ tầng, tạo thành quan hệ vật chất Từ đây, những quan hệ tư tưởng như kiến trúc thượng tầng được hình thành điều mà các nhà duy vật trước Mác chưa thể đạt được
Định nghĩa này giúp cho các nhà khoa học có cơ sở lý luận để giải thích nguyên nhân cuối cùng của các biến cố xã hội, dựa trên sự vận động của phương thức sản xuất Trên cơ sở này, họ có thể tìm ra các phương án tối ưu để thúc đẩy sự phát triển xã hội
Nó đối đầu với mọi lập luận sai lầm của chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan, từ chối sự giải thích tinh thần là quyết định mọi sự vật hiện tượng trong thế giới xung quanh
Nó hoàn toàn phủ nhận thuyết không thể biết Đồng thời, nó khuyến khích các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu thế giới vật chất, khám phá các cấu trúc mới, thuộc tính mới và quy luật vận động
và phát triển của thế giới, từ đó làm giàu thêm kiến thức của nhân loại
2 Phạm trù ý thức
Ý thức là một khái niệm cơ bản trong triết học, tâm lý học và xã hội học Nó được sử dụng để chỉ tính tích cực ở mức độ cao nhất về tinh thần của con người, có tính chất là một thực thể xã hội Đặc trưng đáng chú ý của tính tích cực này là khả năng phản ánh hiện thực khách quan dưới dạng hình ảnh thông qua cảm giác và từ đó, ý thức định hướng hoạt động thực tiễn của con người
Trang 8Triết học chủ nghĩa Mác Lênin khẳng định rằng ý thức là một phạm trù triết học, được sử dụng
-để chỉ toàn bộ hoạt động tinh thần phản ánh thế giới vật chất diễn ra trong não người, được hình thành trong quá trình lao động và được biểu đạt thông qua ngôn ngữ
2.1 Nguồn g ốc của ý thứ c
Phê phán quan điểm sai lầm của CNDT và CNDV siêu hình, dựa vào thành tựu của khoa học
tự nhiên, triết học Mác - Lênin khẳng định ý thức xuất hiện từ 2 nguồn gốc: tự nhiên và xã hội
a Nguồn gốc tự nhiên: bộ não người và sự tác động của TGKQ tới não người
Ý thức là một khía cạnh đặc biệt của con người và xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài người Ý thức được coi là một sản phẩm của vật chất, được tạo ra bởi một dạng vật chất có tổ chức cao, đó là bộ não con người
*Bộ não của con người là một thành phần đặc biệt và phức tạp, là kết quả của quá trình tiến hoá của thế giới vật chất Ý thức của con người hoạt động dựa trên hoạt động của hệ thần kinh trong não bộ Khi bộ não hoạt động hiệu quả, ý thức của con người trở nên phong phú và sâu sắc Quá trình tiến hóa của loài người cũng đi đôi với sự phát triển năng lực nhận thức, tư duy và đời sống tinh thần Một người có bộ não bất thường không thể tạo ra ý thức
Mọi hình thức vật chất đều có thuộc tính phản ánh, tức là khả năng tái tạo các đặc điểm của một hệ thống vật chất trong quá trình tương tác Phản ánh là một thuộc tính chung có ở mọi dạng vật chất, nhưng mỗi dạng vật chất khác nhau sẽ có một dạng phản ánh đặc trưng Đối với con người, phản ánh ý thức là đặc trưng độc đáo chỉ có ở loài người
*Thế giới khách quan là đối tượng của quá trình phản ánh của ý thức, tức là thế giới vật chất bên ngoài chúng ta được phản ánh và biểu hiện thông qua ý thức
b Nguồn gốc xã hội:
Nguồn gốc xã hội được coi là nguồn gốc trực tiếp của ý thức Nếu không có xã hội, ý thức không thể tồn tại Ý thức xuất hiện cùng với quá trình hình thành tư duy con người thông qua lao động và ngôn ngữ
*Lao động là hoạt động mà con người tác động lên thiên nhiên, làm thay đổi tự nhiên để phục
vụ nhu cầu của mình Thông qua lao động, con người tương tác với thế giới khách quan, khám phá các đặc điểm, thuộc tính, cấu trúc và quy luật vận động của nó; từ đó xây dựng tri thức về thế giới xung quanh Lao động không tồn tại ở dạng cá nhân, từ đầu nó đã có tính chất tập thể Sự cần thiết của việc trao đổi thông tin yêu cầu sự xuất hiện của ngôn ngữ
300 CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM TRIẾT HỌC…Triết học
Mác Lênin 100% (1)
12
CH1018GK2019 2 Giáo trình triết học…Triết học
-Mác Lênin 100% (1)
4
đọc triếtTriết họcMác Lênin 100% (1)
6
một nửa sự thật có
là sự thật khôngTriết học
Mác Lênin 100% (1)
3
Trang 97
*Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Ngôn ngữ là khung chứa
tư duy (làm vật chất chứa đựng ý thức, và ý thức được thể hiện qua ngôn ngữ) Ngôn ngữ cho phép nhận thức các đối tượng một cách gián tiếp Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp trong xã hội,
mà còn là công cụ tư duy để khái quát hóa và trừu tượng hóa hiện thực (khái niệm) Nhờ ngôn ngữ, con người có thể tóm tắt kinh nghiệm, trao đổi thông tin và truyền đạt tri thức từ thế hệ này sang thế
hệ khác
Do đó, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất của sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, tức là thực tế xã hội Ý thức là sự phản ánh khách quan của hiện thực vào bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các tổ chức xã hội Ý thức là một sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội
