Đây là học thuyết có giá trị khoa học rất lớn bởi nhờ có học thuyết này mà lần đầu tiên trong lịch sử, C.Mác đã chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển xã hội, vai trò của sản xuất, mối quan
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
***
-BÀI TẬP LỚN MÔN: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề tài: Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và sự vận dụng của Đảng ta
ở Việt Nam hiện nay
Trang 2MỤC LỤC 1
A MỞ ĐẦU 2
B NỘI DUNG 3
I Vấn đề lý luận về hình thái kinh tế -xã hội 3
1 Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội 3
2 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 5
3 Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội .10 4 Sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên 13
II Quá trình vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Đảng ta ở Việt Nam 15
1 Nội dung học thuyết đã được áp dụng 15
2 Thành tựu đạt được 16
3 Hạn chế còn tồn tại 17
4 Giải pháp 17
C KẾT LUẬN 19
Danh mục tài liệu tham khảo 20
A MỞ ĐẦU
Trang 3Con người luôn khát khao thấu hiểu thế giới để thích nghi, chuẩn bị trước một thế giới không ngừng biến đổi và phát triển Do vậy, trong lịch sử nhân loại đã
có không ít những quan điểm và lập trường khác nhau về sự phân chia và lí giải lịch sử, sự tiến hóa của của xã hội C.Mác không phải người đầu tiên giới thiệu với thế giới về công trình nghiên cứu lịch sử phát triển xã hội Tuy nhiên, cách lí giải của C.Mác trong học thuyết hình thái kinh tế - xã hội cho đến nay vẫn được xem làcách lí giải khoa học hơn tất cả
Dựa trên nhận thức đúng đắn và tri thức khoa học sâu rộng mà mình sở hữu, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã vận dụng phép biện chứng duy vật để nghiên cứu đời sống xã hội và lịch sử nhân loại, đã hình thành nên học thuyết hình thái kinh tế - xã hội Đây là học thuyết có giá trị khoa học rất lớn bởi nhờ có học thuyết này mà lần đầu tiên trong lịch sử, C.Mác đã chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển xã hội, vai trò của sản xuất, mối quan hệ biện chứng giữa các lĩnh vực trong sản xuất
và đời sống và quy luật phát triển lịch sử, tự nhiên của xã hội loài người Học thuyết đồng thời giúp ta nghiên cứu một cách đúng đắn và khoa học về tiến trình phát triển của xã hội loài người Với giá trị của mình, học thuyết hình thái kinh tế -
xã hội là cơ sở vững chắc để Đảng ta vận dụng sáng tạo vào công cuộc xây dựng đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Là một sinh viên mong muốn khám phá tri thức và có những nhận thức chính trị đúng đắn, em đã lựa chọn đề tài “Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và
sự vận dụng của Đảng ta ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu sâu về học thuyết và
có cái nhìn sâu sắc nhất về tình hình thực tiễn ở nước ta Kính mong nhận được sự góp ý của thầy giáo để giúp cho bài viết ngày càng phong phú và hoàn thiện hơn
Em xin cảm ơn!
Trang 4B NỘI DUNG
I Vấn đề lý luận về hình thái kinh tế -xã hội
1 Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội
Có một thực tế không thể chối cãi rằng con người cần sản xuất để tồn tại và phát triển Quá trình lao động sản xuất đảm bảo khả năng và đáp ứng nhu cầu tồn tại, vận động và phát triển của xã hội loài người Hoạt động sản xuất cũng là hoạt động đặc trưng riêng có của con người và xã hội loài người, là cơ sở để phân biệt giữa loài người và loài vật Thực tế, động vật có khả năng tạo ra giá trị vật chất, ví
dụ như hoạt động xây tổ ở loài chim hay loài ong, tuy nhiên những hoạt động này chỉ đơn giản dựa trên bản năng của loài vật và giá trị vật chất tạo ra cũng khác với con người Trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, C.Mác nêu ra
rằng : “Con vật chỉ xây dựng theo kích thước và nhu cầu của loài của nó, còn con người thì có thể sản xuất theo kích thước của bất kì loài nào và ở đâu cũng biết vận dụng bản chất cố hữu của mình vào đối tượng; do đó con người cũng xây dựng theo các quy luật của cái đẹp” Bởi vậy, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội
chỉ ra, đối với con người, sản xuất là hoạt động không ngừng sáng tạo ra các giá trịvật chất và tinh thần nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của mình Quá trình sản xuất diễn ra trong xã hội loài người chính là sự sản xuất xã hội
- sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực Ph Ăngghen khẳng định về vai trò nền tảng của sản xuất trong quá trình tồn tại và phát triển trong lịch sử nhân loại đồng thời, loại bỏ những quan điểm xuyên tạc về lí luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
với vai trò này : “Theo quan điểm duy vật về lịch sử, nhân tố quyết định trong quá trình lịch sử xét đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực Cả tôi lẫn Mác chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế Còn nếu có ai đó xuyên tạc luận điểm này theo ý nghĩa nhân tố kinh tế là nhân tố quyết định duy nhất, thì người đó biến lời khẳng định này thành một câu trống rỗng, trừu tượng, vô nghĩa”.
