Mạc dù Chính phủ ưu tiên chăm sóc SKSS, SKTD của vị thànhniên và thanh niên, các thống kê y tể hàng năm vẫn chưa cập nhật được dữ liệu về các cơ sở y tế hiện đang cung cấp thông tin vê S
Trang 1Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ THẢOTRUYỀN THÔNG - GIÁO DỤC sức KHỎE
TÊN ĐÈ TÀI THỨC ĐẢY Sự CHỦ ĐỘNG CỦA THANH NIÊN TRONG TÌM KIÉM THÔNG TIN VÀ TIẾP CẬN DỊCH vụ AN TOÀN VÈ SỨC KHỎE SINH SẢN, sức
KHỎE TÌNH DỤC TẠI HÀ NỘI, 2016
Chữ ký
Hà Nội, 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Y tế Công cộng đã tạo cơ hội
và điều kiện cho tôi cho thực hiện học phần tốt nghiệp năm 2015 Xin chân thànhcảm ơn Thạc sỹ Nguyễn Thái Quỳnh Chi, giảng viên khoa Khoa học hành vi, xã hội
và giáo dục sức khỏe, Trường Đại học Y tế Công cộng đã tận tình giúp đỡ, hướngdẫn và chỉ bao tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề cương dự án can thiệpnày Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn gia đình và bạn bè đã hỗ trợ, chia sẻ và động viêntôi trong quá trình hoàn thiện học phần này
ngày 15 tháng 5 năm 20ì 5
Trang 3sức khỏe sình sản, sức khỏe tình dục cho vị thành niên tại Hà Nội, năm 201ố”
o Cơ quan chủ quản: ƯBND quận Hai Bà Trung, thành phố Hà Nội
■ Địa chỉ: 30 Lê Đại Hành, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
■ Số điện thoại; 043 9780 364
o TỔ chức tài trợ: Plan Parenthood, CCIHP
o Cơ quan chủ trì dự án: Trường Đại học Y tế Công cộng
■ Địa chỉ: 138 Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội
■ Số điện thoại: 046 266 2299
o Thời gian: Bắt đàu từ 1/1/2016 đến 31/12/2016
0 Địa điểm thực hiện dự án: quận Hai Bà Trưng
o Tổng dự trù kinh phí dự án: 943,580,000 VNĐ
Trang 4CCIHP Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số
Hợp Quốc
Trang 5I Thông tin dự án ii
DANH MỤC VIẾT TẮT iii
II Nội dung dự án 1
1 Bối cảnh và sự cần thiết của dự án 2
1.1 Ý tưởng dân đến dự án Ị 2
1.2 Mõ tả ngắn gọn vị trí địa lý, tình hình kinh té-xã hội - y tế 4
1.3 Vấn đề sức khoẻ cần được ưu tiênlựa chọn đê xây dựng dự án: 6
2 Phân tích các bên liên quan 18
3 Mục tiêu dự án 19
3 ỉ Mục tiêu chung19 3.2. Mục tiêu cụ thể 3 19
4 Phương pháp triển khai dự án 19
4.2. Đổi tượng 22
4.3. Địa điểm can thiệp 22
4.4. Thiết kế 22
4.5. Cỡ mẫu 24
4.6. Phương pháp chọn mâu 24
4.7. Cách tiếp cận đối tượng 25
4.8. Nội dung can thiệp 26
5 Các kết quả mong đợi và đàu ra của dự án 30
III Phương án tổ chức, thực hiện dự án 35
IV Các nguồn lực cần thiết của dự án 36
Trang 62 Hiệu quả kinh tế 37
3 Hiệu quả xã hội 37
4 Tính bền vững của dự án 37
PHỤ LỤC 39
Trang 7II Nội dung dự án
Một số định nghĩa liên quan
Sức khỏe sinh sản
Theo Tổ chức Y tế thế giới, sức khỏe sinh sản là trạng thái thoải mái về thể chất,tinh thần và xã hội của tất cả nhừng gì liên quan tới bộ máy sinh sản chứ không phải làkhông có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó [6]
Như vậy sức khỏe sinh sản bao hàm ý nghĩa là mọi người đều có thể có một cuộcsống tình dục được thỏa mãn, có trách nhiệm và an toàn đồng thời họ phải có khả năngsinh sản và sự tự do lựa chọn việc có sinh con hay không, thời diêm sinh con và sốcon Định nghĩa này cũng bao hàm cả quyền của phụ nữ và nam giới phải được thôngtin, tư vẩn đẩy đủ và được tiếp cận với các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn,hiệu quả, phù hợp với khả năng và chấp nhận được theo sự lựa chọn của bản thân họ,
và quyền tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe phù hợp cho người phụ nữ mang thaicũng như sinh đẻ an toàn [4],
Sức khỏe tình dục
Theo tổ chức Y tế thế giới, sức khỏe tình dục là trạng thái thoải mái về thể chất,tình cảm, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan tới hoạt động tình dục chứkhông phải chỉ là không có bệnh, hoạt động bất thường hay yếu ớt Sức khỏe tình dụcđòi hỏi cách tiếp cận tích cực và tôn trọng đối với hoạt động tình dục và các mối quan
hệ giới tính, cũng như khả năng có được cuộc sống tình dục an toàn và khoái cảm,không bị cưỡng bức, phân biệt và bạo lực Để có và duy trì sức khỏe tình dục, cácquyền về tình dục của tất cả mọi người phải được tôn trọng, bảo vệ và đảm bảo [13]
Sự chủ động
Sự chủ động là tự mình quyêt định hành động, không bị chí phôi bởì người kháchoặc hoàn cảnh bên ngoài (Từ dien Tiếng Việt)
Trang 8Trong tiếng Anh chủ động là proactive có nghĩa là kiểm soát mọi tình huông bằngcách làm/khiến sự việc diễn ra hơn là chờ cho sự việc diễn ra và phản ứng lại.
