1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khi bàn về mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế có ý kiến cho rằng điều ước quốc tế và tập quán quốc tế có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau bạn hãy chỉ rõ biểu hiện của mối quan hệ này

13 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khi Bàn Về Mối Quan Hệ Giữa Điều Ước Quốc Tế Và Tập Quán Quốc Tế
Tác giả Nguyễn Minh Hoàng
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Công Pháp Quốc Tế
Thể loại Đề Thi
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 127,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vai trò quan trọng của đường cơ sở và để điều hòa lợi ích của quốc gia ven biển và các quốc gia khác, Công ước luật biển 1982 cũng như thực tiễn cho thấy có 2 phương pháp chủ yếu để x

Trang 1

ĐỀ THI HỌC PHẦN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ (Topic 8)

HỌ VÀ TÊN: Nguyễn Minh Hoàng

MÃ SINH VIÊN: 11171814

Câu 1: Khi bàn về mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế, có ý kiến cho rằng điều ước quốc tế và tập quán quốc

tế có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau Bạn hãy chỉ rõ biểu hiện của mối quan hệ này?

Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế là 2 loại nguồn chính và là hai loại nguồn cơ bản của Luật Quốc tế, chúng tồn tại độc lập với nhau trong hệ thống nguồn của Luật Quốc tế (điều ước không có ý nghĩa loại

bỏ hiệu lực áp dụng của tập quán; quá trình pháp điển hóa tập quán không làm mất đi tập quán đã được pháp điển hóa trong điều ước quốc tế), nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ tương tác, biện chứng với nhau

Trong quá trình xây dựng Luật Quốc tế, tập quán quốc tế có ý nghĩa là cơ sở để hình thành điều ước quốc tế thông qua quá trình pháp điển hóa Việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của Luật Quốc tế cho phép khẳng định rằng, nhiều quy phạm điều ước quốc tế có nguồn gốc từ quy phạm tập quán quốc tế

Điều ước quốc tế là cơ sở hình thành tập quán thông qua thực tiễn

ký kết và thực hiện điều ước quốc tế

Luận văn Kế toán kiểm toán

Trang 2

Việc tồn tại điều ước quốc tế không có ý nghĩa loại bỏ giá trị áp dụng của tập quán quốc tế tương đương về nội dung Cả điều ước quốc tế và tập quán quốc tế đều được hình thành từ sự thỏa thuận của các chủ thể LQT,

do đó chúng có giá trị pháp lý ngang nhau, cùng song song tồn tại

Quy phạm tập quán có thể bị thay đổi, hủy bỏ bằng con đường điều ước và ngược lại cũng có trường hợp điều ước quốc tế bị hủy bỏ hoặc thay đổi bằng con đường tập quán

Tập quán có thể tạo điều kiện để mở rộng hiệu lực của điều ước quốc tế trong trường hợp các chủ thể của LQT không phải là thành viên của điều ước nhưng có quyền viện dẫn đến quy phạm điều ước với tính chất là tập quán quốc tế áp dụng cho bên thứ ba

Mối quan hệ trên đây khẳng định tính độc lập tồn tại của 2 loại nguồn cơ bản của LQT, đồng thời khẳng định mối quan hệ qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau giữa chúng trong các quan hệ quốc tế

Câu 2: Đường cơ sở là gì? Ý nghĩa của đường cơ sở trong Luật Biển? Các phương pháp xác định đường cơ sở?

