GIÁ TRỊ TIÊU KHIỂN VÀ XU HƯỚNG MUA HÀNG NGẪU HỨNG CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TRẺ HEDONIC SHOPING VALUE AND IMPULSE BUYING TENDENCY OF THE YOUNG CONSUMER Ngày nhận bài: 09/08/2016 Ngày chấp nh
Trang 1GIÁ TRỊ TIÊU KHIỂN VÀ XU HƯỚNG MUA HÀNG NGẪU HỨNG
CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TRẺ
HEDONIC SHOPING VALUE AND IMPULSE BUYING TENDENCY OF THE YOUNG
CONSUMER
Ngày nhận bài: 09/08/2016
Ngày chấp nhận đăng: 09/09/2017
Nguyễn Kim Nam, Nguyễn Thị Hằng Nga
TÓM TẮT
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xem xét ảnh hưởng của các thành phần giá trị tiêu khiển trong mua sắm đến xu hướng mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng trẻ Mô hình cấu trúc tuyến tính được sử dụng để phân tích dữ liệu Kết quả cho thấy có 4 thành phần của giá trị tiêu khiển trong mua sắm ảnh hưởng tích cực đến xu hướng mua ngẫu hứng của người tiêu dùng trẻ, bao gồm: vui
vẻ, khen ngợi từ người khác, mới lạ, tương tác về mặt xã hội Kết quả này hàm ý đối với nhà quản trị cần quan tâm vào chiến lược định vị của họ không chỉ đối với khía cạnh chức năng mà còn đối với các thành phần của giá trị tiêu khiển trong mua sắm nhằm gia tăng xu hướng mua trong bối cảnh mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng trẻ
Từ khóa: Mua ngẫu hứng; giá trị tiêu khiển; mua sắm; hành vi; người tiêu dùng trẻ
ABSTRACT
The objective of this study was to examine the effects of hedonic shopping value on impulse buying tendency of the young consumer group Structural equation modeling was used to analyze the data The results shows that the four components of hedonic shopping value had positive effects on impulse buying tendency of the young consumer group, namely: Fun, Praise from others, Novelty, Social interaction This results suggest that the managers showed concentrate their positioning strategies not only on the utilitarian dimension but also on the components of the hedonic shopping value to stimulate impulse buying tendency of the young consumer group
Keywords: Impulse buying; hedonic shopping value; shopping; behaviour; young consumer
1 Giới thiệu
Hành vi mua ngẫu hứng đã được nghiên
cứu nhiều ở các quốc gia phát triển nhưng ở
các quốc gia đang phát triển như Việt Nam
thì số lượng nghiên cứu về chủ đề này vẫn
còn khá hạn chế Ở các nước có nền kinh tế
chuyển đổi như Việt Nam hệ thống bán lẻ
như siêu thị hay trung tâm mua sắm ngày
càng phát triển và do đó hành vi tiêu dùng
cũng có những thay đổi đáng kể, đặc biệt là
hành vi tiêu dùng của những người trẻ tuổi
Với quy mô dân số hơn 90 triệu người, trong
đó dân số trẻ tuổi chiếm hơn 40%, Việt Nam
được coi là một thị trường đầy tiềm năng đối
với ngành bán lẻ Mặc dù đã có một vài
nghiên cứu liên quan đến hành vi mua ngẫu
hứng tại Việt Nam như Tuyet Mai và cộng sự