Sự tự chủ (self-efficacy)
Khái niệm sự tự chủ được xây dựng bởi Giáo sư Albery Bandura Sự tự chủ làniềm tin của một người về khả năng của bản thân thực hiện hiệu quả các hoạt động cóảnh hưởng quan trọng đến các sự kiện trong cuộc sống của họ Niềm tin sự tự chủ quyếtđịnh cách họ cảm nhận, suy nghĩ, thúc đẩy bản thân, và cách cư xử Sự tự chủ càng mạnhthì mục tiêu đặt ra cho bản thân họ càng cao hon và tính cam kêt lâu dài bền vững hơn[17]
Sự tự chủ bị ảnh hưởng bởi 4 yếu tố; Kinh nghiệm bản thân, kinh nghiệm gián tiếp,
cơ về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục; tỷ lệ lây nhiễm các bệnh qua đường tình dụcbao gồm cả HIV/AIDS, mang thai sớm, mang thai ngoài ý muốn, phá thai của vị thànhniên, thanh niên chưa lập gia đình ở mức cao Thực trạng này đã gây ra nhiều hệ lụynghiêm trọng và kẻo dài đổi với một bộ phận VTN- TN cũng như gia đình và xã hội; làmảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực của đât nước
Bên cạnh đó, sự chủ động của thanh niên trong việc tìm kiếm các thông tin vềSKSS, SKTD và tiểp cận với các dịch vụ chăm sóc SKSS, SKTD còn thấp Theo
Trang 9điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam năm 2009cho thấy 30% người trong độ tuổi 14-24 thiếu kiến thức và thụ động trongtiếp cận thông tin và dịch vụ chăm sóc SKSS, SKTD [9] Một trong những hậuquả mà thanh niên đang phải đối mặt đó là kiến thức và kỹ năng về chămsóc SKSS, SKTD còn thấp Chỉ có 42,5% vị thành niên và thanh niên trong độtuổi 14 24 có kiến thức toàn diện về lây nhiễm HIV, thấp hon nhiều so vớimục tiêu quổc gia là 95% vào năm 2010 [27] Chính vấn đề này đã dẫn đencác hệ quả như mác các bệnh lây truyền qua đường tình dục hay mang thaingoài ý muốn Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, UNICEF và UNFPA năm
2011, tỷ lệ sinh con ở tuổi vị thành niên ở Việt Nam nói chung là 46/1000[7], cao hon nhiều so với các nước khác ở châu Á [3] Cùng với đó, theo báocáo của Hiệp hội icế hoạch hóa Gia đình Việt Nam (VINAFPA) và Bộ Y tế,khoảng 10 - 20% số trường hợp nạo phá thai là những cô gái chưa lập giađình Tuy nhiên, con số thống kê này mới chỉ thu thập tại các cơ sở y tếcông Thực tế, tỷ lệ nạo phá thai ở VTN-TN còn cao hon do chủ yểu VTN-TNtìm đến các cơ sở tư nhân với hi vọng được bảo mật thông tin cao hơn
Một số giói thiệu chirơng trình về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục
Ngân sách Chính phủ dành cho các chương trình và dịch vụ về CSSKSS của
VTN-TN còn rất hạn ché [24] Mạc dù Chính phủ ưu tiên chăm sóc SKSS, SKTD của vị thànhniên và thanh niên, các thống kê y tể hàng năm vẫn chưa cập nhật được dữ liệu về các cơ
sở y tế hiện đang cung cấp thông tin vê SKSS, SKTD, giáo dục và tư vẩn cho vị thànhniên và thanh niên [22],
Chương trình hành động 1CPD 1994 được coi như một dấu mốc lớn về việc mởrộng SKSS, SKTD là một vấn đề cần được quan tâm Trong khoảng thời gian hơn 10năm, Chính phủ Việt Nam với sự hỗ trợ của Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế đãthực hiện nhiều mô hình can thiệp thí điểm để nâng cao kiến thức và nhận thức củaVTN-TN về SKSS, phòng chống HIV và tiếp cận dịch vụ can thiệp Quỹ dân số Liênhợp quốc (UNFPA) hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho Bộ Giáo dục và Đạo tạo liên tục từ
1997 để chuyển hướng giáo dục ở các cấp tiểu học và trung
Trang 10học cơ sở sang giáo dục về SKSS vị thành niên cho phù hợp hơn [29] vàthí điểm tích hợp giáo dục SKSS vào chương trình giảng dạy của hệ phổthông trung học, các trường cao đẳng và đại học sư phạm ở cấp Trung Ương[29] Gần đây nhất, một chương trình lồng ghép giáo dục SKSS, giáo dục tìnhdục và phòng chông HIV vào chương trình giảng dạy cho học sinh cấp trunghọc cơ sở đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo phát triển và thử nghiệm với sự
hỗ trợ của UNICEF, UNFPA, UNESCO và Tổ chức Cứu trợ trẻ em tại 3 tỉnh Môhình thí điểm này được coi ỉà một mô hình tiềm năng, đậc biệt đã giúp lồngghép giáo dục vào Chiến lược phát triển giáo dục về phòng ngừa HIV vào
Mặc dù, Liên Hợp Quốc và các tổ chức phi chính phủ đã hỗ trợ các đối tác ViệtNam liên tục với nguồn lực dồi dào trong một khoảng thời gian dài và hướng đến khôngchỉ VTN-TN mà còn hỗ trợ cả những người cung cấp dịch vụ và cộng đồng nói chung
Một câu hỏi lớn vẫn chưa được giải đáp là vì sao nâng cao kiến thức không thực sự làm cho VTN-TN có tình dục an toàn hơn và có đầu ra về sức khỏe tổt hơn? [3]
1.2 Mô tả ngắn gọn vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội -y tế
1.2.1 VỊ trí địa lý:
- Quận Hai Bà Trưng nằm ở phía Đông Nam nội thành Hà Nội
- Diện tích: 9,62 km2
- Vị trí tiếp giáp:
o Phía Đông giáp sông Hồng, qua cầu ỉà quận Long Biên
o Phía Tây giáp quận Đống Đa và một phần nhỏ giáp quận Thanh Xuân
o Phía Nam giáp quận Hoàng Mai
o Phía Bắc giáp quận Hoàn Kiếm
1.2.2 rinh hình kinh tế - xã hội - y tế:
Trang 11Kinh tế:
o Quận Hai Bà Trưng có nền kinh tế nhiều thành phân phát triên nhanh vàmạnh Hiện tại, trên địa bàn quận đang có khoảng 3300 doanh nghiệp.Trong đó khoảng 70% là các hoạt động thương mại và dịch vụ, còn lại làcông nghiệp Năm 2008, giá trị sản xuất công nghiệp ngoại quốc doanhtăng 14,5%; doanh thu thương mại, dịch vụ, du lịch tăng hơn 15%; tổngthu ngân sách nhà nước trên địa bàn quận đạt 933,841 tỷ đống
sở nạo phá thai (đối diện phía bệnh viện Bạch Mai), trong đó có nhiều cơ
sở nạo phá thai không đảm bảo chât lượng
Trang 121.3 Vấn đề sức khoẻ cần được ưu tiên lựa chọn để xây dựng dự án
ỉ.3.1 Lý do chọn
Thanh niên được coi là một lực lượng chính trong công cuộc xây dựng và phát triểnđất nước trong tương lai Việc bảo vệ và chăm sóc cho thanh niên có một đời sống về thechất, tinh thần và xã hội tốt cũng là một trong những mục tiêu hàng đầu để phát triển đấtnước Trong đó, học sinh THPT là độ tuổi đang hoàn thiện về thể chất và tinh thần, nhiềubạn đã bắt đầu có những rung động về tình yêu và cấc quan điểm về tình dục được hìnhthành The nhưng, các bạn đã có đầy đủ kiến thức, những hành trang để chuẩn bị chotình dục lành mạnh hay chưa vẫn còn đang là một vấn đề đáng quan tâm Chính vì vậy,các vấn đề SKSS, SKTD cũng là một trong những vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến sứckhỏe của VTN-TN hiện nay Theo báo cáo của WHO, Việt Nam là nước có tỷ lệ nạo pháthai cao nhất Đông Nam Á và đứng thứ 5 trên thế giới [9] Nhận thấy tàm quan trọng củaviệc nâng cao SKSS, SKTD, việc triển khai một chương trình can thiệp nhằm cải thiệnvấn đề này ở VTN-TN là hết sức cần thiết
Áp dụng mô hình niềm tin sức khỏe, phân tích các yêu tô ảnh hưởng đên hành vichủ động tìm kiếm thông tin và tiểp cận dịch vụ an toàn về SKSS, SKTD cho thấy,những nguyên nhân chính khiên cho VTN-TN thụ động trong hành vi đó là chưa nhậnthức được mức độ quan trọng của vấn đề, sự tự chủ chưa cao và các chương trình truyềnthông chưa hoạt động tích cực và hiệu quả Bên cạnh đó, việc phối hợp giữa các banngành chưa được chặt chẽ khiến cho việc triển khai các chương trình thanh niên còn rời
rạc (Xem cây vẩn đề)
Theo thuyết niềm tin sự tự chủ của giáo sư Abley Bandura, sự tự chủ bị chi phốibởi các yeu tố: cảm xúc, kinh nghiệm trực tiếp, kinh nghiệm gián tiếp và sự thuyết phục.Theo các nghiên cứu đã thực hiện, VTN-TN còn tâm lý e ngại khi tìm hiểu về SKSS,SKTD SKSS, SKTD đang bị đánh đồng với quan hệ tình dục và đối với VTN-TN đây làmột vấn đề nhạy cảm, không thoải mái để chia sẻ một cách thẳng thắn [11] Bên cạnh đó,VTN-TN chỉ tìm kiếm thông tin về SKSS, SKTD khi
Trang 13gặp vấn đề dẫn đến các hậu quả không mong muốn Tâm lý e ngạikhiến cho việc chia sẻ giữa bạn bè bị hạn chế, cha mẹ không thẳng thắngiáo dục với con về SKSS, SKTD khiên cho VTN-TN thiểu kinh nghiệm và kiếnthức đe dụ phòng cho bản thân Hiện nay, quan điểm của nhiều cha mẹ vẫncòn ảnh hưởng nhiều từ văn hóa phong kiến, cha mẹ cho ràng việc giáo dụcSKSS, SKTD là vẽ đường cho hươu chạy [11] Họ vẫn lảng tránh, bưng bít,không muốn nói với con cái những vẩn đề về giới tính, tình dục [1] Việc giáodục giới tính và tình dục cả trong nhà trường và gia đình, nhìn chung đều rơivào tình trạng chưa bắt đầu đã kểt thúc Ai cũng hy vọng, “cứ lớn lên sẽ tựbiết” Gia đình thiếu kiến thức về SKSS, SKTD, tâm lý lo lắng về việc giáo dụcsớm cho con cản trở việc giáo dục VTN/ TN về tình dục Việc giáo dục giớitính từ cha mẹ thường mang tính rân đe và cẩm đoán Từ đó, dẫn đến việchạn che giao tiếp giữa gia đình và VTN-TN trong các vấn đê liên quan SKSS,SKTD Gia đình lảng tránh, không quan tâm đển việc giáo dục giới tính chotrẻ VTN/ TN Bên cạnh đó, tỷ lệ VTN-TN sử dụng mạng xã hội, internet rấtcao [8], tuy nhiên, các trang báo mạng vẫn còn đang có một cái nhìn khákhắt khe về các vấn đề như quan hệ tình dục trước hôn nhân, các bệnh lâytruyền qua đường tình dục Một số bài viết mô tả VTN-TN là những ngườiquá non dại và thiếu hiếu biết về SKSS, SKTD.
