1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay

182 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay
Tác giả Hoàng Chung Hiếu
Người hướng dẫn PGS, TS Lê Trọng Tuyến, TS Nguyễn Thanh Hải
Trường học Học viện chính trị
Chuyên ngành Khoa học xã hội và nhân văn
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 283,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.

Trang 1

BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ

HOÀNG CHUNG HIẾU

NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ DUY VẬT LỊCH SỬ

HÀ NỘI - NĂM 2023

Trang 2

BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ

HOÀNG CHUNG HIẾU

NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ DUY VẬT LỊCH SỬ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu của tác giả Các tài liệu và số liệu trong luận án là trung thực, khách quan, khoa học và có nguồn gốc rõ ràng, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Hoàng Chung Hiếu

Trang 4

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU

KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN

2.1 Quan niệm năng lực nghiên cứu khoa học và năng lực nghiên cứu

khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học

2.2 Nhân tố cơ bản quy định năng lực nghiên cứu khoa học của giảng

viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan

Chương 3: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA

GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI HIỆN NAY VÀ

3.1 Thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học

xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện

3.2 Những vấn đề đặt ra từ thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học

của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường

Chương

4 :

GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ

Trang 5

4.1 Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa

học cho giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện,

4.2 Xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học tích cực ở các học

4.3 Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong tự bồi dưỡng, tự

rèn luyện năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học

xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Cùng với giảng dạy, nghiên cứu khoa học là một trong hai nhiệm vụ bắtbuốc đối với giảng viên nói chung, giảng viên khoa học xã hội và nhân văn nóiriêng Tham gia nghiên cứu khoa học sẽ góp phần phát triển tư duy sáng tạo, khảnăng làm việc độc lập, trau dồi kinh nghiệm, tri thức và các phương pháp nhậnthức khoa học Qua đó, góp phần củng cố và mở rộng kiến thức và khả năng kếtnối, tìm ra những tri thức mới, kỹ năng tư duy lôgíc khoa học, kỹ năng phân tích,tổng hợp, phán đoán và kết luận một vấn đề, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năngthuyết trình, phản biện Đây là quá trình tự đào tạo để hình thành những phẩmchất của nhà nghiên cứu chuyên nghiệp Chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoahọc của đội ngũ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó năng lực nghiên cứukhoa học của họ là yếu tố quan trọng nhất

Giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quanquân đội bên cạnh thực hiện chức năng giảng dạy, còn thực hiện chức năngnghiên cứu khoa học, vừa góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, vừatrực tiếp phát triển lý luận khoa học xã hội nhân văn quân sự, củng cố và tăngcường tiềm lực khoa học khoa học xã hội nhân văn tạo nền tảng vững chắc phục

vụ sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinhnhuệ, hiện đại

Những năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trungương, Bộ Quốc phòng, sự hướng dẫn, chỉ đạo của Tổng cục Chính trị, Bộ TổngTham mưu,… đảng uỷ, ban giám đốc (ban giám hiệu) các học viện, trường sĩquan, cùng sự nỗ lực cố gắng vươn lên của mỗi giảng viên nên nghiên cứu khoahọc xã hội nhân văn có sự chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng; cảdiện rộng cũng như chiều sâu Theo đó, năng lực nghiên cứu khoa học xã hội vànhân văn của giảng viên có sự phát triển; tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, phươngpháp tư duy và niềm say mê nghiên cứu của giảng viên thường xuyên được nâng

Trang 7

lên, biểu hiện ở số lượng các công trình nghiên cứu, chất lượng được nâng cao,công bố các sản hẩm khoa học có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc,v.v

Tuy nhiên, bên cạnh đó năng lực nghiên cứu khoa học của một số giảngviên khoa học xã hội và nhân văn ở học viện, trường sĩ quan quân đội thời gianqua còn bộc lộ những hạn chế nhất định: động cơ, lòng say mê trong nghiên cứukhoa học của một số giảng viên chưa cao; một số công trình chưa gắn với thựctiễn hoạt động quân sự nói chung, hoạt động giáo dục, đào tạo nói riêng; tính sángtạo trong thực hiện các công trình khoa học còn chưa thực sự rõ nét Nguyên nhân

cơ bản của những hạn chế trên là do một số cấp ủy, người chỉ huy chưa quan tâmđúng mức đến xây dựng đội ngũ giảng viên với nghiên cứu khoa học; đến tạo môitrường thuận lợi cho nghiên cứu khoa học, cũng như một số giảng viên thiếu tựtin, chưa mạnh dạn trong nghiên cứu, còn biểu hiện ngại khó, ngại khổ, thiếuquyết tâm và sự nỗ lực trong nghiên cứu, v.v

Hiện nay, trước sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư,cũng như sự phát triển của thực tiễn, sự phát triển của nghệ thuật quân sự đòi hỏiđội ngũ giảng viên cũng phải có tri thức, kỹ năng nghiên cứu, tương xứng để kịpthời nghiên cứu, đề xuất những chủ trương, giải pháp cụ thể, theo tinh thần Nghịquyết số 1652-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 đã chỉ ra: “Xây dựng, phát triển khoahọc quân sự vững chắc, kịp thời nghiên cứu bổ sung, phát triển hệ thống lý luận

về quân sự, quốc phòng, nghệ thuật quân sự,… và cung cấp luận cứ khoa họcphục vụ hoạch định chủ trương, chính sách về quân sự, quốc phòng” [129]

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, việc lựa chọn nghiên cứu: “Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay” làm đề tài Luận án Tiến sĩ Triết học có ý nghĩa

cấp thiết sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Trang 8

Làm rõ một số vấn đề lý luận, thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học củagiảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội;trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp cơ bản nâng cao năng lực nghiên cứu khoa họccủa giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quânđội hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

- Luận giải một số vấn đề lý luận về năng lực nghiên cứu khoa học củagiảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội

- Đánh giá thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoahọc xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay

- Khái quát và luận giải những vấn đề đặt ra từ thực trạng năng lực nghiêncứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường

sĩ quan quân đội hiện nay.

- Đề xuất giải pháp cơ bản nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học củagiảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân độihiện nay

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn

ở các học viện, trường sĩ quan quân đội

Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài luận án nghiên cứu một số vấn đề lý luận, thực trạng

năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở cáchọc viện, trường sĩ quan quân đội Trong đó, tập trung đi sâu nghiên cứu đưa raquan niệm, luận giải nhân tố cơ bản quy định, đánh giá thực trạng năng lực nghiêncứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường

sĩ quan quân đội và đề xuất giải pháp cơ bản nâng cao năng lực nghiên cứu khoahọc của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan

Trang 9

quân đội hiện nay.

- Về không gian: Hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam có 21 học viện,

trường sĩ quan Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, đề tài luận án tập trungkhảo sát đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở 12 họcviện, trường sĩ quan quân đội như: Học viện Chính trị; Học viện Hậu cần; Họcviện Hải Quân; Học viện Biên Phòng; Học viện Phòng không - Không quân; Họcviện Quân Y; Học viện Kỹ thuật quân sự; Trường Sĩ quan Chính trị; Trường Sĩquan Lục quân 1; Trường Sĩ quan Lục quân 2; Trường Sĩ quan Công Binh;Trường Sĩ quan Pháo Binh

- Về thời gian: các số liệu, tư liệu sử dụng trong luận án được khai thác chủ

yếu từ năm 2016 (thời điểm bắt đầu quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết đạihội nhiệm kỳ của hệ thống tổ chức đảng) đến năm 2022

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Dựa trên hệ thống quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về conngười, về năng lực; tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộngsản Việt Nam về đội ngũ tri thức, về năng lực, năng lực nghiên cứu khoa học vàNghị quyết của Quân ủy trung ương về lãnh đạo công tác khoa học quân sự đếnnăng 2030 và những năm tiếp theo

Cơ sở thực tiễn

Thực trạng kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên khoahọc xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội; tham khảo báocáo tổng kết công tác khoa học quân sự ở các học viện, trường sĩ quan quân đội.Đồng thời, đề tài dựa trên các nghị quyết, chỉ thị của Quân uỷ Trung ương, BộQuốc phòng; Tổng cục Chính trị; Cục Nhà trường; Cục Khoa học quân sự, cũngnhư số liệu điều tra, khảo sát thực tế của tác giả và kế thừa kết quả nghiên cứu củacác công trình khoa học có liên quan

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và

Trang 10

chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu củakhoa học chuyên ngành và liên ngành như: phân tích và tổng hợp; lôgic và lịchsử; hệ thống và cấu trúc; điều tra xã hội học; tổng kết thực tiễn, phương pháp kháiquát hóa, trừu tượng hóa, phương pháp chuyên gia và phương pháp phỏng vấn.

5 Những đóng góp mới của luận án

- Đưa ra quan niệm về năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoahọc xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội

- Khái quát và chỉ ra nhân tố cơ bản quy định năng lực nghiên cứu khoahọc của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quanquân đội

- Đánh giá hệ thống nội dung năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viênkhoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay

- Cung cấp các giải pháp cơ bản nâng cao năng lực nghiên cứu khoa họccủa giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quânđội hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp cơ sở khoa học để họcviện, trường sĩ quan quân đội nói riêng và các nhà trường quân đội nói chungtham khảo, vận dụng, nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảngviên khoa học xã hội và nhân văn

Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy,học tập các nội dung liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học cho các đốitượng ở hệ thống nhà trường quân đội

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm: mở đầu, 4 chương (09 tiết), kết luận, danh mục công trìnhkhoa học của tác giả công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu thamkhảo và phụ lục

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội

Nghiên cứu của tác giả Vũ Ngọc Hải (2010): Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức [55], đã giới thiệu những kinh nghiệm phát triển giáo dục và đào tạo,

khoa học công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức của các nước như: Cộnghoà Liên bang Đức, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapo, Trung Quốc Đặcbiệt trong đó có chương 8, các tác giả đi sâu luận giải, đưa ra các chính sách chủyếu phát triển khoa học và công nghệ với phát triển độ ngũ trí thức ở Việt Namhiện nay Tác giả chỉ ra: đổi mới tư duy và nâng cao nhận thức về tri thức khoahọc, công nghệ trong thời kỳ mới; nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ trí thức;cải cách các khâu trong quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đàotạo, chú trọng bồi dưỡng kỹ năng nghiên cứu khoa học cho đội ngũ giảng viêntrong các nhà trường, các cơ sở đào tạo ở nước ta

Tác giả Vũ Việt (2010): Nghiên cứu kiện toàn, phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong các nhà trường quân đội

[182], trên cơ sở tiếp cận, nghiên cứu, luận giải của khoa học giáo dục tác giả đãluận giải bốn giải pháp cơ bản nhằm kiện toàn, phát triển và nâng cao chất lượngđội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục như: Hoàn thiện, bổ sung các văn bảnpháp quy về kiện toàn, phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộquản lý giáo dục quân đội; thực hiện có hiệu quả vấn đề kiện toàn về số lượng, cơcấu đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; từng bước chuẩn hoá chất lượngđội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cần thực hiện tốt về chuẩn chất lượngtheo hướng quản lý chất lượng; chuẩn về trình độ học vấn, chuẩn về trình độ đàotạo chức vụ và kinh nghiệm thực tiễn, chuẩn về trình độ nghiệp vụ sư phạm,