(2003), Nguyen và cộng sự (2013), Thanh và cộng sự (2016) nhưng hành vi mua ngẫu hứng vẫn là một chủ đề khá rộng và do đó nó cần có nhiều nghiên cứu khác nhau trong các bối cảnh khác nhau để hiểu biết rõ hơn về hành vi mua ngẫu hứng của người tiêu dùng Trong bối cảnh mua sắm tại siêu thị, ngoài động cơ mua sắm theo chức năng thì động cơ tiêu khiển trong mua sắm ngày càng được chú trọng Chính những giá trị tiêu khiển trong mua sắm của người tiêu dùng là yếu tố tạo ra sự cạnh tranh giữa các hệ thống bán lẻ với nhau Bởi vì giá trị tiêu khiển không
ThS Nguyễn Kim Nam, Trường Đại học Kinh
tế TP.HCM, ThS Nguyễn Thị Hằng Nga, Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM
Trang 2những ảnh hưởng đến xu hướng tiêu dùng mà
còn có thể tạo ra sự thỏa mãn hoặc trung
thành của người tiêu dùng và khía cạnh tiêu
khiển trong mua sắm ảnh hưởng mạnh hơn so
với khía cạnh mua sắm theo chức năng (Jones
và cộng sự, 2006) Tuy nhiên giá trị tiêu
khiển trong mua sắm chưa được xem xét
nhiều trong bối cảnh mua ngẫu hứng của
người tiêu dùng, đặc biệt là người tiêu dùng
trẻ Chính vì vậy nghiên cứu này xem xét giá
trị tiêu khiển trong mua sắm ảnh hưởng đến
xu hướng mua hàng ngẫu hứng của người
tiêu dùng trẻ trong bối cảnh nền kinh tế
chuyển đổi của Việt Nam
2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
2.1 Cơ sở lý thuyết
Mối quan hệ giữa động cơ và hành vi mua
sắm của người tiêu dùng được đề xuất bởi
Tauber (1972) Theo Tauber (1972) động cơ
mua sắm của người tiêu dùng được phân
thành động cơ cá nhân và động cơ xã hội
Còn Westbrook và Black (1985) thì cho rằng
người tiêu dùng đi mua sắm với ba lý do là để
mua sản phẩm; kết hợp mua sản phẩm và
thỏa mãn với nhu cầu phi sản phẩm; để đạt
được mục tiêu nào đó hoặc là thỏa mãn động
cơ mua sắm mà không liên quan đến mua sản
phẩm Babin và cộng sự (1994) đã phân chia
động cơ mua sắm thành hai loại là động cơ
mua sắm chức năng và động cơ mua sắm tiêu
khiển Mua sắm theo chức năng được xem
như là hoạt động liên quan đến công việc,
hướng đến sản phẩm, sự hợp lý còn mua sắm
theo tiêu khiển liên quan đến giải trí, vui vẻ
(Nguyen và cộng sự, 2007) Gần đây, nhiều
nhà nghiên cứu đã xem xét hành vi mua của
người tiêu dùng ở khía cạnh động cơ tiêu
khiển trong mua sắm (Ví dụ như Arnold và
Reynolds, 2003; Nguyen và cộng sự, 2007)
Tiêu khiển của người tiêu dùng là khía cạnh
của hành vi liên quan đến cảm xúc, hình ảnh
và động cơ tiêu dùng (Hirschman và
Holbrook, 1982) Hành vi tiêu khiển trong mua sắm liên quan đến các khía cạnh như việc giải trí, vui vẻ, giá trị nội tâm, động cơ định hướng kích thích (Nguyen và cộng sự, 2007) Dựa trên lý thuyết về động cơ con người và nghiên cứu của Arnold và Reynolds (2003), Nguyen và cộng sự (2007) đã xem xét các khía cạnh liên quan đến động cơ tiêu khiển và đưa ra 6 thành phần: sự thích thú trong mua sắm, thư giãn trong mua sắm, tìm kiếm giá trị trong mua sắm, thực hiện vai trò trong mua sắm, giao tiếp trong mua sắm và tìm kiếm ý tưởng trong mua sắm
Mua ngẫu hứng đã được xem xét trong nhiều nghiên cứu khác nhau trước đây Yu và Bastin (2010) cho rằng mua ngẫu hứng là hành vi mua không có kế hoạch được đặc trưng bởi hai đặc điểm: quyết định mua diễn
