- Gia cảnh nghèo khó, thiếu thốn, sống cùng với mẹ già ở căn nhà xiêu vẹo trên bãi đất hoang mọc lổm nhổm những búi cỏ dại cuộc sống nghèo khổ, tạm bợ - Tuy đã lớn xác nhưng vẫn ngây n
Trang 1`VỢ NHẶT
- Kim Lân -
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
- Kim Lân là một cây bút chuyện ngắn xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại
- Được mệnh danh là nhà văn nông thôn của đồng bằng Bắc Bộ
- Nhà văn thường viết về khung cảnh nông thôn và hình tượng người nông dân Việt Nam với vốn hiểu biết sâu sắc và một tấm lòng thiết tha, cảm động
- Sự nghiệp văn chương khiêm tốn nhưng vô cùng đặc sắc Đối với văn chương, Kim Lân đã thưucj sự tìm kiếm được một con đường riêng, một vùng thực tại, một vùng thẩm mĩ riêng biệt
- Truyện ngắn là một đặc sắc của nhà văn
- Phong cách sáng tác: ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, gần gũi với cuộc sống bình thường của người nông dân, mang đậm dấu ấn của vùng quê Bắc Bộ Việt Nam
- Một số danh xưng có thể sử dụng thay thế khi làm bài:
Cây bút độc đáo của làng quê Việt Nam
“là nhà văn một lòng với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn”
Nhà văn nông dân, áo vải
- Một số nhận định về tác giả:
Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với “đất” với “người” với “thuần hậu nguyên thuỷ” của cuộc sống nông thôn
Nguyên Hồng
Đó là thần viết, thần mượn tay người để viết nên những trang sách bất hủ
Nguyễn Khải
Nhà văn Kim Lân chỉ viết những gì mình thuộc, không tuyên ngôn, không phô trương ồn ào mà chỉ muốn là một người viết khiêm nhường
Phong Lê
2 Tác phẩm
- “Vợ Nhặt” được in trong tập truyện ngắn “Con chó xấu xí” (1962)
- Truyện ngắn có tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” – tác phẩm viết sau Cách mạng tháng 8 nhưng còn dang dở và bị mất bản thảo Sau khi hòa bình lặp lại (1954) , tác giả dựa trên cốt truyện cũ để viết truyện ngắn “Vợ nhặt”
- Truyện lấy bối cảnh nạn đói năm 1954
*** Phân tích nhan đề
- Nhan đề gợi tình huống éo le của câu chuyện : Anh cu Tràng nhặt được vợ giữa bối cảnh nạn đói
“nhặt”: một hành động bâng quơ, vu vơ, ko có chú ý, vô thưởng, vô phạt
gắn với những vật nhỏ bé, ít khi được coi trọng
“vợ”: một danh xưng thiêng liêng, cao quí, là một người có mối quan hệ gắn bó bền chặt với người đàn ông
Trang 2 dựng vợ gả chồng vốn là chuyện trọng đại của cả một đời người, cần phải được thực hiện tỉ mỉ, cẩn thận theo phong tục của người Việt Ấy thế mà “nhặt” lại trở thành một cách định danh cho người vợ
- Nhan đề đã khắc họa HIỆN THỰC xã hội thời kì ấy Thân phận bị rẻ rúng
Bộc lộ thái độ phê phán, tố cáo hiện thực của nhà văn
- Tại sao nhan đề là “Vợ nhặt” chứ không phải là “Nhặt vợ” ?
“Vợ nhặt” : nhấn mạnh vào giá trị của người vợ Dù chỉ là người vợ được nhặt
về giữa hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn nhưng vẫn nhận được sự tôn trọng và tình yêu thương
“Nhặt vợ” : nhấn mạnh vào sự bâng quơ của hành động “nhặt”, từ đó làm cho thân phận con người càng bị hạ thấp
Nhan đề đã phần nào bộc lộ giá trị nhân đạo sâu sắc trong ngòi bút của nhà văn Kim Lân
3 Bối cảnh nạn đói
- “ Cái đói đã tràn … mùi gây của xác người.”
Kim Lân đã mô tả về cái đói một cách vô cùng chân thực, day dứt và ám ảnh Mở đầu truyện là bức tranh ngày đói phản ánh nạn đói kinh hoàng năm Ất Dậu, đâu đâu cũng
ngập trong cái đói.
“Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào” : Nhà văn sử dụng thủ pháp nhân hóa kết hợp với động từ mạnh để khắc họa với sự hoành hành, sự tấn công mạnh mẽ của nạn đói – như một thứ kẻ thù lao tới cướp đi sinh mạng của con người
“ Những gia đình từ … khắp lều chợ” : Nhà văn sử dụng một loạt từ láy tượng hình kết hợp với các biện pháp so sánh để khắc họa chân dung của những người đói Họ cố gắng bám víu lấy cơ hợi sống nhỏ nhoi, ít ỏi, nguồn sinh lực sống bên trong họ Dường như họ cũng đang dần bị rút cạn – họ sống mà chỉ như chờ chết
hai câu văn đầu như mâu thuẫn, đối lập, khẳng định thực tế: cái đói càng mạnh mẽ, con người càng yếu đuối
- “Người chết như ngả rạ … mùi gây của xác người”
Rất nhiều người không thể giữ được mạng sống vì cái đói
Cái chết trở thành một hình ảnh quen thuộc , bình thường, không gây bất kì sự bất ngờ nào cho những người dân nơi ấy
Nhà văn bày tỏ sự sót xa và lo lắng trước sự bình thản đến hững hờ của con người khi chứng kiến đồng loại của mình ra đi Ông sợ rằng khi người ta ở quá lâu trong cái đói, cái khổ Khi người ta mặc nhiên coi cái chết là điều thường tình, người ta sẽ đánh mất lòng trắc ẩn, sẽ lụi tàn tình yêu thương trong mình Ông sợ rằng một ngày nào đó,
họ sẽ trở thành những người vô cảm lúc nào không hay
Đoạn mẫu tham khảo ( không có viết y chang nha chời ơi )
Bước vào thế giới của Vợ nhặt ta sẽ cảm nhận được phần nào hiện thực trần trụi thấm đẫm những đau thương, đó là câu chuyện buồn về số phận con người trong nạn đói năm 1945 Cái đói cũng là một loại giặc nguy hiểm của nước ta khi ấy, cái đói mà Kim Lân nhắc tới hiện hình trong một không gian cụ thể - xóm Ngụ Cư, từ không gian nhỏ
bé ấy nhà văn hướng người đọc đến cái đói đeo đẳng cả một dân tộc, ám ảnh trên bóng hình của những người còn sống Đói khát khiến những đứng trẻ tinh nghịch ngày nào còn chọc ghẹo Tràng trở nên “ủ rũ dưới những xó tường không buồn nhúc nhích”, khiến những gia đình từ vùng Nam Định, Thái Bình đi ngụ cư để tìm kiếm cái ăn chỗ ở trong nghịch cảnh “đội chiếu lũ lượt, bồng bế dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, nằm ngổn ngang khắp lều chợ” Mặc dù là những câu văn miêu tả sự sống
Trang 3nhưng lại khiến người đọc nhìn thấy một không gian u tối, ghê rợn Sự sống và cái chết dường như không còn ranh giới rõ rệt nữa bởi “dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì bóng người đói dật dờ đi lặng lẽ như những bóng ma” và rồi “người chết như ngả rạ, thây nằm còng queo bên đường” Sự sống là điều đáng quý nhất mà chúng ta có được, là quyền đầu tiên và cơ bản nhất của con người thế nhưng ở đây, việc hai lần so sánh “người” với “bóng ma” đã khắc họa một thực tại buồn tới xót xa, việc đơn giản nhất là tồn tại mà họ còn khó để thực hiện được Sự khùng khiếp này không chỉ hiện lên thành hình ảnh mà còn bằng âm thanh và mùi vị: “không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi, mùi gây của xác người”, “tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết” và trong đêm là “tiếng người kêu lúc to lúc nhỏ” Xóm ngụ
cư chẳng khác gì là một nghĩa địa mà sự chết chóc, thê lương đang bủa vây những sự sống mong manh Viết về đề tài người nông dân, nhà văn Kim Lân đã khơi gợi những cái chưa ai khơi gợi, đó là thân phận rẻ rúng như rơm rác của người nông dân nghèo trong xã hội cũ, trước CMT8 năm 1945 và ông đã rất thành công khi khắc hoạ chân dung người dân lao động tuy nghèo khổ, quanh năm chân lấm tay bùn nhưng ở sâu trong họ vẫn luôn mang những phẩm chất cao đẹp và Tràng là một nhân vật như thế
Đề 1: Cảm nhận về nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt của
Kim Lân.
