Bên cạnh những mặt tích cực mà những nền kinh tế tại Thanh Hóa mang lại thì cũng có những hạn chế trong đường lối chính sách của tỉnh cũng như các chế tài mà các Doanh nghiệp đưa ra còn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA MÔI TRƯỜNG, BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ĐÔ THỊ
BÀI TẬP NHÓM
Môn : Quản lý đô thị
Chủ đề: Phân tích sự phát triển các khu công nghiệp và cơ hội tìm kiếm việc
làm tại tỉnh Thanh Hóa
Sinh viên: Nguyễn Thị Thanh Thùy - 1121609
Bùi Thị Xuân Thúy -11216611 Nguyễn Hữu Toàn – 11195135 Mai Phương Thảo - 11216608 Lớp: : Quản lí đô thị - 03
GVHD : GVC.TS Bùi Thị Hoàng Lan
HÀ NỘI – 2/2023
Trang 2
Mục Lục
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Sơ bộ về tình hình phát triển kinh tế của Thanh Hoá
2 Tình hình chung về khu công nghiệp ở Thanh Hoá
3 Thực trạng việc làm ở Thanh Hoá
II.CÁC CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ CỦA TỈNH THANH HÓA
1 Quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế tại Thanh Hóa
2 Chính sách quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế tại Thanh Hóa III CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI TÌM KIẾM VIỆC LÀM TẠI TỈNH THANH HÓA
1.Cơ hội đến với người lao động muốn tìm kiếm việc làm tại Thanh Hóa
2 Thách thức
IV.CÁC CHỈ ĐẠO CỦA BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU Cùng với sự phát triển về điều kiện tự nhiên, khí hậu vị trí địa lý đã mang đến nhiều điều kiện thuận lợi cho Việt Nam phát triển mạnh về nền kinh tế Đưa nền kinh tế Việt Nam có thể sánh vai với những quốc gia được đánh giá cao về tiềm lực kinh tế hiện nay
Trong nền kinh tế đang không ngừng phát triển, hàng loạt các dự
án được đầu tư và mở rộng trên cả nước mang tới cơ hội và tiềm năng phát triển tới cho Việt Nam Trong đó phải kể đến Thanh Hóa, là tỉnh thành có đầy đủ các điều kiện tự nhiên thuận lợi Thanh Hóa có thể ví như một “Việt Nam thu nhỏ” với nhiều đặc điểm riêng biệt mà không phải địa phương nào cũng có Đó là những giá trị khác biệt, nổi trội, tạo nên lợi thế so sánh của tỉnh
Trong những năm qua, Thanh Hóa đẩy mạnh đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng không ngừng nhằm đưa vị thế của tỉnh lên cao hơn nữa Cũng
vì thế mà rất nhiều dự án được nhà nước quan tâm và triển khai cho đầu
tư tại Thanh Hóa Từ đó Thanh Hóa trở thành nơi tạo công ăn việc làm cho vô số những người lao động trong địa bàn tỉnh và cũng thu hút hàng loạt những người lao động ở bên ngoài tỉnh
Bên cạnh những mặt tích cực mà những nền kinh tế tại Thanh Hóa mang lại thì cũng có những hạn chế trong đường lối chính sách của tỉnh cũng như các chế tài mà các Doanh nghiệp đưa ra còn nhiều bất cập, hay
là những vấn đề mà ở chính những người lao động đang tìm kiếm việc làm Những vấn đề này sẽ được nhóm chúng em tìm hiểu và trình bày dưới đây với tên chủ đề : “Sự phát triển các khu công nghiệp và cơ hội tìm kiếm việc làm tại tỉnh Thanh Hóa”
Trang 4I CƠ SỞ LÝ LUẬN.