ra nhanh chóng và là một sự thiên vị chủ quan ủng hộ sở hữu ngay tức thì Dựa trên kết quả nghiên cứu của Rook (1987), Beatty và Ferrell (1998) Thanh và cộng sự (2016) đã định nghĩa mua ngẫu hứng là hành vi mua không có kế hoạch được đặc trưng bởi: việc quyết định mua diễn ra khá nhanh, hành vi mua gắn liền với diễn biến tình cảm của người mua và mang tính cảm tính hơn là lý trí, không bao gồm việc mua một sản phẩm nào đó để thực hiện một mục đích cho trước Còn theo Sharma và cộng sự (2010) thì mua ngẫu hứng là một hành vi mua đột nhiên, tiêu khiển phức tạp, diễn ra một cách nhanh chóng mà không gấp phải sự ngăn cản nào cả Amos và cộng sự (2014) đã tổng kết rằng mua ngẫu hứng được phân loại dựa trên ba tiêu chí: (1) là một hành động mang tính tự phát và thường kèm theo cảm xúc tích cực, (2) người thực hiện mua ngẫu hứng cho thấy
sự giảm sút liên quan đến chi phí hoặc hậu quả nào đó, (3) các hành động thường liên quan đến sự cám dỗ mang tính tiêu khiển được thực hiện ngay tức thì thông qua tiêu thụ Các nghiên cứu trước đã xem xét các tiền
Trang 3tố ảnh hưởng đến mua ngẫu hứng bao gồm
các yếu tố như trạng thái tình cảm, cảm xúc,
ảnh hưởng của chuẩn mực, loại sản phẩm,
ảnh hưởng liên quan đến bên trong cửa hàng,
nhân khẩu, các biến khác nhau về cá nhân
(Nguyen và cộng sự, 2013) Các nghiên cứu
xem xét mối liên hệ giữa giá trị tiêu khiển và
mua ngẫu hứng vẫn còn khá ít và đặc biệt ở
thị trường chuyển đổi Chính vì vậy, nghiên
cứu này sẽ xem xét khía cạnh giá trị tiêu
khiển trong mua sắm như là tiền tố của mua
ngẫu hứng trong bối cảnh người tiêu dùng trẻ
ở Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của Yu và Bastin
(2010) cho thấy giá trị tiêu khiển trong mua
sắm ngẫu hứng của người tiêu dùng bao gồm
5 thành phần: sự mới lạ (Novelty), sự vui vẻ
(Fun), khen ngợi từ người khác (Praise from
others), sự thoát ly (Escapism) và sự tương
tác xã hội (Social interaction) Trong đó
thành phần sự mới lạ là yếu tố giải thích
mạnh nhất ý định mua ngẫu hứng của người
tiêu dùng, kế đến là sự vui vẻ và khen ngợi từ
người khác Cả ba thành phần sự mới lạ, sự
vui vẻ, khen ngợi từ người khác đều ảnh
hưởng tích cực tới ý định mua hàng ngẫu
hứng của người tiêu dùng Sự thoát ly thể
hiện mong muốn thoát khỏi thực tại đặc biệt
từ áp lực, sự khó khăn trong cuộc sống hàng
ngày Do đó sự thoát ly được cho là có mối
tương quan tích cực tới ý định mua ngẫu
hứng Ngoài ra, người tiêu dùng đi mua sắm
với gia đình hay bạn bè là một cách để giao
tiếp và gia tăng mối quan hệ được thân thiết
hơn Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của Yu và
Bastin (2010) cho thấy mối quan hệ giữa sự
thoát ly, sự tương tác về mặt xã hội với ý
định mua ngẫu hứng là không có ý nghĩa
thống kê Mặc dù không có ý nghĩa thống kê
nhưng qua nghiên cứu định tính, Yu và
Bastin (2010) đề nghị rằng mối quan hệ này
nên được kiểm chứng lại ở các nghiên cứu