Quá trình sản xuất diễn ra trong xã hội loài người chính là sự sản xuất xã hội, hay sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực Sự sản xuất xã hội bao gồm
ba phương diện có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người Mỗi phương diện có vị trí, vai trò khác nhau Trong ba phương diện, sản xuất vật chất được xem là cơ sở, nền móng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người đồng thời xét đến cùng, nó là nhân tố quyết định đến sự sinh tồn và phát triển của toàn nhân loại Cùng với sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần cũng được con người thực hiện Hoạt động này nhằm sáng tạo các giá trị tinh thần để phục vụ, thỏa mãn cho cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội Song song với hai phương diện trên, xã hội cũng phải sản
Trang 5xuất ra bản thân con người Ở phạm vi hẹp đối với từng cá nhân, gia đình, sản xuất
ra bản thân con người được hiểu chính ra sự sinh đẻ, nuôi dưỡng thế hệ sau để duy trì nòi giống Đối với toàn xã hội, đây là sự tăng trưởng dân số, phát triển con người với tư cách là thực thể sinh học - xã hội
Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên, khai thác hoặc cải biến các dạng vật chất của tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người Từ đây, thấy được ba đặc trưng của quá trình sản xuất vật chất Đầu tiên, đây là hoạt động mangtính mục đích của con người nhằm tạo ra tư liệu sinh hoạt cho mình Thứ hai, chế tạo và sử dụng các công cụ lao động gắn liền với quá trình sản xuất vật chất của con người Điều này xuất phát từ mong muốn nâng cao năng suất lao động, sản xuất hiệu quả hơn của con người Cuối cùng, sản xuất vật chất dẫn tới biến đổi, cải tạo tự nhiên và xã hội theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Ngoài ra, cũng thấy được ba yếu tố cơ bản của sản xuất vật chất, bao gồm: sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Lẽ dĩ nhiên, mọi quá trình sản xuất đều cần có sự tham gia của con người đồng nghĩa với sức lao động là yếu tố then chốt khi sản xuất vật chất
Sản xuất vật chất giữ vai trò là cơ sở, là tiền đề trực tiếp tạo ra tư liệu sinh hoạt phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của từng cá nhân và toàn bộ xã hội loài người Trong quá trình sinh sống, con người không chấp nhận thỏa mãn với những
gì đã có trong thế giới tự nhiên và có nhu cầu ngày càng cao về vật chất vì vậy con người phải thực hiện sản xuất vật chất để tạo ra tư liệu sinh hoạt, thỏa mãn những đòi hỏi đó của mình Bằng việc trực tiếp sản xuất ra tư liệu sinh hoạt, nhân loại gián tiếp sản xuất ra đời sống vật chất của mình Như vậy, sản xuất vật chất là yếu
tố quyết định đến sự sinh tồn và phát triển của nhân loại Bởi vì rất nhiều nguyên nhân mà con người sống ở thế giới hiện đại, không thể bỏ qua hoạt động sản xuất vật chất được, dù chỉ để ứng nhu cầu cơ bản nhất là tồn tại C Mác khẳng định:
“Đứa trẻ nào cũng biết rằng bất kể dân tộc nào cũng sẽ diệt vong, nếu như nó ngừng lao động, không phải một năm, mà chỉ mấy tuần thôi”
Sản xuất vật chất đồng thời giữ vai trò là tiền đề của mọi hoạt động lịch sử của con người Xuất phát từ hoạt động này mà hình thành quan hệ kinh tế - vật chất
cơ bản giữa người với người, từ đó hình thành những mối quan hệ khác của con người trong xã hội về chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo… Bởi vậy, sản xuất vật chất chính là nền tảng làm phát sinh, phát triển mọi mối quan hệ xã hội của conngười
Cuối cùng, sản xuất vật chất là điều kiện chủ yếu sáng tạo ra bản thân con người Quá trình lao động đã tạo ra con người, tức là hình thành cho con người ngôn ngữ, nhận thức, tư duy, tình cảm, đạo đức… Lao động sản xuất đã đưa con người vừa tách khỏi tự nhiên, vừa hòa nhập với tự nhiên, cải tạo tự nhiên, sáng tạo
Trang 6ra mọi giá trị vật chất và tinh thần, đồng thời sáng tạo ra chính bản thân con người
Do vậy, Ph Ăngghen khẳng định rằng, trên một ý nghĩa cao nhất, “lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”.