1 Sơ bộ về tình hình phát triển kinh tế của Thanh Hoá
Điểm sáng của Thanh Hóa trong năm nay là tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm đứng đầu cả nước, với tổng thu ngân sách Nhà nước 9 tháng ước đạt gần 40.000 tỷ đồng, bằng 133% dự toán, tăng 56% so với cùng kỳ và đạt cao nhất từ trước đến nay Thanh Hoá đang giữ đà tăng trưởng kinh tế
ấn tượng
Theo đó, trong 9 tháng năm 2022, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của Thanh Hóa ước đạt 14,24%, đứng thứ 6/63 tỉnh, thành trong cả nước Trong đó, nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 3,23%; công nghiệp - xây dựng tăng 18,2%; dịch vụ 11,86% Thu ngân sách Nhà nước 9 tháng đã vượt cao, ước đạt 39.325 tỷ đồng, bằng 133% dự toán, tăng 56% so với cùng kỳ và đạt cao nhất từ trước đến nay 1
2 Tình hình chung về khu công nghiệp ở Thanh Hoá
Thanh Hóa hiện nay được biết đến là nơi thu hút đầu tư hàng đầu trên
cả nước Các Khu công nghiệp – Cụm công nghiệp được quy hoạch bài bản, đồng bộ về hạ tầng, chính sách thu hút đầu tư thông thoáng đang trở thành điểm đến cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước
Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa hiện có 9 khu công nghiệp và 2 Cụm công nghiệp: Khu công nghiệp Vân Du – Thạch Thành, Khu công nghiệp Tây Bắc Ga, KCN Như Thanh, Khu công nghiệp Lễ môn, KCN Bãi Trành, KCN Hoằng Hóa, KCN Lam Sơn, KCN Hậu Lộc, KCN Hà Trung, Cụm công nghiệp Vĩnh Minh – Vĩnh Lộc, Cụm công nghiệp Nghi Sơn
Sự ra đời của các khu công nghiệp này đã góp phần tăng trưởng kinh
tế cho Việt Nam nói riêng và tỉnh Thanh Hoá nói chung Chúng thu hút nguồn vốn đầu tư không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài Và quan trọng không kém, sự xuất hiện của chúng còn góp phần giải quyết vấn đề việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân
Trang 5Những khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đều có những tiềm năng đầy hứa hẹn Giai đoạn 2021-2025, tỉnh Thanh Hóa phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân ngành công nghiệp 16,4%/năm; giai đoạn 2026-2030 đạt 12,2%/năm Thanh Hóa tập trung ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có giá trị và có năng suất cao, trong đó trọng tâm là: Sản phẩm lọc hóa dầu, khí hóa lỏng, nhựa, hóa chất, điện tử viễn thông, dược phẩm và thiết bị y tế và các ngành công nghiệp hạ nguồn khác như may mặc, dệt may, da giày, thức ăn gia súc và chế biến thực phẩm; quan tâm phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ
3 Thực trạng việc làm ở Thanh Hoá
Trước khi các khu công nghiệp ra đời, nghề nghiệp chính của đại đa
số người dân ở tỉnh là nông dân Thu nhập không ổn định cộng với công việc vất vả, dễ bị tác động bởi thiên tai nên cuộc sống của người dân nhìn chung khá thiếu thốn
Sau khi có các khu công nghiệp, thời gian nông nhàn của người dân được thay thế bằng thời gian ở trong các công xưởng, xí nghiệp Thu nhập của người dân được cải thiện, ổn định, mức sống tăng lên Đi kèm với các khu công nghiệp là các trường dạy nghề, góp phần tăng dân trí, trình độ, tay nghề lao động cho người dân Tuy nhiên, tỷ lệ lao động trong khu vực kinh tế truyền thống (nông, lâm, ngư nghiệp) vẫn rất lớn (71,83%) Trong nông nghiệp phần lớn lao động tập trung trong ngành trồng trọt Số lao động tham gia ngành chăn nuôi và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp rất ít Cơ cấu lao động này đang cản trở quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá lãnh thổ
Mặc dù sự xuất hiện của các khu công nghiệp đã phần nào giải quyết được vấn đề việc làm trong tỉnh Thanh Hoá nhưng để bao phủ toàn diện vấn đề vẫn là một điều nan giải