tiếp theo
2.2 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Dựa vào các lập luận trên, nghiên cứu này đưa ra các giả thuyết và mô hình nghiên cứu như sau:
Giả thuyết H1: Tìm kiếm sự mới lạ (N) trong mua sắm ảnh hưởng tích cực đến xu hướng mua ngẫu hứng (IBT) của người tiêu dùng
Giả thuyết H2: Sự vui vẻ (F) trong mua sắm ảnh hưởng tích cực đến xu hướng mua ngẫu hứng của người tiêu dùng
Giả thuyết H3: Sự khen ngợi từ người khác (P) trong mua sắm ảnh hưởng tích cực đến xu hướng mua ngẫu hứng của người tiêu dùng
Giả thuyết H4: Sự thoát ly trong mua sắm (ES) ảnh hưởng tích cực đến xu hướng mua ngẫu hứng của người tiêu dùng
Giả thuyết H5: Sự tương tác về mặt xã hội (SI) trong mua sắm ảnh hưởng tích cực đến
xu hướng mua ngẫu hứng của người tiêu dùng
Căn cứ vào các giả thuyết, mô hình nghiên cứu được đề xuất như Hình 1
Hình 1 Mô hình nghiên cứu
3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thu thập dữ liệu thông qua khảo sát trực tiếp bằng bảng câu hỏi dựa trên thang đo Likert 5 điểm với mức 1 là hoàn
H2 (+)
H1 (+) H3 (+)
N
H4 (+) H5 (+)
F
P
ES
SI
IBT
Trang 4toàn không đồng ý và mức 5 là hoàn toàn
đồng ý Dựa trên một mẫu thuận tiện được
thu thập từ 362 người tiêu dùng trẻ tuổi trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Đối tượng
trẻ tuổi trong nghiên cứu này là sinh viên các
trường đại học cao đẳng có độ tuổi từ 18 đến
22 tuổi Thời gian khảo sát từ tháng 4 đến
tháng 5 năm 2016 Các thang đo và mục hỏi
trong nghiên cứu này được dựa trên các
nghiên cứu trước liên quan đến hành vi mua
hàng ngẫu hứng Cụ thể thang đo giá trị tiêu
khiển trong nghiên cứu này gồm 5 thành phần
dựa theo nghiên cứu của Yu và Bastin
(2010): Tìm kiếm sự mới lạ (N) bao gồm 2
biến quan sát, vui vẻ (F) bao gồm 4 biến quan
sát, khen ngợi từ người khác (P) gồm 2 biến
quan sát, thoát ly (ES) gồm 4 biến quan sát,
tương tác về mặt xã hội (SI) gồm 3 biến quan
sát Thang đo mua ngẫu hứng trong nghiên
cứu này được đo lường bằng thang đo xu
hướng mua ngẫu hứng (IBT) kế thừa từ thang
đo trong nghiên cứu của Weun và cộng sự
(1998) bao gồm 4 biến quan sát Sau khi thu
thập dữ liệu, nghiên cứu tiến hành đánh giá
độ tin cậy của thang đo thông qua công cụ
Cronbach’ alpha và phân tích nhân tố khám
phá Tiếp theo nghiên cứu tiến hành phân tích
nhân tố khẳng định và phân tích mô hình cấu
trúc SEM bằng phần mềm AMOS
4 Kết quả và thảo luận
4.1 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo
và phân tích nhân tố khám phá
Tỷ lệ nam chiếm 23,2% và nữ chiếm
76,8% trong mẫu nghiên cứu Xu hướng mua
ngẫu hứng của người tiêu dùng trẻ tại
TP.HCM được đánh giá ở mức trung bình
3,02 trong thang đo 5 điểm Trong các thành
phần của giá trị tiêu khiển, người tiêu dùng
đánh giá thành phần tìm kiếm sự mới lạ cao
nhất và kế đến là thành phần tương tác về mặt
xã hội Các thang đo được đánh giá độ tin cậy
thông qua hệ số Cronbach’alpha Kết quả cho
thấy hệ số Cronbach’alpha của các thang đo