Như vậy, sản xuất vật chất là nền tảng, giữ vai trò quyết định đến sự tồn tại
và phát triển của nhân loại mang ý nghĩa Suy cho cùng, không thể dùng tinh thần
để giải thích đời sống tinh thần Muốn thúc đẩy xã hội phát triển, không còn cách nào khác, cần phải ưu tiên phát triển từ đời sống sản xuất, từ nền sản xuất vật chất
Lực lượng sản xuất, hiểu đơn giản, là tất cả những yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất Chi tiết hơn, lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất tạo ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của tự nhiên theo nhu cầu của con người
Người lao động là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và năng lực sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuất của xã hội Người lao động chính là chủ thể chủ động tạo ra mọi hàng hóa của cải trong xã hội đồng thời lại chính là chủ thể tiêu dùng những vật chất ấy Đây chính là nguồn lực trọng yếu, đặc biệt nhất của sản xuất Nguồn lực này giống như một dòng chảy vô tận, là nguồn nguyên liệu vĩnh cữu cho hoạt động sản xuất Với sự đòi hỏi ngày càng cao
về nhu cầu sản xuất, con người phát minh ra những công cụ, cách thức sản xuất tối
ưu hơn Những làn sóng công nghệ mới đã khiến nhân loại không ngừng chứng kiến dịch chuyển đáng kể trong cơ cấu người lao động, từ lao động chân tay phổ thông nay chuyển sang lao động trí óc
Tư liệu sản xuất là điều kiện vật chất cơ bản và thiết yếu để tiến hành sản xuất, bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Đầu tiên, đối tượng lao động
là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dùng tư liệu lao động tác động lên, nhằm biến đổi chúng cho phù hợp với mục đích sử dụng của con người Đối tượng lao động được chia thành hai loại là đối tượng lao động tự nhiên và đối tượng lao động nhân tạo Đối tượng lao động tự nhiên có sẵn trong tự nhiên, có thể
kể đến như đất, nước, đá, cây trong rừng, Ngược lại, đối tượng lao động nhân tạo
Trang 8được con người sáng tạo ra, đã qua chế biến của con người như vải khi may áo, giấy khi làm thiệp, lốp xe khi lắp ráp ô tô,… Bộ phận thứ hai của tư liệu sản xuất -
tư liệu lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dựa vào đó để tác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu của mình Tư liệu lao động được chia ra thành công cụ lao động
và phương tiện lao động Phương tiện lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất, được con người sử dụng cùng với công cụ lao động để tác động lên đối tượnglao động trong quá trình sản xuất vật chất Công cụ lao động là những phương tiệnvật chất được con người trực tiếp sử dụng để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng, tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu của mình Nó là yếu
tố vật chất “trung gian”, “truyền dẫn” giữa người lao động và đối tượng lao động trong quá trình sản xuất Chẳng hạn như khi người nông dân đi cày thì con trâu và cái cày truyền lực tác động của người nông dân đến đối tượng lao động - mảnh ruộng, như vậy con trâu và cái cày chính là công cụ lao động của người nông dân Qua đó có thể thấy, công cụ lao động quy định trực tiếp năng suất lao động Công
cụ lao động được xây dựng từ tri thức của nhân loại, trình độ công cụ lao động vì vậy phản ánh rõ rệt trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau Bằng chứng là dưới sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những bước nhảy vọt về công nghệ, công cụlao động đã được tin học hóa, tự động hóa, trí tuệ hóa và ngày càng có vai trò đặc
biệt quan trọng với quá trình sản xuất của con người C Mác khẳng định: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”
Mối quan hệ giữa người lao động và công cụ lao động là đặc trưng chủ yếu của lực lược sản xuất Công cụ lao động là sản phẩm của sự sáng tạo của con ngườiđồng thời được chính con người sử dụng trong quá trình lao động Con người
quyết định hiệu quả sử dụng công cụ lao động trong quá trình đó Ngoài ra, khi công cụ lao động bị hao phí và di chuyển dần giá trị vào sản phẩm thì con người, dựa vào khả năng sáng tạo của mình, không chỉ có thể sáng tạo ra giá trị đủ bù đắp hao phí lao động, mà còn sáng tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bỏ ra ban đầu Như vậy, nếu công cụ lao động quy định năng suất thì con người quyết định công cụ laođộng Vậy nên trong quá trình sản xuất và phát triển, người lao động là nhân tố giữ vai trò quyết định nhất còn công cụ lao động là yếu tố cơ bản, quan trọng không thể thiếu Lực lượng sản xuất không chỉ là kết quả năng lực thực tiễn của con
