Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII tháng 6/1991 của Đảng ta đã khẳng định: “Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN NGÂN HÀNG TÀI CHÍNH
BÀI TẬP LỚN MÔN: TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI: HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI VÀ
SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG
CNXH Ở VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Văn Thuân
Sinh viên: Phạm Thị Hồng Thu
Mã sinh viên: 11226052
Lớp học phần: LLNL1105(122)_33
Hà Nội, tháng 1 năm 2023
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu……… 4
I Hình thái kinh tế xã hội Mác-Lênin………5
1 Chủ nghĩa duy vật lịch sử Học thuyết hình thái kinh tế xã hội - nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử……….5
2 Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội………….6
3 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất………… 8
4 Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng……… 12
5 Sự phát triển các hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử
tự nhiên……… …15
II Quá trình vận dụng của đảng ta trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam……….16
Kết luận……… 22
Danh mục tài liệu tham khảo……… …22
3
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm trở lại đây, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những bước phát triển mạnh mẽ cùng các thành tựu to lớn Quy mô kinh tế Việt Nam tăng gấp 12 lần, thu nhập bình quân đầu người tăng 8,3 lần, kim ngạch xuất - nhập khẩu tăng 29,5 lần, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng 22 lần… Đó là những con số ấn tượng mà nhà nước đạt được sau khi thực hiện bước ngoặt lịch sử trong cơ chế chuyển đổi nền kinh tế đất nước , mà cột mốc của nó là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế Nhà nước
Đối với nước ta, đi lên từ một nền kinh tế tiểu nông , muốn thoát khỏi nghèo nàn lạchậu và nhanh chóng đạt đến trình độ của nước phát triển thì tất yếu cần phải đổi mới Đây là một đề không mới nhưng nó đề cập đến những vấn đề cấp thiết của nước ta hiện nay , đụng chạm trực tiếp đến cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của nước ta Nó giúp chúng ta rất nhiều trong việc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991) của Đảng ta đã khẳng định:
“Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại,
cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với tính chất và trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh” Mục tiêu đó chính là
sự cụ thể hóa học thuyết Mác – Lênin về hình thái kinh thái kinh tế -xã hội
Học thuyết hình thái kinh tế -xã hội là một nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vậtlịch sử, vạch ra những quy luật cơ bản của sự vận động phát triển xã hội, là phương pháp luận khoa học để nhận thức, cải tạo xã hội Trong đó các nhà sáng lập chủ nghĩaMác đã chỉ ra những quy luật vận động chung nhất của xã hội loài người Vì vậy, đã
có nhiều nước chọn học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở lý luận để xây dựng CNXH Ngày nay, thế giới đang có những biến đổi to lớn, sâu sắc nhưng lý luận hình thái kinh tế -xã hội vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và thời đại của nó
Đề tài “Học thuyết hình thái kinh tế -xã hội và sự vận dụng của Đảng ta ở Việt Nam hiện nay” là một đề tài hay, tuy nhiên khá là phức tạp và rộng lớn Song, nó nêulên được cách đảng và nhà nước ta áp dụng học thuyết Mác– Lênin trong đường lối phát triển và đó cũng là lí do em chọn đề tài này Do trình độ còn có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Thầy để bài viết của em được hoàn thiện hơn!