nằm trong trong khoảng 0,71 đến 0,79 nên các thang đo đều đạt được độ tin cậy cho phép Kết quả phân tích nhân tố khám phá cho thấy các thang đo đều đạt được yêu cầu
về giá trị hội tụ và phân biệt Hệ số KMO của kiểm định Barlett với thang đo giá trị tiêu khiển bằng 0,804 và rút trích được 5 thành phần với hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0,5 và phương sai trích đạt được là 67,56%
Bảng 1 Kết quả thống kê mô tả và
Cronbach’alpha
Tên biến
Trung bình
Độ lệch chuẩn
Hệ số tin cậy
4.2 Kết quả phân tích nhân tố khẳng định
và mô hình cấu trúc
Mô hình đo lường bao gồm 6 biến tiềm ẩn với 19 biến quan sát Kết quả phân tích nhân
tố khẳng định (CFA) và mô hình phương trình cấu trúc (SEM) cho thấy mô hình đo lường được chấp nhận với mức độ phù hợp với dữ liệu thị trường tương đối tốt: CMIN = 239,638; df = 137; CMIN/df = 1,749; GFI = 0,935; CFI = 0,952; IFI = 0,953; RMSEA = 0,046 Tất cả các trọng số hồi quy chuẩn hóa đều ≥ 0,544 với p = 0,000 Các hệ số ước lượng trong mô hình cấu trúc đều có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%, ngoại trừ hệ số của biến ES Kết quả cho thấy biến N ảnh
hưởng tích cực đến biến IBT với β 1 = 0,118
và P = 0,029 nên giả thuyết H1 được chấp
nhận Biến F ảnh hưởng tích cực đến biên
IBT với β 2 = 0,229 và P = 0,006 nên giả
thuyết H2 được chấp nhận Tương tự P ảnh
hưởng tích cực đến IBT với β 3 = 0,158 và P
= 0,025 nên giả thuyết H3 được chấp nhận,
SI ảnh hưởng tích cực đến IBT với β 5 =0,204
Trang 5và P = 0,016 nên giả thuyết H5 được chấp
nhận Tuy nhiên giả thuyết H4 không được
chấp nhận do β 4 =-0,017 và P = 0,828
Bảng 2: Kết quả kiểm định giả thuyết
Quan
hệ
Hệ số
β
Hệ số
IBT < N 0,118 0,164 0,029
IBT < F 0,229 0,256 0,006
IBT < P 0,158 0,186 0,025
IBT < ES -0,017 -0,015 0,828
IBT < SI 0,204 0,163 0,016
Như vậy, thang đo giá trị tiêu khiển là một
thang đo đa hướng bao gồm 5 thành phần:
Tìm kiếm sự mới lạ, vui vẻ, khen ngợi từ
người khác, thoát ly, tương tác về mặt xã hội
Các thành phần này đều ảnh hưởng tích cực
đến xu hướng mua ngẫu hứng của người tiêu
dùng trẻ ngoại trừ thành phần thoát ly Trong
đó mức độ ảnh hưởng mạnh nhất thuộc về
yếu tố sự vui vẻ (β chuẩn hóa = 0,256), kế đến là
yếu tố khen ngợi từ người khác (β chuẩn hóa =
0,186), yêu tố sự mới lạ (β chuẩn hóa = 0,164) và
cuối cùng là tương tác về mặt xã hội (β chuẩn hóa
= 0,163)
Hình 2 Kết quả mô hình cấu trúc với hệ số ước
lượng chuẩn hóa
4.3 Thảo luận kết quả
Kết quả phân tích cho thấy giả thuyết H1, H2, H3 đều được chấp nhận Nghĩa là người tiêu dùng trẻ tuổi khi mua sắm nếu họ cảm giác vui vẻ, thích thú và tìm kiếm được nhiều điều mới lạ thì có nhiều khả năng họ sẽ mua hàng ngẫu hứng Người tiêu dùng khi đi mua sắm họ không chỉ để mua sản phẩm mà còn
để thỏa mãn những nhu cầu khác, chẳng hạn như có được niềm vui và tìm kiếm được những điều mới lạ trong mua sắm (Tuyet Mai
và cộng sự, 2003) Trong bối cảnh người tiêu dùng trẻ tại Việt Nam thì niềm vui trong khi mua sắm sẽ là yếu tố dự đoán tốt nhất xu hướng mua ngẫu hứng của họ, kế đến là những lời khen ngợi từ người khác như bạn
