Đề tài gồm những nội dung chính sau: Phần I: Tổng quan lý thuyết về chính sách tỷ giá Phần II: Chính sách tỷ giá của Trung Quốc qua các giai đoạn Phần III: Chính sách tỷ giá của Trung Qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 1
ĐỀ TÀI: CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA TRUNG QUỐC VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM
Lớp: NHQT1102(222)_02 Giảng viên: Đỗ Thị Thu Thủy Nhóm 6:
1 Phan Lê Vĩnh Hà (11211945)
2 Nguyễn Thị Thu Hường (11212569)
3 Ngô Thu Huyền (11218966)
4 Đặng Phương Thảo (11218997)
Hà Nội, tháng 4 năm 2023
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Sự phát triển chóng mặt và tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian qua đã giúpTrung Quốc dần dần vượt qua các trụ cột lớn mạnh để trở thành một trong những cườngquốc kinh tế top đầu thế giới Vai trò của Trung Quốc trên thị trường quốc tế ngày càngtăng, nhất là trên lĩnh vực thương mại Thành công đó một phần là nhờ vào việc hoạchđịnh và điều hành các chính sách của chính phủ Trung Quốc, và chính sách tỷ giá cũngkhông ngoại lệ
Với chính sách tỷ giá hiện nay của mình, Trung Quốc đang dần trở thành nguồncung cấp hàng hóa cho toàn thế giới Điều này đã khiến cho các nền kinh tế khác trên thếgiới lo ngại và trở thành đề tài chính trong các cuộc thương thảo về thương mại hiện nay
Để tìm hiểu sâu hơn, đề tài của chúng em tập trung nghiên cứu về “Chính sách tỷ giá củaTrung Quốc và những tác động đến kinh tế Việt Nam”
Đề tài gồm những nội dung chính sau:
Phần I: Tổng quan lý thuyết về chính sách tỷ giá
Phần II: Chính sách tỷ giá của Trung Quốc qua các giai đoạn
Phần III: Chính sách tỷ giá của Trung Quốc hiện nay
Phần IV: Tác động của chính sách tỷ giá Trung Quốc tới kinh tế Việt Nam
Dù đã rất cố gắng song bài luận không thể tránh khỏi những sai sót, chúng em rấtmong nhận được sự góp ý của cô và các bạn để bài luận được hoàn thiện hơn Chúng emxin chân thành cảm ơn!
1
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2
PHẦN I TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ 5
1 Khái niệm 5
2 Mục tiêu của chính sách tỷ giá 5
3 Công cụ của chính sách tỷ giá 6
3.1 Nhóm công cụ trực tiếp 6
3.2 Nhóm công cụ gián tiếp 6
3.3 Các công cụ cá biệt 7
PHẦN II: CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ TRUNG QUỐC QUA CÁC GIAI ĐOẠN 7
1 Thời kỳ song hành tỷ giá hối đoái (1978-1993) 7
2 Giai đoạn thống nhất tỷ giá hối đoái (1994-2004) 9
3 Giai đoạn cải cách thị trường tỷ giá hối đoái (2005-nay) 11
PHẦN III CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA TRUNG QUỐC HIỆN NAY 12
1 Tiếp tục tiến hành cải cách hệ thống tỷ giá hối đoái (2015) 12
2 NDT mất giá, phá giá liên quan đến cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ (2019) 13
3 Trung Quốc cam kết thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng linh hoạt (2020) 14
4 Nhân dân tệ tiếp tục mất giá do FED tăng lãi suất và các hoạt động chênh lệch giá ngắn hạn đối với đồng đô la Mỹ (2022) 14
PHẦN IV: TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ TRUNG QUỐC TỚI KINH TẾ VIỆT NAM 16
1 Tác động tích cực 16
2 Tác động tiêu cực 17
3 Bài học kinh nghiệm 18
4 Giải pháp 21
5 Kiến nghị 22
KẾT LUẬN 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
This is a preview
Do you want full access? Go
Premium and unlock all 26 pages
Access to all documents Get Unlimited Downloads Improve your grades
Already Premium?