This is a preview
Do you want full access? Go
Premium and unlock all 22 pages
Access to all documentsGet Unlimited DownloadsImprove your grades
Log in
Trang 4I Hình thái kinh tế xã hội Mác-Lênin
1 Chủ nghĩa duy vật lịch sử Học thuyết hình thái kinh tế xã hội - nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về xã
hội của triết học Mác- Lênin, là kết quả của sự vận dụng phương pháp luận củachủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứuđời sống xã hội và lịch sử nhân loại Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một trong baphát kiến lớn của chủ nghĩa Mác đóng góp cho nhân loại ( cùng với hai phátkiến là tìm ra được học thuyết giá trị thặng dư và phát hiện ra sứ mệnh lịch sửcủa giai cấp công nhân) Chủ nghĩa duy vật lịch sử lý giải sự tiến hóa của xã hộiloài người bằng sự phát triển của trình độ sản xuất Khi trình độ sản xuất thayđổi kéo theo quan hệ sản xuất cũng thay đổi và từ đó các mối quan hệ xã hộithích ứng với những quan hệ sản xuất đó cũng thay đổi để rồi hình thành sự thayđổi hệ thống pháp lý và chính trị Trước Mác đã có những tư tưởng triết học cógiá trị và đó là tiền đề, điều kiện để triết học Mácxit kế thừa và phát triển quanđiểm duy vật lịch sử của mình nhưng đều có một sai lầm chung là thiếu tínhthực tiễn Và từ đó, lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng triết học, chủ nghĩa duyvật lịch sử chỉ ra những quy luật, động lực phát triển thực tiễn, đúng đắn của xãhội
Học thuyết hình thái kinh tế xã hội được xem là một trong những nội dung
cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nó vạch ra những quy luật cơ bản của sựvận động phát triển xã hội và là phương pháp luận khoa học để chúng ta nhậnthức và cải tạo xã hội Mặc dù ngay nay, xã hội có sự biên đổi nhất định, sự biếnđổi chóng mặt về khoa học, hệ thống pháp lý, chính trị trên thế giới nhưng hìnhthái kinh tế xã hội vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và thời đại của nó Và đâycũng chính là cơ sở của thế giới quan, phương pháp luận khoa học chỉ đạonhững chính sách của Đảng và nhà nước xã hội chủ nghĩa trong việc xác địnhcương lĩnh, chủ trương, đường lối, chính sách xây dựng chủ nghĩa xã hội trong
đó có Việt Nam Học thuyết hình thái kinh tế xã hội đóng vai trò là cơ sở khoahọc của việc xác định con đường phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ quachế độ tư bản chủ nghĩa của Việt Nam hiện nay
Để nghiên cứu học thuyết hình thái kinh tế xã hội của Chủ nghĩa Lênin ta sẽ đi nghiên cứu bốn quan điểm cơ bản của nó:
Mác-o Sản xuất vật chất là cơ sở, nền tảng của sự tồn tại, vận động và pháttriển của xã hội
o Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
o Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
5
Trang 5o Sự phát triển các hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử- tựnhiên.
2 Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội.
Sản xuất là hoạt động có mục đích không ngừng sáng tạo ra các giá trị vậtchất và tinh thần nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của xã
hội loài người Sản xuất vật chất đóng vai trò là nhân tố quyết đinh sự sinh tồn
và phát triển của con người Để tồn tại và phát triển con người phải tiến hành
sản xuất Sản xuất là hoạt động đặc trưng của loài người mà không một loài nàokhác có được Nếu như các loài vật khác như con ong kiến xây tổ hay con onglàm mật nhưng hành động xây tổ hay làm mật đó chỉ hoàn toàn dựa trên bảnnăng của giống loài và nó khác hoàn toàn với hoạt động xây dựng của con ngườicần sự sáng tạo Quá trình sản xuất diễn ra trong xã hội loài người chính là sựsản xuất xã hội – sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực Ph Ăngghenkhẳng định: “ Theo quan điểm duy vật về lịch sử, nhân tố quyết định trong quátrình lịch sử xét đến cùng là sự sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực Cảtôi lần Mác chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế Còn nếu có ai đó xuyên tạc luận
điểm này theo ý nghĩa theo ý nghĩa nhân tố kinh tế là nhân tố quyết định duy nhất, thì người đó biến lời khẳng định này thành một câu trống rỗng, trừu tượng,
vô nghĩa”
Khi đề cập đến sự sản xuất xã hội, nghĩa là sản xuất và tái sản xuất ra đờisống hiện thực, người ta đề cập đến ba phương diện không tách dời nhau đó làsản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người Và mỗiphương diện lại có vị trí và vai trò khác nhau Trong đó sản xuất vật chất giữ vaitrò là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, và xét đến cùng nóquyết định toàn bộ sự vận động và phát triển của đời sống xã hội Bên canh đócon người còn tiến hành sản xuất tinh thần Sản xuất tinh thần là hoạt động sángtạo ra các giá trị tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của conngười và xã hội Đồng thời con người còn sản xuất ra bản thân con người Sảnxuất ra bản thân con người dưới góc độ cá nhân, gia đình là sinh con, nuôidưỡng giáo dục con cái để tiếp nối thế hệ Dưới phạm vi xã hội là sự gia tăng,tăng trưởng dân số, tạo ra một thế hệ mới đi cùng với nó là sự phát triển conngười- thực thể sinh học- xã hội Trên tất cả, sản xuất vật chất đóng vai trò quantrọng nhất, là loại hình cơ bản, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội.Một hoạt động sản xuất vật chất luôn có ba đặc trưng cơ bản:
o Sản xuất vật chất là hoạt động mang tính mục đích của conngười nhằm tạo ra những tư liệu sinh hoạt cho mình
6
Trang 6o Sản xuất vật chất gắn với việc chế tạo và sử dụng công cụ laođộng.