Trang 6II CÁC CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ CỦA TỈNH THANH HÓA
1 Quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế tại Thanh Hóa
Quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế tại Thanh Hóa do Ngành Quản lý và Phát triển Kinh tế và Dịch vụ Phát triển Nông thôn của Sở Nông thôn và Phát triển Nông thôn của Tỉnh Thanh Hóa quản lý theo Quy định của Chính phủ
Quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế tại Thanh Hóa phải tuân thủ các quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế theo quy định của pháp luật hiện hành của Nhà nước
Quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế tại Thanh Hóa cần phải tuân thủ các quy định về môi trường, an toàn công nghiệp, an toàn lao động,
an toàn vận tải đường bộ, an toàn thương mại, và các quy định khác theo quy định của pháp luật hiện hành của Nhà nước
Quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế tại Thanh Hóa cần phải đảm bảo tuân thủ các quy định về phát triển kinh tế, quản lý đất đai, công tác đầu tư, công tác quản lý nhân sự, công tác dịch vụ doanh nghiệp, và công tác quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế theo quy định của pháp luật hiện hành của Nhà nước
2 Chính sách quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế tại Thanh Hóa
Theo Bộ Công Thương, lựa chọn vị trí lập các dự án khu công nghiệp, khu kinh tế giai đoạn 2019 - 2023 là:
Khu công nghiệp, khu kinh tế Nguyễn Văn Cừ;
Khu công nghiệp, khu kinh tế Phú Thọ;
Khu công nghiệp, khu kinh tế Đông Sơn;
Khu công nghiệp, khu kinh tế Thanh Hóa Mỹ Lộc;
Khu công nghiệp, khu kinh tế Xuân Lộc
Trang 7Discover more
from:
QLĐT_22
Document continues below
Quản lý đô thị
Đại học Kinh tế…
9 documents
Go to course
Trang 8Chính sách quản lý của Bộ Công Thương về các khu công nghiệp, khu kinh tế theo Nghị định số 35/2022/NĐ-CP quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế có những nội dung chính như sau:
Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng (trong đó có hỗ trợ vốn, chủ
trương, quy định về quy hoạch đất ở vùng chủ chốt, đóng góp vào dự án);
Hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc hoạt động kinh doanh (giảm thuế, các dịch vụ hỗ trợ, tổ chức hội thi…);
Xây dựng và phát triển dịch vụ địa phương (ví dụ: cung cấp dịch vụ chứng thực giấy phép kinh doanh, hỗ trợ việc khai thác tài nguyên, tích hợp thẩm quyền…);
Quy hoạch phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế và xây dựng địa bàn có tính cạnh tranh cao;
Xây dựng và phát triển công nghệ (nhằm tăng cường năng lực sản xuất, cung cấp dịch vụ công nghệ cao)
2.1 Chính sách quản lý khu công nghiệp
Tỉnh Thanh Hóa đã phê duyệt Chính sách quản lý khu công nghiệp năm 2017 Chính sách này được áp dụng cho tất cả các khu công nghiệp trong khu vực
Mục Đích
Mục đích của chính sách này là xây dựng một khu vực công nghiệp đồng bộ có thể đáp ứng nhu cầu hiện nay và tương lai của tỉnh Thanh Hóa
và đảm bảo rằng công nghiệp sẽ được thực hiện theo những tiêu chí đảm bảo tốt nhất về môi trường, an toàn và hiệu quả kinh tế
Nội Dung
Chính sách quản lý khu công nghiệp bao gồm các khía cạnh sau:
Xây dựng và phát triển các khu công nghiệp: Chính sách này
hướng dẫn các cơ quan trong việc xây dựng và phát triển các khu
Các vụ tranh chấp giữa chính quyền v… Quản lý đô
11
Quản lý đô thị -vsfdsg
Quản lý đô
13
QLDT-all-2 - abcd Quản lý đô
16
Dự án đầu tư xây dựng một số đoạn… Quản lý đô
8
Nhóm 6 1 - Make easier
Quản lý đô
1
Tóm tắt KCN AN PHÁT 1 - KCN Quản lý đô
3
Trang 9công nghiệp trong khu vực, bao gồm cả các vấn đề về quy hoạch, thiết kế và bảo trì