người mà đồng thời còn bị quy định bởi những điều kiện khách quan mà trong đó con người sống và hoạt động do vậy nó luôn có tính khách quan Tuy nhiên, quá trình phát triển lực lượng sản xuất là kết quả của sự thống nhất biện chứng giữa khách quan và chủ quan
Sự phát triển của lực lượng sản xuất được thể hiện trên hai góc độ: tính chất
và trình độ Tính chất của lực lượng sản xuất nói lên tính chất cá nhân hoặc tính
một nửa sự thật có
là sự thật không
Triết họcMác Lênin 100% (1)
3
Trang 9chất xã hội hóa trong việc sử dụng tư liệu sản xuất Trong xã hội ngày nay, lực lượng sản xuất có tính xã hội hóa ngày càng cao Trình độ của lực lượng sản xuất là
sự phát triển của người lao động và công cụ lao động, được thể hiện trên nhiều khía cạnh và góc độ như trình độ của công cụ lao động, tổ chức lao động xã hội, ứng dụng khoa học vào sản xuất, người lao động và phân công lao động xã hội Trong thực tế, tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất không tách rờinhau
Khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Có thể thấy, khoa học đang là nguyên nhân cốt lõi cho sự thay đổi trong lực lượng sản xuất Khoa học ngày nay mang đặc điểm rút ngắn khoảng cách từ phát minh, sáng chế đến ứng dụng vào sản xuất làm cho năng suất lao động, của cải xã hội tăng nhanh Khoa học còn kịp thời giải quyết những mâu thuẫn, những yêu cầu do sản xuất đặt ra, thâm nhập vào tất cả các yếu tố của sản xuất rồi từ đó trở thành mắt khâu bên trongcủa quá trình lao động Như vậy, những tiến bộ trong các lĩnh vực khoa học chính
là yếu tố quan trọng kích thích sự phát triển năng lực làm chủ sản xuất của con người
Với sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, người lao động và công cụ lao động đều được trí tuệ hóa đồng thời nhiều nền kinh tế chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức Một nền kinh tế tri thức lí tưởng đó là nền kinh tế
mà tri thức của con người giữ vai trò trung tâm với nền kinh tế, động lực phát triển kinh tế đến từ hoạt động sản sinh, phổ cập và vận dụng tri thức Bởi lẽ đó, trong nền kinh tế này, các công nghệ tân tiến nhất sẽ được ưu tiên ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm nâng cao chất lượng sống của người dân Lực lượng sản xuất phát triển trong mối quan hệ biện chứng với quan hệ sản xuất.Quan hệ sản xuất, yếu tố thứ hai tạo nên phương thức sản xuất, là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất Trong các mối quan hệ vật chất giữa người với người, đây được coi là mối quan hệ vật chất quan trọng nhất - quan hệ kinh tế Quá trình sản xuất vật chất bao gồm nhiều yếu tố như sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người về việc sở hữu đối với tư liệu sản xuất; trong tổ chức, quản lý sản xuất; trong phân phối sản phẩm Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc chiếm hữu,
sử dụng các tư liệu sản xuất xã hội Đây được coi là quan hệ cơ bản nhất, là trung tâm của quan hệ sản xuất, quyết định đến các quan hệ khác bởi vì, lực lượng xã hộinào nắm phương tiện vật chất chủ yếu của quá trình sản xuất thì sẽ quyết định việc quản lý quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm Quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc tổ chức sản xuất và phân công lao động Cuối cùng, quan hệ về phân phối sản phẩm lao động là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy mô của cải vật chất mà các tập đoàn người được hưởng Các quan
Trang 10hệ này có mối quan hệ hữu cơ, ảnh hưởng lẫn nhau, trong đó quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò giữ vai trò trung tâm và quyết định
b) Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Trong đó lực lượngsản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động ngược trở lại lực lượng sản xuất Nếu quan hệ sản xuất tương ứng với sự phát triển của lực lượng sản xuất thì sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nếu không tương thíchthì sẽ kìm hãm Đây là quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển xã hội
* Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
