1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận) đề tài học thuyết hình thái kinh tế xã hội, liên hệthực tiễn việt nam

17 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Học Thuyết Hình Thái Kinh Tế - Xã Hội, Liên Hệ Thực Tiễn Việt Nam
Tác giả Trần Hải Anh, Đào Đăng Dương, Hà Trung Hiếu, Nguyễn Đình Thắng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Hậu
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Khách Sạn Quốc Tế
Thể loại bài tập lớn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những tiền đề quan trọng của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là sự quan tâm đặc biệt đối với vai trò của sản xuất vật chất trong quá trình phát triển xã hội.. Học thuyết

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA DU LỊCH VÀ KHÁCH SẠN

-BÀI TẬP LỚN

ĐỀ TÀI: HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI, LIÊN HỆ

THỰC TIỄN VIỆT NAM

Nhóm: 5

Lớp chuyên ngành: Quản trị Khách sạn Quốc tế

Khoá: 63

Sinh viên thực hiện: Trần Hải Anh, Đào Đăng Dương, Hà Trung Hiếu, Nguyễn

Đình Thắng

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Hậu

Hà Nội, Tháng 9 2023

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

I Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội

1 Sự sản xuất xã hội

2 Tương tác với liên hệ thực tiễn ở Việt Nam

II Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

1 Lực lượng sản xuất

2 Quan hệ sản xuất

3 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

4 Tương tác liên hệ thực tiễn tại Việt Nam

III Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội

1 Khái niệm về cơ sở hạ tầng

2 Khái niệm kiến trúc thượng tầng

3 Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong xã hội

4 Liên hệ thực tiễn mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở Việt Nam

IV Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên

1 Cơ sở lý thuyết

2 Vận dụng thực tiễn tại Việt Nam

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Học thuyết hình thái Kinh tế - Xã hội là một nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy

vật lịch sử, vạch ra những quy luật cơ bản của sự vận động phát triển xã hội, là phương pháp luận khoa học để nhận thức, cải tạo xã hội Một trong những tiền đề quan trọng của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là sự quan tâm đặc biệt đối với vai trò của sản xuất vật chất trong quá trình phát triển xã hội Đây là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học chỉ đạo cho các chính đảng và nhà nước xã hội chủ nghĩa vận dụng sáng tạo trong xác định cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng chủ nghĩa xã hội; là cơ sở khoa học của việc xác định con đường phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Học thuyết hình thái Kinh tế - Xã hội của Chủ nghĩa Mác - Lênin bao gồm một hệ thống các quan điểm cơ bản: Sản xuất vật chất là cơ sở, nền tảng của sự vận động, sự phát triển của xã hội; biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; biện chứng giữa cơ

sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội; sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên Hệ thống quan điểm lý luận khoa học này đã phản ánh bản chất và quy luật vận động, phát triển của lịch sử xã hội loài người

Trong thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam những năm trước đây, bên cạnh những thành tựu to lớn của Đảng và Nhà nước, việc vận dụng Học thuyết hình thái Kinh tế - Xã hội cũng còn những sai lầm, hạn chế Những mặt trái đó là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về nhận thức Do trình độ nhận thức về học thuyết còn nhiều hạn chế, thậm chí lệch lạc ở một số vấn đề cụ thể, thiếu sáng tạo, giáo điều và chưa phản ánh đúng với hoàn cảnh lịch sử của đất nước Muốn đất nước tiến lên CNXH phải đổi mới nhận thức, phải vận dụng sáng tạo học thuyết vào trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và đặc điểm mới của thời đại

Xuất phát từ các quan điểm trên, nhóm chúng em chọn đề tài: “Học thuyết hình thái Kinh tế - Xã hội và liên hệ thực tiễn Việt Nam" Do đây là một đề tại rất phức tạp và rộng

cộng với trình độ còn hạn chế nên trong bài tiểu luận này chúng em không tránh khỏi khiếm khuyết trong việc nghiên cứu Chúng em rất mong sự góp ý của thầy để bài tập này được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

I Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội

 1 Sự sản xuất xã hội

Là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực, bao gồm ba phương diện không tách rời nhau là sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người Mỗi phương diện có vị trí, vai trò khác nhau, trong đó sản xuất vật chất giữ vai trò là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, và xét đến cùng quyết định toàn bộ sự vận động, phát triển của đời sống xã hội

Sản xuất vật chất là quá trình mà trong đó con người sử dụng công cụ lao động tác

động trực tiếp hoặc gián tiếp vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên để tạo

ra của cải xã hội, nhằm thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người

Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội loài người Vai trò của

sản xuất vật chất được thể hiện, trước hết, sản xuất vật chất là tiền đề trực tiếp tạo ra “tư liệu sinh hoạt của con người” nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của con người nói chung cũng như từng cá thể người nói riêng