“Và tại đây tôi đã làm một việc rất ngu xuẩn và bậy bạ mà nguyên nhân chỉ vĩ sự
tỏ mõ rất trẻ con cùa cả hai đứa, Thực ra lúc ây tôi và L chì là “băt chước ” hành vi người ta làm trên phim mà tụi nhóc chúng tôi xem trộm được ở một quán karaoke phố huyện mà thôi Lũ chúng tôi khi đó một thằng con trai 13 tuổi rất ngô nghê và một đứa con gái 9 tuổi sún răng, tóc túm như hai cái đuôi mèo ngoe ngoáy không thề nghĩ là đã
“xâm hại tĩnh dục'’ mà coi đó là trò chơi “vợ chông ” như trên phim rồi cười khúc khích với nhau” (Trích “Thu tam su.doc ”) [1]
Từ đó, VTN-TN chưa quan tâm và không chủ động tìm kiếm thông tin về SKSS,SKTD Nguồn tỉm kiếm thông tin chủ yếu là qua Internet, ngại hỏi bố mẹ và
Trang 14thầy cô về chủ đề tế nhị này [1], Những yếu tố này ảnh hưởng đên sự tựchủ của VTN-TN, khiến cho sự tự chủ của VTN-TN thấp.
Mặt khác, nhận thức cùa VTN-TN ràng bản thân thuộc nhóm dễ bị tổn thương đốivới các vấn đề SKSS, SKTD lả còn thấp và chưa nhận mức độ nghiêm trọng về hậu quảcủa các vấn đề SKSS, SKTD Mặc dù nhà nước đã quan tâm nhiều hơn đến việc giáo dụcSKSS, SKTD cho VTN-TN và triển khai nhiều chương trình dành cho VTN-TN nhưgiáo dục lồng ghép trong nhà trường, phòng tư vấn và một số hoạt khác nhưng nhiềuchương trình trong số đó được đánh giá là chưa thực sự hiệu quả [14] Dẩn đến việcVTN-TN thiếu kiến thức trầm trọng về lĩnh vực này đe bảo vệ bản thân Việc phối hợpgiữa các ban ngành hiện này còn rời rạc, không có sự liên kết chặt chẽ, bổ trợ lẫn nhaukhi triển khai các hoạt động dẫn đến các chương trình về SKSS, SKTD chỉ đạt đượcnhững kết quả hạn chế
Bên cạnh đó, các chương trình giáo dục tại trường học về SKSS, SKTD được đánhgiá là chưa đạt hiệu quả cao Nguyên nhân là do kiển thức của giáo viên giảng dạy chưađầy đủ, nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của giáo dục SKSS, SKTD chưa đúng[14], Nhiều giáo viên còn cho ràng việc giáo dục SKSS, SKTD thuộc về trách nhiệm củagia đình nhiêu hơn, Giáo viên cũng bày tô băn khoăn vê việc phải áp dụng các phươngpháp giảng dạy có sự tham gia trong những lớp học quá đông Tuy nhiên, thách thức lớnnhất không phải chỉ riêng với học sinh, mà còn Cả giáo viên đó là nhận thức rằng SKSS,SKTD không phù hợp về mặt văn hóa về tài liệu học tập, các nhà đánh giá thấy rằngsách giáo khoa thiếu tính rõ ràng với các chủ đề nhạy cảm như tình dục an toàn Ví dụ,sách giáo khoa giải thích không đầy đủ sự khác biệt giữa quan hệ tình dục “lành mạnh”hay được bảo vệ và quan hệ tình dục “không lành mạnh” hay không được bảo vệ Cácnhà đánh giá cũng thấy rằng tài liệu cần thiết để phân tách lây truyền HIV với cái gọi là
“tệ nạn xã hội” của tình dục thương mại và tiêm chính ma túy [14], Nói chung, các nhàđánh giá thay rằng chương trình học không trang bị cho học sinh những kỹ nẫng sốngcần thiết và sự tự tin để áp dụng các hành vi tình dục có bảo vệ, đặt ra mục tiêu và quyếtđịnh về tình
Trang 15dục an toàn, cũng như tiếp cận các dịch vụ SKSS, SKTD bên ngoài phạm
vi trường học không được đề cập một cách đầy đủ [14]
Đối với chất lượng các dịch vụ tư vấn và chăm sóc SKSS, SKTD, trong khi cầnphải tập trung nhiều hom vào các dịch vụ phi lâm sàng như tư vấn, giới trẻ cũng kỳ vọngnhiều hơn và cảm thấy thoải mái hơn đối với các dịch vụ thân thiện Một trong nhữngthách thức lớn của các cơ sở này là thái độ tiêu cực, đôi khi kỳ thị của người cung cấpdịch vụ, điều này trong lâu dài có thể giải quyết thông qua cải thiện chương trình đào tạochính qui, đồng thời trước mat để dần điều chỉnh cần phải có những khoá đào tạo ngănhạn
Ở Việt Nam, từ những năm 90, đã có nhiều hoạt động và chương trình về SKSSVTN-TN được xây dựng và triển khai Tuy nhiên, các chương trình và hoạt động nàychủ yếu tập trung vào Thông tin, Giáo dục, Truyền thông (1EC) nhưng không bao gồmviệc cưng cấp các biện pháp tránh thai hoặc các dịch vụ SKSS khác Thêm nữa, nội dungcủa các thông điệp IEC và cách truyền tải thường theo xu hướng giáo huấn về đạo đức vìvậy khó thu hút được sự quan tâm của đoi tượng đích Đồng thời nhóm người trẻ tuổicũng rất hạn chế trong việc tham gia vào xây dựng các chương trình Phần lớn cácchương trình phụ thuộc chủ yếu vào nguồn lực của nước ngoài và có qui mô nhỏ Điềunày ảnh hưởng đến tính bền vững và khả năng mở rộng các mô hình đã thử nghiệm thànhcông [21]
Trang 16Theo các kết quả của nghiên cứu về SKSS và SKTD của VTN-TN cho thấy, quan
hệ tình dục trước hôn nhân [28] và quan hệ tình dục không an toàn có xu hướng tăng lên[16] Tỷ lệ nạo phá thai cao và không an toàn cũng là một vấn đề quan ngại của đối vớiSKSS, SKTD của VTN-TN Việt Nam Trên 30% các ca nạo phá thai của các phụ nữ trẻchưa có gia đình trong tổng số ước tinh khoảng trên 1 triệu các ca nạo phá thai được ghìnhận [21] Điều này cho thấy các dịch vụ phòng tránh thai có thể tiếp cận được, với giá
cả hợp lý và hiệu quả chưa đáp ứng được nhu cầu của VTN-TN Tuy nhiên, tỷ lệ nạo pháthai chính xác là khó thu thập do sự nhạy cảm của vấn đề này và một thức tế là các canạo phá thai tại các cơ sở tư nhân khiến cho việc thu thập không thê tiến hành [6]
Bên cạnh đó, chi phí cho chăm sóc y tê đôi với những trường hợp mang thai ngoài