Những thay đổi của lực lượng sản xuất là nguồn cội của sự vận động và pháttriển của phương thức sản xuất Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất vốn dĩ là hai mặt của phương thức sản xuất Trong đó lực lượng sản xuất là nội dung của quátrình sản xuất có tính năng động, cách mạng, thường xuyên vận động và phát triển;quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất, có tính ổn định tương đối Trong mối quan hệ biện chứng này, lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất buộc phải phù hợp, thay đổi để thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đây được coi là đòi hỏi khách quan của nền sản xuất Như đã đề cập, lực lượng sản xuất có tính năng động, thường xuyên vận động, pháttriển, điều này mâu thuẫn với tính ổn định tương đối của quan hệ sản xuất Quan hệsản xuất, bởi vậy, từ chỗ là “hình thức phù hợp” phát triển của lực lượng sản xuất lại trở thành “xiềng xích” kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Lúc này, quan hệ sản xuất cũ buộc phải bị xóa bỏ và bị thay thế bởi quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lượng sản xuất C Mác đã nêu tư tưởng về vai trò của sự phát triển
lực lượng sản xuất đối với việc thay đổi các quan hệ xã hội: “Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất Do có những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, các cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp.”
Như vậy, lượng lượng sản xuất chi phối, quyết định đến sự tàn lụi và ra đời của kiểu quan hệ sản xuất mới trong xã hội đồng thời cũng quy định luôn cả nội dung, tính chất của các quan hệ sản xuất Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của nhân loại, con người đã ý thức và hành động để giải quyết các mâu thuẫn, xây dựng những thiết lập mới phù hợp để tạo ra sự phát triển trong quá trình sản xuất
* Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ hai chiều, quan hệ sản xuất cũng sẽ tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản
Trang 11xuất Vai trò của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất được thực hiện thông qua sự phù hợp biện chứng giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Nền sản xuất đòi hỏi sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Khi quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển” của lực lượng sản xuất và “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển thì đó được coi là sự phù hợp giữa lượng lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Sự phù hợp bao gồm sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất; giữa các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất; giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất Đồng thời nó còn bao gồm cả việc tạo điều kiện tốt nhất cho việc sử dụng và kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất; cho người lao động sáng tạo trong sản xuất, hưởng thụ thành quả vật chất, tinh thần của mình
Miễn là quan hệ sản xuất có sự sai lệch với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì đều được đánh giá là không phù hợp, dù là “đi sau” hay “vượt trước”
Sự phù hợp tuy không có nghĩa là đồng nhất tuyệt đối nhưng yêu cầu đồng nhất ở mức tương đối, trong đó có thể bao gồm cả sự khác biệt Bởi vì sự phù hợp diễn ra trong sự vận động và phát triển nên đây là một quá trình thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn
Sự tác động của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất diễn ra theo hai chiều hướng Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì sẽ tạo đà cho lực lượng sản xuất phát triển Nếu quan hệ sản xuất không phù với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì sẽ cản trở lực lượng sản xuất phát triển Tuy nhiên, sự kìm hãm đó chỉ diễn ra trong những giới hạn, vớinhững điều kiện nhất định
Trạng thái vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất diễn ra là từ phù hợp đến không phù hợp, rồi đến sự phù hợp mới
ở trình độ cao hơn Con người luôn giữ vai trò chủ thể nhận thức giải quyết mâu thuẫn, thiết lập sự phù hợp đối quá trình xuất Trong xã hội có đối kháng giai cấp, mâu thuẫn lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giai cấp; được giải quyết thông qua đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là cách mạng xã hội
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật quyết định sự vận động, phát triển nội tại của bản thân phương thức sản xuất và là quy luật phổ biến tác động tới toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại
* Ý nghĩa trong đời sống xã hội
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng Đầu tiên, muốn phát triển kinh tếphải ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất trước bởi lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định trong quá trình sản xuất Thứ hai, muốn xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, xâydựng quan hệ sản xuất mới thì phải xuất phát từ trình độ của lực lượng sản xuất bởi