Trang 12

nghiệp vụ; chuẩn về trình độ ngoại ngữ, tin học, bồi dưỡng kỹ năng nghiên cứu vàtạo điều kiện cho nghiên cứu khoa học của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáodục quân đội; xây dựng chính sách đãi ngộ, thu hút đối với đội ngũ nhà giáo, cán

bộ quản lý giáo dục quân đội

Tác giả Lương Thanh Hân (2011): Phát triển bản lĩnh chính trị và tri thức khoa học của giảng viên trẻ khoa học xã hội nhân văn ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [56], đã tiếp cận vấn đề bản lĩnh chính trị và tri

thức khoa học của giảng viên trẻ khoa học xã hội nhân văn ở các trường sĩ quanquân đội nhân dân Việt Nam dưới góc độ khoa học triết học Tác giả đã làm rõmối quan hệ và vai trò quan trọng của bản lĩnh chính trị, tri thức khoa học đối vớigiảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan Quân đội nhândân Việt Nam hiện nay Sau khi phân tích rõ thực trạng, rút ra một số kinhnghiệm, tác giả đã đưa ra 03 giải pháp cơ bản để phát triển bản lĩnh chính trị và trithức khoa học của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩquan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay Một yêu cầu quan trọng mà luận ánđặt ra đó là “giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn cần tự tu dưỡng, rènluyện kết hợp giữa nâng cao đạo đức cách mạng, đạo đức nhà giáo với phẩm chấtchính trị và trình độ tri thức khoa học” [56, tr.168], để từ đó tự hoàn thiện phẩmchất, năng lực của bản thân góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo củacác nhà trường quân sự và nâng cao trình độ toàn diện của đội ngũ giảng viên trẻkhoa học xã hội và nhân văn

Tác giả Mai Văn Hóa (2012): Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở Học viện Chính trị thời kỳ mới [58], đã đề cập

đến phẩm chất, năng lực của người giảng viên khoa học xã hội và nhân văn; hệthống và khái quát hóa lý luận đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo giáo viênkhoa học xã hội và nhân văn ở Học viện Chính trị thời kỳ mới Theo tác giả, đổimới, nâng cao chất lượng đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở Họcviện Chính trị thời kỳ mới cần: Tiếp tục xác định rõ hơn mục tiêu, mô hình đàotạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn thời kỳ mới; chuẩn hóa chương trình,

Trang 13

nội dung, đào tạo; đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức giảng dạy theo hướngphát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của người học, đi sâu rèn luyện kỹ năng

sư phạm cho học viên; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong đàotạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn; xây dựng và phát huy tốt vai trò củacác khoa chuyên ngành trong đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo giảng viênkhoa học xã hội và nhân văn

Tác giả Trần Khánh Đức (2014): Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI [48], đã luận giải sâu sắc về vai trò của giáo dục gắn với nguồn lực của đất nước trước sự phát triển của thời đại công nghệ mới Tác giả cho rằng,

hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau mà trình độ khoa học, năng lực đào tạo,nghiên cứu và ứng dụng của đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên tham gia các côngtác nghiên cứu theo nhiều mức độ khác nhau còn có nhiều hạn chế Đặc biệt, nănglực nghiên cứu và ứng dụng phát triển các quan điểm, lý thuyết, giáo dục hiện đại,phát triển chương trình và đổi mới phương pháp dạy học, nghiên cứu khoa học và

sử dụng các công cụ, phương pháp nghiên cứu khoa học Tại chương 11: “Khoahọc luận và phương pháp nghiên cứu khoa học” [48, tr.128], tác giả luận bàn vềmặt lý luận trong quá trình nghiên cứu khoa học, đồng thời khẳng định nhữngthành tựu và kinh nghiệm để lại trong phương pháp nghiên cứu khoa học đươngđại, chỉ ra những ưu điểm và những yếu tố cần thay đổi cho phù hợp với sự pháttriển của thực tiễn giáo dục ở nước ta hiện nay Tác giả đặc biệt chú trọng chấtlượng nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên, đội ngũ cán bộ khoa học cáccấp, nhất là đội ngũ này tại các nhà trường

Tác giả Nguyễn Văn Sơn (2015): “Biện pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viêntrẻ các môn khoa học xã hội và nhân văn ở nhà trường quân đội” [135], đã làm rõnhững nét đặc thù trong giảng dạy của đội ngũ giảng viên trẻ ở nhà trường quânđội nói chung, đội ngũ giảng viên trẻ các môn khoa học xã hội và nhân văn nóiriêng Theo tác giả, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên các môn khoa học xã hội vànhân văn đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo trong tình hình mới là nhiệm vụ hếtsức quan trọng đối với các nhà trường quân đội Dựa trên hướng tiếp cận này, tác

Trang 14

giả đã trình bày một số biện pháp chủ yếu nhằm bồi dưỡng đội ngũ giảng viên trẻcác môn khoa học xã hội và nhân văn ở nhà trường quân đội; trong đó, đặc biệtnhấn mạnh việc phải “thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chínhtrị, thế giới quan khoa học, phẩm chất đạo đức, lối sống cho giảng viên trẻ” [135,tr.60].

Nghiên cứu của tác giả Lương Cường (2016): “Đổi mới căn bản toàn diệngiáo dục và đào tạo trong các nhà trường quân đội dưới ánh sáng nghị quyết Đạihội XII của Đảng” [15], đã chỉ rõ, quá trình vận dụng, triển khai, cụ thể hóa quanđiểm của Đại hội XII về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo trong các nhàtrường quân đội cần tập trung vào những vấn đề cơ bản như: Tiếp tục đổi mới tưduy nhận thức về giáo dục, đào tạo; tổ chức thực hiện tốt chiến lược phát triểngiáo dục, đào tạo trong quân đội giai đoạn 2011 - 2020; chú trọng xây dựng, pháttriển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; đổi mới mạnh mẽ và đồng bộcác yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo phù hợp với lĩnh vực quân sự và hòa nhậpvới hệ thống giáo dục quốc dân; đổi mới công tác quản lý giáo dục, đào tạo gắnvới kiện toàn hệ thống nhà trường quân đội

Tác giả Nguyễn Văn Giới (2016) với bài viết: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo

trong các nhà trường quân đội theo tinh thần Đại hội XII của Đảng” [50], đã

khẳng định: Quán triệt tinh thần Đại hội XII của Đảng về nội dung “đổi mới cănbản, toàn diện giáo dục đào tạo”, “phát triển nguồn nhân lực”,… đang đặt ra chocác nhà trường quân đội phải tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả nhiệm vụ xâydựng đội ngũ nhà giáo, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạotrong Quân đội hiện nay Trên cơ sở đánh giá: Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lýgiáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu, tác giả cho rằng, Văn kiện Đạihội XII của Đảng đã xác định, theo đó vấn đề đặt ra hiện nay là cần “Nâng caochất lượng, hiệu quả xây dựng đội ngũ nhà giáo trong các nhà trường quân đội vềphẩm chất nhân cách và trình độ chuyên môn, tay nghề sư phạm” [50, tr.15]; chútrọng hoàn thiện hệ thống chuẩn mực trong mô hình nhân cách người giảng viên,giáo viên ở từng học viện, nhà trường

Trang 15

Tác giả Lê Văn Làm (2017): Phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trong các trường sĩ quan quân đội [99], từ góc độ nghiên

cứu của chính trị học đã chỉ ra: Nhân lực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văntrong các trường sĩ quan quân đội là lực lượng có trình độ học vấn cao, có tư duyđộc lập, sáng tạo, thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng vàđào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ cao Họ là những cán bộ nghiên cứu, giảng viêntham gia nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, những cán bộ làm công táctrong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn của quân đội; là lực lượng giữ vai trònòng cốt và trực tiếp trong nghiên cứu, giảng dạy khoa học xã hội và nhân văn,nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tham gia tích cực vào công tác tưtưởng, lý luận của Đảng Tác giả khẳng định, việc phát triển nguồn nhân lựcnghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn có vai trò rất quan trọng, là một trongnhững nhân tố quyết định đến chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ giảng dạy, nghiêncứu khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội Tác giả đề xuất

05 giải pháp cơ bản để phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học xã hội vànhân văn trong các trường sĩ quan quân đội hiện nay, trong đó xác định vấn đềquan trọng hàng đầu là cấp ủy đảng các cấp, cơ quan chức năng cần nhận thứcthống nhất về sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học xãhội và nhân văn trong tình hình mới, đồng thời tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo,bám sát nhiệm vụ chính trị, đặc điểm hoạt động của đơn vị để xác định các chủtrương, biện pháp phù hợp

Nghiên cứu của tác giả Đặng Sỹ Lộc (2017): Xây dựng đội ngũ giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn trong các nhà trường quân đội hiện nay [107], đã

chỉ rõ, đội ngũ giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn trong các nhà trườngquân đội là một bộ phận của cán bộ quân đội, cán bộ của Đảng, là lực lượng kếcận, kế tiếp, trực tiếp tạo nên chất lượng đội ngũ giảng viên khoa học xã hội vànhân văn của các nhà trường quân đội Chăm lo xây dựng đội ngũ giảng viên trẻkhoa học xã hội và nhân văn luôn là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng gópphần nâng cao chất lượng đào tạo, uy tín, vị thế của các nhà trường quân đội trong

Trang 16

thời kỳ mới Xây dựng đội ngũ giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn là yêucầu khách quan, thường xuyên, là nội dung cốt lõi trong xây dựng nhà trườngquân đội hiện nay Tác giả khẳng định: Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, tìnhhình nhiệm vụ và yêu cầu xây dựng quân đội, xây dựng các nhà trường quân độiđang đặt ra những đòi hỏi lớn đối với đội ngũ giảng viên nói chung, ngũ giảngviên trẻ khoa học xã hội và nhân văn nói riêng Do đó, cần tiếp tục chăm lo xâydựng đội ngũ giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn đủ về số lượng, mạnh vềchất lượng Đây “vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong quá trình xây dựng cácnhà trường quân đội chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại” [107, tr.78]

Tác giả Nguyễn Trần Long (2017): Gắn đào tạo với sử dụng đội ngũ giảng viên ở học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay

[108], tác giả đã khái quát cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò họcviện, trường sĩ quan trong quân đội; xây dựng quan niệm; phân tích làm rõ chứctrách, nhiệm vụ, đặc điểm của đội ngũ giảng viên ở học viện, trường sĩ quan quânđội Xác lập, luận giải quan niệm, nội dung, hình thức, biện pháp, những vấn đề

có tính nguyên tắc, tiêu chí đánh giá gắn đào tạo với sử dụng đội ngũ giảng viên ởhọc viện, trường sĩ quan quân đội; đánh giá thực trạng, khái quát những kinhnghiệm; dự báo yếu tố tác động, xác định yêu cầu, đề xuất giải pháp tăng cườnggắn đào tạo với sử dụng đội ngũ giảng viên ở học viện, trường sĩ quan giai đoạnhiện nay