Upload
Share your documents to unlock
Upgrade
Become Premium to unlock
Log in
Trang 4PHẦN I TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ
2 Mục tiêu của chính sách tỷ giá
Vì là một bộ phận của chính sách tiền tệ nên mục tiêu của chính sách tỷ giá theonghĩa rộng cũng phải phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ
- Ổn định giá cả: Với các yếu tố khác không đổi, tỷ giá tăng làm cho giá hàng hoá
nhập khẩu tính bằng nội tệ tăng, theo đó mặt bằng giá cả chung của nền kinh tế cũngtăng, gây lạm phát Tỷ giá tăng càng mạnh và tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu càng lớn thì tỷ
lệ lạm phát càng cao Ngược lại, khi tỷ giá giảm làm cho giá hàng hoá nhập khẩu tínhbằng nội tệ giảm, tạo áp lực giảm lạm phát Muốn duy trì giá cả ổn định NHTW phải sửdụng chính sách tỷ giá ổn định và cân bằng
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm: Với các yếu tố khác không
đổi, tỷ giá tăng sẽ kích thích tăng xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, trực tiếp làm tăng thunhập quốc dân và tăng công ăn việc làm Ngược lại, tỷ giá giảm sẽ tác động làm giảmtăng trưởng kinh tế và gia tăng thất nghiệp
- Cân bằng cán cân vãng lai: Có thể nói chính sách tỷ giá tác động trực tiếp đến
cán cân vãng lai Với chính sách tỷ giá định giá thấp, nội tệ sẽ có tác dụng thúc đẩy xuấtkhẩu và hạn chế nhập khẩu, giúp cải thiện được cán cân vãng lai từ trạng thái thâm hụttrở về trạng thái cân bằng hay thặng dư Với chính sách tỷ giá định giá cao, nội tệ sẽ cótác dụng kìm hãm xuất khẩu và kích thích nhập khẩu, giúp điều chỉnh cán cân vãng lai từtrạng thái thặng dư về trạng thái cân bằng hay thâm hụt Với chính sách tỷ giá cân bằng
sẽ có tác dụng làm cân bằng xuất khẩu và nhập khẩu, giúp cán cân vãng lai tự động cânbằng
3
Trang 53 Công cụ của chính sách tỷ giá
- Hoạt động mua bán của NHTW trên thị trường ngoại hối: Là việc NHTW tiến
hành mua bán nội tệ và ngoại tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố định (trong chế độ tỷ giá cốđịnh) hay tác động làm cho tỷ giá biến động tới một mức nhất định theo mục tiêu đã đề ra(trong chế độ tỷ giá thả nổi hay thả nổi có điều tiết) Để tiến hành can thiệp, NHTW phải
có một lượng dự trữ ngoại hối nhất định
- Biện pháp kết hối: Là việc chính phủ quy định đối với các cá nhân và pháp nhân
có nguồn thu ngoại tệ phải bán một tỷ lệ nhất định, trong một thời hạn cụ thể cho các tổchức được phép kinh doanh ngoại hối Biện pháp kết hối được áp dụng trong những thời
kỳ khan hiếm ngoại tệ giao dịch trên thị trường ngoại hối
- Quy định hạn chế đối tượng được mua ngoại tệ, quy định hạn chế mục đích sửdụng ngoại tệ, quy định hạn chế số lượng mua ngoại tệ, quy định hạn chế thời điểm đượcmua ngoại tệ Tất cả các biện pháp này nhằm mục đích giảm cầu ngoại tệ, hạn chế đầu cơ
và tác động giữ cho tỷ giá ổn định
3.2 Nhóm công cụ gián tiếp
- Lãi suất tái chiết khấu: Với các yếu tố khác không đổi, khi NHTW tăng mức lãi
suất tái chiết khấu, sẽ tác dụng làm tăng mặt bằng lãi suất thị trường, hấp dẫn các luồngvốn ngoại tệ chạy vào làm cho nội tệ lên giá Khi lãi suất tái chiết khấu giảm sẽ có tácdụng ngược lại
- Thuế quan: Thuế quan cao làm hạn chế nhập khẩu, nhập khẩu giảm làm cho cầu