ý muốn và điều trị mắc các bệnh ỉây truyền qua đường tình dục cũng đang dần trở thànhmột gánh nặng kinh tế đối với xã hội nói chung và VTN-TN nói riêng
1.3.2 Lợi ích
Việc tiến hành một dự án thí điểm về nâng cao sự chủ động của VTN-TN trongviệc tìm kiếm thông tin và tiếp cận dịch vụ an toàn về SKSS, SKTD tà một bước khởiđầu, thử nghiệm và hướng tới nhân rộng mô hình cải thiện SKSS, SKTD cho VTN-TN làđiều hểt sức cần thiết hiện nay Dự án hướng đến sự chủ động của VTN-TN nhiều hơnviệc giảng dạy thụ động, thiếu sự tham gia của VTN-TN Sự chủ động có ảnh hưởng rấtlớn đến hiệu quả và chất lượng của hành vi Cũng giống như việc học tập trên trường lớpcủa VTN-TN, việc tìm kiếm thông tin cũng giống như trau dồi kiến thức, kỳ năng VTN-
TN cần phải làm chủ được việc tìm kiếm thông tin với các câu hỏi: Mục tiêu tìm kiêm làgì? Tìm kiêm những gì? Và tìm kiếm bằng cách nào? Có được sự chủ động cao nhất,VTN-TN sẽ đạt được hiệu quả cao trong việc tìm kiếm những thông tin chất lượng vàtiếp cận với các dịch vụ an toàn về SKSS, SKTD
Từ đó, VTN-TN sẽ đạt được và duy trì SKSS, SKTD ở tinh trạng tốt và giảm bớt gánhnặng về tài chính khi triển khai các chương trình giáo dục SKSS, SKTD lẻ tẻ,
Trang 17đồng thời, giảm bớt gánh nặng tài chính về điều trị các bệnh lây truyền quađường tình dục vả chi phí tổn thất khi mang thai ngoài ý muốn Bên cạnh đó,lợi ích của việc triển khai dự án, liên quan đến phát triển xã hội, sẽ giúp đạt6/8 Mục tiêu thiên niên kỷ bao gồm giảm nghèo, giảm tỷ lệ trẻ vong ở trẻ
em, cải thiện sức khỏe bà mẹ, nâng cao bình đắng giới và nâng quyên chophụ nữ phòng chông HỈV và đảm bảo tính bền vững của môi trường
Tại Philipin, chi phí cho tất cả phụ nữ mang thai ngoài ý muốn năm 2008 tối thiểu
là 3,5 tỷ peso (Philipin) Tổng chi phí cho tổng số ca mang thai, cộng với chi phí dịch vụKHHGĐ (1,9 tỷ), ít nhất là 9,3 tỷ peso Trong trường hợp không sử dụng BPTT, hiện tạichi phí cho các ca mang thai lên tới 12,1 tỷ peso Theo ước tính, việc cung cap BPTTtheo cơ cấu như hiện tại, chi phi KHHGĐ tăng từ 1,9 tỷ lên 2,7 tỷ, nhưng chi phí y tế chomang thai ngoài ý muốn giảm từ 3,5 tỷ xuống còn 1,6 tỷ, tiết kiệm trực tiết được 1,1 tỷ.Nếu tất cả phụ nữ có nguy cơ sử dụng BPTT hiện đại, chi phí sẽ tăng từ 1,9 tỷ lên 4 tỷpeso, nhưng chi phí mang thai ngoài ý muốn giảm từ 3,5 tỷ xuống còn 0,6 tỷ peso Tổngchi phí giảm từ 9,3 tỷ xuống còn 8,5 tỷ peso, tiết kiệm trực tiếp 0,8 tỷ peso [5]
Việc giảm hiệu quả số trường hợp mang thai ngoài ý muốn thông qua việc cung cấpkiến thức và BPTT, dịch vụ an toàn cũng làm giảm tải cho giáo dục, chăm sóc sức khỏe
và các dịch vụ xã hội khác Những tiết kiệm chi phí trong những lĩnh vực trên và y tế cóthể được sử dụng để dành cho các dịch vụ công khác, giúp việc thực hiện mục tiêu thiênniên kỷ của Philipin dễ dàng hơn [5]
Tại California, một đánh giá dự án năm 2002 đã cho thấy rằng, các trường hợpmang thai ngoài ý muốn tránh được do dự án can thiệp sẽ tiết kiệm được 1,1 tỷ USD chiphí công trong vòng 2 năm và 2,2 tỷ USD trong vòng 5 nãm, nhiều hơn đáng kể so với403,8 triệu USD dành cho dự án Mỗi 1 USD dự án đã tiết kiệm được 2,76 USD trongvòng 2 năm và 5,33 USD trong vòng 5 năm [15],
Trang 18Trong một nghiên cứu được công bố vào năm 2012 bởi Brookings Institute tại Mỳước tính mỗi đô là của dự án tiết kiệm được 5,62 USD cho việc mở rộng các dịch vụphòng tránh thai [25] Các kêt quả nảy phù hợp với một nghiên cứu năm 2010 củaGuttmacher Institute tập trung vào công quỹ tài trợ cho vác dịch vụ phòng tránh thai (tiếtkiệm được 3,74 USD cho môi 1 USD được chi bởi công quỳ tài trợ) [20].
Điều đó cho thấy, việc triển khai dự án dự phòng các vấn đề liên quan đến SKSS,SKTD cho VTN-TN giống như một cuộc đầu tư lâu dài không chỉ cho VTN- TN mà còncho sự phát trien của kinh te, xã hội và văn hóa của đất nước
1.3.3 Các nhóm được hưởng lợi
Nhóm hưởng lợi chính từ dự án là vị thành niên - học sinh cấp 3 ở trường THPT tạiquận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Đây là nhóm thuộc độ tuổi 16 đển 18 tuổi, sống cùng gia đình và đang trong độtuổi đến trường Những bạn học sinh trong độ tuổi này đã phần nào thoải mái hơn, ít bịcha mẹ kiểm soát nhiều về sử dụng các trang mạng xã hội, internet hoặc sách báo hơncác nhóm tuổi nhỏ hơn Bên cạnh đó, nhóm tuổi này có một số đặc điểm như sau:
Đây là độ tuổi đang dần trưởng thành Ở độ tuổi này, VTN-TN không còn là trẻcon nhưng cũng chưa hẳn là người trưởng thành Các bạn tò mò nhiều hơn về thế giớixung quanh, muốn trải nghiệm những điều mới mẻ Bên cạnh đó, các bạn rất muốn thehiện bản thân, khắng định bản thân mình, về các mối quan hệ, VTN- TN cũng trải quathay đổi trong các mối quan hệ, trọng tâm được chuyển từ mối quan hệ gia đình sang cácmối quan hệ khác ngoải xã hội, đặc biệt là quan hệ với những người bạn cùng tuổi.Chính vì vậy, VTN-TN ở nhỏm tuổi này chịu sự ảnh hưởng rất lớn từ nhóm bạn cùngtuổi, lúc mà các giá trị niềm tin, niềm tin và khả năng nhận thức còn đang trong tiến trìnhhoàn chỉnh, Các bạn VTN-TN trong độ tuổi này có những thay đổi về mặt tâm lý nhiềuhơn, dần có những tình cảm với bạn
Trang 19khác giới, có những rung động ve tình yêu và hình thành những quandiem riêng về tình dục.