Tác giả Trần Ngọc Hồi (2018): Nâng cao chất lượng đội ngũ chủ nhiệm bộ môn ở Học viện Chính trị hiện nay [91], đã khái quát và chỉ ra đặc điểm, vai trò,

yêu cầu về phẩm chất năng lực của đội ngũ chủ nhiệm bộ môn ở Học viện Chínhtrị Trên cơ sở đó, xây dựng quan niệm đội ngũ chủ nhiệm bộ môn, chất lượng độingũ chủ nhiệm bộ môn và nâng cao chất lượng đội ngũ chủ nhiệm bộ môn; đánhgiá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân ưu điểm, khuyết điểm về chất lượng đội ngũchủ nhiệm bộ môn ở Học viện Chính trị hiện nay Để nâng cao chất lượng đội ngũchủ nhiệm bộ môn hiện nay, theo tác giả cần quán triệt và thực hiện tốt những giảipháp đó là: Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức,

Trang 17

các lực lượng; nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, tạo nguồn, tuyển chọn độingũ chủ nhiệm bộ môn; nâng cao chất lượng quản lý, sử dụng, sàng lọc đội ngũ;kết hợp chặt chẽ giữa bồi dưỡng của tổ chức với phát huy tính tích cực, tự giáccủa đội ngũ chủ nhiệm bộ môn trong học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất, nănglực chuyên môn, nghiệp vụ; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thường vụ Đảng

ủy, Ban Giám đốc Học viện và phát huy sức mạnh của các tổ chức, lực lượng đốivới nâng cao chất lượng đội ngũ chủ nhiệm bộ môn ở Học viện Chính trị hiệnnay

Tác giả Lê Thanh Phong (2019): “Chuẩn hoá đội ngũ giảng viên ở học viện, trường sĩ quanquân đội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, đào tạo” [126], đề tài đã khái quát vị trí, vai trò của độingũ giảng viên; thực trạng chất lượng xây dựng đội ngũ giảng viên, trong đó chỉ rõ một bộ phận giảngviên còn lúng túng, thiếu linh hoạt, sáng tạo trong tổ chức hoạt động thực tiễn công tác, chất lượng hoạtđộng chuyên môn chưa cao, năng lực giảng dạy, nghiên cứu khoa học còn hạn chế Do đó, học viện,trường sĩ quan quân đội cần chuẩn hoá đội ngũ giảng viên trên một số vấn đề sau: Chuẩn hoá đội ngũgiảng viên về trình độ ngoại ngữ, tin học; chuẩn hoá về chức danh; chuẩn hoá về phương pháp sưphạm; chuẩn hoá đội ngũ giảng viên gắn với chuẩn hoá về nội dung, chương trình giảng dạy cho phùhợp với thực tiễn và từng đối tượng đào tạo

Tác giả Trần Thanh Sơn (2020): Xây dựng đội ngũ giảng viên quân sự ở học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay [136], đã xây dựng quan niệm về đội ngũ giảng viên quân sự ở học viện,

trường sĩ quan quân đội; đi sâu nghiên cứu làm rõ chức trách, nhiệm vụ, vai trò, đặc điểm, của đội ngũgiảng viên quân sự Chỉ ra quan niệm trung tâm về xây dựng đội ngũ giảng viên quân sự, trong đó tậptrung làm rõ thực chất xây dựng đội ngũ giảng viên quân sự ở học viện, trường sĩ quan; chủ thể, đốitượng, lực lượng, nội dung, hình thức, biện pháp xây dựng; xác định những vấn đề có tính nguyên tắc

và bộ tiêu chí đánh giá xây dựng đội ngũ giảng viên quân sự ở học viện, trường sĩ quan quân đội Trên

cơ sở khung lý luận, thực tiễn, tác giả đề xuất 05 nhóm giải pháp có tính khả thi nhằm tăng cường xâydựng đội ngũ giảng viên quân sự đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cả trước mắt và lâu dài ở học viện, trường

sĩ quan quân đội

Tác giả Chu Ngọc Sáng (2020): “Xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầunhiệm vụ trong tình hình mới” [133], đã khái quát về vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ giảng viên

Trang 18

đối với nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học; đồng thời khẳng định, để đáp ứng yêu cầu đổi mớicăn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, xây dựng “nhà trường thông minh”,tác giả đề xuất một số giải pháp đó là: Cấp uỷ, chỉ huy các cấp trong học viện đẩy mạnh công tác giáodục chính trị, tư tưởng, tạo bước chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm đối với xây dựng Hải quânnhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; đảng uỷ, ban giám đốc học việnthường xuyên quan tâm, chăm lo, tạo điều kiện cho đội ngũ giảng viên phát triển, cống hiến, xây dựnghọc viện theo hướng mô hình “nhà trường thông minh”; đảng uỷ, ban giám đốc học viện thườngxuyên quan tâm xây dựng đội ngũ giảng viên theo hướng “chuẩn hoá - trẻ hoá” bảo đảm có sự kếthừa, phát triển.

Tác giả Nguyễn Dũng (2022): “Xây dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục ởTrường Sĩ quan Lục quân 2 - vấn đề và giải pháp” [18], đã khẳng định: Chăm lo xây dựng đội ngũnhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt, quyết định trực tiếp đến chất lượng giáo dục, đàotạo Đây là vấn đề quan trọng, cấp thiết đối với các học viện, nhà trường Quân đội nói chung, Trường

Sĩ quan Lục quân 2 nói riêng Đánh giá việc xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục củanhà trường có mặt chưa đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đề ra Tỷ lệ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục quagiữ chức theo cấp đào tạo còn thấp Cơ cấu độ tuổi, kinh nghiệm và cương vị công tác của đội ngũgiảng viên còn có những bất cập; số lượng giảng viên, cán bộ quản lý qua chiến đấu ngày càng giảm.Bên cạnh đó, một bộ phận giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục kiến thức thiếu hệ thống, năng lực, kinhnghiệm chỉ huy, huấn luyện, kỹ năng sư phạm còn yếu, nhất là trình độ tin học, ngoại ngữ còn hạn chế,làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Để khắc phục những hạn chế nêu trên, tác giả đề xuất và luậngiải các giải pháp: tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với công tác đào tạo,bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý; chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng,chuẩn hóa đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; tập trung bồidưỡng toàn diện cả về học vấn, trình độ quản lý, chỉ huy, năng lực sư phạm và kinh nghiệm thực tiễncho đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục; đồng thời, thực hiện tốt chế độ, chính sách, nâng caođời sống vật chất, tinh thần của đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục, để họ yên tâm, gắn bóvới nhiệm vụ

Có thể thấy rằng, những công trình nghiên cứu nêu trên đã đưa ra những khái quát, nhận định

và những đề xuất các giải pháp thiết thực cho việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,

Trang 19

giảng viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội Nghiên cứu của các tác giả cho thấy, để các họcviện, trường sĩ quan quân đội luôn thật sự là môi trường sư phạm chuẩn mực, thì đòi hỏi trước hết độingũ cán bộ, giảng viên phải là những người mẫu mực về phẩm chất, tiêu biểu về năng lực sư phạm;thiết thực góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo củaĐảng, Nhà nước và Quân đội trong tình hình hiện nay.

1.1.2 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến năng lực, năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội

Tác giả Võ Văn Hải (2011): “Quan hệ giữa năng lực trí tuệ và phẩm chất đạo đức của học viên đào tạo sĩ quan trong các trường đại học quân sự hiện nay” [54], từ góc độ triết học, tác giả đã

nghiên cứu và cung cấp những luận chứng khoa học cho việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữanăng lực trí tuệ và phẩm chất đạo đức của học viên đào tạo sĩ quan trong các trường đại học quân sự,qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sĩ quan trong các trường đại học quân sự hiện nay Tácgiả khẳng định: “Năng lực trí tuệ của học viên đào tạo sĩ quan là khả năng người học viên huy động và

sử dụng tri thức, phương pháp tư duy khoa học, khả năng sáng tạo của mình trong lĩnh hội, khám phá

và làm chủ hệ thống tri thức được trang bị, vận dụng vào giải quyết hiệu quả nhiệm vụ học tập, rènluyện đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo” [54, tr.29] Đồng thời chỉ ra khả năng sáng tạo trong quátrình học tập, rèn luyện và hoạt động thực tiễn là một yếu tố cơ bản trong cấu trúc của năng lực trí tuệbên cạnh hệ thống tri thức mà học viên tiếp nhận, lĩnh hội, khám phá, tích lũy trong quá trình đào tạo vàphương pháp tư duy khoa học Vì vậy, quá trình dạy học ở các trường đại học quân sự cần đặc biệt chútrọng phát triển khả năng tìm tòi, sáng tạo của học viên, tạo cho học viên khả năng thích ứng và hòanhập nhanh với mọi hoạt động của thực tiễn quân sự

Tác giả Nguyễn Văn Tuyên (2013): Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn trong học viện, trường sĩ quan quân đội [169], tiếp cận từ góc độ

khoa học chính trị, đề tài đã làm rõ các yếu tố cấu thành năng lực nghiên cứu khoa học đó là: Nănglực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn trong các học viện, trường sĩquan quân đội là khả năng xác định vấn đề khoa học; khả năng tổ chức nghiên cứu, thu thập, xử lýthông tin khoa học; khả năng lựa chọn phương pháp nghiên cứu và khả năng trình bày và công bố kếtquả nghiên cứu khoa học Đồng thời cũng chỉ rõ nội dung nâng cao năng lực nghiên cứu khoa họccủa giảng viên khoa học xã hội và nhân văn trong học viện, trường sĩ quan quân đội Đặc biệt tác giả

Trang 20

đã khái quát, làm rõ những vấn đề đặt ra đối với nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảngviên khoa học xã hội và nhân văn trong học viện, trường sĩ quan quân đội như: nâng cao năng lựcnghiên cứu khoa học của giảng viên khoa khoa học xã hội và nhân văn trong các học viện, trường sĩquan quân đội đặt ra nhiều vấn đề cần thiết phải giải quyết như: nâng cao trình độ tri thức toàn diện chogiảng viên; đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển khoa học xã hội nhân văn; tạo động lực vật chất và tinhthần cho hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên; về phát huy vai trò của chủ thể, lực lượng vàcủa giảng viên khoa học xã hội và nhân văn; trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nâng cao năng lực nghiêncứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn trong học viện, trường sĩ quan quân đội.