bè, nhân viên bán hàng Yu và Bastin (2010) cho rằng người tiêu dùng khi mua sắm họ thường đánh giá tầm quan trọng đối với nét mặt của người khác, một mặt để giữ được thể diện mặt khác là để đạt được giá trị liên quan đến biểu hiện đó Do đó lời khen ngợi từ người khác chẳng hạn như từ nhân viên bán hàng, từ bạn bè đi cùng thậm chí từ lời khen ngợi của một người nào đó đi ngang qua cũng
có thể làm gia tăng sự trải nghiệm và gia tăng khả năng mua ngẫu hứng
Cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu của Yu và Bastin (2010) khi giả thuyết H4 bị bác bỏ Nghĩa là chưa tìm thấy mối liên hệ tích cực giữa sự thoát ly và mua ngẫu hứng
Lý giải cho điều này Yu và Bastin (2010) cho rằng niềm vui và sự hứng thú có thể đã tạo ra
sự thôi thúc đột ngột và ngay lập tức để mua hàng trước khi mua ngẫu hứng và điều này có thể coi như một dạng nhẹ của mua ép buộc
Sự hối tiếc có thể được rút kinh nghiệm ngay sau đó chẳng hạn như liên quan đến sự lãng phí về tiền bạc Trái ngược với kết quả nghiên cứu của Yu và Bastin (2010) khi giả thuyết H5 được chấp nhận Nghĩa là tồn tại mối quan hệ tích cực giữa sự tương tác về mặt xã hội và mua ngẫu hứng Trải nghiệm
Trang 6mua sắm cùng người khác như bạn bè người
thân để gia tăng sự gắn kết tình cảm có thể
dẫn đến mua ngẫu hứng của người tiêu dùng
trẻ Với đối tượng người tiêu dùng trẻ tuổi
nên họ thường đánh giá cao đối với sự tương
tác về mặt xã hội Tuy nhiên kết quả cũng
cho thấy mức độ ảnh hưởng của yếu tố tương
tác về mặt xã hội đối với mua ngẫu hứng là
thấp nhất trong các yếu tố của giá trị tiêu
khiển Yu và Bastin (2010) cũng chỉ ra rằng
người tiêu dùng đi mua sắm có thể là để
khám phá thêm những giá trị khác hơn là tìm
kiếm sự vui vẻ và những điều mới lạ chẳng
hạn như lời khen ngợi từ người khác hoặc
tương tác về mặt xã hội
5 Kết luận
Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của
giá trị tiêu khiến đến xu hướng mua ngẫu
hứng của người tiêu dùng trẻ tại Việt Nam
Với mẫu dữ liệu được khảo sát tại TP.HCM,
kết quả cho thấy giá trị tiêu khiển trong mua
sắm bao gồm 5 thành phần: Tìm kiếm sự mới
lạ, vui vẻ, khen ngợi từ người khác, thoát ly,
tương tác về mặt xã hội Tất cả các thành
phần này đều ảnh hưởng tích cực đến xu
hướng mua ngẫu hứng, ngoại trừ thành phần
thoát ly là không có ý nghĩa thống kê Kết quả này hàm ý rằng người tiêu dùng trẻ tại Việt Nam sẽ có xu hướng mua ngẫu hứng nếu gia tăng được giá trị tiêu khiển trong mua sắm thông qua việc gia tăng niềm vui, tìm kiếm điều mới lạ, được khen ngợi và giao tiếp với người khác trong quá trình trải nghiệm mua sắm