Mở bài:
-Thân bài:
Luôn phải nói về bối cảnh nạn đói trước nha
Giới thiệu hiện thực nạn đói
* Các ý cần đạt:
- Mở đầu truyện là bức tranh ngày đói phản ánh nạn đói kinh hoàng năm Ất Dậu, đâu đâu cũng ngập trong cái đói
- Người sống thì “lũ lượt dắt díu, bồng bế, dật dờ lặng lẽ xanh xám như những bóng ma”
- Người chết “như ngả rạ, không một sáng nào đi làm đồng hoặc đi chợ người ta không thấy ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường”
- Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi, mùi gây của xác người, tiếng quạ cứ
“gào lên từng hồi thê thiết”
Luận điểm 1: Ngoại hình và hoàn cảnh của Tràng
- Là dân ngụ cư ( là người ăn nhờ ở đậu) thường bị coi thường, khinh rẻ
Liên hệ ca dao:
Trai làng ở góa còn đông
Cớ sao em lại lấy chồng ngụ cư
- Gia cảnh nghèo khó, thiếu thốn, sống cùng với mẹ già ở căn nhà xiêu vẹo trên bãi đất hoang mọc lổm nhổm những búi cỏ dại cuộc sống nghèo khổ, tạm bợ
- Tuy đã lớn xác nhưng vẫn ngây ngô, hồn nhiên đến ngờ nghệch
Nếu trong cuộc sống đời thường, chắc hẳn Tràng sẽ rất khó để lấy được vợ
- Tình huống: anh nhặt được vơ giữa bối cảnh nạn đói Trớ trêu, bất thường, gây ngạc nhiên cho tất cả mọi người
- Nhận xét ngắn gọn về tình huống
Luận điểm 2: Tính cách và vẻ đẹp nhân hậu của Tràng
Trang 4- Tràng tuy xấu xí, thô kệch nhưng ẩn sâu bên đó là một con người có tính cách sống
vô tư, đơn giản, ít tính toán :
Thích vui đùa với bọn trẻ, hoà đồng nên bọn trẻ rất quí anh, mỗi lần Tràng đi làm về bọn chúng cứ ùa ra vây lấy
Thể hiện qua lần đầu tiên Tràng gặp thị
Ban đầu Tràng không có ý chòng ghẹo ai cả, khi đẩy xe bò lên dốc quá nhọc nên Tràng hò một câu vu vơ:
Muốn ăn cơm trắng mấy giò này!
Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì
Dù công việc vất vả nhưng Tràng không cáu gắt hay tức giận hay mắng chửi vu vơ
mà vẫn vui vẻ, lạc quan, hò vang để vơi bớt sự mệt mỏi
Ấy vậy mà có mấy cô gái đùa nghịch, đẩy thị ra với hắn Một người đàn bà “ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng” và đối đáp với anh một cách tự nhiên, thân mật,
gọi “nhà tôi ơi” rồi “liếc mắt, cười tít” dù chẳng hề quen biết thế mà Tràng chẳng đánh giá hay cho cô là lẳng lơ mà còn cảm thấy rất vui và hạnh phúc biết bao vì “Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế”
Anh cu Tràng thật quá đỗi trong sáng, mộc mạc, chân phương và giản đơn biết mấy
- Hào hiệp và nhân hậu: sẵn sàng mời người đàn bà xa lạ một bữa ăn, sau đó đưa về đùm bọc và cưu mang
Đó là lần thứ hai Tràng gặp lại thị, khi anh vừa trả hàng xong, đang ngồi uống nước trước cổng chợ tỉnh thì bất ngờ, người đàn bà sầm sập chạy đến cong cớn,
sưng sỉa với Tràng: “Điêu! Người thế mà điêu!” Tràng không nhận ra người đàn
bà hôm trước đẩy xe cho mình Bởi hôm nay, thị rách quá “áo quần tả tơi như tổ
đỉa” Nhưng khi nhận ra, anh lại toét miệng cười.