Tác giả Đào Thị Oanh (2014), trong bài báo: “Năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục củagiảng viên đại học” [122], dưới góc độ giáo dục học, tác giả đã chỉ ra, nghiên cứu năng lực nghiêncứu khoa học của giảng viên đại học là việc làm cần thiết, với mục tiêu đầu tiên nhằm đảm bảo lợi íchcho người học, đồng thời kích thích sự nỗ lực và nâng cao tính chịu trách nhiệm ở đội ngũ giảng viên.Tác giả tập trung làm rõ 03 mặt biểu hiện chủ yếu của năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục ởngười giảng viên, bao gồm: kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục; kinh nghiệm thực tiễn về giáodục, về nghiên cứu khoa học; phổ biến, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào giảng dạy và thực tiễn.Cùng với đó, đã nêu khái quát các biểu hiện, xây dựng tiêu chí đánh giá kỹ năng nghiên cứu khoa họccủa giảng viên làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển kỹ năng nghiên cứu khoa học và năng lựcnghiên cứu khoa học của giảng viên

Tác giả Hoàng Hòa Bình (2015): “Năng lực và đánh giá theo năng lực” [6], đã phân tích

khá toàn diện các quan niệm về năng lực theo các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước; từ đó, tác giảđưa ra nhận thức chung: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có

và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định,đạt kết quả mong muốn, trong những điều kiện cụ thể” [6, tr.25] Tác giả đã tiếp cận cấu trúc của nănglực theo các khía cạnh khác nhau: Theo nguồn lực hợp thành (tri thức, kĩ năng, niềm tin, sự sẵn sànghoạt động…); theo năng lực bộ phận (hợp phần - là các lĩnh vực chuyên môn tạo nên năng lực, thành

tố - là các năng lực hoặc kĩ năng bộ phận tạo nên mỗi hợp phần, hành vi - là bộ phận được chia tách từmỗi thành tố) Cách tiếp cận của tác giả giúp nghiên cứu sinh có cách nhìn đa chiều hơn, toàn diện hơntrong quan niệm về năng lực và cấu trúc năng lực, từ đó xây dựng hệ thống khái niệm công cụ và kháiniệm trung tâm của luận án

Trang 21

Tác giả Trần Thị Thu Hiền (2015): Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên

ở học viện, trường sĩ quan [57], tiếp cận dưới góc độ quản lý giáo dục, đề tài luận án đã đề cập đến

hoạt động nghiên cứu khoa học, quản lý khoa học ở học viện, trường sĩ quan Việt Nam Tác giả đã bổsung và hoàn thiện một số luận điểm lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, xây dựng kháiniệm nghiên cứu khoa học, làm rõ các đặc điểm nghiên cứu khoa học của giảng viên trong nhà trườnggắn liền với đào tạo đại học và phục vụ đào tạo Từ đó, phát hiện những vấn đề bất cập trong hoạt độngnghiên cứu khoa học của giảng viên, học viên như: Cơ chế chính, sách chưa tạo điều kiện cho giảngviên, học viên tham gia nghiên cứu khoa học; công tác hướng dẫn nghiên cứu khoa học; công tác lãnhđạo, chỉ đạo của các cấp trong nghiên cứu khoa học; Đồng thời, tác giả đã trình bày 06 giải pháp cụthể nhằm nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học và quản lý hoạt động nghiên cứu khoahọc của giảng viên ở học viện, trường sĩ quan hiện nay

Tác giả Lã Hồng Phương (2015): “Bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giảng viên khoa học xãhội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan theo hướng tiếp cận năng lực thực hiện” [127], bàibáo đã khẳng định rằng: Xu thế tiếp cận năng lực thực hiện trong giáo dục, đào tạo nói chung, dạy họcnói riêng đang trở lên phổ biến Vì vậy, bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm cho giảng viên theohướng tiếp cận năng lực thực hiện là một yêu cầu tất yếu Tổ chức bồi dưỡng năng lực sư phạm chogiảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội theo hướng tiếp cậnnăng lực thực hiện được thể hiện trong việc xây dựng các kế hoạch, chương trình, nội dung bồi dưỡng.Tác giả Nguyễn Văn Tượng (2016): Bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo giảng viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội giai đoạn hiện nay [173], từ góc độ tiếp cận, nghiên cứu triết học đã chỉ ra: Bồi dưỡng năng lực

nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo giảng viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội là tổngthể các hoạt động của chủ thể, tác động trực tiếp vào nhận thức, hành vi và hoạt động tự h ọc tập, rènluyện của học viên đào tạo giảng viên nhằm nâng cao tri thức tổng hợp, trình độ tư duy, kỹ năng, kinhnghiệm nghiên cứu khoa học, đảm bảo cho học viên hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, nghiên cứukhoa học theo mô hình, mục tiêu đào tạo tại trường, góp phần thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ ngườigiảng viên, cán bộ sĩ quan sau khi ra trường Thông qua bồi dưỡng bổ sung, củng cố, phát triển tri thứctổng hợp, kỹ năng nghiên cứu khoa học, trang bị phương pháp, rèn luyện tác phong, hình thành kỹ

Trang 22

xảo, kỹ năng trong thực hành nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo giảng viên, góp phần nângcao chất lượng nghiên cứu khoa học và giáo dục, đào tạo của các học viện, trường sĩ quan quân đội

Tham gia bồi dưỡng hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chỉ huy, cơ quan chức năng các cấp, cáckhoa giáo viên, đội ngũ cán bộ khoa học ở các học viện, trường sĩ quan quân đội Đội ngũ học viênđào tạo giảng viên vừa là đối tượng bồi dưỡng, đồng thời là chủ thể tự bồi dưỡng thông qua tự học tập,

tự nghiên cứu để nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học Nội dung bồi dưỡng là: Lý luận chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhànước và khả năng vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn; trang bị tri thức tổng hợp, truyền thụ kinhnghiệm nghiên cứu khoa học cho học viên đào tạo giảng viên; nâng cao trình độ tư duy khoa học,khả năng nhạy bén trong phát hiện vấn đề nghiên cứu, xác định mục tiêu, lựa chọn đối tượng, phạm vi,khách thể, trong tiếp cận đối tượng nghiên cứu; bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng triển khai nghiên cứu cáccông trình, đề tài khoa học, luận văn, rèn luyện phương pháp, tác phong nghiên cứu; năm là, bồidưỡng, kỹ năng làm việc theo nhóm cho học viên đào tạo giảng viên

Nghiên cứu của tác giả Trần Hậu Tân (2016), “Kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” [137], tiếp cận

dưới góc độ triết học, tác giả quan niệm: “Năng lực là tổng hòa khả năng của chủ thể trong những điềukiện nhất định được biểu hiện ra trong hoạt động giúp chủ thể nhận thức và giải quyết có hiệu quả côngviệc trong những lĩnh vực cụ thể” [137, tr.12] Năng lực luôn gắn liền với một cá nhân, một tập thể,một nhóm xã hội và mỗi loại năng lực được thể hiện trong từng loại lĩnh vực hoạt động cụ thể Tác giảcho rằng, năng lực của con người được cấu thành bởi hai yếu tố cơ bản: yếu tố tự nhiên (sinh học) vàyếu tố xã hội Yếu tố tự nhiên là những cái thuộc về bẩm sinh, gen di truyền, nhất là hoạt động của hệthần kinh cấp cao, v.v Yếu tố xã hội được thể hiện ở quá trình giáo dục, tự giáo dục, tự phấn đấu và rènluyện Nếu yếu tố tự nhiên mang tính tiền đề, cơ sở của năng lực thì yếu tố xã hội có ý nghĩa quyết địnhđến sự hình thành và phát triển năng lực, bởi từ tiền đề yếu tố tự nhiên, năng lực của con người là kếtquả của quá trình hoạt động rèn luyện, tích lũy lâu dài thông qua học tập và hoạt động thực tiễn Quanniệm của tác giả được nghiên cứu sinh vận dụng xây dựng cấu trúc năng lực nghiên cứu khoa học vàkhái niệm năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện,trường sĩ quan Quân đội hiện nay

Trang 23

Tác giả Trương Văn Bảy (2017), “Phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” [3], dưới góc độ tiếp cận triết học, tác giả

làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn và vấn đề đặt ra đối với phát triển năng lực giáo dục nhân cáchcủa sĩ quan chỉ huy cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp cơ bản pháttriển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Namhiện nay Tác giả khẳng định: “Năng lực là tổng hòa các thuộc tính chủ quan của chủ thể, hợp thànhkhả năng và điều kiện nội tại bảo đảm cho chủ thể hoạt động đạt chất lượng, hiệu quả” [3, tr.31]

Trên cơ sở phân tích thực trạng, tác giả chỉ ra các vấn đề đặt ra đối với phát triển năng lực giáodục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam: Vấn đề cập nhật và bổsung tri thức, kĩ năng tổ chức hoạt động giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội hiện nay;vấn đề khắc phục khuynh hướng áp đặt, mệnh lệnh hóa trong giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huycấp phân đội hiện nay; vấn đề ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tựdiễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trong môi trường sống và hoạt động của sĩ quan chỉ huy cấp phânđội hiện nay Tác giả xác định 03 nhóm giải pháp để phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩquan chỉ huy cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam, đó là: Kết hợp đổi mới đào tạo với bồidưỡng sĩ quan chỉ huy cấp phân đội đáp ứng yêu cầu hoạt động giáo dục nhân cách ở cấp phân độihiện nay; phát huy tính tích cực, sáng tạo của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội trong nhận thức và thực tiễnnhằm phát triển năng lực giáo dục nhân cách; xây dựng và phát huy vai trò của môi trường ở đơn vị cơ

sở trong phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội hiện nay

Tác giả Cao Thị Hà (2017), “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ giảng viên các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay” [51], dưới góc độ triết học, tác

giả cho rằng: Năng lực là khả năng dưới dạng vật chất hoặc tinh thần của một cá nhân hoặc một tổchức người để thực hiện một hoạt động nào đó nhằm làm cho hoạt động đạt được hiệu quả cao, nóiđến năng lực là nói đến hoạt động của con người, gắn với con người Tác giả khẳng định: “Năng lực tưduy là tổng hợp những phẩm chất trí tuệ của con người đáp ứng yêu cầu nhận thức thế giới và đảmbảo cho hoạt động sáng tạo” [51, tr.42] Năng lực được biểu hiện ở khuynh hướng nhận thức và hànhđộng; kết quả xử lý thông tin, kết quả hoạt động; phương pháp tiếp cận vấn đề khác nhau Bản chất của

Trang 24

năng lực tư duy là tổng hợp những phẩm chất trí tuệ và trên cơ sở phẩm chất trí tuệ ấy có nhận thức vàhành động sáng tạo.