ngoại tệ giảm, kết quả là làm cho nội tệ lên giá Khi thuế quan thấp sẽ có tác dụng ngượclại
4
Trang 6- Hạn ngạch: Hạn ngạch có tác dụng làm hạn chế nhập khẩu, do đó tác dụng lên tỷ
giá giống như thuế quan cao Dỡ bỏ hạn ngạch có tác dụng làm tăng nhập khẩu, do đó cótác dụng lên tỷ giá giống như thuế quan thấp
- Giá cả: Thông qua hệ thống giá cả, chính phủ có thể trợ giá cho những mặt hàng
xuất khẩu chiến lược hay đang trong giai đoạn đầu sản xuất Trợ giá xuất khẩu làm chokhối lượng xuất khẩu tăng, làm tăng cung ngoại tệ, khiến cho nội tệ lên giá Chính phủcũng có thể bù giá cho một số mặt hàng nhập khẩu thiết yếu, bù giá làm tăng nhập khẩu,làm cho nội tệ giảm giá
3.3 Các công cụ cá biệt
- Điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ: Khi ngoại tệ khan hiếm trên thị
trường ngoại hối, NHTW có thể tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với vốn huy động bằngngoại tệ của các Ngân hàng thương mại (NHTM), làm cho chi phí sử dụng vốn bằngngoại tệ tăng Để kinh doanh có lãi buộc các NHTM phải hạ lãi suất huy động ngoại tệ,kết quả là việc nắm giữ ngoại tệ trở nên kém hấp dẫn hơn so với nắm giữ nội tệ, khiếncho những người sở hữu ngoại tệ phải bán đi lấy nội tệ, làm tăng cung ngoại tệ trên thịtrường ngoại hối
- Quy định lãi suất trần thấp đối với tiền gửi bằng ngoại tệ: Là các quy định về lãi
suất tiền gửi không kỳ hạn tối đa đối với ngoại tệ, tiền gửi có kỳ hạn đến 6 tháng tối đa,tiền gửi có kỳ hạn trên 6 tháng tối đa
- Quy định trạng thái ngoại tệ đối với các NHTM: Ngoài mục đích chính là phòng
ngừa rủi ro tỷ giá, còn có tác dụng hạn chế đầu cơ ngoại tệ, làm giảm áp lực lên tỷ giá khicung cầu mất cân đối
PHẦN II: CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ TRUNG QUỐC QUA CÁC GIAI ĐOẠN
1 Thời kỳ song hành tỷ giá hối đoái (1978-1993)
Chính sách tỷ giá bắt đầu thay đổi khi Trung Quốc cải cách kinh tế năm 1978 Vớichủ trương cởi mở hơn, chính phủ Trung Quốc đã không còn độc quyền về các hoạt độngngoại thương và cũng thay đổi cả chính sách tỷ giá hối đoái để phù hợp với những yêucầu của nền kinh tế
This is a preview
Do you want full access? Go
Premium and unlock all 26 pages
Access to all documentsGet Unlimited DownloadsImprove your grades
Trang 7Đầu những năm 1980, Trung Quốc thực hiện chính sách tỷ giá cố định, tỷ giáchính thức định giá NDT cao hơn so với giá trị thực và không tuân theo giá thị trường thếgiới Bên cạnh tỷ giá chính thức còn tồn tại một tỷ giá hối đoái khác được áp dụng chocác giao dịch trong nước Tình trạng tỷ giá này luôn thấp hơn so với tỷ giá chính thức đãdẫn đến những đợt hạ giá liên tục của nhà điều hành Điều này kéo theo một loạt tiêu cựcnhư: hàng xuất khẩu kém sức cạnh tranh, mất cân đối nghiêm trọng trong nền kinh tế.Ngân sách quốc gia hàng năm phải bù lỗ nhiều cho cả sản xuất và tiêu dùng Năm 1989mức bù lỗ là 76,3 tỷ NDT, tương đương với 29% thu nhập tài chính, trong khi dự trữngoại tệ quốc gia hầu như cạn kiệt và lạm phát trong nước lên cao Để đẩy mạnh xuấtkhẩu, nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, đồng thời cùng với việc thực hiện cácbiện pháp cải cách kinh tế, Trung Quốc đã liên tục tiến hành điều chỉnh tỷ giá hối đoáidanh nghĩa theo hướng giảm giá trị đồng NDT cho phù hợp với sức mua thực tế của nótrên thị trường.