Vì đây là độ tuổi đang hình thành những giá trị, niềm tin, quan điểm và cách sốngnên VTN-TN rất dễ bị ảnh hưởng từ nhóm bạn cùng tuổi và những giá trị truyền thốngtrong gia đình, quan điểm của bố mẹ cũng ảnh hưởng đến giá trị và niềm tin của VTN-
TN sau này
1.3.4 Sự phù hợp vể mặt chính sách của ngành/địa phương/nhà tài trợ
a Các chỉnh sách liên quan đến SKSS, SKTD
Hiện nay, các chính sách pháp luật liên quan đến SKSS, SKTD dành cho VTN-TN
đã được thể hiện tương đổi đầy đủ trong các văn bản quốc tế và quốc gia Công ước quốc
tế về quyền trẻ em đã được Đại hội đồng Liên Hợp Quôc đã thông qua ngày 20/11/1989,Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và nước đầu tiên ở châu Á phê chuẩn Công ướcvào ngày 20/2/1990 Bên cạnh đó, nội dung vê SKSS, SKTD được lồng ghép trong phần
dự phòng HỈV/AIDS trong các luật như Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (QuốcHội thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004): theo Điều 53 Nghị định 71/201Ỉ/NĐ-CP Quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dụctrẻ em; Nghị định 91/2011/NĐ- CP quy định xử phạt vi phạm hành chính ve bảo vệ,chăm sóc, giáo dục trẻ em và Luật phòng chống HIV/AIDS (Quốc Hội nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/6/2006); Nghị định 108/2007/NĐ-CPhướng dẫn thi hành Luật phòng, chống HIV; Nghị định 69/2011/NĐ-CP quy định về xửphạt hành chính trong phòng, chống HIV/AIDS; Chỉ thị 61/2008/CT-BGD&ĐT về tăngcường phòng chóng HIV/AIDS trong ngành giáo dục; Chien lược quốc gia phòng chốngHIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 (Thủ tướng Chính phủ phêduyệt ngày 17 tháng 3 năm 2004): Các giải pháp thực hiện mục tiêu chiến lược được đề
cập đen bao gồm “phát huy tính chủ động tham gia của người nhiêm HỈV7AIDS và chổng phân biệt đổi xữ\ “báo đảm các chính sách bình đẳng về giới, các chỉnh sách đặc thù cho từng nhóm đôi tượng, đặc biệt là trẻ em bị ảnh hường
Trang 20hoặc bị nhiễm ỈỈIV/AIDS”; “triển khai và nâng cao chất lượng hiệu quả chương trình đào tạo về dự phòng lây nhiễm HỈV, giáo dục giới tính, SKSS và
kỹ năng sống tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, giảo dục dạy nghề và phổ thông”.
Đồng thời, trong Luật Thanh niên (Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005): Điều 14
quy định: “Thanh niên có quyền và nghĩa vụ được bảo vệ, chăm sóc hướng dẫn nâng cao sức khỏe, kỹ năng sống lành mạnh, phòng ngừa bệnh tật” Điều 21 quy định: “Nhà nước có chính sách đâu tư, khuyên khích các tô chức, cá nhân xây dựng các cơ sở ỵ tế,
cơ sở hoạt động thể dục, thế thao; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho thanh niên, tổ chức tư vẩn cho thanh niên về dinh dưỡng, sức khỏe tinh thần, sức khỏe sinh sản, kỹ năng sống, phòng chông ma túy, HIV/AỈDS, phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục và các bệnh xã hội khác”\ Điều 22 quy định: “Nhà nước có chỉnh sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia phát triên các hoạt động tư vấn về tỉnh yêu, hôn nhân, gia đình, thực hiện kế hoạch hóa gia đỉnh trong thanh niên”; Điều 31 (Trách nhiệm của nhả trường), khoản 2: “Năng cao chất lượng thực hiện chương trình giáo dục thể chất và thấm mỹ; hướng dẫn chăm sóc sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản, tình bạn, tình yêu, kỹ năng phòng chông các bệnh học đường và tệ nạn xã hội cho thanh niên từ đủ mười sáu tuổi đến dưới mười tám tuổi” Nghị định 120/2007/NĐ-CP Hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Thanh niên
b Các chiến lược quổc gia liên quan để SKSS, SKTD
Hiện nay, nhà nước đã ký quyết định triển khai 2 chiến dịch liên quan đến SKSS,SKTD cho VTN-TN, bao gồm:
Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam 2011-2020 (Thủ tướng Chính phủ phêduyệt ngày 30/12/2011): Chiến lược đưa ra chỉ tiêu đến năm 2020, có ít nhất 80% thanhniên được trang bị kỹ nãng sống, kiến thức về bình đẳng giới, SKSS, xây
Trang 21dựng gia đình hạnh phúc, phòng chống bạo lực gia đình; hàng năm tậphuấn, bồi dưỡng kỹ năng làm cha mẹ cho ít nhất 200.000 thanh niên dếntuổi kết hôn.
Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 (Thủtướng Chính phủ phê duyệt ngày 14 tháng 11 năm 2011): Đe thực hiện mục tiêu tổngquát “Nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng SKSS, duy trì mức sinh thấp hợp
lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số và phân bố dân số, góp phẩn thực hiệnthẳng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đầt nước”, một trong mười một mụctiêu cụ thể được xác định trong chiến lược là “Cải thiện SKSS của người chưa thành niên
và thanh niên” với các chỉ tiêu “Tăng tỷ lệ điểm cung Cấp dịch vụ chăm sóc SKSS thânthiện với người chưa thành niên và thanh niên lên 50% tổng số điểm cung cấp dịch vụchăm sóc SKSS vào năm 2015 và 75% vào năm 2020; Giảm 20% sổ người chưa thànhniên có thai ngoài ý muốn vào năm 2015 và giảm 50% vào năm 2020”
ỉ.3.5 Các yếu tổ ảnh hưởng đến sự chủ động trong tìm kiếm thông tin và tiếp cận dịch vụ an toàn về SKSS SKTD ở VTN
a Yếu tố cá nhân
Đặc điểm tính cách của VTN-TN là tò mò, luôn muốn khám phá những điều mới
mẻ và khẳng định bản thân mình Trong khi đó, chất lượng cuộc sống được nâng cao,dinh dưỡng đày đủ, cuộc sống hiện đại, dẫn đến tuổi dậy thì ngày càng bắt đầu sớm trongkhi tuổi kết hôn ngày càng cao [12] Bên cạnh đó, ngày nay, tư tưởng của VTN-TN quan
hệ tình dục trước hôn nhân đã có nhiều thay đối Theo kết quả thăm dò thái độ về quan
hệ tình dục trước hôn nhân của nhóm người trẻ tuổi trong SAVY với các tình huống giảđịnh “nếu cả hai cùng tự nguyện”; “cả hai bên yêu nhau”; “hai người dự định làm đámcưới”; “nếu người phụ nữ biểt tránh thai” cho thấy quan niệm của người trẻ tuổi ngàynay đã “thoáng” hơn [6] Tất cả các quan niệm đó đã dẫn đến VTN-TN có quan hệ tìnhdục trước hôn nhân nhiều hơn
Trang 22VTN chưa nhận thức được bản thân họ đang có nguy cơ và họ lại có nhận thức tiêucực về khả năng tiếp cận dịch vụ hiện có, biện pháp tránh thai đã làm cho họ ngần ngạitrong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ KHHGĐ của nhà nước [10].