Quản lý các yếu tố môi trường: Chính sách này hướng dẫn các cơ quan trong việc quản lý các yếu tố môi trường của khu vực công nghiệp, để đảm bảo rằng những yếu tố này được điều chỉnh để cung cấp một môi trường an toàn và sức khỏe
Quản lý an toàn vệ sinh: Chính sách này hướng dẫn các cơ quan trong việc quản lý an toàn vệ sinh cho các công nghiệp và các người làm việc trong khu vực
2.2 Chính sách quản lý khu kinh tế tại Thanh Hóa
Ngày 21/4/2020, Chính phủ đã phê duyệt chính sách quản lý khu kinh
tế lớn tại tỉnh Thanh Hóa Chính sách này đưa ra nhiều quy định quản lý đối với các cơ sở kinh tế, kinh doanh, dịch vụ trong khu vực
Chính sách quản lý này quy định rằng tất cả các khu kinh tế phải đảm bảo các yêu cầu về môi trường, tài nguyên sinh học, an ninh, sức khoẻ, công nghệ thông tin, hệ thống môi trường và các quy định khác của Chính phủ
Các cơ sở kinh doanh trong khu vực cần phê duyệt và thực hiện theo quy định của chính sách quản lý này
Các cơ quan, tổ chức trong khu vực phải có thêm nhiều nhiệm vụ trong việc quản lý, giám sát và kiểm tra các hoạt động kinh tế trong khu vực
III CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI TÌM KIẾM VIỆC LÀM TẠI TỈNH THANH HÓA
1.Cơ hội đến với người lao động muốn tìm kiếm việc làm tại Thanh Hóa
Hiện nay, Thanh Hóa đang đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp
hỗ trợ, từng bước hình thành và phát triển một số cụm liên kết
Trang 10Trong tháng 9 và tháng 10/2022, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trên địa bàn tỉnh đã tuyển dụng mới 4.917 lao động, nâng tổng số lao động của 35 doanh nghiệp FDI lên 171.062 lao động, giảm 36 lao động so với tháng 8/2022 Các công ty tuyển dụng nhiều lao động, gồm: Công ty giầy Rollsport Việt Nam tuyển 958 lao động, Công ty giầy Alena Việt Nam tuyển 902 lao động, Công ty TNHH Sakurai Việt Nam tuyển 813 lao động, Công ty giầy Kim Việt Việt Nam tuyển 536 lao động,
Trong 02 tháng là tháng 9 và tháng 10/2022, số lao động bỏ việc, vi phạm nô ™i quy lao đô ™ng, bị xử lý kỷ luật giảm so với tháng 8/2022, cụ thể: nghỉ việc giảm 1.806 người, bỏ việc giảm 1.838 người, bị sa thải giảm 29 người Các công ty tiếp tục duy trì tốt việc làm cho công nhân lao động,
có 28/35 công ty tổ chức làm tăng ca ở một số bộ phận, trong đó: 24 công
ty tăng ca từ 01 giờ - 1,5 giờ/ngày; 02 công ty tăng ca từ 02 giờ - 03 giờ /ngày; 02 công ty tăng 3,5 giờ/ngày
Chế độ chính sách đối với người lao động được thực hiện theo quy định 100% các công ty thực hiện chi trả chế độ tiền lương, tiền ăn ca, tiền chuyên cần, phụ cấp xăng xe và các khoản tiền phụ cấp khác cho công nhân lao động đúng kỳ; thu nhập bình quân của người lao động đạt 6,561 triệu đồng/người/tháng, giảm 464.000 đồng so với tháng 8/2022, do các công ty giảm thời gian tăng ca Tổng số công nhân lao động được đóng BHXH, BHYT, BHTN là 166.735 người, đạt tỷ lệ 97,5%; số lao động còn lại là 4.327 người, chiếm 2,5% tổng số lao động, chưa được tham gia BHXH, do mới vào công ty làm việc
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có khoảng 20.520 doanh nghiệp đang hoạt động, sử dụng khoảng 400.110 lao động, trong đó: Có 78 doanh nghiệp
có vốn nhà nước, sử dụng 13.800 lao động; 112 doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, sử dụng 200.150 lao động; 20.330 doanh nghiệp dân doanh, sử dụng 186.160 lao động Có 3.620 công đoàn cơ sở (khu vực
Trang 11hành chính sự nghiệp có 2.940 tổ chức công đoàn; khu vực sản xuất -kinh doanh có 680 tổ chức công đoàn); toàn tỉnh có tổng số 330.827 đoàn viên công đoàn Thu nhập bình quân của người lao động khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 6.558.000 đồng/người/tháng; khối doanh nghiệp vốn đầu tư trong nước 5.640.000 đồng/người/tháng Thời gian qua, các cấp, các ngành trong tỉnh đã triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, bảo đảm quyền lợi của người lao động; kết quả cụ thể như sau:
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động được triển khai sâu rộng, bằng nhiều hình thức Từ năm 2017 đến nay, có trên 88.000 lượt người lao động và lượt người sử dụng lao động được tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động; 100.000 lượt người lao động bị mất việc làm được hỗ trợ tư vấn, giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp; các cơ quan chức năng đã biên soạn, in ấn gần 180.000 tờ rơi, tài liệu, cẩm nang pháp luật lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội để cấp phát miễn phí cho người lao động, người sử dụng lao động; xây dựng 96 phóng sự, bài viết tuyên truyền về pháp luật lao động phát trên sóng của Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh
Các thiết chế hòa giải và trọng tài lao động được quan tâm xây dựng, củng cố Từ năm 2017 đến nay, Chủ tịch UBND tỉnh đã bổ nhiệm 134 hòa giải viên lao động; thành lập Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh gồm 18 thành viên Các cơ quan, đơn vị phối hợp tổ chức các hội nghị đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo địa phương với đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động nhân dịp Tháng Công nhân (tháng 5) hằng năm; hướng dẫn người lao động, người sử dụng lao động tổ chức đối thoại tại nơi làm việc, xây dựng nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể; giải quyết tranh chấp lao động, đình công, ngừng việc tập thể tại
Trang 12doanh nghiệp Hiện nay, có 459/680 doanh nghiệp (đạt 67,5%) có tổ chức công đoàn đã tổ chức hội nghị người lao động; 67,7% doanh nghiệp
có tổ chức công đoàn ký kết Thỏa ước lao động tập thể; 100% các bản Thỏa ước lao động tập thể được ký kết có 03 nội dung trở lên có lợi hơn đối với đoàn viên và người lao động so với quy định của pháp luật (như:
hỗ trợ tiền xăng xe, hỗ trợ tiền ăn trưa, hỗ trợ tiền thuê nhà trọ )
2 Thách thức
Đi cùng với sự phát triển không ngừng các KCN tại TH thì nhiều vấn đề chưa được minh bạch trong nhiều doanh nghiệp còn xảy ra nên dẫn đến một số những mâu thuẫn giữa người lao động và Doanh nghiệp
Từ năm 2017 đến nay, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã chủ trì, phối hợp tổ chức 217 cuộc thanh tra việc chấp hành quy định pháp luật lao động tại các doanh nghiệp; xử phạt vi phạm hành chính 42 doanh nghiệp vi phạm quy định về xây dựng quan hệ lao động Các vi phạm của doanh nghiệp tập trung vào một số vấn đề như: Nội dung hợp đồng lao động chưa cụ thể, chưa rõ ràng về những quyền lợi của người lao động, đặc biệt là các nội dung về tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, thời gian nâng bậc lương ; một số doanh nghiệp còn huy động người lao động làm thêm giờ quá quy định; không trả lương ngừng việc do dịch bệnh cho người lao động, lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người lao động để thỏa thuận nghỉ việc không hưởng lương; việc khám sức khỏe định kỳ cho người lao động còn hình thức, chưa căn cứ vào kết quả khám sức khỏe để sắp xếp lao động phù hợp; việc tham gia bảo hiểm xã hội đối với người lao động ở khối doanh nghiệp dân doanh chưa đầy đủ
Những vi phạm pháp luật của người sử dụng lao động và các vấn đề lợi ích chưa hài hòa, không được đối thoại định kỳ tại nơi làm việc và thương lượng tập thể để hòa giải là nguyên nhân cơ bản dẫn đến đình công, ngừng việc tập thể (năm 2017 xảy ra 11 vụ, năm 2018 xảy ra 10 vụ, năm