Từ năm 1981-1985, Trung Quốc luôn muốn thực hiện chế độ một tỷ giá thốngnhất nhưng do nhiều nguyên nhân nên trong giai đoạn cải cách này, bên cạnh sự tồn tại tỷgiá giao dịch thương mại nội bộ, tỷ giá chính thức thường xuyên thay đổi, hầu hết là phágiá Theo thống kê, đồng NDT được điều chỉnh 23 lần trong năm 1981, 28 lần trong năm
1982 và 56 lần trong năm 1984 ở các mức độ khác nhau để tiến tới tỷ giá thực của nó.Những điều chỉnh này dẫn đến tỷ giá chính thức ngang bằng với tỷ giá nội bộ vào cuối
1984, và cuối cùng là thống nhất một tỷ giá Đến năm 1985, tỷ giá này đã được hạ xuốngngang bằng với tỷ giá nội bộ và cuối cùng cho phép thống nhất một tỷ giá
Cũng trong năm 1985, sự ra đời của thị trường ngoại hối trong khu vực đã chophép các liên doanh có thể trao đổi ngoại tệ mà họ thu được thông qua xuất khẩu Năm
1988, một hệ thống thu ngoại tệ chính thức được thành lập Khi đó, các chính quyền địaphương cùng doanh nghiệp nhà nước cũng có thể tham gia vào thị trường ngoại hối.Chính sách tỷ giá trong thời kỳ này đã giúp Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu, giảm thâmhụt cán cân thương mại, cán cân thanh toán và đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảngkinh tế Nếu như năm 1978 tổng kinh ngạch xuất nhập khẩu chỉ đạt 20,64 tỷ USD bằng9,8% GDP, đứng thứ 27 trên thế giới về buôn bán đối ngoại và cán cân thương mại là -
6
Trang 815.002 triệu USD thì đến năm 1990, cán cân thương mại là 8.646 triệu USD Sau nhữngđiều chỉnh thử nghiệm thành công ban đầu, chính phủ Trung Quốc tiếp tục điều chỉnhchính sách tỷ giá theo hướng đã vạch ra
Giai đoạn 1991-1993, Trung Quốc đã áp dụng tỷ giá thả nổi và liên tục phá giá nội
tệ nhằm phản ánh sát hơn những biến đổi của thị trường và sức mua thực tế của đồngNDT Từ sau các đợt phá giá, tỷ giá danh nghĩa giữa đồng NDT và USD được duy trì ổnđịnh ở mức 5,2-5,8 NDT đổi một USD Tuy nhiên, mức điều chỉnh này được dựa vàomức giá giữa Trung Quốc và Mỹ đã làm cho lạm phát cao ở Trung Quốc, tác động xấutới mục tiêu tăng trưởng và thúc đẩy xuất khẩu của nền kinh tế Như từ mức thặng dưthương mại là 9.165 triệu USD với tốc độ lạm phát 3,06% năm 1990 thì đến năm 1993,cán cân thương mại bị thâm hụt –10.654 triệu USD và tốc độ lạm phát là 14,58% Có thểnói đây là những bước đầu tiên của quá trình chuyển đổi tỷ giá hối đoái và chính sách tỷgiá ở Trung Quốc, là giai đoạn để cho tỷ giá ấn định trước đây được thả nổi theo sát vớinhững diễn biến của thị trường
2 Giai đoạn thống nhất tỷ giá hối đoái (1994-2004)