b Yếu tổ gia đình
Giáo dục tính dục và SKSS vẫn còn là một vấn đề nhạy cảm ở Việt Nam Một Sốcha mẹ và nhà giáo dục còn cho rằng giáo dục tính dục sẽ khuyến khích giới trẻ quan hệtình dục hoặc “vẽ đường cho hươu chạy” [11] Nhiều gia đình từ chối chia Sẻ các thôngtin về SK.SS, SKTD với con của họ Sự e ngại xuất phát từ hai phía và niềm tin của cha
mẹ rang nói chuyện với VTN-TN vê vân đê tình dục sẽ là khuyên khích các em có quan
hệ tình dục sớm và giả định của cha mẹ là họ thiếu hụt kiến thức về tình dục và các kỳnăng giao tiếp [26], Đồng thời, ngăn cản con họ tìm hiểu các thông tin và tiếp cận dịch
vụ về SKSS, SKTD
c Yếu tố xã hội
“Tệ nạn xã hội" vẫn là cụm từ thường được sử dụng để chỉ hành vi sử dụng ma túy,mại dâm, các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản (STIs), HIV/AIDS và quan hệ tình dụctrước hôn nhân [23]
Truyền thông văn hoá Việt Nam lâu đời đã coi trọng trinh tiết của người phụ nữ
“chữ trinh đáng giá ngàn vàng” hay quan điểm “nam nữ thụ thụ bất thân” dẫn đến tưtưởng khắt khe trong việc quan hệ tình dục trước hôn nhân và đánh đồng SKSS, SKTD
là quan hệ tình dục Kỳ thị xã hội và tính riêng tư là nhưng nguyên nhân chính khiếnnhững người trẻ tuổi đến với các cơ sở y te tư nhân, nơi mà chất lượng dịch vụ có nhiềuhạn che [ 19]
Ị 3.6 Tính khả thi đê giải quyêt vãn đê
Sự líng hộ của các bên liên quan: Hiện nay, rất nhiều tổ chức tại Việt Nam và trênThế giới quan tâm và hoạt động trong lĩnh vực SKSS, SKTD Rất nhiều các diễn đàndành cho VTN-TN được tổ chức không chỉ tại Việt Nam mà còn mang tầm
Trang 23CỠ khu vực Việc liên kết giữa các tổ chức hoạt động về SKSS, SKTD đang ngày càngđược gắn kết chặt chẽ hơn kể cả trong và ngoài nước Đặc biệt, nhóm can thiệp đã từngtham gia với các nhà tài trợ và đã có các mối quan hệ gắn bó trong một khoảng thời gian.Vậy nên, việc nhỏm can thiệp huy động sự hỗ trợ từ các nhà tài trợ sẽ có nhiều thuận lợihơn.
Năng lực của các nhóm triển khai: Nhóm can thiệp đã từng có kinh nghiệm thamgia vào các chương trình dành cho VTN-TN trong lĩnh vực SKSS, SKTD Trong đó,nhóm can thiệp đã có chuyên môn về lĩnh vực SKSS, SKTD và kỹ năng trong việc triểnkhai các chương trình nâng cao năng lực cho cộng động, đặc biệt là đối với nhóm VTN-TN
Mô hình đã triển khai: Mô hình can thiệp giáo dục đồng đẳng được áp dụng kháphổ biến đối với các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương như tiêm chích ma túy, phụ nữ laođộng tình dục Hiện nay, mô hình can thiệp giáo dục đồng đẳng đã được áp dụng rộng rãihơn trong nhiêu can thiệp cộng đông trong đó có nhóm VTN-TN Dự án can thiệp tại 2trường THCS Lý Thường Kiệt, THCS Lê Lợi tại Hà Nội năm 2013 -2014 của Trung tâmSáng kiến Sức khỏe và Dân số triển khai đã áp dụng mô hình can thiệp giáo dục đồngđẳng Trong dự án can thiệp này, hoạt động chính là cung cấp kiến thức cho nhóm họcsinh nòng cốt và sau đó, chính nhóm học sinh này sẽ là nhóm truyền thông, cung cấpkiến thức cho bạn bè trong trường Bên cạnh đó, trường có một số hoạt động tổ chứcnhằm thu hút sự quan tâm của thầy cô và phụ huynh học sinh về giáo dục SKSS, SKTDcho học sinh [2]
Kết quả của chương trình cho thấy, học sinh rất hưởng ứng và hài lòng các chươngtrình truyền thông cả với nhóm nòng cốt và nhóm học sinh toàn trường Kiến thức và kỹnăng về SKSS, SKTD của học sinh tăng từ 40% đến 100% so với ban đàu[2]
Tuy nhiên, một số hạn chế của dự án can thiệp gặp phải là sự ủng hộ của giáo viên
và phụ huynh chưa nhiều Nhiều giáo viên chủ nhiệm không ủng hộ học sinh
TRƯỜNG DẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRUNG TÂM TH NG TIN TH VI N ỐNG TIN THỨ VIỆN Ứ VIỆN ỆN
Trang 24tham gia tích cực vào các hoạt động truyền thông nâng cao kiến thức và kỹ năng về SKSS, SKTD do mong muốn học sinh dành nhiều thời gian cho việc học tập các môn học khác Bên cạnh đó, trong điều tra định lượng tại 234 học sinh và phỏng vấn sâu 6 học sinh từ lớp
6 đến lớp 8 tại hai trường THCS can thiệp, cho thây 70% học sinh tham gia khảo sát không có bất cứ cuộc trao đổi nào với cha mẹ về SKSS,SKTDtrong vòng 1 năm qua Trong trường hợp có trao đổi, các chủ
đề chủ yếu xoanh quanh sự thay đổi cùa cơ thể trong độ tuổi dậy thi như kinh nguyệt, sựthay đổi của cơ quan sinh dục Các chủ đề như biện pháp phòng tránh thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục ít được các bạn đề cập đến do sợ
bố mẹ la mắng, nghi ngờ hay răn đe Việc giao tiếp hạn chế
có thể là nguyên nhân dẫn đế sựhạn chế trong chương trình can thiệp này [2],
2 Phân tích các bên liên quan
Dự án gồm có 3 nhóm bên liên quan: Nhóm hưởng lợi, nhóm tài trợ và nhóm trunggian
- Nhóm hưởng lợi: Nhóm VTN ở trường THPT tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.Nhỏm này sẽ được chia làm 2 nhóm nhỏ khác đó là nhóm nòng cốt và nhómchung (học sinh toàn trường) với những vai trò khác nhau, (chi tỉêt xem phụ
ỉục 3)
- Nhóm tài trợ: bao gồm Plan Parenthood, CCIHP Đây là các tổ chức hoạtđộng trong lĩnh vực SKSS, SKTD và có hỗ trợ về tài chính, chuyên môn, kỹ
thuật và nguồn lực cho việc triển khai dự án (chi tiết xem phụ ỉục 3)
- Nhóm trung gian: bao gồm các ban ngành hỗ trợ, kiểm soát việc triển khai dự
án can thiệp và các nhóm đối tượng được can thiệp (phụ huynh, giáo viên, tư
Trang 25vấn viên, ban giám hiệu nhà trường ) nhằm xây dựng một môi trường thuận
lợi cho nhóm hưởng lợi (chi tiết xem phụ lục 3)
Trang 263. Mục tiêu dự ánA/ựí' tiêu chung
Nâng cao sự chủ động của vị thành niên trong việc tìm kiếm thông tin và tiếp cậndịch vụ an toàn về SKSS, SKTD tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, năm 2016
4 Tăng cường các hoạt động giáo dục SKSS, SKTD hiệu quả tại trường học