Ngoài những kết quả đạt được nêu trên, nghiên cứu này cũng tồn tại nhiều hạn chế Thứ nhất, nghiên cứu chỉ tiến hành thực hiện với một mẫu thuận tiện tại khu vực TP.HCM nên tính đại diện có thể chưa cao Thứ hai, nghiên cứu cũng mới chỉ tập trung với đối tượng trẻ tuổi nên đặc điểm về mặt nhân khẩu học chưa được đánh giá Thứ ba là nghiên cứu cũng mới chỉ tập trung vào giá trị tiêu khiển trong mua sắm nên đã bỏ qua một số yếu tố khác trong việc giải thích xu hướng mua ngẫu hứng Thứ tư là nghiên cứu này đo lường mua ngẫu hứng dưới dạng xu hướng mua ngẫu hứng chứ không phải hành vi mua ngẫu hứng Do đó các nghiên cứu sau có thể khắc phục những hạn chế nêu trên để có được kết quả nghiên cứu đáng tin cậy hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Amos, C., Holmes, G R., & Keneson, W C (2014) A meta-analysis of consumer impulse buying.Journal of Retailing and Consumer Services, 21(2), 86-97
Arnold, M J., & Reynolds, K E (2003) Hedonic shopping motivations.Journal of retailing, 79(2), 77-95
Babin, B J., Darden, W R., & Griffin, M (1994) Work and/or fun: measuring hedonic and utilitarian shopping value.Journal of consumer research, 20(4), 644-656
Beatty, S E., & Ferrell, M E (1998) Impulse buying: Modeling its precursors.Journal of retailing, 74(2), 169-191
Jones, M A., Reynolds, K E., & Arnold, M J (2006) Hedonic and utilitarian shopping value: Investigating differential effects on retail outcomes.Journal of Business Research, 59(9),
974-981
Nguyen, T T., Nguyen, T D., & Barrett, N J (2007) Hedonic shopping motivations, supermarket attributes, and shopper loyalty in transitional markets: Evidence from Vietnam.Asia Pacific Journal of Marketing and Logistics, 19(3), 227-239
Trang 7Nguyen, T Tuyet Mai, Jerman Rose, Nguyen V Hung, and Nguyen T Thu Mai (2013) An investigation into antecedents and consequences of impulse buying: A study of urban
consumers in Vietnam, The Euro Asia Journal of Management, 23 (1/2), 3-18
Rook, D W (1987) The buying impulse.Journal of consumer research, 14(2), 189-199
Sharma, P., Sivakumaran, B., & Marshall, R (2010) Impulse buying and variety seeking: A trait-correlates perspective.Journal of Business Research,63(3), 276-283
Tauber, E M (1972) Why do people shop?.The Journal of Marketing, 36, 46-49
Thanh, N T., Mai, N T T., & Khang, N T (2016) Impulse Buying’s Antecedents and
Consequences in the Context of Vietnam, an Asian Transitional Economy Journal of Economics and Development, 18(1), 74-91
Tuyet Mai, N T., Jung, K., Lantz, G., & Loeb, S G (2003) An exploratory investigation into impulse buying behavior in a transitional economy: A study of urban consumers in Vietnam.Journal of International Marketing, 11(2), 13-35
Westbrook, R A., & Black, W C (1985) A motivation-based shopper typology.Journal of retailing, 61, 78-103
Weun, S., Jones, M A., & Beatty, S E (1998) Development and validation of the impulse buying tendency scale.Psychological reports, 82(3 Pt 2), 1123-1133
Wood, M (2005) Discretionary unplanned buying in consumer society.Journal of Consumer Behaviour, 4(4), 268-281
Yu, C., & Bastin, M (2010) Hedonic shopping value and impulse buying behavior in transitional economies: A symbiosis in the Mainland China marketplace.Journal of Brand