Nhận thấy nguy cơ đồng NDT có khả năng trở lại tình trạng bị đánh giá cao so vớisức mua thực tế, chính phủ Trung Quốc đã quyết định chuyển hướng điều chỉnh chínhsách tỷ giá hối đoái Ngày 1/1/1994, NHTW Trung Quốc công bố thống nhất tỷ giá chínhthức và tỷ giá trao đổi thực tế trên thị trường của đồng NDT Tỷ giá này được thiết lập ởmức 8,7 NDT/USD và nằm dưới chế độ thả nổi có kiểm soát của nhà nước Từ 5,8 NDTxuống 8,7 NDT đổi một USD, đây được coi là một trong những lần phá giá mạnh nhấtvới tỷ lệ lên tới 50% Sau đó, tỷ giá tăng ở mức chậm nhưng đều đặn lên 8,3 NDT/USDvào năm 1997 Sau khủng hoảng tài chính châu Á, Chính phủ Trung Quốc đã cố định tỷgiá ở mức 8,27 NDT/USD Theo các chuyên gia hàng đầu về kinh tế thì với tỷ giá nàyđồng NDT đã bị đánh giá thấp khoảng 30% so với các đồng tiền khác, theo Mỹ là 40% vàtheo EU là 20% Nhiều người cho rằng Chính phủ Trung Quốc còn có một chủ ý khác, đó
là thúc đẩy mạnh xuất khẩu và tạo thặng dư thương mại
Tuy chưa phải là đồng tiền có thể chuyển đổi hoàn toàn, nhưng đồng NDT đangngày càng được sử dụng nhiều ở bên ngoài biên giới Trung Quốc, điều này chứng tỏ
7
Trang 9niềm tin của quốc tế vào kinh tế Trung Quốc Và đồng NDT được dự đoán là sẽ đóng vaitrò khu vực lớn hơn đồng Euro, có thể trở thành đồng tiền dự trữ thay thế các đồng tiềnquốc tế khác ở Châu Á
Bên cạnh những thành tựu đạt được một phần là nhờ vào chính sách tỷ giá thì vẫncòn những hạn chế Theo cảnh báo của các nhà nghiên cứu kinh tế, việc điều chỉnh giá trịcủa đồng nhân tệ có thể làm cho kinh tế Trung Quốc "mất ổn định" do
khuyến khích các luồng vốn đầu tư, làm tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế vào yếu tố bênngoài, nhất là khi hiện nay có tới 50% hàng xuất khẩu là của doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài Đây chính là sự mâu thuẫn mà việc lựa chọn chính sách tỷ giá phải đối mặt.Khi đồng NDT giảm giá, nó còn làm cho các khoản vay bằng ngoại tệ của Trung Quốc vàrủi ro của đầu tư trong tương lai tăng lên Để giảm bớt tác động của sự thay đổi trongchính sách tỷ giá lên thị trường tiền tệ, vào thời kỳ này chính phủ Trung Quốc đã banhành một loạt những biện pháp hỗ trợ và quản lý ngoại hối kết hợp với kiểm soát chặt chẽcủa NHTW Trung Quốc Bên cạnh đó, Trung Quốc đã có những điều chỉnh quản lý ngoạihối lỏng hơn Kết quả của điều chỉnh và phá giá mạnh đồng NDT trong thời kỳ này củaTrung Quốc đã giúp nước này không chỉ thu được những lợi ích trong ngắn hạn, nhanhchóng đẩy mạnh xuất khẩu, chiếm lĩnh nhiều thị phần quan trọng trên thị trường quốc tế,
mà còn tạo cơ sở để Trung Quốc duy trì chính sách tỷ giá ổn định trong một thời gian dài,giảm thiểu những rủi ro hối đoái và tạo môi trường hấp dẫn thu hút mạnh các nguồn đầu