5 Nâng cao chất lượng dịch vụ tại các cơ sở tư vấn và chăm sóc SKSS, SKTD cho VTN-TN
4 Phương pháp triển khai dự án
Dự án được triển khai thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn ỉ. Tiến hành đánh giá ban đầu nhằm tìm ra tỷ lệ VTN-TN có kiếnthức, kỹ năng đúng/chưa đúng về SKSS, SKTD Bên cạnh đó, tìm
Trang 27- hiểu các mong muốn của VTN-TN về cách tiếp cận thông tin thíchhợp và hiệu quả Đánh giá quan điểm của giáo viên và phụ huynh
về giáo dục SKSS, SKTD, tìm ra những lỗ hổng trong kiến thức, kỹnăng và quan điểm để đưa ra những giải pháp phù hợp
- Giai đoạn 2: Giai đoạn này sẽ chính thức triển khai các can thiệp tại trường họcđược lựa chọn Dự án sẽ được triên khai độc lập, trong đó, các hoạt động của
dự án sẽ được lồng ghép, xen kẽ với nhau
- Giai đoạn 3: Tiến hành đánh giá kết quả can thiệp trên các trường học đượctriển khai can thiệp và không can thiệp Tìm hiếu những nguyên nhân, hạn chédẫn đến sự thay đổi trong kiến thức, kỳ năng và quan điểm của các đối tượng
So sánh kết quả giữa hai trường nhằm tìm ra mức độ hiệu quả của chưongtrình can thiệp
Sơ đồ 2: Khung triển khai chương trĩnh can thiệp
Biển số phụ thuộc là sự chủ động của VTN-TN trong việc tìm kiếm thông tin vàtiếp cận dịch vụ an toàn liên quan đến SKSS, SKTD Biến độc lập ảnh hưởng ở đây làyếu tố từ cá nhân, gia đình, nhà trường và cộng đồng Trong đó, yếu tố cá nhân chính lànhững hiểu biết và kinh nghiệm của cá nhân VTN-TN về
Trang 28SKSS,SKTD; yếu tổ về gia đỉnh là thái độ, quan điểm của phụ huynh khi
đề cập đến các vấn đề liên quan đến SKSS, SKTD; yếu tố nhà trường chính làquan điểm và cách giảng dạy của giáo viên; và yếu tố cộng đồng là chấtlượng của dịch vụ CSSKSS dành cho VTN-TN
Dưới đây là khung lý thuyết của dự án can thiệp:
Sơ đồ 3: Khung lý thuyêt của dự án can thiệp
Trang 29Ban đầu Can thiệp Kết thúc
Trang 304.1 Đối tượng
- Giai đoạn 1 — Đánh giá ban đầu: Đối trượng là học sinh khôi 10 và khôi 11,phụ huynh học sinh và giáo viên phụ trách giảng dạy về SKSS, SKTD và giáoviên chủ nhiệm tại trường THPT Trần Nhân Tông và trường THPT ThăngLong
- Giai đoạn 2: Đối tượng can thiệp là học sinh khối 10 và khối 11, phụ huynhhọc sinh và giáo viên phụ trách về SKSS, SKTD tại trường THPT Trần NhânTông Đối tượng là tư vấn viên trong các trung tâm, cơ sở CSSKSS cho VTN-
TN tại quận Hai Bà Trưng và các nhà quản lý các cơ sở đó và ban giám hiệunhà trường, các nhà báo
- Giai đoạn J - Đánh giá kết quả: Đối trượng đánh giá là học sinh khôi 11 vầ 12,phụ huynh học sinh và giáo viên phụ trách giảng dạy về SKSS, SKTD và giáoviên chủ nhiệm tại trường THPT Trần Nhân Tông và trường THPT ThăngLong
4.2 Địa điểm can thiệp
Dự án được triển khai đánh giá ban đầu và kết quả tại cả hai trường THPT TrầnNhân Tông và trường THPT Thăng Long Trong đó, THPT Trần Nhân Tông và THPTThăng Long là hai trường công lập, có số lượng học sinh và chẩt lượng tương đươngnhau Tuy nhiên, chỉ triển khai can thiệp trên trường Trần Nhân Tông, nhằm so sánh vàđưa ra hiệu quả can thiệp
4.3 Thiết kế
- Giai đoạn 1 và giai đoạn 3:
o Đối với đối tượng đích là học sinh: Trong giai đoạn 1, sử dụng thiết kếđánh giá là: đánh giá trước sau có nhóm chứng Đánh giá định lượngkết hợp với định tính Định lượng tiến hành trước, định tính triển khaisau, định tính bổ sung cho định lượng Trong đó,
Trang 31định lượng tìm hiểu về số lượng đối tượng có kiến thức, kỹ năngđúng/chưa đúng, những kênh truyền thông, cách truyềnthông phù hợp cho tùng đối tượng và một số yểu tố ảnhhưởng đến sự chủ động trong tìm kiếm thông tin và tiếp cậndịch vụ an toàn về SKSS, SKTD Định tính được sử dụng nhằmtìm ra những quan điểm của đối tượng đối với vấn đề, nhữngmong muốn của đối tượng về cung cấp kiến thức, kỹ năng vàdịch vụ về SKSS, SKTD, bổ sung các nguyên nhân sâu xa ảnhhưởng đển việc tìm kiếm thông tin và tiếp cận dịch vụ an toànliên quan đến SKSS, SKTD Đối với giai đoạn 3, đánh giá saucan thiệp cũng tương tự, áp dụng định lượng kết hợp với định
tính Định lượng tiến hành trước, định tính triển khai sau, định
về mặt kiến thức, kỹ năng, nhận thức của đối tượng Định tínhtìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi đáng kể của
o Đối với các đối tượng là tư vấn viên, giáo viên và phụ huynh: Sử dụngđánh giá trước sau không có nhóm chứng
Giai đoạn 2:
o Đối với học sinh: Tiến hành can thiệp tại trường THPT Trần Nhân Tôngvới đối tượng là khối 10 và khối 11 Lý do không lựa chọn khối 12, dosau khi tiến hành can thiệp 1 năm, học sinh khối 12 sẽ tốt nghiệp, dẫnđến vấn đề khó khăn trong việc đánh giá hiệu quả của dự án
o Đối với phụ huynh; Tiến hành can thiệp đối với phụ huynh của các họcsinh tham gia trong chương trình can thiệp lồng ghép qua các buổi họpphụ huynh tại trường và một buổi truyền thông về tầm
Trang 32quan trọng của giáo dục SKSS, SKTD và kỹ năng giao tiêp giữaphụ huynh và VTN-TN
o Đối với giáo viên: Tiến hành can thiệp trên tất cả giáo viên đã, đang vàsắp tới sẽ thực hiện giảng dạy có liên quan đên SKSS, SKTD và cácgiáo viên chủ nhiệm của các lớp về tầm quan trọng của giáo dục SKSS,SKTD, kỹ nàng giảng dạy có sự tham gia và kỹ năng giao tiếp giữagiáo viên và VTN-TN
P2: là tỷ lệ ước tính quân thê 2, và băng 0,2
DE: là hiệu lực mâu, và băng 2
Thay vào công thức ta được n= 784
4.5 Phương pháp chọn mẫu
4.5.1 Định lượng
Sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm theo lớp với cỡ mẫu là n= 784 học sinh, tức
là mỗi trường lựa chọn 784 học sinh Đánh giá được tiến hành trên 2 khối của
Trang 33mỗi trường (Đánh giá ban đầu trên khối 10 và 11, đánh giá kết quả trênkhối 11 và 12) Số lượng học sinh tại hai trường là tương đương nhau.