o Sản xuất vật chất gắn với việc biến đổi, cải tạo tự nhiên và xãhội
Sản xuất vật chất là quá trình mà con người sử dụng công cụ lao động tácđộng vào tự nhiên nhằm cải biến các dạng vật chất của tự nhiên thành sản phẩmthỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người và xã hội
Sản xuất vật chất là cơ sở cho của sự tồn tại và phát triển của loài người.Vai trò của sản xuất vật chất được thể hiện trước hết là tiền đề trực tiếp tạo ra tưliệu sinh hoạt của con người nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của con ngườinói chung cũng như từng các thể người nói riêng Nó là hoạt động nguyên thủy
và đầu tiên nhất của con người Chính vì vậy C.Mác từng nói: “Đứa trẻ nào cũngbiết rằng bất kể dân tộc nào cũng sẽ diệt vong, nếu như nó ngừng lao động,không phải một năm, mà chỉ mấy tuần thôi”
Sản xuất vật chất là tiền đề của mọi hoạt động lịch sử của con người Nó là
sơ sở hình thành nên quan hệ kinh tế- vật chất giữa người vói người, từ đó hìnhthành nên các quan hệ xã hội khác như chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo…Sản xuất vật chất tạo ra các điều kiện, phương tiện đảm bảo cho hoạt độngtinh thần của con người và duy trì phát triển phương thức sản xuất tinh thần của
xã hội C.Mác chỉ rõ: “ Việc sản xuất ra những tư liệu sản xuất sinh hoạt trựctiếp… tạo ra một cơ sở, từ đó mà người ta phát triển các thể chế nhà nước, cácquan điểm pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cả những quan điểm tôn giáo củacon người ta” Nhờ sự sản xuất ra của cải vật chất để duy trì sự tồn tại và pháttriển của mình, con người đồng thời sáng tạo ra toàn bộ đời sống vật chất và đờisống tinh thần của xã hội với tất cả sự phong phú, phức tạp của nó
Sản xuất vật chất là điều kiện chủ yếu sáng tạo ra bản thân con người Nhờhoạt động sản xuất vật chất mà con người hình thành nên ngôn ngữ, nhận thức
tư duy, tình cảm, đạo đức… Nó là điều kiện cơ bản, quyết định nhất đến sự hìnhthành, phát triển phẩm chất xã hội của con người Ph.Ăngghen khẳng định rằng:
“ lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” Như vậy nhờ có lao động sảnxuất mà con người có thể vừa hòa nhập với tự nhiên vừa tách khỏi tự nhiên, cảitạo tự nhiên, sáng tạo ra mọi giá trị vật chất tinh thần và đồng thời là sáng tạo rachính bản thân con người
Nguyên lý về vai trò sản xuất vật chất là sơ sở của sự tồn tại và phát triển
xã hội loài người có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng
This is a preview
Do you want full access? Go
Premium and unlock all 22 pages
Access to all documentsGet Unlimited DownloadsImprove your grades
Log in
Trang 7Xét đến cùng, không thể dùng tinh thần để giải thích đời sống tinh thần; đểphát triển xã hội phải bắt đầu từ phát triển đời sống kinh tế- vật chất