Sản xuất vật chất là tiền đề của mọi hoạt động lịch sử của con người Hoạt động sản

xuất vật chất là cơ sở hình thành nên quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người, từ đó hình thành nên các quan hệ xã hội khác - quan hệ giữa người với người về chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo Sản xuất vật chất đã tạo ra các điều kiện, phương tiện bảo đảm cho hoạt động tinh thần của con người và duy trì, phát triển phương thức sản xuất tinh thần của xã hội

Sản xuất vật chất là điều kiện chủ yếu sáng tạo ra bản thân con người Nhờ hoạt động

sản xuất vật chất mà con người hình thành nên ngôn ngữ, nhận thức, tư duy, tình cảm, đạo đức…Sản xuất vật chất là điều kiện cơ bản, quyết định nhất đối với sự hình thành, phát triển phẩm chất xã hội của con người

 2 Tương tác với liên hệ thực tiễn ở Việt Nam.

Ở Việt Nam, như trong nhiều nền kinh tế phát triển, sản xuất vật chất đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển xã hội Sự tăng trưởng kinh tế thường đi kèm với việc nâng cao cơ sở sản xuất vật chất, tạo ra công việc làm cho người dân và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cần thiết cho cuộc sống hàng ngày Tuy nhiên, cách mà quá trình sản xuất và phân phối vật chất được tổ chức và quản lý cũng có thể ảnh hưởng đến các khía cạnh khác của xã hội như phân phối thu nhập, bảo vệ môi trường, và bền vững

Chính sách kinh tế của Việt Nam: Quan điểm này phản ánh vào việc Việt Nam đã tập

trung vào phát triển cơ sở sản xuất vật chất thông qua các chính sách kinh tế như Đổi Mới

Trang 5

Quá trình này đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo ra nhiều cơ hội việc làm, đặc biệt trong các ngành công nghiệp và dịch vụ

Đô thị hóa và phát triển cơ sở hạ tầng: Sản xuất vật chất đi kèm với sự đô thị hóa và

phát triển cơ sở hạ tầng Việt Nam đã chứng kiến sự gia tăng đô thị hóa nhanh chóng, với việc xây dựng các đô thị lớn và các khu công nghiệp Điều này đã đóng góp vào việc cải thiện điều kiện sống và làm việc của người dân

Thách thức về môi trường: Mặc dù tăng trưởng sản xuất vật chất có lợi ích kinh tế,

nhưng nó cũng đặt ra thách thức về môi trường Các ngành công nghiệp và sản xuất vật chất tiêu tốn năng lượng và tài nguyên tự nhiên, cũng như tạo ra ô nhiễm môi trường Việt Nam đã phải đối mặt với việc quản lý môi trường và bảo vệ sự bền vững của tài nguyên

Phân phối thu nhập: Một khía cạnh khác của sản xuất vật chất là cách thu nhập được

phân phối Trong một số trường hợp, tăng trưởng kinh tế có thể dẫn đến bất bình đẳng thu nhập, làm cho khoảng cách giàu nghèo gia tăng Việt Nam đã đặt ra các chính sách xã hội để giảm thiểu sự bất bình đẳng này và tạo ra cơ hội hơn cho tất cả các tầng lớp xã hội

Tính bền vững: Bản chất của sản xuất vật chất là tiêu tốn tài nguyên Việt Nam, giống

như các quốc gia khác, đang phải đối mặt với thách thức về sự bền vững Cần thiết phải xem xét cách sản xuất vật chất có thể được thực hiện một cách bền vững, giảm thiểu tác động tiêu cực đối với môi trường và tài nguyên tự nhiên

II Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Ở mỗi giai đoạn lịch sử con người tiến hành sản xuất theo một cách thức nhất định, tức

là có một cách sinh sống, cách sản xuất riêng của mình, đó là phương thức sản xuất Phương thức sản xuất là phương thức khai thác những của cải vật chất (tư liệu sản

xuất và tư liệu sinh hoạt) cần thiết cho hoạt động tồn tại và phát triển xã hội Phương thức sản xuất là cách thức con người tiến hành quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người Phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất với một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng

Sự thống nhất và tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất tạo thành phương thức sản xuất Trong sự thống nhất biện chứng này, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất phải thay đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Tuy nhiên, quan hệ sản xuất không phải hoàn toàn thụ động, mà có tác động trở lại lực lượng sản xuất

Quan hệ sản xuất có thể tác động đến lực lượng sản xuất vì nó quy định mục đích của sản xuất, ảnh hưởng đến lợi ích và thái độ của người lao động trong sản xuất

Trang 6

Lịch sử loài người đã trải qua các phương thức sản xuất: công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và đang quá độ lên phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội

1 Lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất được hiểu là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên được hình thành trong quá trình sản xuất Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở thể hiện ở trình độ khống chế tự nhiên của con người Đó là kết quả năng lực thực tiễn của con người tác động vào tự nhiên để tạo ra của cải vật chất nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của con người Các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, chủ yếu bao gồm hai yếu tố sau đây:

●Tư liệu sản xuất

●Lực lượng con người

Trong đó, tư liệu sản xuất đóng vai tròng là một khách thể, còn con người luôn là chủ thể

Tóm lại, lực lượng sản xuất là toàn bộ những năng lực thực tiễn được sử dụng trong quá trình sản xuất của xã hội qua các thời kỳ nhất định Về mặt cấu trúc thì lực lượng sản xuất bao gồm hệ thống những tư liệu sản xuất và sức lao động được dùng cho việc sản xuất Trong đó:

Lực lượng sản xuất tạo ra tiền đề vật chất cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Nó cũng là tiêu chí cơ bản để đánh giá sự tiến bộ xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định

Người lao động là chủ thể của quá trình lao động và sản xuất, Với sức mạnh, kỹ năng của bản thân, họ sử dụng các tư liệu lao động để tác động vào đối tượng và sản xuất ra của cải vật chất Đây chính là yếu tố có vai trò quan trọng

2 Quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất xã hội được hiểu là quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội: SẢN XUẤT - PHÂN PHỐI - TRAO ĐỔI - TIÊU DÙNG Theo đó, Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ kinh tế - xã hội và quan hệ kinh tế tổ chức Quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực đời sống vật chất xã hội, nó tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế cơ bản của một hình thái kinh

tế - xã hội Đây là một kiểu quan hệ tiêu biểu cho bản chất kinh tế - xã hội nhất định Nội dung cơ bản của quan hệ sản xuất Quan hệ sản xuất bao gồm những nội dung cơ bản dưới đây:

Trang 7

Discover more

from:

2022/2023

Document continues below

Triết học Mác

Lênin

Đại học Kinh tế…

432 documents

Go to course

Trang 8

● Quan hệ giữa người với người về tư liệu sản xuất;

● Quan hệ giữa người với người về tổ chức quản lý;

● Quan hệ giữa người với người về phân phối sản phẩm lao động

3 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất,, chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy luật phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người, quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất với tình chất và trình độ của lực lượng sản xuất Quy luật này vạch rõ tính chất phụ thuộc khác quan của quan hệ sản xuất và phát triển của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất phát triển đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất phù hợp - Lực lượng sản xuất tác động đến quan hệ sản xuất, cụ thể như sau:

● Quan hệ sản xuất được hình thành, biến đổi và phát triển đều do lực lượng sản xuất quyết định;

● Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất đã quyết định, làm thay đổi các quan hệ sản xuất sao cho phù hợp với nó Khi một phương thức sản xuất mới ra đời thì quan hệ sản xuất sẽ phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đó;

● Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định sẽ làm cho quan hệ sản xuất từ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển này Yêu cầu khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu này dẫn đến sự thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng một quan hệ sản xuất mới sao cho phù hợp với trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới thì phương thức sản xuất mới ra đời thay thế cho cái cũ

Quan hệ sản xuất tác động đến lực lượng sản xuất, cụ thể như sau:

● Sự hình thành, biến đổi, phát triển của quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất;

● Lực lượng sản xuất sẽ có quyết định quan hệ sản xuất Nhưng quan hệ sản xuất cũng

có tính độc lập tương đối và tác động ngược trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất

Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất qua sự tác động lẫn nhau, cụ thể như sau:

● Sự thống nhất và tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội hợp thành phương thức sản xuất Trong sự thống nhất biện chứng này, sự phát triển

300 CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM TRIẾT HỌC…

Triết học Mác Lênin 100% (2)

35

Tiểu luận lượng chất

Triết học Mác Lênin 100% (2)

19

Phân tích mối quan

hệ giữa vật chất và …

Triết học Mác Lênin 100% (1)

12

CH1018GK2019 2 -Giáo trình triết học…

Triết học Mác Lênin 100% (1)

4

đọc triết

Triết học Mác Lênin 100% (1)

6

một nửa sự thật có

là sự thật không

Triết học Mác Lênin 100% (1)

3

Trang 9

của lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất thường xuyên vận động, phát triển nên quan hệ sản xuất cũng luôn luôn thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất Từ mối quan

hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất làm hình hành quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất;

● Đây là quy luật kinh tế chung của mọi phương thức sản xuất, Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản của sự phát triển loài người Sự tác động của nó trong lịch sử làm cho xã hội chuyển từ hình thái kinh tế xã hội thấp lên hình thái xã hội cao hơn