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Thanh (2017), “Phát triển năng lực chỉ huy của sĩ quan pháo binh cấp phân đội trong quân đội nhân dân Việt Nam hiên nay” [138], dưới góc độ tiếp cận triết

học, tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận về phát triển năng lực chỉ huy của sĩ quan chỉ huy cấp phânđội trong Quân đội nhân dân Việt Nam, đánh giá thực trạng và nêu những vấn đề đặt ra đối với pháttriển năng lực chỉ huy của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay,

từ đó đề xuất giải pháp cơ bản phát triển năng lực chỉ huy của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội trong Quânđội nhân dân Việt Nam hiện nay Vấn đề năng lực được tác giả tiếp cận ở góc độ nội chủ thể - hoạtđộng, coi năng lực tồn tại dưới trạng thái cả khả năng và hiện thực Trạng thái hiện thực, năng lực baohàm cả những phẩm chất đã được bộc lộ thành sức mạnh làm được việc nào đó hay đáp ứng hoạtđộng nào đó, đạt một kết quả nhất định Trạng thái khả năng, năng lực là những phẩm chất cá nhânchưa bộc lộ, nó vẫn đang tồn tại dưới dạng khả năng tiềm ẩn bên trong mỗi chủ thể và sẽ được pháthuy, bộc lộ trong một quan hệ với khách thể, đối tượng nhất định, bằng kết quả tương ứng và trongđiều kiện hoạt động nào đó của chủ thể Từ đó tác giả khẳng định “Năng lực là một tổ hợp các phẩmchất của cá nhân, đáp ứng những yêu cầu hoạt động và làm cho hoạt động đó đạt được kết quả” [138,tr.28] Năng lực hình thành trong quá trình sinh tồn, phát triển của con người, có cơ sở tầng sâu từ thựctiễn và nhu cầu làm chủ tự nhiên, xã hội và tư duy của con người, khẳng định sức mạnh của con ngườitrong nhận thức và cải tạo thế giới Trong mỗi điều kiện sống, làm việc và hoạt động khác nhau sẽ cónhững năng lực khác nhau với những sắc thái, biểu hiện cụ thể riêng Năng lực của chủ thể luôn mangdấu án của môi trường xã hội và tính tích cực của chủ thể trong hoạt động Kết quả nghiên cứu của tácgiả đã gợi mở cho nghiên cứu sinh cách tiếp cận về nội hàm của khái niệm năng lực, năng lực nghiêncứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiệnnay

Tác giả Nguyễn Văn Sáu (2018): “Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn của đội ngũ giảng viên trẻ ở học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay” [134], tiếp cận ở góc độ

chính trị học: Năng lực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn của chủ thể là tổng hoà các yếu tốtri thức, khả năng tư duy và kỹ năng, kinh nghiệm được sử dụng trong việc phát hiện và giải quyết

những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính trị - xã hội và con người [134, tr.18] Tác giả khẳng định,

Trang 25

nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn của giảng viên trẻ có ý nghĩa vô cùng quantrọng, quyết định đến chất lượng, hiệu quả nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn ở học viện, trường

sĩ quan quân đội Đồng thời, chỉ rõ thực trạng nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn của các giảngviên trẻ ở học viện, trường sĩ quan trong thời gian qua, nhất mạnh những hạn chế, bất cập trong nângcao năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên trẻ Tác giả cho rằng, trước sự phát triểnnhanh chóng của khoa học công nghệ, trước yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo và yêu cầuchuẩn hóa đội ngũ giảng viên đại học, cần thiết phải đổi mới và nâng cao chất lượng nghiên cứu khoahọc xã hội nhân văn của đội ngũ giảng viên trẻ ở các học viện trường sĩ quan

Tác giả Lưu Duy Toàn (2018), “Năng lực thực hiện dân chủ trực tiếp của hạ sĩ quan, binh sĩ

ở đơn vị cơ sở Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” [144], dưới góc độ tiếp cận triết học, tác giả đã

luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực thực hiện dân chủ trực tiếp của hạ sĩ quan, binh

sĩ ở đơn vị cơ sở; đề xuất yêu cầu, giải pháp chủ yếu nâng cao năng lực thực hiện dân chủ trực tiếp của

hạ sĩ quan, binh sĩ ở đơn vị cơ sở Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay Khi bàn về năng lực, tác giảquan niệm: “Năng lực là tổng hòa các yếu tố tri thức, kinh nghiệm, khả năng hoạt động và tiềm năngbên trong, được huy động trong hoạt động thực tiễn con người” [144, tr.53] Năng lực được biểu hiện

ở khả năng hoạt động và tiềm năng của chủ thể về nhận thức và hành động nhằm giải quyết vấn đềthực tiễn đời sống Tác giả cho rằng, con người chưa thực hiện hành động thì năng lực còn ở dạng tiềmtàng, khi bắt đầu hoạt động thì năng lực tiềm tàng sẽ trở thành khả năng hiện thực, do đó kết quả hànhđộng thực tiễn luôn là tiêu chí đánh giá năng lực

Tác giả Nguyễn Thế Vinh (2018), “Quản lý hoạt động học tập của học viên ở các trường sĩ quan quân đội theo hướng phát triển năng lực” [183], tác giả cho rằng, để thực hiện chuyển mục tiêu

đào tạo chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học cần phảichuyển từ giáo dục định hướng nội dung sang giáo dục định hướng năng lực Với quan niệm “Nănglực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng mộtcách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống”[183, tr.41], tác giả phân tích làm rõ hoạt động học tập theo hướng phát triển năng lực và những vấn đề

lý luận, thực tiễn quản lý học tập của học viên ở các trường sĩ quan quân đội theo hướng phát triển nănglực, làm cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý và kiểm nghiệm các biện pháp quản lý hoạt động học tậpcủa học viên ở các trường sĩ quan quân đội theo hướng phát triển năng lực

Trang 26

Nghiên cứu của tác giả Ngô Văn Giao (2019): “Đẩy mạnh công tác khoa học, công nghệ vàmôi trường quân sự trong tình hình mới” [49], nội dung bài báo đã khẳng định: Ngày nay, khoa học,công nghệ đã trở thành động lực chủ yếu cho sự phát triển của các ngành, lĩnh vực và mỗi quốc gia.Trước tình hình đó, ngành khoa học quân sự cần đẩy mạnh công tác khoa học, công nghệ và môitrường quân sự, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, ưu tiênmột số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại Tác giả chỉ ra hiện nay, trước yêucầu xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhất là xây dựngquân đội theo hướng “tinh - gọn - mạnh” và những thách thức của Cách mạng công nghiệp 4.0, đòihỏi công tác khoa học, công nghệ và môi trường quân sự phải đi trước một bước Từ đó, đề xuất một

số biện pháp cần quan tâm thực hiện như: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, người chỉ huycác cấp đối với hoạt động khoa học, công nghệ và môi trường quân sự; triển khai đồng bộ, toàn diện,hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; đẩy mạnh đầu tư xây dựng,phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và môi trường quân sự

Tác giả Phan Huy Hùng (2021): “Bồi dưỡng kỹ năng nghiên cứu khoa học cho giảng viênnhà trường quân đội” [95], đã khẳng định: Nghiên cứu khoa học là một tiêu chí phản ánh phẩm chất,năng lực, uy tín, vị thế người giảng viên nhà trường quân đội; đồng thời, giúp các giảng viên có điềukiện đào sâu, mở rộng, nắm bắt chặt chẽ hơn kiến thức chuyên ngành mà mình đang trực tiếp giảngdạy, kịp thời điều chỉnh, bổ sung những nội dung kiến thức chưa chuẩn xác trong bài giảng của mình.Khi giảng viên tiến hành nghiên cứu khoa học một mặt vừa củng cố lại kiến thức chuyên môn củamình, mặt khác vừa có điều kiện mở rộng, hiểu biết nhiều hơn từ những kiến thức từ các chuyênngành khác, bổ sung hàm lượng tri thức toàn diện về khoa học xã hội và nhân văn quân sự, làm tăngtính giao thoa giữa lý luận và thực tiễn hoạt động quân sự Quá trình các giảng viên nhà trường quânđội tiến hành nghiên cứu khoa học góp phần phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, khả năng làm việcđộc lập, trau dồi tri thức và các phương pháp nhận thức khoa học của giảng viên, đồng thời hình thành

ở giảng viên những phẩm chất, kỹ năng ban đầu của nhà khoa học

Nghiên cứu của tác giả Bùi Quang Huy (2021) trong bài báo: “Nâng cao chất lượng đào tạo,nghiên cứu khoa học trong các nhà trường Quân đội” [96], đã khẳng định: Để đáp ứng mục tiêu, lộtrình phát triển đất nước, xây dựng Quân đội nhân dân theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã vàđang đặt ra yêu cầu cần không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các

Trang 27

nhà trường quân đội Trên cơ sở khái quát thực trạng, tác giả đã đề xuất 05 giải pháp để nâng cao hiệu

quả nội dung công tác này Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến việc nâng cao nhận thức, trách

nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp, đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên đối với nhiệm vụ giáo dục, đào

tạo và nghiên cứu khoa học và thường xuyên quan tâm, đầu tư cơ sở vật chất, từng bước hiện đại hóa

trang, thiết bị dạy học, quản lý đào tạo, nghiên cứu khoa học Hoàn thiện hệ thống quản lý điều hành,phần mềm quản lý giáo dục, nghiên cứu khoa học; hệ thống giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm,

dữ liệu thông tin, tài liệu, tạo sự đột phá thực hiện đồng bộ, hiệu quả đề án ứng dụng công nghệ trongquản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy học, nghiên cứu khoa học

Tác giả Lê Huy Vịnh (2022): “Tư duy mới của Đảng về phát triển khoa học, công nghệtrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [184], đã chỉ ra: Phát triển khoa học, công nghệ có vaitrò đặc biệt quan trọng đối với quân đội nhằm nghiên cứu, sản xuất các loại vũ khí hiện đại để không bịchi phối bởi các yếu tố nước ngoài, tự chủ phát triển khoa học kỹ thuật, kỹ thuật công nghệ, công nghệlõi phù hợp với điều kiện địa hình và cách đánh của quân đội ta Để đẩy mạnh nghiên cứu, phát triểnkhoa học và công nghệ quân sự lên tầm cao mới, tác giả đã đề xuất 05 giải pháp cơ bản là: Tiếp tụcquán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ; xácđịnh rõ các chủ trương, định hướng phát triển khoa học, công nghệ trong Chiến lược phát triển khoahọc, công nghệ đến năm 2030 của Bộ Quốc phòng, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội tinh, gọn,mạnh, tiến lên hiện đại; tiếp tục kiện toàn các tổ chức nghiên cứu khoa học, công nghệ theo hướngchuyên sâu, gắn với chức năng nhiệm vụ, gắn nghiên cứu với sản xuất; đổi mới toàn diện cơ chếchính sách, cơ chế quản lý khoa học, công nghệ theo quy định của Nhà nước và đặc thù của Bộ Quốcphòng; nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ quân sự, chú trọng đầu tư tập trung phục vụ cho cáchướng nghiên cứu chiến lược, ưu tiên, sản phẩm trọng điểm

Có thể thấy, các công trình khoa học nêu trên đã luận bàn nhiều khía cạnh cả lý luận và thựctiễn về năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên, giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở cáchọc viện, trường sĩ quan quân đội Do vậy, việc tổng quan những công trình này là cơ sở để nghiên cứusinh tiếp cận góc nhìn đa chiều và thấy được bức tranh toàn cảnh về vấn đề nghiên cứu của mình Đây

là những tư liệu rất quý giá và sát với hướng nghiên cứu đề tài luận án của nghiên cứu sinh

1.2 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

Trang 28

1.2.1 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan đối với đề tài luận án

Có thể khẳng định, cho đến nay có nhiều công trình của nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu vềnhững vấn đề liên quan đến đội ngũ giảng viên nói chung, giảng viên khoa học xã hội và nhân văn nóiriêng, cũng như năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên, giảng viên khoa học xã hội và nhân văn

ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay luôn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhàkhoa học, nhà lãnh đạo, quản lý các cấp cả trong và ngoài quân đội Mặc dù tiếp cận nghiên cứu, luậngiải dưới nhiều góc độ với các chuyên ngành khoa học khác nhau, song hầu hết các công trình nghiêncứu đều làm nổi bật nội dung vấn đề nghiên cứu theo mục tiêu, nhiệm vụ đề ra Những luận cứ, luậnchứng, kết quả và những gợi mở khoa học của các công trình nghiên cứu là những đóng góp có giá trịlớn về mặt khoa học, giúp nghiên cứu sinh có thể tham khảo, kế thừa trong quá trình thực hiện đề tài

luận án: “Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay” Qua tổng quan các công trình khoa học đã được công bố, nghiên

cứu sinh rút ra một số giá trị cơ bản đối với luận án như sau:

Giá trị về lý luận: Tổng quan các công trình khoa học tiêu biểu có liên quan đến đề tài luận án cho

thấy, các công trình khoa học đã luận giải khá phong phú vị trí, vai trò của đội ngũ giảng viên khoa học

xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội trong nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo

ở các nhà trường Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tính cấp thiết phải xây dựng, bồi dưỡng phẩm chất toàn diệncủa đội ngũ cán bộ, giảng viên khoa học xã hội và nhân văn, nhất là phẩm chất, năng lực giảng dạy,năng lực nghiên cứu khoa học Đây vừa là yêu cầu có tính nguyên tắc, vừa là định hướng tiến hànhnhằm nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm là giáo giáo dục, đào tạo và nghiêncứu khoa học của mỗi nhà trường

Một số công trình nghiên cứu đã đi sâu luận giải nhiều vấn đề lý luận về vai trò của hoạt độngnghiên cứu khoa học đối với nâng cao chất lượng toàn diện giáo dục và đào tạo ở các học viện, trường

sĩ quan quân đội; chỉ ra cấu trúc năng lực nói chung và năng lực nghiên cứu khoa học nói riêng của giảngviên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội, một số công trình đã tiếp cận đãchỉ ra được cấu trúc của năng lực bao gồm: tri thức, kỹ năng, phương pháp tư duy sáng tạo, Qua đó,khẳng định tính cần thiết phải kết hợp chặt chẽ giữa giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên

để bảo đảm năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên được toàn diện, thiết thực đáp ứng yêu

Trang 29

cầu đổi mới căn bản, toàn diện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học của các học viện, trường

sĩ quan trong tình hình mới

Giá trị về thực tiễn: Một số nghiên cứu đã đánh giá thực trạng, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế

về tri thức, kỹ năng nghiên cứu khoa học, thái độ, cũng có công trình đánh giá phương pháp tư duysáng tạo,v.v trong năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên ở các học viện, trường sĩ quanquân đội những năm qua Nghiên cứu của một số tác giả cũng bước đầu đề cập đến nguyên nhân kháchquan và nguyên nhân chủ quan dẫn đến những hạn chế trong năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũgiảng viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội những năm qua, nhất là công tác đào tạo, bồi dưỡngđội ngũ; tình trạng một số giảng viên còn thụ động, chưa tích cực, tự giác trong hoạt động nghiên cứu khoahọc; môi trường nghiên cứu khoa học của một số học viện, trường sĩ quan quân đội còn thiếu chặt chẽ, chưađồng bộ, chưa thống nhất, chưa tạo động lực mạnh mẽ để giảng viên tích cực tham gia nghiên cứu khoahọc

Giá trị đối với đề xuất hệ thống giải pháp: Từ việc khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn,

nghiên cứu của một số tác giả đã đề xuất và luận giải nhiều giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ giảng viênnói chung và nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở cáchọc viện, trường sĩ quan quân đội nói riêng Trong đó, tập trung vào các giải pháp như: Nâng cao nhậnthức về nhiệm vụ nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội; đổimới công tác quy hoạch, bồi dưỡng, bố trí sử dụng đội ngũ giảng viên các học viện, trường sĩ quan quânđội; hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp, tạo động lực trong tham gia nghiên cứu khoa học xã hội vànhân văn cho giảng viên các học viện, trường sĩ quan quân đội

Kết quả tổng quan các công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án lànguồn tư liệu rất có giá trị để nghiên cứu sinh kế thừa, vận dụng và phát triển trong quá trình triển khaigiải quyết nhiều nhiệm vụ đặt ra của đề tài luận án, nhất là giúp nghiên cứu sinh hiểu rõ và sâu sắc hơncác góc độ tiếp cận về năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ởcác học viện, trường sĩ quan quân đội Đồng thời, quá trình tổng quan tình hình nghiên cứu liên quanđến đề tài luận án cũng cho thấy, cho đến nay, chưa có bất cứ công trình khoa học nào đi sâu nghiêncứu, luận giải một cách trực tiếp, cơ bản, toàn diện và có hệ thống dưới góc độ tiếp cận khoa học triết

Trang 30

học về “Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay” Do vậy, việc triển khai thực hiện đề tài luận án của nghiên cứu sinh

mặc dù có sự kế thừa, tiếp thu và phát triển kết quả đạt được của những công trình nghiên cứu liên quan,song về từng nhiệm vụ cụ thể trên cả lý luận và thực tiễn là hướng nghiên cứu độc lập, không trùng lặp vớicác công trình khoa học đã được nghiệm thu, công bố

1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

Từ kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án cho thấy, để thựchiện được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đã xác định, luận án tập trung nghiên cứu giải quyết nhữngvấn đề:

Về lý luận: Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận về năng lực nghiên cứu khoa học của

giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội; làm rõ đặc điểmgiảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội Làm rõ những vấn đề

lý luận năng lực, năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các họcviện, trường sĩ quan quân đội; đưa ra quan niệm, cấu trúc, nhân tố cơ bản quy định năng lực nghiêncứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội.Những nội dung này là cơ sở tiên quyết cho triển khai đánh giá thực trạng và đề xuất hệ thống giải phápđược đồng bộ, lôgíc và thống nhất

Nội dung mà luận án trình bày mang tính đặc thù, sự khác biệt về cách tiếp cận của đề tài vớicác công trình trước đó Làm sáng tỏ vấn đề nêu trên dưới góc độ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử sẽ góp phần cung cấp cơ sở phương pháp luận của quá trình nâng cao năng lựcnghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quânđội hiện nay Do đó, đây là một nội dung luận án cần tập trung giải quyết

Về thực tiễn: Tiến hành điều tra, khảo sát, thu thập tư liệu, số liệu nhằm đánh giá khách quan

về thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các họcviện, trường sĩ quan quân đội hiện nay trên các yếu tố cấu thành năng lực như tri thức, kỹ năng vàphương pháp tư duy sáng tạo Bên cạnh đó, chỉ rõ những ưu điểm, những hạn chế của thực trạngnăng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ

Trang 31

quan quân đội hiện nay Khái quát những vấn đề đặt ra cần giải quyết từ thực trạng năng lực nghiêncứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân độihiện nay dưới dạng các mâu thuẫn giữa mục tiêu, yêu cầu với hiện trạng.

Về giải pháp: Trên cơ sở khung lý luận và thực tiễn, luận án đề xuất và luận giải hệ thống giải

pháp có tính đồng bộ, cơ bản và thiết thực nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảngviên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay Các giải pháp cầnhướng vào giải quyết những vấn đề căn bản như: Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng năng lựcnghiên cứu khoa học cho giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quânđội hiện nay; xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học tích cực ở các học viện, trường sĩ quan quânđội hiện nay; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong tự bồi dưỡng, tự rèn luyện năng lựcnghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quânđội hiện nay

Trang 32

Kết luận chương 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án cho thấy, vấn đề năng lựcnghiên cứu khoa học của giảng viên nói chung, giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các họcviện, trường sĩ quan quân đội nói riêng luôn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học,nhà lãnh đạo, quản lý dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau Đây là vấn đề có tính thời sự, cấp thiếtđược đặt ra từ thực tiễn sự vận động, phát triển của nội tại hoạt động nghiên cứu khoa học cũng nhưyêu cầu, nhiệm vụ chính trị trung tâm của học viện, trường sĩ quan quân đội

Các công trình khoa học tiêu biểu được nghiên cứu sinh tổng quan một cách hệ thống đãbước đầu luận giải, làm sáng rõ nhiều vấn đề, nội dung liên quan đến đề tài luận án như: năng lực, nănglực nghiên cứu khoa học, những yêu cầu, đòi hỏi của việc xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên ở cácnhà trường trong giai đoạn hiện nay; đồng thời đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học nói chung cũngnhư khoa học xã hội và nhân văn nói riêng; các chủ trương, giải pháp nâng cao năng lực nghiên cứukhoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Đây là nguồn tư liệu rất có giá trị về mặt khoahọc, giúp nghiên cứu sinh có cái nhìn tổng thể hơn về kết quả nghiên cứu trước đó nhằm tham khảo,đối chiếu trong quá trình thực hiện đề tài luận án

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án cũng cho thấy, việc làm rõ

lý luận và thực tiễn về năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở

các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay vẫn là khoảng trống khoa học, chưa có công trình nào

đi sâu nghiên cứu một cách độc lập, có hệ thống, nhất là dưới góc độ tiếp cận của khoa học triết học

Do đó, việc lựa chọn và triển khai nghiên cứu đề tài luận án có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn

Trang 33

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU

KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở CÁC

HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI 2.1 Quan niệm năng lực nghiên cứu khoa học và năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội

2.1.1 Quan niệm năng lực và năng lực nghiên cứu khoa học

* Quan niệm về năng lực

Năng lực là một phạm trù được bàn đến trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống xã hội Theo Từđiển Bách khoa Việt Nam: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là cóthể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó” [171, tr.41]

Còn theo Từ điển Triết học, năng lực được hiểu là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn

có để thực hiện một hoạt động nào đó”, “là phẩm chất tâm và sinh lý tạo cho con người khả năng hoạt

động nào đó với chất lượng cao” [172, tr.660 - 661] Năng lực là tập hợp các thuộc tính tiềm năng

của con người, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạtđộng nhất định; là “tổng hợp các yếu tố chủ quan của chủ thể đáp ứng yêu cầu hoạt động nào đó, bảođảm cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao” [172, tr.621] Theo đó, năng lực bao giờ cũng gắn với conngười và hoạt động vật chất của con người, là sản phẩm của nhận thức và hoạt động thực tiễn, là sựthống nhất hữu cơ các yếu tố chủ quan của chủ thể hợp thành sức mạnh bảo đảm cho hoạt động củachủ thể đạt kết quả cao Năng lực được hiểu cụ thể trên các phương diện như: “(1) khả năng, điều kiệnchủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; (2) phẩm chất tâm lý và sinh lý tạocho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [125, tr.836]