3 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
3.1 Phương thức sản xuất.
a Lực lượng sản xuất
Mỗi giai đoạn lịch sử của con người lại tiến hành sản xuất theo một cáchthức khác nhau hay nói cách khác là có một cách sinh sống, cách sản xuất riêngbiệt và nó được gọi là phương thức sản xuất Phương thức sản xuất có thể hiểu
là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạnlịch sử nhất định của xã hội loài người Phương thức sản xuất là sự thống nhấtgiữa lực lượng sản xuất với một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tươngứng Trong đó lực lượng sản xuất thể hiện nội dung vật chất của quá trình sảnxuất còn quan hệ sản xuất thể hiện hình thức xã hội của phương thức sản xuất.Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là các khái niệm chỉ hai mối quan hệ
“ song trùng” của nền sản xuất vật chất xã hội, đó là quan hệ giữa con người với
tự nhiên và con người với con người trong quá trình sản xuất vật chất “ Người
ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó đểhoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất được, người
ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họvới giới tự nhiên, tức là việc sản xuất”.(C Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd,t.6, tr.552)
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất
để tạo ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chấtcủa tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội Về cấu trúc, lựclượng sản xuất được xem xét trên cả hai mặt: mặt kinh tế- xã hội( người laođộng) và mặt kinh tế- kĩ thuật( tư liệu sản xuất)
Người lao động là những người có trình độ, tri thức, kỹ năng lao động,kinh nghiệm lao động và năng lực sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuấtvật chất của xã hội Người lao động là chủ thể sáng tạo nhưng đồng thời cũng làchủ thể tiêu dùng mọi của cải vật chất trong xã hội Ngày nay, với sự phát triểnkhông ngừng của xã hội, tỷ lệ lao động cơ bắp trong xã hội đang có xu hướnggiảm đi và đi kèm với nó là sự tăng lên của tỷ lệ lao động có trí tuệ và lao độngtrí tuệ
Tư liệu sản xuất là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất, bao gồm
tư liệu lao động và đối tượng lao động Trong đó đối tượng lao động là nhữngyếu tố vật chất của sản xuất mà con người sử dụng tư liệu lao động tác động lên,
8
Trang 8nhằm biến đổi chúng phù hợp với mục đích của con người Đối tượng lao độngđược chia làm hai loại: Đối tượng tự nhiên( có sẵn trong tự nhiên) và đối tượngnhân tạo( qua chế biến- nguyên liệu) Tư liệu lao động là những yếu tố vật chấtcủa sản xuất mà con người dựa vào đó để tác động lên đối tượng lao động nhằmbiến đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng yêu cầu sản xuất của conngười Tư liệu lao động gồm công cụ lao động và phương tiện lao động Phươngtiện lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất, cùng với công cụ lao động
mà con người mà con người sử dụng để tác động lên đối tượng lao động trongquá trình sản xuất vật chất Ta có thể kể đến như hệ thống bình chứa hay hệthống kết cấu hạ tầng sản xuất đều là phương tiện lao động Công cụ lao động lànhững phương tiện vật chất mà con người trực tiếp sử dụng để tác động vào đốitượng lao động nhằm biến đổi chúng tạo ra của cải vật chất phục vụ cho mình
Có thể xem công cụ lao động là yếu tố vật chất “ trung gian”, “ truyền dẫn” giữangười lao động và đối tượng lao động trong tiến hành sản xuất Công cụ laođộng giữ vai trò quyết định đến năng xuất lao động Ngày nay, trong điều kiệncuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển, dưới tác động của cuộcCách mạng khoa học kĩ thuật, công cụ lao động có xu hướng ngày càng pháttriển hiện đại, được tin học hóa, tự động hóa và trí tuệ hóa càng đóng vai trò đặcbiệt quan trọng trong quá trình sản xuất
Trong các bộ phận của tư liệu sản xuất nói riêng và lực lượng sản xuất nóichung, công cụ lao động là yếu tố động nhất hay nói cách khác là thường xuyênbiến đổi nhất xuất phát từ nhu cầu không ngừng gia tăng, phát triển của conngười và kéo theo đó là sự sáng tạo phát triển công cụ lao động để thỏa mãnnhững nhu cầu đó Đồng thời công cụ lao động cũng là yếu tố cách mạng nhất,