Dẫu cho thị thay đổi về cả tính cách lẫn ngoại hình nhưng thái độ của Tràng vẫn vậy, vẫn rất dịu dàng, đon đả
- Tràng phóng khoáng vỗ tay vào túi mà xởi lởi lởi mời thị, bảo cô “muốn ăn gì thì ăn”
Trọng tình trọng nghĩa, không hề thất tín mà mời thị ăn như những gì đã hứa
Thấy người đàn bà đói rách, thảm hại anh không nỡ làm ngơ mặc dù chính anh cũng đang bị cái đói bủa vây, đang trên bờ vực của cái chết Nhưng vượt lên tất
cả Tràng đã cho thị ăn một bữa no bốn bát bánh đúc, anh không hề do dự đến
số tiền ít ỏi của mình để giúp thị qua cơn đói khát
Sự hào sảng đầy xa xỉ trong bối cảnh nạn đói Hành động cao đẹp ấy không đến từ việc nhân vật đủ đầy về vật chất mà đến từ tấm lòng giàu tình yêu thương
Tràng đâu phải là người đơn giản, đằng sau manh áo rách của anh là tấm lòng nhân hậu, là tấm lòng vàng của người dân lao động nghèo
Luận điểm 3: Tràng là người khao khát hạnh phúc gia đình
- Gữa lúc nạn đói hoành hành: đến cái thân mình còn không nuôi nổi nhưng Tràng vẫn
quyết định đưa thị về làm vợ:
+ `Khi cho thị ăn xong, Tràng vừa cười vừa nói với vẻ nửa đùa nửa thật “có về với tớ
thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về”
Trước những hành động kém duyên của Thị, Tràng không hề miệt thị hay khinh rẻ
mà còn mời cô về nhà Lời mời ấy như thể một lời cầu hôn, một lời ngỏ ý bình dị, chân phương nhưng lại vô cùng xúc2 Lời nói ấy dường như không chỉ là lời bông đùa như Tràng đã nghĩ mà thực chất được phát ra từ khao khát hạnh phúc vốn luôn hiện
Trang 5hữu, từ tình thương đối với người gặp hoàn cảnh khó khăn của anh, khiến anh nói ra trong vô thức mà chính anh cũng không hề nhận ra
- Quyết định rước thị về làm vợ
Lúc đầu: có chút phân vân, do dự và cả lo lắng “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bồng” sự chuyển biến tâm lí hoàn toàn hợp lí, chân thực
Nhưng rồi anh tặc lưỡi “Chậc kệ!”, Tràng quyết định đánh đổi tất cả để có vợ, có được hạnh phúc
Tràng đã lường trước được hậu quả, nhận thức rõ được hiện thực tàn khốc trong sự bủa vây của cái đói, cái nghèo nhưng anh vẫn quyết đưa Thị về nhà, mở rộng vòng tay
để cưu mang người đàn bà ấy
Chỉ cần một cái tặc lưỡi thế thôi, Tràng đã bỏ lại sau lưng mọi gánh nặng cơm áo gạo tiền, gạt đi bóng đêm bao phủ của nạn đói để mở rộng vòng tay cưu mang một con người
Anh chấp nhận thị cũng như chấp nhận cho mình một cơ hội để xây đắp gia đình Người đàn ông ấy không chỉ khao khát hạnh phúc mà còn dám hành động để đạt được
nó
Khát vọng ấy đã xua tan bao nỗi lo lắng trong lòng anh, đã thể hiện ý đồ cụ thể của
Kim Lân: “Trong cái đói quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh nào, người nông dân ngụ
cư vẫn khao khát vươn lên trên cái chết, cái thảm đạm để mà vui, mà hi vọng”.
- Tràng rất tâm lí, yêu thương và quan tâm đến người bạn đời của mình:
+ Đưa thị vào chợ “mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt”
+ Ra “đánh một bữa thật no nê rồi cùng đẩy xe bò về”
+ Khi về đến nhà, thấy thị ngại ngùng và có nét hơi buồn rầu, Tràng cũng quan tâm, thấy sợ mà tự hỏi : “Quái, sao nó lại buồn thế nhỉ?”
- Tâm trạng trên đường đưa dâu về nhà, Tràng vui như nhìn thấy hạnh phúc trước mắt:
+ Tràng không cúi mặt mà “phớn phở khác thường”, “hắn tủm tỉm cười nụ một mình
và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”, “cái mặt vênh vênh tự đắc với mình”
+ Hồi hộp chờ bà cụ Tứ trở về để thông báo về việc nên duyên của mình và thị lời nói có phần đĩnh đạc, chắc chắn, nói về sự nên duyên của mình và thị là “phải duyên phải kiếp với nhau âu cũng là cái số” xem mối quan hệ với thị là mối nhân duyên trời định trân trọng
Sáng hôm sau khi thức dậy, Tràng “một nguồn vui sướng phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”:
+ “Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra” – cảm giác hạnh phúc mang lại thật khó tả, bởi “việc có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải”
Luận điểm 4: Tràng ý thức về bổn phận gia đình
- Cảnh vật xung quanh thấm thía và cảm động, Tràng như trưởng thành và chín chắn hơn trong phút chốc “Bỗng nhiên hắn thấy hắn yêu thương, gắn bó với cái nhà hắn
lạ lùng”
- Trong suy nghĩ “hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”
- Hành động: “hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, dự phần tu sửa lại căn nhà”
Trang 6- Hình ảnh “trong óc Tàng thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới” co thấy tương lai chắc chắn trong đó cơ Tràng
Có vợ, Tràng trở nên ý thức về bổn phận và trách nhiệm của mình Trong những giờ phút có tính chất bước ngoặt ấy, con người bỗng cảm thấy mình trưởng thành hơn Có
vợ đối với Tràng như thay đổi cuộc đời, Tràng trở thành một người khác hẳn Anh không còn lê từng bước mệt mỏi nữa mà giờ đây bước chân của Tràng nhanh
nhẹn “xăm xăm chạy ra giữa sân”, “cũng muốn nhanh chóng làm một việc gì để dự
phần tu sửa lại căn nhà” Tràng không còn vô tư như trước mà đã có những suy nghĩ
tới tổ ấm gia đình: “bỗng nhiên hắn thấy hắn yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn
lạ lùng” Tràng ý thức được bổn phận, trách nhiệm của mình với việc gầy dựng, tạo lập
cuộc sống hạnh phúc, “một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong
lòng Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho
vợ con sau này” Dường như đối với Tràng bây giờ sự chết chóc không còn tồn tại mà
chỉ còn những suy nghĩ hướng về sự sống Anh mong muốn đổi đời, hướng đến tương lai tốt đẹp Cuối tác phẩm là những suy nghĩ của Tràng về Việt Minh, những người phá
kho thóc Nhật chia cho người nghèo:“Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ
đỏ bay phấp phới…” Hình ảnh đám người đói là những người nông dân nghèo khi bị
đẩy đến bước đường cùng, đoàn kết cùng nhau đấu tranh thoát khỏi cái đói, còn lá cờ
đỏ bay phấp phới là hình ảnh của tương lai, của con đường Cách mạng mà Tràng sẽ đi
Đánh giá đặc sắc nghệ thuật và ngòi bút khắc họa nhân vật của Kim Lân
- Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, đặt nhân vật vào trong hoàn cảnh trớ trêu để từ đó nhân vật bộc lộ phẩm chất của mình
- Ngôn ngữ miêu tả tinh tế, sinh động; đan xen giữa kể và tả một cách linh hoạt để tái hiện chân dung nhân vật gần gũi, mộc mạc
- Cách sử dụng ngôn ngữ bình dị, mộc mạc, mang đậm dấu ấn của làng quê Bắc Bộ - Nhân vật trở thành “phát ngôn viên” của nhà văn giúp truyền tải những thông điệp ý nghĩa, thể hiện rõ chủ nghĩa nhân đạo
• Đồng cảm với số phận bất hạnh
• Ngợi ca vẻ đẹp của con người
• Đồng tình với khát vọng giải phóng
Kết bài
Với lối trần thuật tự nhiên, cốt truyện giản dị, xây dựng tình huống truyện độc đáo, cách kể truyện hấp dẫn, miêu tả tâm lí nhân vật chân thực, tinh tế, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị…,nhà văn Kim Lân đã miêu tả thành công những biến đổi tâm lí trong tâm trạng của nhân vật Tràng Anh là người nông dân có những phẩm chất tốt đẹp: nhân hậu, khát khao hạnh phúc và tin tưởng vào tương lai
Tràng là hình ảnh tiêu biểu của những người lao động trong nạn đói với vẻ đẹp tâm hồn và những phẩm chất tốt đẹp Qua nhân vật Tràng, người đọc cảm nhận được tình cảm của Kim Lân dành cho những người lao động nghèo khổ Đó là những con người
dù trong tình cảnh bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát cuộc sống hạnh phúc, vẫn hướng về tương lai
Trang 7Đề 2: Cảm nhận về nhân vật thị - người vợ nhặt trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.