Triết học Mác - Lênin khẳng định, năng lực của con người là sản phẩm của lao động và sựphát triển xã hội, là thuộc tính bản chất riêng có của con người “Trái ngược với động vật mà năng lựccủa chúng là sự tổng hợp kinh nghiệm loài được truyền lại nhờ cơ chế di truyền sinh vật và kinhnghiệm cá thể, năng lực con người là sản phẩm của sự phát triển xã hội” [2, tr.379] Năng lực là toàn

bộ yếu tố tự nhiên (sinh học) và xã hội của chủ thể, được chủ thể đó huy động và đem ra vận dụngtrong hoạt động thực tiễn Trong đó, yếu tố tự nhiên là điều kiện, cơ sở của năng lực Yếu tố xã hội có

Trang 34

vai trò quyết định đến sự hình thành, phát triển năng lực “Năng lực của con người không những dohoạt động bộ não của nó quyết định, mà trước hết là do trình độ phát triển lịch sử mà loài người đã đạtđược” [2, tr.379]

Trên cơ sở tố chất, năng lực được hình thành, phát triển từ sự nỗ lực chủ quan của chủ thể,thông qua giáo dục, đào tạo, lao động và môi trường xã hội C.Mác khẳng định: “ kết hợp lao độngsản xuất với trí dục và thể dục đối với tất cả những trẻ em trên một lứa tuổi nào đấy, coi đó không phảichỉ là một phương pháp để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội mà còn là một phương pháp duy nhất

để sản xuất những con người phát triển toàn diện nữa” [2, tr.446] Đặc trưng và biểu hiện rõ nhất củanăng lực là tính hiệu quả trong hoạt động thực tiễn, nó chịu sự chi phối từ 3 yếu tố nền tảng là tri thức,kỹ năng và phương thức hành động Các yếu tố này vận động khách quan, thường xuyên tác độngqua lại trong một thể thống nhất, quy định mức độ thành công trong hoạt động thực tiễn của mỗi chủthể

Từ các góc độ tiếp cận nêu trên, có thể thấy: Năng lực là sự thống nhất biện chứng giữa tri thức, kỹ năng, phương thức hành động hợp thành sức mạnh chủ quan, được chủ thể huy động vào giải quyết hiệu quả hoạt động cụ thể trong nhận thức và cải tạo thực tiễn ở từng giai đoạn lịch sử nhất định.

Xét về cấu trúc, năng lực bao gồm tri thức, kỹ năng, phương thức hành động của mỗi chủ thể.Trong đó “tri thức là sản phẩm của hoạt động xã hội và tư duy con người, làm tái hiện trong tư tưởng,dưới hình thức ngôn ngữ những mối liên hệ khách quan, hợp quy luật của thế giới khách quan đangđược cải biến trong thực tế” [125, tr.596 - 597] Ở đây, tri thức là những điều hiểu biết có hệ thống về

sự vật, hiện tượng mà con người có được thông qua quá trình học tập hoặc trải nghiệm từ thực tiễn hoạtđộng, được tái hiện lại dưới hình thức ngôn ngữ và được truyền tải bằng nhiều hình thức khác nhautrong thực tiễn

Tri thức có thể thuộc về nhiều lĩnh vực khác nhau như: khoa học, lịch sử, nghệ thuật, văn hóa,công nghệ, xã hội học và nhiều lĩnh vực khác Nó có thể đạt được thông qua nhiều nguồn thông tinnhư sách, tài liệu, giảng dạy, truyền thông, trải nghiệm cá nhân và sự trao đổi với người khác Tri thức

có thể được sử dụng để giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định, sáng tạo và thúc đẩy sự phát triển cá nhân

Trang 35

và xã hội; là một phần quan trọng của sự tiến bộ và phát triển của con người, và việc liên tục học hỏi vàcập nhật tri thức là một quá trình quan trọng trong cuộc sống.

Kỹ năng là mức độ thành thạo về hoạt động cụ thể của chủ thể hành động Nó được cấuthành từ kinh nghiệm và kiến thức cần thiết quy định mức độ thành công của mỗi chủ thể hành độngtrong thực hiện một nhiệm vụ nào đó Kỹ năng có thể được học tập, phát triển và cải thiện thông quatrải nghiệm, huấn luyện, học tập và thực hành Có nhiều loại kỹ năng khác nhau, trong đó, phổ biến là:kỹ năng mềm, kỹ năng chuyên môn, kỹ năng sáng tạo, kỹ năng quản lý và kỹ năng xã hội

Kỹ năng mềm là nói đến khả năng giao tiếp, làm việc nhóm, quản lý thời gian, giải quyết vấn

đề, lãnh đạo và thể hiện sự linh hoạt

Kỹ năng chuyên môn là các kỹ năng cụ thể trong một lĩnh vực hoặc ngành nghề nhất định,chẳng hạn như kỹ năng lập trình, kỹ năng kế toán, kỹ năng tiếng Anh, kỹ năng bán hàng, kỹ năng quản

lý dự án, kỹ năng thiết kế đồ họa, và nhiều hơn nữa

Kỹ năng sáng tạo là mức độ tư duy trong khám phá và tạo ra ý tưởng mới Kỹ năng sáng tạo

có thể áp dụng trong nhiều lĩnh vực, từ nghệ thuật và thiết kế đến kinh doanh và công nghệ

Kỹ năng quản lý là các kỹ năng liên quan đến quản lý thời gian, quản lý dự án, quản lý nguồnlực, quản lý nhóm và quản lý mục tiêu Kỹ năng quản lý có vai trò quan trọng trong tổ chức và điềuhành công việc một cách hiệu quả

Kỹ năng xã hội là khả năng tương tác và giao tiếp với người khác một cách hiệu quả, bao gồmkỹ năng nghe, kỹ năng truyền đạt thông tin, kỹ năng đàm phán và kỹ năng giải quyết xung đột

Phương thức hành động thực tiễn là tổng thể các phương pháp, cách thức mà mỗi chủ thể tiếp

cận và quyết định hành động thực hiện các hoạt động cụ thể dựa trên thực tế những điều kiện hiện tạinhằm hướng đến đạt được kết quả cao nhất trong những tình huống nhất định Phương thức hànhđộng thực tiễn tập trung vào việc áp dụng những giải pháp và hành động đã được chứng minh là hiệuquả trong quá khứ hoặc đang được sử dụng thành công trong thực tế Nó không dựa trên các lý thuyếthoặc giả định lý thuyết mà tập trung vào việc giải quyết các vấn đề cụ thể của hiện tại Bên cạnh đó,phương thức hành động thực tiễn thể hiện phong cách tiếp cận của mỗi chủ thể đối với một tình huống

cụ thể trong thực tiễn, bao gồm các bước, quy trình, phương pháp và hành vi mà chủ thể áp dụng đểđạt được mục tiêu đã xác định Mỗi chủ thể có thể có phương thức hành động riêng, phụ thuộc vào cánhân, kỹ năng và kinh nghiệm của bản thân mình

Trang 36

Phương thức hành động thực tiễn bao gồm các bước: Đánh giá tình hình hiện tại (điều tra vàđánh giá các yếu tố liên quan đến vấn đề hoặc tình huống cụ thể); thu thập thông tin (thu thập thông tinchi tiết về các phương pháp, giải pháp và kinh nghiệm đã được thực hiện trong quá khứ hoặc đangđược sử dụng); tìm kiếm giải pháp (dựa trên thông tin thu thập được, tìm kiếm những giải pháp vàphương pháp đã được chứng minh là hiệu quả); áp dụng giải pháp (chọn ra giải pháp phù hợp nhất vàthực hiện các hành động cần thiết để áp dụng giải pháp đó vào tình huống hiện tại); đánh giá và điềuchỉnh (theo dõi và đánh giá kết quả của các hành động đã thực hiện, và điều chỉnh phương pháp hànhđộng nếu cần thiết) Phương thức hành động thực tiễn nhấn mạnh việc dựa trên kinh nghiệm thực tế và

áp dụng các phương pháp đã được kiểm chứng Tuy nhiên, nó cũng có thể được kết hợp với việc sửdụng các khía cạnh lý thuyết và sáng tạo để tìm ra các giải pháp mới và nâng cao hiệu quả của các hoạtđộng

Giữa tri thức, kỹ năng và phương thức hành động thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, chặtchẽ và thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau; nó vừa có sự thống nhất biện chứng, vừa có những đặcthù riêng về vai trò, cũng như phương thức biểu hiện trong cấu trúc của năng lực Trong đó, tri thứccung cấp cơ sở kiến thức; kỹ năng giúp thực hiện các hoạt động cụ thể với mức độ thành thạo, chínhxác, hiệu quả; phương thức hành động thực tiễn là cách tiếp cận và áp dụng tri thức, kỹ năng vào mộttình huống thực tế cụ thể để mang lại kết quả hành động tốt nhất Cả ba yếu tố về tri thức, kỹ năng,phương thức hành động đều phản ánh sự thống nhất biện chứng, thâm nhập vào nhau hợp thành nănglực của mỗi chủ thể; nó trực tiếp quy định kết quả đạt được trong hoạt động thực tiễn của mỗi chủ thể

* Quan niệm về năng lực nghiên cứu khoa học

Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, nghiên cứu được hiểu là “xem xét, tìm hiểu kỹ lưỡng

để nắm vững vấn đề, giải quyết vấn đề hay rút ra những hiểu biết mới” [171, tr.658] Theo Từ điểnTriết học: Khoa học là “hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư tưởng tích lũy trong quá trình lịch sử.Khoa học là tổng kết sự phát triển lâu dài của tri thức” [172, tr.445] Theo đó tiếp cận góc độ triết học,khoa học là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực khách quan Khoa học bao gồm hệ thốngcác khái niệm, phạm trù, nguyên lý, những giả thuyết, học thuyết Một trong những đặc điểm quantrọng của khoa học là mọi chân lý khách quan, mọi luận điểm khoa học đều có thể được chứng minh.Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học lấy thực tiễn làm nguồn gốc, động lực và tiêu

Trang 37

chuẩn của sự phát triển Xét theo quan điểm nhận thức, khoa học là hệ thống tri thức về thế giới kháchquan, đó là những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy Hệ thống tri thức khoa học đó được hìnhthành trong lịch sử lao động, sản xuất vật chất và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội

Với đặc trưng một phương thức cụ thể trong hoạt động của con người, nghiên cứu khoa họcđược tiếp cận với tính cách là quá trình thu thập, phân tích và diễn giải dữ liệu nhằm tìm tòi ra những trithức mới hay lý thuyết mới mà các nghiên cứu trước đó chưa giải quyết được hoặc giải quyết chưahoàn chỉnh Nó là một phương pháp giải quyết vấn đề dựa trên các thao tác tư duy thông qua các khâu:Thu thập thông tin, phân tích dữ liệu, rút ra kết luận, kiểm chứng và đánh giá kết quả Nghiên cứu khoahọc có thể được áp dụng trong nhiều lĩnh vực, từ khoa học tự nhiên, y học, kinh tế đến khoa học xã hội

Quá trình nghiên cứu khoa học thường bao gồm các bước như: Xác định vấn đề nghiên cứu(đặt câu hỏi và xác định mục tiêu nghiên cứu mà chủ thể muốn tìm hiểu hoặc giải quyết; thu thậpthông tin (tìm hiểu về các nghiên cứu đã có liên quan đến vấn đề của bạn thông qua việc đọc sách, bàibáo, tài liệu hoặc tham khảo các nguồn tư liệu khoa học khác); xây dựng khung lý thuyết (xác định các

lý thuyết hoặc khung lý thuyết sẽ sử dụng để nghiên cứu vấn đề); thiết kế nghiên cứu (xác định phươngpháp và quy trình nghiên cứu để thu thập dữ liệu và trả lời câu hỏi nghiên cứu); thu thập dữ liệu (tiếnhành việc thu thập dữ liệu dựa trên phương pháp được thiết kế); phân tích dữ liệu (xem xét và phân tíchcác dữ liệu đã thu thập được để trả lời câu hỏi nghiên cứu hoặc kiểm tra giả thiết); đưa ra kết luận (dựatrên phân tích dữ liệu và kết quả của nghiên cứu, rút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu và xem xét ýnghĩa, hạn chế và khuyết điểm của nghiên cứu); báo cáo kết quả (viết bài báo, báo cáo hoặc báo cáonghiên cứu để chia sẻ các kết quả và kiến thức mới thu được từ nghiên cứu) Ngoài ra, còn nhiềuphương pháp và quy trình nghiên cứu khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực và mục tiêu của nghiên cứu

Từ hướng tiếp cận nêu trên, tác giả quan niệm: Nghiên cứu khoa học là hoạt động có mục đích của con người trong việc sử dụng các thao tác tư duy nhằm tìm tòi, khám phá những tri thức mới hay lý thuyết mới, đáp ứng nhu cầu thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan.