tư nước ngoài
Do you want full access? Go
Premium and unlock all 26 pages
Access to all documentsGet Unlimited DownloadsImprove your grades
Trang 10Trong 8 năm tiếp theo (đến tháng 7/2005), tỷ giá này vẫn được duy trì nhằm tạo ramôi trường ổn định cho ngoại thương và đầu tư vào Trung Quốc
3 Giai đoạn cải cách thị trường tỷ giá hối đoái (2005-nay)
Ngày 21/7/2005, Trung Quốc lại đưa vào một chính sách tiền tệ mới, chấm dứtviệc áp dụng một tỷ giá hối đoái danh nghĩa không thay đổi trong suốt gần 10 năm Theo
đó, sự chuyển đổi sang cơ chế tỷ giá mới này đã đem lại ba thay đổi quan trọng Thứnhất, giá trị đồng NDT sẽ được tham chiếu với một rổ gồm nhiều đồng tiền khác theo quyluật cung cầu của thị trường Thứ hai, tỷ giá trao đổi chính thức xuống 8,11 NDT/USDvới biên độ dao động hàng ngày là 0,3% Thứ ba, cơ chế tỷ giá cố định được thay thếbằng cơ chế tỷ giá thả nổi có kiểm soát
Tháng 5/2007, NHTW Trung Quốc đã điều chỉnh biên độ dao động hàng ngày củaNDT lên 0,5% Những đổi mới này đã làm tăng tính linh hoạt cho tỷ giá Vào cuối năm
2008, 1 USD chỉ còn đổi được 6,83 NDT
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã gây nên một cơn chấn độngtrên toàn thế giới Trong tình hình đó, các nhà cầm quyền Trung Quốc đã giới hạn phạm
vi dao động của NDT và giữ ở khoảng 6,84 NDT/USD trong vòng 2 năm, đồng thời quaytrở lại định giá NDT theo USD Cho đến ngày 19/6/2010, NHTW Trung Quốc mới khởiđộng lại các cuộc cải cách nhằm vào tỷ giá đồng NDT Theo đó, tỷ giá hối đoái của NDT
so với USD tiếp tục tăng Ngày 16/4/2012, biên độ dao động của NDT so với USD đượcnới rộng lên 1% mỗi ngày
Tuy nhiên, vấn đề đang gây tranh cãi là trong thời gian qua là Trung Quốc luônduy trì chính sách tỷ giá ấn định ở mức thấp nhằm làm tăng cầu hàng hóa của các quốcgia khác và chiếm được ưu thế trong hoạt động xuất khẩu Do thị phần Trung Quốc có tỷtrọng lớn trong thương mại thế giới, việc đồng NDT bị định giá thấp hơn giá trị thực tế đãdẫn đến mất cân bằng trong cán cân thương mại trên toàn cầu NHTW Trung Quốc giảithích rằng họ phá giá đồng NDT để phản ánh sát hơn diễn biến trên thị trường, đồng thờikhẳng định sẽ không hạ giá liên tục Cơ quan này cho biết "Dựa vào tình hình trong nước
và quốc tế, rõ ràng không có cơ sở nào để nhận định rằng giá trị đồng NDT sẽ tiếp tục đixuống" Tuy nhiên, các nhà phân tích xem động thái này là một cách để Trung Quốc cùng
9
Trang 11một lúc có thể đẩy mạnh xuất khẩu, khi hàng hóa của họ rẻ hơn nước khác Đồng thời, họmuốn nâng cao quyền lực cho đồng NDT, giúp dễ dàng thực hiện các mục tiêu ngoại giao