4 Tương tác liên hệ thực tiễn tại Việt Nam

Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tại Việt Nam có thể được minh họa qua ví dụ về cuộc cải cách đối với ngành nông nghiệp và thực phẩm tại Việt Nam trong vài thập kỷ gần đây

Quá khứ:

Lực lượng sản xuất: Ngành nông nghiệp và thực phẩm ở Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào nguồn lao động nông thôn và nông dân Trong thời gian dài, người nông dân thường làm việc theo mô hình truyền thống, sử dụng công cụ và phương pháp sản xuất truyền thống

Quan hệ sản xuất: Trong quá khứ, quan hệ sản xuất trong ngành nông nghiệp tại Việt

Nam thường được quản lý theo mô hình tập trung và kiểm soát của nhà nước Nhà nước sở hữu đất đai và quy định cách sử dụng nó Họ cũng quản lý việc tiêu thụ và phân phối sản phẩm nông nghiệp

Mối quan hệ biện chứng:

Cải tiến công nghệ nông nghiệp: Việt Nam đã thực hiện cải tiến công nghệ trong

ngành nông nghiệp, đưa vào sử dụng các phương pháp nông nghiệp hiện đại, chẳng hạn như canh tác thông minh và sử dụng máy móc nông nghiệp Điều này tạo ra sự cải thiện trong lực lượng sản xuất, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm

Đổi mới chính sách và quản lý đất đai: Chính phủ Việt Nam đã thực hiện chính sách

tái cơ cấu đất đai và chuyển giao quyền sở hữu đất cho người nông dân Điều này đã thay đổi quan hệ sản xuất bằng cách tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người nông dân quản lý đất đai và tăng cường đầu tư vào sản xuất nông nghiệp

Tích hợp vào thị trường quốc tế: Việt Nam đã mở cửa cửa khẩu và thúc đẩy xuất khẩu

thực phẩm và nông sản sang thị trường quốc tế Điều này đã thay đổi quan hệ sản xuất bằng cách tạo ra sự cạnh tranh và yêu cầu nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó tác động đến lực lượng sản xuất

Trang 10

Sự thay đổi trong quan hệ lao động: Sự thay đổi trong lực lượng sản xuất đã tạo ra nhu

cầu cho nguồn lao động có kỹ năng cao hơn trong nông nghiệp Điều này đòi hỏi sự đào tạo và cải thiện quan hệ lao động trong ngành

Như vậy, mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất (cải tiến công nghệ, sử dụng đất đai hiệu quả hơn, tích hợp thị trường quốc tế) và quan hệ sản xuất (chính sách đất đai, quản lý, quan hệ lao động) đã tạo ra một quá trình phát triển phức tạp trong ngành nông nghiệp và thực phẩm tại Việt Nam Sự tương tác giữa các yếu tố này đã thúc đẩy sự phát triển

và cải thiện trong ngành này

Ta có thể nhìn rõ hơn nữa mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong các ngành công nghiệp, dịch vụ mới như ngành sản xuất ô tô, công nghệ thông tin, đồ điện tử, du lịch, hàng không Máy móc, nguyên vật liệu, điều kiện sống, học tập phát triển đã giúp lực lượng lao động ngày càng được nâng cao Vì đó, lực lượng sản xuất phát triển kéo theo các hình thức quan hệ sản xuất mới Điển hình trong số đó là sự ra đời các ngành nghề liên quan đến thế giới mạng, tự động hoá, AI công nghệ cao như freelancer, streamer, người làm nội dung số, Họ đã kiếm được giá trị thặng dư từ các đối tượng lao động

và công cụ lao động mới này Các lực lượng sản xuất mới này tác động lên quan hệ xác suất (Nhà nước xem xét ban hành các quy định, điều luật liên quan đến các ngành nghề kể trên)

III Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội

1 Khái niệm về cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng được hiểu là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, gồm 3 bộ phận chính là quan hệ sản xuất tàn dư, quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất mầm mống

Dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, cơ sở hạ tầng mang tính chất đối kháng tồn tại trong xã hội Tính chất này bắt nguồn từ những mâu thuẫn nội tại trong cơ

sở hạ tầng không thể điều hòa được và do bản chất của kiểu quan hệ sản xuất thống trị quy định Đó là sự biểu hiện của đối lập giữa các tập đoàn người trong xã hội về lợi ích kinh tế

Cơ sở hạ tầng được hình thành trong quá trình sản xuất vật chất và trực tiếp biến đổi theo sự tác động và phát triển của của lực lượng sản xuất Nó là tổng thể và mâu thuẫn rất phức tạp, là quan hệ vật chất tồn tại độc lập, khách quan với ý thức con người

Ngày đăng: 12/12/2023, 14:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w