Là một dạng lao động thực tiễn đặc thù, nghiên cứu khoa học đóng vai trò quan trọng trongchỉ ra quy luật, bản chất, xu hướng biến đổi của sự vật hiện tượng, hướng tới việc cải thiện chất lượngcuộc sống và đưa ra các quyết định hỗ trợ cho các hoạt động của con người Bản chất của nghiên cứukhoa học là hoạt động sáng tạo của người nghiên cứu nhằm nhận thức thế giới khách quan, khôngngừng giải quyết những mâu thuẫn nhằm tìm tòi, phát hiện những tri thức mới, khám phá những

Trang 38

nguyên lý, quy luật, con đường mới của sự phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức và cải tạohiện thực khách quan Nghiên cứu khoa học có vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của xã hộiloài người; giúp con người nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn bản chất các sự vật, hiện tượngtrong thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy, thông qua hoạt động đó, làm cho tư duy của con người ngàycàng phát triển

Chủ thể của hoạt động nghiên cứu khoa học là cá nhân và tập thể các nhà khoa học được đàotạo cơ bản, có phẩm chất và khả năng nghiên cứu sáng tạo Trong đó, mỗi chủ thể thường là khởi điểmđột phá, đề xuất ý tưởng sáng tạo khoa học và lôi cuốn những người khác tham gia nghiên cứu, phátminh; tập thể các nhà khoa học có vai trò quan trọng trong việc góp ý, phản biện, thẩm định và hợp tácnghiên cứu theo ý tưởng đề xuất của cá nhân

Khách thể, đối tượng của hoạt động nghiên cứu khoa học là thế giới tự nhiên, xã hội, tư duy đadạng, phong phú Mỗi môn khoa học có một lĩnh vực, một góc độ, một đối tượng nghiên cứu riêngcủa mình Mục đích nghiên cứu khoa học là tìm tòi, khám phá ra bản chất và quy luật của thế giớikhách quan, khái quát thành hệ thống tri thức khoa học và xác định con đường ứng dụng chúng vàothực tiễn phục vụ cho cuộc sống của con người

Phương pháp nghiên cứu khoa học thực chất là phương pháp nhận thức thế giới, bao gồm cáccách thức tiếp cận và các thao tác cụ thể tác động tới đối tượng nghiên cứu làm bộc lộ bản chất của đốitượng Trong nghiên cứu khoa học, con người sử dụng những công cụ, phương tiện kỹ thuật đặc biệt

để thí nghiệm, thực nghiệm nhằm đo lường, kiểm định độ tin cậy của những kết quả nghiên cứu

Sản phẩm và giá trị của nghiên cứu khoa học rất đa dạng và có thể được phân loại theo nhiều

cách khác nhau Trong đó, nổi bật là việc tạo ra kiến thức mới, giải pháp mới và sản phẩm mới Nótrực tiếp tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, cung cấp nền tảng lý luận và thực tiễnphong phú, đa dạng giúp giải quyết các vấn đề khó khăn nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của conngười

Nghiên cứu khoa học là một quá trình phát triển theo các trình độ nhận thức ngày một caohơn Trong lịch sử phát triển khoa học, nhận thức khoa học đi theo các thang bậc trình độ sau:

Mô tả khoa học là sự trình bày, thể hiện lại những kết quả nghiên cứu về một đối tượng xácđịnh ở mức độ nguyên bản tối đa bằng một hệ thống ký hiệu có tính trực quan và những khái niệm cóliên quan Mô tả có thể cho hình ảnh đầy đủ về đối tượng nghiên cứu, nhưng chưa thể thiết lập được

Trang 39

các mối liên hệ có tính quy luật phản ánh bản chất bên trong của đối tượng Tuy nhiên, đây là nấc thangquan trọng tiến tới việc giải thích khoa học.

Giải thích khoa học là sự trình bày một cách tường minh nguồn gốc phát sinh, phát triển,những mối quan hệ cơ bản, những điều kiện, nguyên nhân, hệ quả của đối tượng, vấn đề nghiên cứu.Giải thích khoa học tham gia vào tìm tòi, phát hiện bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng, quátrình được nghiên cứu

Phát hiện, phát minh khoa học là trình độ nhận thức cao nhất của quá trình nghiên cứu nhằmtìm ra bản chất, quy luật của các sự kiện, hiện tượng khách quan, sáng tạo ra chân lý mới, làm phongphú thêm kho tàng tri thức nhân loại Tri thức được phát hiện, phát minh phải là cái có giá trị làm thayđổi cơ bản nhận thức và phương thức hành động của con người Phát hiện, phát minh được thực hiệnbằng những phương pháp sáng tạo với sự hỗ trợ của những phương tiện, thiết bị kỹ thuật tinh xảo tácđộng tới đối tượng, làm bộc lộ bản chất, quy luật vận động của nó

Bàn về năng lực lao động của con người, C.Mác viết: “Sức lao động hay năng lực lao động làtoàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống vàđược người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [116, tr.137] Tưtưởng trên của C.Mác là cơ sở phương pháp luận quan trọng cho việc nhận thức đúng bản chất củanăng lực và năng lực nghiên cứu khoa học của mỗi chủ thể trong cộng đồng

Khi tiếp cận năng lực nghiên cứu khoa học từ hoạt động nghiên cứu, nhiều nhà nghiên cứu

đã dựa trên các yếu tố được biểu hiện chủ yếu bằng các sản phẩm nghiên cứu khoa học trong kếhoạch nghiên cứu đã xác định Mỗi sản phẩm ấy là biểu hiện kết quả của các loại năng lực nếu đượcphân chia trong năng lực nghiên cứu thông qua nội dung, hình thức hoạt động nghiên cứu, đó là: nănglực phát hiện vấn đề; năng lực xử lý thông tin; năng lực sử dụng phương pháp nghiên cứu; năng lực tổchức nghiên cứu Việc huy động và phối hợp các thành tố này đến một trình độ và sự thành thạo nhấtđịnh sẽ hình thành kỹ năng nghiên cứu khoa học Kỹ năng nghiên cứu khoa học cho phép chủ thểthực hiện thuần thục các thao tác để tiến hành hoạt động nghiên cứu khoa học một cách nhanhchóng, chính xác, hiệu quả và chất lượng cao

Năng lực nghiên cứu khoa học không phải tự nhiên sẵn có, mà được hình thành trong môitrường đào tạo, bồi dưỡng, thực tiễn hoạt động nghiên cứu sáng tạo khoa học Tiếp cận khía cạnh

Trang 40

nhân cách, năng lực nghiên cứu khoa học đã hàm chứa trong đó các phẩm chất nhân cách của nhàkhoa học mà đặc trưng là sự cụ thể, tỉ mỉ, thận trọng, nhạy bén, trung thực, lòng say mê, tính độc lậpsáng tạo Dưới góc độ ngành và chuyên ngành khoa học thì mỗi lĩnh vực lại có những năng lựcnghiên cứu đặc trưng cho từng ngành (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học kỹthuật, khoa học công nghệ, khoa học quân sự, khoa học an ninh,…) Tuy vậy, đặc trưng phổ quát,mang tính bản chất nhất của hoạt động nghiên cứu khoa học là phát hiện, tìm tòi, khám phá ra hệ thốngtri thức mới với tính đúng đắn, nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của conngười Quá trình này chỉ có thể thực hiện được thông qua các thao tác tư duy sáng tạo trên nền tảng của

hệ thống tri thức, cùng kỹ năng nghiên cứu khoa học

Từ cách tiếp cận nêu trên, có thể quan niệm: Năng lực nghiên cứu khoa học là sự thống nhất biện chứng giữa tri thức, kỹ năng, phương pháp tư duy sáng tạo, hợp thành sức mạnh chủ quan đặc trưng của chủ thể trong quá trình phát hiện và giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học nhất định.

Từ quan niệm như trên có thể thấy, cấu trúc năng lực nghiên cứu khoa học bao gồm tri thứckhoa học, kỹ năng nghiên cứu khoa học và phương pháp tư duy sáng tạo của chủ thể Các yếu tố này

có mối quan hệ biện chứng, thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau, thâm nhập và chuyển hóa chonhau, tạo ra sức mạnh hiện thực của mỗi chủ thể trong phát hiện và giải quyết các nhiệm vụ nghiêncứu khoa học nhất định

Trước hết, tri thức khoa học là yếu tố cơ bản cấu thành năng lực nghiên cứu khoa học, phản

ánh sự hiểu biết của chủ thể về thế giới khách quan và về chính bản thân mình, là lượng thông tin màmỗi người lĩnh hội được trong quá trình học tập và tham gia các hoạt động Thông thường tri thứcđược phân loại theo cấp độ hoặc lĩnh vực nó khái quát: ở góc độ chung nhất, có tri thức về tự nhiên, xãhội và con người; ở trình độ khái quát, có tri thức cảm tính và tri thức lý tính; tri thức kinh nghiệm và trithức lý luận; tri thức tiền khoa học và tri thức khoa học Căn cứ vào hoạt động sống của con người, cócác dạng tri thức cơ bản như: tri thức thực tiễn, tri thức lý luận khoa học và tri thức nghề nghiệp Trithức khoa học là yếu tố không thể thiếu đối với mọi hoạt động của con người, nhất là hoạt động nghiêncứu khoa học Tri thức khoa học giúp cho con người phương pháp tiếp cận, luận giải những vấn đề đặt

Ngày đăng: 11/12/2023, 09:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức khác 0,0 0,0 0,0 - Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay
Hình th ức khác 0,0 0,0 0,0 (Trang 161)
Hình thức bồi dưỡng Năm/Lượt Ghi - Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay
Hình th ức bồi dưỡng Năm/Lượt Ghi (Trang 181)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w