2.2 B n ch t cả ấ ủa ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức, về bản chất, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Ý thức chỉ là sự phản ánh của bộ não con người đối với hiện thực khách quan
Sự phản ánh này là một quá trình năng động và sáng tạo Điều này được thể hiện qua các điểm sau:
Ý thức không phản ánh hiện thực nguyên bản mà chỉ phản ánh một cách chọn lọc Trong quá trình phản ánh, ý thức luôn có sự biến đổi và sửa đổi hiện thực Ý thức phản ánh hiện thực nhưng thường có sự vượt trước, dự báo về tương lai dựa trên các tiền đề có sẵn trong hiện thực
Với những đặc điểm trên, ý thức có một sức mạnh đáng kể và đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của con người và đời sống xã hội Ý thức con người luôn tồn tại trong các điều kiện lịch sử
cụ thể và bị quy định bởi yếu tố vật chất và tinh thần hiện tại
Trước C.Mác, các triết gia duy vật đã công nhận sự tồn tại khách quan của vật chất và ý thức
là sự phản ánh của vật chất đó Tuy nhiên, họ chưa nhìn thấy tính động, tính sáng tạo của ý thức và tính biện chứng trong quá trình phản ánh Trái lại, các triết gia duy tâm đã cường điệu tính động và sáng tạo của ý thức đến mức coi ý thức là nguồn gốc của vật chất, chứ không phải chỉ là phản ánh của
Trang 10nghiên cứu để hiểu rõ bản chất của những hiện tượng "kỳ lạ" này
Theo chiều dọc (đó là một lát cắt theo thế giới nội tâm của con người), ý thức bao gồm các yếu
tố như ý thức tự thân (self-consciousness), tiềm thức (subconscious), vô thức (unconscious) và nhiều yếu tố khác Tất cả các yếu tố này cùng với những yếu tố khác quyết định tính chất phong phú và phức tạp của thế giới tâm lý và hoạt động tinh thần của con người
Những phương pháp nghiên cứu và tiếp cận này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cấu trúc và tổ chức của ý thức, và cách các yếu tố này tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình hình thành
và phát triển của ý thức con người
II MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
Theo quan điểm duy vật biện chứng: vật chất và ý thức tồn tại trong mối quan hệ biện chứngvới nhau, tác động lẫn nhau thông qua hoạt động thực tiễn; trong mối quan hệ đó, vật chất giữ vai trò quyết định đối với ý thức
1 Vật chất quyết định ý thức
Vật chất và ý thức có một liên hệ chặt chẽ với nhau, trong đó vật chất không thể tồn tại mà không có ý thức, và ý thức không thể tồn tại độc lập với vật chất Tuy nhiên, vật chất chính là yếu tố quyết định ý thức, điều này được thể hiện qua các khía cạnh chính sau đây:
• Thứ nhất, ý thức được "sản sinh" từ vật chất vì nó là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao, như là bộ não của con người Nếu không có bộ não con người và tác động của thế giới khách quan lên bộ não, thì không thể có ý thức
• Thứ hai, vật chất xác định nội dung của ý thức, bởi vì ý thức, dưới bất kỳ hình thức nào, đều
là sự phản ánh của vật chất Nội dung phản ánh này được quyết định bởi vật chất Trong đời
Trang 112 Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Một, ý thức có thể phản ánh và thay đổi nhanh hơn hoặc chậm hơn so với sự thay đổi vật chất
do tính độc lập của nó
Hai, ý thức không có vai trò trực tiếp trong vật chất, nhưng thông qua hoạt động của con người,
nó có thể ảnh hưởng và thay đổi điều kiện vật chất, tạo ra một "thiên nhiên thứ hai"
Ba, ý thức chỉ đạo hành động của con người bằng cách xác định mục tiêu, kế hoạch và phương thức thực hiện
Bốn, trong xã hội phát triển, vai trò sáng tạo của ý thức ngày càng quan trọng, đặc biệt trong nền kinh tế tri thức Tuy nhiên, ý thức vẫn bị giới hạn bởi điều kiện vật chất và nguồn lực
Năm, ý thức có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực lên vật chất Hiệu quả và phạm vi của tác động này phụ thuộc vào tính khoa học của ý thức, nhận thức và khả năng ứng dụng vào thực tế Tác động tích cực của ý thức có thể làm thay đổi điều kiện vật chất, dự báo và hình thành lý luận định hướng cho hoạt động thực tế, đặc biệt trong môi trường kinh tế tri thức và xu hướng toàn cầu hóa Tuy nhiên, nếu ý thức phản ánh sai lệch hoặc lạc hậu, nó có thể có tác động tiêu cực và hạn chế sự phát triển của hiện thực
Lưu ý rằng ý thức chỉ có tác dụng khi được biểu hiện thông qua hành động thực tế của con người và nó không thể thay đổi hiện thực trực tiếp mà phải thông qua hoạt động của con người
3 Ý nghĩa của quan điểm duy vật mácxít về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong nhận thức
và cải tạo hiện thực
Trong việc nhận thức và hoạt động thực tế, quan điểm khách quan là điều cần thiết
• Một, trong việc nhận thức, chúng ta cần nhìn nhận sự vật theo cách nó tồn tại một cách thực