Mở bài:
-Thân bài
Giới thiệu hiện thực nạn đói
Luận điểm 1: Người vợ nhặt là nạn nhân của nạn đói năm 1945 với số
phận bấp bênh, trôi nổi
Trong lần gặp đầu tiên:
- Là nạn nhân của cái đói, xuất hiện giữa bối cảnh tối sầm lại vì đói khát “ngồi vêu đợi nhặt hạt thóc rơi vãi”
- Sống trôi nổi, bấp bênh: không tên, không tuổi, không nhà, không cửa,
Cái tên: sự định danh của ta với cuộc đời, giúp ta không có cảm giác mình bị lãng quên hay bị xóa mờ khỏi “tám bản đồ” của sự sống ấy vậy mà đến cái tên thị còn không có, chỉ được Kim Lân gọi bằng những danh từ chung như cô, ả, thị, người đàn bà,…
Liên hệ:
“ Không có tên người ta gọi là vô danh Vô danh thì không đọng lại trong được
trong tâm trí của bất kì ai, không phân biệt được ai với ai”
Tôi là Beto - Nguyễn Nhật Ánh
Không phải nhà văn nghèo ngôn ngữ đến đọ không đặt nổi cho thị một cái tên
mà bởi nhà văn đang muốn điển hình hóa nhân vật của mình để thị không chỉ kể câu chuyện của mình mà còn là câu chuyện của biết bao người dân khốn khổ khác; trở thành một đại diện cho vẻ đẹp tâm hồn khuất lấp của những con người
dù bị đẩy vào đường cùng vẫn không đánh mất chính mình, vẫn không buông xuôi sự sống
Lần gặp thứ hai:
- Ngoại hình: áo quần tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt chỉ vài ba nét bút nghuệch ngoạc, Kim Lân đã tả thực một bức chân dung của con người năm đói Ngoại hình của thị khiến người đọc nghĩ đến một con người thiếu sức sống như một bóng ma mấp mé bờ vực cái chết
- Thái độ, hành động:
Sầm sập: chạy nhanh, mạnh đến độ phát ra tiếng động
Sưng sỉa: thái độ khó chịu, không bằng lòng
Thị cong cớn trong lời nói, thiếu duyên trong hành động, cử chỉ
Lời nói của thị mang sự trách móc, dỗi hờn rằng “hôm đó leo lẻo cái mồm hẹn xuống, thế mà mất mặt”
muốn bắt đền anh Tràng để đòi bằng được bữa ăn trong câu hò hôm nào
Khiến Tràng còn không nhận ra Làm sao Tràng có thể quên một người mới gặp đây thôi, đã vậy còn tạo được ấn tượng đậm sâu khi lần đầu có người “tình tứ với hắn như thế”
Cái đói đã tấn công và hủy hoại dần cả về thể xác lẫn ngoại hình của người phụ nữ
ấy, khiến thị như trở thành một người khác
Liên hệ với hình ảnh những con người trong nạn đói của Đào Bá Lân:
Trang 8Năm Ất Dậu, tháng ba, còn nhớ mãi Giống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương!
Những thây ma thất thểu đầy đường, Rồi ngã gục không đứng lên vì… đói!
Chân dung của thị đã góp phần tố cáo tội ác của phát xít, của thực dân và phong kiến đã đẩy con người vào đường cùng, phải trở nên nanh nọc, đanh đá, chua ngoa để dành lấy miếng ăn sự đồng cảm và đồng thời cũng là sự sót thương của nhà văn
Luận điểm 2: Thị là một người phụ nữ có khát khao sống mãnh liệt
Lần gặp thứ nhất:
- Khi nghe Tràng hò chơi “Muốn ăn cơm trắng mấy giò – Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì” Thị cong cớn đối đáp, gọi Tràng là “nhà tôi ơi” sau đó lại cười tít mắt “lon ton chạy lại đẩy xe cho Tràng”
Cái đói làm thị trở nên kém duyên, sàng xỗ và có phần lẳng lơ
Nhưng thị đâu cố tình lẳng lơ với anh cu Tràng Thái độ và sự chủ động ấy của thị thực chất lại dành cho miếng “ cơm trắng mấy giò” trong câu hò vu vơ của người đàn ông
xa lạ trong lần đầu gặp gỡ
Nạn đói khiến con người không nghĩ được gì khác ngoài miếng ăn Họ sẵn sàng bấu víu lấy mọi cơ hội để tồn tại, dẫu cho những cơ hội ấy rất đỗi mong manh
Lần gặp thứ hai:
- Chịu nhục để có miếng ăn, bất chấp thể diện để thỏa mãn cơn đói: “Thị ngồi sà
xuống ăn liền một chập
- Hơn thế nữa vì đói nên thị đã gợi ý để được ăn “Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu” Thấy Tràng vỗ vào túi khoe “Rích bố cu”, “hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng
lên” thị đon đả: Ăn thật nhá! Ừ ăn thì ăn sợ gì”