- Đối với giáo viên, lựa chọn 2 giáo viên, sử dụng phương pháp tối đa mẫu theomôn học
- Đối với phụ huynh, lựa chọn 5 phụ huynh, sử dụng phương pháp tối đa mẫutheo nghề nghiệp
4.6 Cách tiếp cận đối tượng
Cách tiếp cận đối tượng gồm có 3 bước như sau:
Với đối tượng là học sinh, phụ huynh và giáo viên trong nhà trường:
- Bước 1: Làm việc với nhà trường, nhằm xin sự đồng thuận và nhận được Sựhợp tác từ phía nhà trường khi tiến hành đánh giá và triển khai chương trìnhcan thiệp
- Bước 2: Lấy ý kiến và sự đồng thuận từ phía phụ huynh học sinh
- Bước 3: Tiếp cận đối tượng theo từng lớp, triển khai đánh giá và can thiệptrên đối tượng
Với đối tượng là các tư vẩn viên, các nhà quản lý của các cơ sở CSSKSS dành choVTN-TN: Gửi thư mời và làm việc với ban quản lý của các cơ sở CSSKSSS
Trang 34nhằm nhận được sự đồng thuận và hợp tác từ phía ban quản lý khi tiếnhành đánh giá và triển khai chương trình.
Với đoi tượng là các nhà báo: Gửi trực tiếp thư mời cho các nhà báo
4.7 Nội dung can thiệp
Chương trình can thiệp tác động đến các cá nhân học sinh, trường học, gia đình
và dịch vụ chăm sóc SKSS nhằm tạo một môi trường thuận lợi, giúp VTN-TN dễ dàngtìm kiểm thông tin và tiếp cận dịch vụ an toàn liên quan đen SKSS, SKTD Trongchương trình can thiệp, nhàm đạt được mục tiêu, các hoạt động được sap xếp xen kẽ
để đạt được hiệu quả cao nhất có thể Chương trình can thiệp gồm có 3 mảng hoạtđộng chính như sau:
- Hoạt động nâng cao năng lực: Hoạt động này sẽ được áp dụng đối với nhómđối tượng là học sinh, giáo viên, phụ huynh và tư vấn viên Đối với hoạtđộng này, đối tượng sẽ được nâng cao nhận thức trong vấn đề SKSS, SKTD,các kỹ năng cần thiết để có sự giao tiếp hiệu quả, tìm kiếm thông tin hữuhiệu và các kỹ năng khác tùy theo từng đối tượng Các hoạt động dành chogiáo viên hướng đến việc thay đổi nhận thức, quan điểm của về giáo dụcSKSS, SKTD tại trường học, nhằm hướng đến sự hỗ trợ của giáo viên khihọc sinh tham gia và triển khai các hoạt động truyền thông nhóm lớn vànâng cao kỹ năng giao tiếp giữa giáo viên và học sinh Bên cạnh đó, đối vớiphụ huynh, các hoạt động lồng ghép vào các buổi hợp phụ huynh tại trường
và buổi hội thảo, hướng đến thay đổi về kiến thức của phụ huynh về giáodục SKSS, SKTD cho học sinh tại gia đình Bằng những bằng chứng cụ thể,các hoạt động này mong muốn phụ huynh ủng hộ cho học sinh nhiều hơnkhi học sinh tham gia và triển khai các hoạt động truyền thông SKSS, SKTD
và tìm kiếm các thông tin, tiếp cận dịch vụ an toàn về SKSS, SKTD
- Hoạt động vận động chính sách: Để tạo một môi trường thuận lợi cho VTNđáp ứng theo nhu cầu của VTN cần tác động đến các nhóm đối
Trang 35tượng là ban giám hiệu nhà trường, các nhà quản lý các trung tâm, cơ sởCSSKSS dành cho VTN và đặc biệt là các ban ngành thực hiện các chươngtrình dành cho VTN nham tăng sự liên kết giữa các ban ngành trong việctriển khai các hoạt động cho VTN giúp cho hiệu quả các chương trình đượctăng cao hơn, độ bao phủ đối tượng sẽ rộng hơn Tuy nhiên, trong thời giantriển khai dự án là 1 năm, việc tiếp cận các ban ngành và thay đổi tạo điềukiện và môi trường thuận lợi về chính sách đối với VTN là một hạn chế lớn.Vậy nên, hoạt động chính trong mảng hoạt động về vận động chính sách sẽ
là tiếp cận đối tượng là Ban Giám hiệu nhà trường nhằm nhận sự ủng hộ củanhà trường khi triển khai các hoạt động truyền thông Đồng thời, vận độngBan Giám hiệu hỗ trợ học sinh tham gia và triển khai các hoạt động truyềnthông, đưa các hoạt động truyền thông về SKSS, SKTD thành một hoạt độngngoại khóa thường niên và đưa sự tham gia cùa VTN vào các hoạt động nàytại trường học thành các điểm thi đua định kỳ Bên cạnh đó, vận động cácnhà quản lý của các cơ sở, trung tâm CSSKSS dành cho VTN đẩy mạnh tínhbảo mật an toàn và thân thiện Từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ CSSKSShơn
- Hoạt động huy động cộng đồng: Hoạt động này sẽ tác động chính đến các nhàbáo, thu hút các báo đài, đặc biệt là báo mạng nhằm nâng cao nhận thức củacộng đồng về giáo dục SKSS, SKTD là vấn đề quan trọng đối với VTN
Bảng ỉ: Các hoạt động chính can thiệp
Trang 36Sự tự chủ của VTN trong tìm
kiêm thông tin và tiêp cận dịch vụ
an toàn về SKSS, SKTD tăng lên
Tổ chức buổi truyền thông nâng cao kiếnthức về tầm quan trọng của SKSS, SKTD và
kỹ năng giao tiếp giữa cha mẹ với VTN.Thiết ke và in ấn tài liệu truyền thông dànhcho cha mẹ
Tổ chức hội thảo chia sẻ về tầm quan trọngcủa giáo dục và chăm sóc SKSS, SKTD đốivới VTN cho các nhà báo
4
Tăng cường các hoạt động giáo
dục SKSS, SKTD hiệu quả tại
trường học
Tổ chức các buổi truyền thông dành chongười giảng dạy nhằm nâng cao kiến thứcSKSS, SKTD, tầm quan trọng của giáo dụcSKSS, SKTD và kỹ năng giảng dạy có sựtham gia
Tổ chức buổi chia sẻ, trình bày về tầm quantrọng của giáo dục SKSS,SKTD trong nhàtrường đối với ban giám hiệu
Trang 37Thiêt kê bộ tài liệu giảng dạy phù hợp, rõràng
5
Nâng cao chất lượng dịch vụ tại
các cơ sở tư vấn và chăm sóc
Trang 385 Các kết quả mong đợi và đầu ra của dự án
Bảng 2: Phân tích kết quả mong đợi và đầu ra
-Tiếp cận giáo dục sứckhỏe
-Số buổi truyền thông được
tổ chức
Trang 39-Kiến thức của VTN về cáchậu quả của các vẩn đềSKSS, SKTD được nângcao
-Tiếp cận nàng caoquyền làm chủ về sứckhỏe
-Số học sinh tham gia buổi truyền thông
-Số học sinh có kiến thúcđúng về SKSS, SKTD saukhi tham gia buổi truyềnthông
Sự tự chủ của VTN trong tìm kiếm
thông tin và tiếp cận dịch vụ an toàn
về SKSS, SKTD tăng lên 30%
-Giảm bớt tâm lý e ngại choVTN khi nói đến SKSS,SKTD
-Tiếp cận nâng caoquyền làm chủ về sứckhỏe
-Sổ buối truyền thông được
tổ chức-Số học sinh cảm thấy thoảimái khi nhắc đến các vấn
Trang 40đề SKSS, SKTD-Số VTN trong mạng lưới thanh niên được thành lập -
Sổ bức tranh tham dự cuộc thi ảnh
-Tạo môi trường thuận lợi
giúp VTN dễ dàng chia sẻ
các thông tin liên quan đến
SKSS, SKTD
-Tiếp cận giáo dục sửc khỏe
-Tiểp cận vận động tạomôi trường thuận lợi
-Sồ phụ huynh tham gia buổitruyền thông
-Số phụ huynh ủng hộ giáodục SKSS, SKTD cho họcsinh
-Số phụ huynh có kỳ năng giao tiếp với học sinh-Số nhà báo, đài báo tham gia buổi truyền thông-Số lượng báo có các bài viếtmang tính ủng hộ