và củng cố vai trò trung tâm của mình trong nền kinh tế toàn cầu
PHẦN III CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA TRUNG QUỐC HIỆN NAY
1 Tiếp tục tiến hành cải cách hệ thống tỷ giá hối đoái (2015)
Ngày 11/8/2015, NHTW Trung Quốc giảm tỷ giá hối đoái tới 1,9% Đây là đợtgiảm sâu nhất trong 20 năm trở lại đây, ở mức 6,2298 NDT/USD, giảm 1,86% so mức6,1162 NDT/USD của ngày 10/8/2015 Tiếp đó, ngày 12/8, NDT tiếp tục mất giá 1,6%khiến giá trị đồng tiền này rơi xuống mức thấp nhất trong 4 năm qua Ngày 13/8, đồngNDT ngày thứ ba liên tiếp mất giá mạnh, với mức 6,4010 NDT/USD Sang ngày 14/8,sau ba ngày liên tiếp giảm, NHTW Trung Quốc đã điều chỉnh tăng tỷ giá đồng NDT sovới đồng USD lên 0,05%, lên 6,3975 NDT/USD
NHTW Trung Quốc cho biết, việc điều chỉnh tỷ giá đồng NDT không xuất phát từnhững áp lực kinh tế mà do lợi thế về thặng dư tài khoản tiền gửi và nguồn dự trữ ngoạihối khổng lồ, điều này cho phép can thiệp sâu hơn vào việc xác định tỷ giá hối đoái Mặtkhác, tỷ giá của đồng NDT giảm mạnh là do cách tính toán mới dựa trên giá chốt phiênngày hôm trước, yếu tố cung cầu cũng như biến động tỷ giá đồng tiền của các nền kinh tếlớn khác Đây là một phần của những cải cách cơ chế tỷ giá nhằm cho phép thị trường cóvai trò lớn hơn Tuy nhiên, các nhà phân tích xem động thái này là một cách để TrungQuốc cùng một lúc có thể đẩy mạnh xuất khẩu, khi hàng hóa của nước này rẻ hơn nướckhác Đồng thời, Trung Quốc cũng muốn nâng cao quyền lực cho đồng NDT, giúp dễdàng thực hiện các mục tiêu ngoại giao và củng cố vai trò trung tâm của mình trong nềnkinh tế toàn cầu
Ngoài ra, thị trường chứng khoán Trung Quốc cũng trên đà suy thoái kể từ tháng6/2015 Điều này buộc Trung Quốc phải áp dụng các biện pháp mạnh tay Mặt khác,đồng NDT hiện có giá trị quá cao đã và đang tác động tiêu cực tới ngành xuất khẩu khiđẩy giá hàng hóa của Trung Quốc ở thị trường nước ngoài lên cao
10
Trang 12Vào thời điểm đó, Trung Quốc đã và đang nỗ lực để đưa đồng NDT vào rổ tiền tệSDR do IMF quản lý IMF sẽ xem xét rổ SDR 5 năm một lần và biểu quyết về việc quyếtđịnh đưa NDT vào rổ này vào cuối năm Nếu không thành công vào năm 2015, TrungQuốc sẽ phải chờ thêm 5 năm nữa Một trong những tiêu chí để được đưa vào rổ SDR làđồng tiền “có thể sử dụng tự do”, và các quan chức IMF đã kêu gọi Trung Quốc để đồngNDT được điều chỉnh bởi các lực lượng của thị trường Động thái của Trung Quốc có thểcoi là một bước quan trọng tiến tới cho phép đồng NDT tự do giao dịch, và tăng khả năngđồng tiền này sẽ được đưa vào rổ SDR.