Tác giả Kim Lân đã nhiều lần miêu tả ánh mắt của thị Nếu lần gặp đầu tiên, Kim Lân miêu tả đôi mắt cười tít của thị với Tràng là đôi mắt rất có duyên, rất con gái thì lần này, đôi mắt sáng rực lên khi thấy Tràng vỗ vào túi ‘rích bố cu, hở” lại thể hiện sự háu đói, mừng rỡ khi sắp được ăn, chẳng màng gì đến thể diện hay lòng tự trọng Trong mắt lúc này chỉ còn thấy miếng ăn
Khi được ăn thị “sà xuống cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền”
Thị đang đói, cái đói cào cấu ruột gan khiến chị ta quên hẳn đi ý tứ của mình trước người đàn ông xa lạ, đẩy lùi liêm sĩ và nhân cách của một người phụ nữ
Hình tượng thục nữ, đoan trang của một người đàn bà, suy nghĩ của Tràng lúc này với thị chỉ là những điều phù phiếm Thứ duy nhất lúc này mà cô quan tâm là miếng
ăn có thật – thứ giúp cô lấp đầy cái bụng lép xẹp, cứu rỗi cô khỏi bờ vực của cái chết
Đúng như chính Nhà văn Kim Lân từng chia sẻ: “Tôi quan niệm truyện ngắn
cũng là tiểu thuyết và điều quan trọng là nhân vật nhân vật phải có tính cách và phải hành động theo tính cách nhân vật một cách tự nhiên, không giả tạo, sáo rỗng” nên nhân vật người vợ nhặt cũng là con người mang tính cách tự
nhiên như thế
- Bất ngờ hơn nữa khi Tràng nửa đùa nửa thật “Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra
khuân hàng lên xe rồi cùng về”, thị đã theo về thật, thị trao thân gửi phận cho người
đàn ông không quen biết
Thân phận của người phụ nữ trong nạn đói thật rẻ rúng
Ca dao có câu:
Trang 9Ba đồng một mớ đàn ông Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha
Ba trăm một vị đàn bà Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi
Và theo phong tục từ xưa đến nay, cưới xin là chuyện trọng đại cả đời, phải được tính toán kĩ càng với nhiều phong tục, sinh lễ phức tạp Như Sơn Tinh xưa muốn lấy được
Mị Nương cũng phải có “voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao” mới được rước dâu về Ấy vậy thị chỉ được cân đo đong đếm bằng bữa ăn bốn bát bánh đúc, sẵn sàng trở thành vợ người ta chỉ với một bữa ăn
Nhưng Kim Lân khắc họa hình dung nhân vật đâu phải để chê bai thị thiếu duyên dáng, ý tứ Ông tạo nên nhân vật trước hết là để sót xa cho con người khốn khổ thời kì
ấy, phải gạt bỏ hết phẩm giá, sĩ diện của chính mình để tiếp tục tồn tại Và đồng thời, nhà văn đồng quê cũng đã biến nhân vật ấy thành “phát ngôn viên” để truyền tải một thông điệp sâu sắc “ Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng
những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ơ tương lai Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người"
Luận điểm 3: Thị là người phụ nữ đầy nữ tính và khát khao hạnh phúc gia đình
- Ngòi bút nhân đạo của Kim Lân không dừng lại ở biểu hiện bên ngoài của nhân vật
mà đi sâu khám phá vẻ đẹp tâm hồn bị khuất lấp của người lao động, phát hiện những nét đẹp tâm hồn, giàu nữ tính của thị do bị cái đói che lấp đi Trước hết, nhà văn phát hiện thị là người giàu nữ tính biết e thẹn, ngượng ngùng khi theo không Tràng về nhà Trên đường theo Tràng về, thị vừa xấu hổ, tủi nhục, thiếu tự tin
- Trên con đường về nhà Tràng:
Hình ảnh thị đi sau Tràng thật tội nghiệp “Thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi
xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt”.
Thị bắt đầu ý thức về thân phận mình là người vợ theo không
Thị nào có quyền lựa chọn nên đành chấp nhận số phận Với thị, con đường từ chợ về nhà Tràng là con đường dài nhất thị phải đi trong đời, bởi không biết cái
gì đang chờ đợi mình, liệu thị có được đón nhận không? Biết bao câu hỏi đặt ra trong lòng thị
Khi nghe những lời bàn tán cùng ánh mắt tò mò của người dân ngụ cư khiến “thị
càng ngượng nghịu, chân nọ bước díu cả vào chân kia” khác hoàn toàn với cô thị cong cớn, mạnh bạo, kém duyên khi đòi ăn khi ở ngoài chợ tỉnh Thị cảm thấy xấu hổ vì “theo trai” (nói theo chữ của nhà văn Kim Lân), theo không một người đàn ông mà chẳng cần cưới xin gì
Khi cái đói qua đi, thị bắt đầu nhận thức lại về thân phận của mình và sự e thẹn, nữ tính cũng dần quay trở lại trong cô
- Về tới nhà Tràng:
Khi thấy “cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những
búi cỏ dại”, trong nhà niêu bát, xống áo vứt bừa bộn cả trên giường, dưới đất hiện thực trước mắt khiến thị nhận ra người đàn ông cũng chẳng khấm khá hơn thị là mấy
Thị đảo mắt nhìn quanh, “nén một tiếng thở dài” Đó là tiếng thở dài ngao ngán, thất vọng, xen lẫn những lo âu, thấp thỏm về tương lai phía trước
Thị vẫn cố gắng dấu đi cảm xúc thật của mình để không làm Tràng phật lòng hay cảm thấy tự ái về gia cảnh của mình Đồng thời, thị cũng không bỏ đi vì dường như cô
Trang 10muốn chịu trách nhiệm với quyết định của mình Và hơn hết, thị cũng mang ơn Tràng
vì anh đã đối xử tử tế với cô, sẵn lòng cho cô ăn cũng như mở rộng vòng tay cưu mang
cô, đưa cô về nhà
Trong thâm tâm, thị vẫn trông chờ vào cơ hội mong manh có thể biến giấc mơ hạnh phúc của cô thành sự thật Nếu Tràng không thể là chỗ dựa về vật chất thì có thể anh cũng sẽ là một điểm tựa về tinh thần mà cô có thể dựa vào
- Thị bước vào trong nhà rồi ngồi mớm xuống mép giường, “hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần” Thế ngồi chông chênh, mang nỗi niềm lo lăng bất an bởi thị
có thực sự được chấp nhận hay không, có thựu sự bước vào cuộc đời Tràng hay không còn phải chờ quyết định của mẹ Tràng
- Khi gặp bà cụ Tứ - mẹ của Tràng thì thị càng e thẹn, khép nép Đây là thái độ tủi hờn cho thân phận của người con gái đi lấy chồng không một quả cau, không một lá trầu, cũng chẳng cưới xin Tình cảnh của thị thật đáng thương, nhưng thị chấp nhận Điều đó chứng tỏ thị muốn có một cuộc sống gia đình hạnh phúc như Kim Lân từng
nói: “Trong cái đói quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh nào, người nông dân ngụ cư vẫn
khao khát vươn lên trên cái chết, cái thảm đạm để mà vui, mà hi vọng”
Luận điểm 4: Thị là người có ý thức về trách nhiệm, bổn phận của mình
- Khi có mái ấm gia đình, được sống trong tình yêu thương, lòng nhân hậu của mẹ con Tràng, thị trở thành người đảm đang, hiền hậu, ý thức về bổn phận của mình, thị bắt đầu vun vén cho tổ ấm bằng những hành động cụ thể: nhà cửa, sân vườn đều được quét tước, sạch sẽ, quần áo rách như tổ đỉa được đem ra sân phơi, hai cái ang được đổ
đầy nước, đống rác đã được hốt sạch
- Có bàn tay của thị, căn nhà tồi tàn, tăm tối của mẹ con Tràng như sáng sủa hơn, sự sống đã trở về với cảnh, với người Sự thay đổi của thị khiến Tràng không khỏi ngạc nhiên: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không có vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh”
Thị đã đem lại niềm vui, sinh khí mới cho gia đình Tràng
Thị ý thức được về thân phận mới của mình nên cô muốn làm tròn bổn phận của một người làm vợ, làm dâu
Thị không phải gồng mình lên để chống chọi với sự hủy diệt của cái đói trong đơn độc nữa bởi từ nay cô đã có gia đình
Có lẽ Thị không “thay đổi”, cô chỉ “trở về” là chsinh mình mà thôi
- Nét đẹp bên trong của người vợ nhặt còn thể hiện qua chi tiết rất nhỏ nhưng đầy ý nghĩa Trong bữa cơm đầu tiên ở nhà chồng, khi bà cụ Tứ đưa cho thị bát chè cám “hai con mắt thị tối lại Thị điềm nhiên và vào miệng” Đây là một chi tiết rất đắt, thể hiện
sự tinh tế trong nhận thức và sự khéo léo trong cách ứng xử của người vợ nhặt Thị hiểu ra cơ cực của mẹ con Tràng nhưng không muốn làm mất đi niềm vui của người
mẹ già tội nghiệp Những vẻ đẹp tiềm ẩn, khuất lấp trong người vợ nhặt đã được Kim Lân miêu tả thật tinh tế với thái độ đầy trân trọng, ngợi ca Hơn nữa, trong bữa cơm ngày đói khi nghe tiếng trống thúc thuế thị đã nói với mẹ và chồng “Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật, chia cho người đói” Thị là người giải thích cho mọi người hiểu việc làm của Việt Minh Điều đó cho thấy thị khao khát cuộc sống ấm no, hướng đến tương lai Thị đã thắp lên ánh sáng của niềm tin, hướng mọi người theo ngọn cờ Cách mạng Đánh giá đặc sắc nghệ thuật tương tự bài của Tràng nhé <3
Kết bài