là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi kinh tế- xã hội trong lịch sử, là thước đocủa trình độ lao động, cái biến tự nhiên của con người và là tiêu chuẩn để phânbiệt các thời đại kinh tế với nhau Chính vì vậy, C.Mác đã khẳng định: “ Nhữngthời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗchúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào” ( C.Mác vàPh.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.23, tr.269)
Người lao động là nhân tố hàng đầu và giữ vai trò quyết định trong lựclượng sản xuất Bởi người lao động chính là chủ thể sáng tạo trong quá trình sảnxuất vật chất và chính người lao động tạo ra tư liệu sản xuất, trình độ của tư liệusản xuất được quyết định bởi trình độ của người lao động đồng thời hiệu quả của
tư liệu sản xuất do người lao động quyết định
Cùng với sự phát triển của xã hội, lực lượng sản xuất cũng không ngừngphát triển theo Sự phát triển ấy được thể hiện trên hai góc độ là tính chất vàtrình độ của lực lượng sản xuất Tính chất của lực lượng sản xuất nói lên tính
9
Trang 9chất cá nhân hoặc tính chất xã hội trong việc sử dụng tư liệu sản xuất Trong xãhội ngày nay lực lượng sản xuất có tính xã hội hóa ngày càng cao Trình độ củalực lượng sản xuất là sự phát triển của người lao động và công cụ lao động.Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện trên nhiều góc độ và khía cạnh như thểhiện ở trình độ của công cụ lao động; trình độ tổ chức lao động xã hôi; trình độứng dụng khoa học vào sản xuất; trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng của người laođộng và đặc biệt là trình độ phân công lao động xã hội.
Nghiên cứu sự phát triển của lực lượng sản xuất trong lịch sử, C.Máckhẳng định: “ Tri thức xã hội phổ biến [ Wissen, knowledge] đã chuyển hóa đếnmức độ nào thành lực lượng sản xuất trực tiếp” Ngày nay, dưới sự tác động củacuộc Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, khoa học đã trở thành lựclượng sản xuất trực tiếp Khoa học sản xuất ra của cải đặc biệt, hàng hóa đặcbiệt, trở thành nguyên nhân của mọi biến đổi trong lực lượng sản xuất Ngàynay, khoảng cách từ phát minh, sáng chế đến ứng dụng sản xuất ngày càng đượcrút ngắn, làm cho năng suất lao động không ngừng gia tăng do đó mà của cải xãhội cũng nhiều hơn Chính nó đã kịp thời giải quyết những mâu thuẫn, yêu cầusản xuất đặt ra; có khả năng phát triển “ vượt trước” và thâm nhập vào các yếu
tố, trở thành mắt khâu bên trong quá trình sản xuất Ngày nay, mọi quá trình sảnxuất đều có sự tham gia của yếu tố khoa học Sự phát triển của khoa học cònkích thích sự phát triển năng lực làm chủ của con người
Trong thời đại ngày nay, khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đangphát triển, cả người lao động và công cụ lao động đều được trí tuệ hóa và nềnkinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới đã trở thành nền kinh tế tri thức Đó lànền kinh tế mà trong đó sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức của con ngườiđóng vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế và tạo ra của cải vật chất, nângcao cuộc sống cho con người Lực lượng sản xuất phát triển trong mối quan hệbiện chứng với quan hệ sản xuất
b Quan hệ sản xuất.
Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế- vật chất giữa người vớingười trong quá trình sản xuất vật chất Đây chính là một quan hệ vật chất quantrọng nhất- quan hệ kinh tế, trong các mối quan hệ giữa người với người Quátrình sản xuất vật chất chính là tổng thể các yếu tố trong quá trình thống nhất,bao gồm sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất Quan hệ sảnxuất hay quan hệ giữa người với người thể hiện trên ba khía cạnh đó là quan hệgiữa người với người trong việc sở hữu tư liệu sản xuất; quan hệ giữa người vớingười trong việc tổ chức, quản lý sản xuất và quan hệ giữa người với ngườitrong phân phối sản phẩm
This is a preview
Do you want full access? Go
Premium and unlock all 22 pages
Access to all documentsGet Unlimited DownloadsImprove your grades
Log in
Trang 10Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn ngườitrong việc chiếm hữu, sử dụng các tư liệu sản xuất xã hội Đây là quan hệ quyđịnh địa vị kinh tế-xã hội của các tập đoàn người trong sản xuất, từ đó quy địnhquan hệ quản lý và phân phối Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệxuất phát, cơ bản, trung tâm của quan hệ sản xuất, luôn có vai trò quyết định cácquan hệ khác Bởi vì, lực lượng xã hội nào nắm phương tiện vật chất chủ yếucủa quá trình sản xuất thì sẽ quyết định việc quản lý quá trình sản xuất và phânphối sản phẩm.
Quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn ngườiviệc tổ chức sản xuất và phân công lao động Quan hệ này có vai trò quyết địnhtrực tiếp đến quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất; có khả năng đẩy nhanhhoặc kìm hãm sự phát triển của nền sản xuất xã hội Ngày nay, khoa học tổ chứcquản lý sản xuất hiện đại có tầm quan trọng đặc biệt trong nâng cao hiệu quảquá trình sản xuất
Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động là quan hệ giữa các tập đoànngười trong việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy
mô của cải vật chất mà các tập đoàn người được hưởng Quan hệ này có vai tròđặc biệt quan trọng, kích thích trực tiếp lợi ích con người, là “chất xúc tác” kinh
tế thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu sản xuất, làm năng động hoá toàn bộ đời sống kinh
tế xã hội Hoặc ngược lại, nó có thể làm trì trệ, kìm hãm quá trình sản xuất
3.2 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng, tácđộng qua lại lẫn nhau Trong đó, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối tác động ngược trở lại lực lượng sảnxuất Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất thể hiện ở ba khịa cạnh:Lực lượng sản xuất nào quan hệ sản xuất đó, khi lực lượng sản xuất thay đổi thìquan hệ sản xuất cũng thay đổi, nội dung quan hệ sản xuất do lực lượng sản xuấtquyết định Ví dụ khi lực lượng sản xuất chủ yếu là lao động thủ công với nhữngcông cụ thô sơ thì sở hữu lúc này là sở hữu nhỏ, quản lí nhỏ bé, phân tán, hìnhthức phân phối chủ yếu là theo hiện vật Khi lực lượng sản xuất dựa vào công cụhiện đại, trình độ lao động cao thì sở hữu lớn, quản lý theo phong cách hiện đại
và hình thức phân phối phong phú, đa dạng
Quan hệ sản xuất tác động lại lực lượng sản xuất theo hai chiều hướng:Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì
sẽ tạo đà phát triển cho lực lượng sản xuất, ngược lại nếu quan hệ sản xuất
11
Trang 11không phù hợp với rình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì sẽ cản trở lựclượng sản xuất phát triển.
Sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được xem xéttrên các khịa cạnh:
o Sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất
o Sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất
o Sự kết hợp đúng đắn giữa lực lượng sản xuất v i ớ quan hệ sản xuất
o Tạo điều kiện tối ưu sử dụng và kết hợp giữa lao động và tư liệu sảnxuất
o Tạo điều kiện hợp lý cho người lao động sáng tạo trong sản xuất vàhưởng thụ thành quả vật chất, tinh thần của lao động
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất làquy luật quyết định sự vận động, phát triển nội tại của bản thân phương thức sảnxuất và là quy luật phổ biến tác động tới toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại
3.3 Ý nghĩa trong đời sống xã hội của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
o Muốn phát triển kinh tế phải phát triển lực lượng sản xuất trước
o Muốn xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mớiphải xuất phát từ trình độ của lực lượng sản xuất
o Ở Việt Nam xây dựng kinh tế thị trường thành nhiều thành phần
o Ở Việt Nam xác định công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụtrọng tâm để phát triển lực lượng sản xuất
4 Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
4.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội.
a Khái niệm cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế
của một xã hội Đây là toàn bộ các quan hệ sản xuất tồn tại trên thực tế mà trongquá trình vận động của nó hợp thành một cơ cấu kinh tế hiện thực Các quan hệ sản xuất là các quan hệ cơ bản, đầu tiên, chủ yếu , quyết định mọi quan hệ xã hội khác Ví dụ trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay có 4 thành phần kinh tế là: Kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế 100% vốn nước ngoài.Bốn quan hệ sản xuất này hợp thành cơ cấu của nền kinh tế Việt Nam
Cấu trúc cơ sở hạ tầng bao gồm: quan hệ sản xuất tàn dư, quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất mầm mống Trong đó quan hệ sản xuất tàn dư là
12