2 NDT mất giá, phá giá liên quan đến cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ (2019)
Trước sức ép gia tăng của cuộc chiến thương mại với Mỹ, Trung Quốc đã có độngthái phá giá đồng NDT khiến tỷ giá đồng tiền này so với USD đã rơi xuống mức thấpnhất trong 10 năm qua NHTW Trung Quốc vào ngày 08/08/2019 đã ấn định tỷ giá thamchiếu chính thức cho đồng NDT ở mức 7,0039/đô la Mỹ Đây là lần đầu tiên kể từ năm
2008, Trung Quốc ấn định tỉ giá dưới ngưỡng 7% so với đồng đô la Mỹ Mức 7 NDT đổimột USD cũng được coi là mức giới hạn tâm lý của thị trường, nghĩa là sau vượt qua mứcnày đồng NDT được dự báo có thể được điều chỉnh giảm giá nhiều hơn nữa
Có thể thấy, việc điều chỉnh tỷ giá so với đồng đô la Mỹ một lần nữa cho thấyTrung Quốc đang sử dụng đồng nội tệ làm vũ khí thương mại chống lại các biện pháptrừng phạt của Washington Hạ giá đồng NDT được coi là một trong những “vũ khí”quan trọng của Trung Quốc để giảm thiểu tác động tiêu cực do các biện pháp thuế quancủa Mỹ gây ra đối với hàng hóa Trung Quốc Trước đó, phía Mỹ đã quyết định đánhthêm 10% thuế lên 300 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc Toàn bộ hàng hóa Trung Quốcxuất khẩu qua Mỹ đều phải chịu mức thuế 10% - 25%
Phá giá đồng bản tệ luôn được coi là biện pháp chính sách đặc biệt trong kinh tếđối ngoại Chính sách này được coi là con dao hai lưỡi vì sẽ rất đắc dụng nếu được sửdụng đúng lúc và đúng mức, nhưng nếu quá mức về thời gian và mức độ thì lại phản tácdụng hay lợi bất cập hại vì giúp giải quyết được vấn đề này sẽ gây ra vấn đề tai hại khác.Đồng tiền yếu giúp thúc đẩy xuất khẩu thông qua tăng khả năng cạnh tranh quốc tế củahàng hoá Nó phục vụ đắc lực cho mô hình cơ cấu kinh tế cũng như tăng trưởng kinh tế
This is a preview
Do you want full access? Go
Premium and unlock all 26 pages
Access to all documentsGet Unlimited DownloadsImprove your grades
Trang 13định hướng vào xuất khẩu Nhưng đồng tiền yếu tiềm ẩn nguy cơ dòng vốn đầu tư chảy
ra nước ngoài và nguy cơ lạm phát Bởi thế, phá giá đồng bản tệ không thể là biện phápchính sách công hiệu lâu dài và biện pháp chính sách này chỉ có thể đắc dụng khi được ápdụng vào đúng thời điểm, với đúng mức độ và trong khoảng thời gian thích hợp nhấtđịnh Việc Trung Quốc phá giá đồng NDT tuy là biện pháp chính sách “đòn hiểm” củaTrung Quốc đáp trả Mỹ nhưng cũng lại rất bất đắc dĩ đối với chính nước này TrungQuốc không thể cứ tiếp tục phá giá đồng tiền mãi được và duy trì đồng tiền yếu trong thờigian dài
3 Trung Quốc cam kết thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng linh hoạt (2020)
Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc cam kết thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng
và linh hoạt để thích ứng tốt hơn với nhu cầu phát triển chất lượng cao và tập trung vàohiệu quả của các dịch vụ tài chính để hỗ trợ nền kinh tế
Trong báo cáo chính sách tiền tệ quý III/2020, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốckhẳng định sẽ nỗ lực hơn nữa nhằm cải thiện cơ chế điều tiết lượng tiền cung ứng để duytrì thanh khoản hợp lý và đầy đủ, đồng thời nhấn mạnh nỗ lực tạo điều kiện cho các công
cụ chính sách đóng vai trò hiệu quả hơn trong việc ổn định doanh nghiệp và việc làm.Ngoài ra, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc cũng cam kết nỗ lực đổi mới các công cụchính sách và cải cách sâu hơn về lãi suất và tỷ giá hối đoái Ngân hàng này nhấn mạnhlĩnh vực bất động sản sẽ không được sử dụng như một giải pháp để kích thích trong ngắnhạn, đồng thời cam kết duy trì tính liên tục, nhất quán và ổn định của các chính sách tàichính bất động sản Đồng thời, lưu ý rằng, trong khi các nguyên tắc cơ bản cho sự pháttriển ổn định và chất lượng cao của Trung Quốc vẫn không thay đổi trong trung và dàihạn, những diễn biến phức tạp trong môi trường quốc tế đã làm gia tăng tình trạng thiếuchắc chắn
Tổng hợp trong ba quý đầu năm 2020, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng 0,7% vàđược dự báo sẽ nằm trong số ít các quốc gia trên thế giới tăng trưởng dương trong cảnăm, sau ảnh hưởng của đại dịch COVID-19
12