Đường cơ sở chính là ranh giới phía ngoài của nội thủy và là ranh giới bên trong của lãnh hải Quốc gia ven biển không thể xác định được chiều rộng của các vùng biển, như lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế… nếu không có đường cơ sở

Đường cơ sở có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định ranh giới các vùng biển Xác định đường cơ sở luôn là một vấn đề rất nhạy cảm do tính chất quyết định của đường cơ sở tới phạm vi chủ quyền, quyền chủ

Luận văn Kế toán kiểm toán

Trang 3

quyền của quốc gia trong các vùng biển Nó còn có những ảnh hưởng nhất định tới các quốc gia khác, nhất là các quốc gia trong khu vực Một văn bản pháp luật quốc gia liên quan tới việc xác định đường cơ sở không hợp lý có thể gây ra những phản ứng từ phía các quốc gia láng giềng và các cường quốc về hàng hải vì nó trực tiếp ảnh hưởng tới lợi ích hàng hải của họ

Do vai trò quan trọng của đường cơ sở và để điều hòa lợi ích của quốc gia ven biển và các quốc gia khác, Công ước luật biển 1982 cũng như thực tiễn cho thấy có 2 phương pháp chủ yếu để xác định đường cơ sở

- Phương pháp đường cơ sở thông thường

Điều 5 Công ước luật biển 1982 quy định: "Trừ khi có quy định khác của Công ước, đường cơ sở thông thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải

là ngấn nước thủy triều thấp nhất dọc theo bờ biển như được thể hiện trên hải đồ tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận"

Phương pháp đường cơ sở thông thường liên quan nhiều tới sự thay đổi mực nước biển trong khi mức nước thủy triều ở các quốc gia khác nhau cũng khác nhau Thậm chí, ngay trên tuyến bờ biển của một quốc gia cũng không giống nhau Xác định đường cơ sở và lựa chọn phương pháp đường cơ sở nào đó là do quốc gia ven biển hoàn toàn quyết định trên cơ sở chủ quyền quốc gia Vì vậy, Công ước luật biển

1982 chỉ quy định quốc gia ven biển phải chính thức tuyên bố về đường

cơ sở thông thường của họ với ngấn nước thủy triều thấp nhất được vẽ trên bản đồ với tỷ lệ lớn Các quốc gia khác chỉ có thể đánh giá tính

Luận văn Kế toán kiểm toán

Trang 4

chính xác, mức độ hợp lý của đường cơ sở thông thường bằng cách căn

cứ vào chính tuyên bố do quốc gia ven biển đưa ra

Phương pháp đường cơ sở thông thường hay được áp dụng để xác định đường cơ sở tại những nơi có địa hình bờ biển bằng phẳng, không khúc khuỷu, lồi lõm

- Phương pháp đường cơ sở thẳng

Đây là một phương pháp được một số quốc gia có địa hình bờ biển phức tạp áp dụng từ lâu trong thực tiễn

Đường cơ sở thẳng là đường nối liền những điểm thích hợp có thể được lựa chọn như điểm ngoài cùng của các mũi, của bờ biển hoặc điểm nhô ra xa của ngấn nước thủy triều của các đảo…

Điều 7 Công ước luật biển 1982 có quy định khá cụ thể về đường

cơ sở thẳng Căn cứ vào điều khoản này, quốc gia ven biển được chọn phương pháp đường cơ sở thẳng nếu:

- Bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu và lồi lõm;

- Có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển

- Bờ biển không ổn định do có châu thổ và những đặc điểm tự nhiên khác

Để tránh tình trạng lợi dụng điều kiện địa hình bờ biển phức tạp, từ

đó quốc gia ven biển có thể đưa tuyến đường cơ sở thẳng của họ ra quá

xa Điều 7 của Công ước luật biển 1982 cũng lưu ý các quốc gia khi vạch đường cơ sở thẳng không được làm cho lãnh hải của một quốc gia khác bị tách khỏi biển cả hoặc một vùng đặc quyền kinh tế và các điểm

Luận văn Kế toán kiểm toán

Trang 5

được lựa chọn để vạch đường cơ sở thẳng là một thực tế vật chất cụ thể (ví dụ: các bãi cạn lúc nổi lúc chìm không thể được lựa chọn là điểm cơ

sở trừ khi tại đó có các công trình thường xuyên nhô lên khỏi mặt nước) Như vậy, tuyến đường cơ sở thẳng sẽ được coi là hợp lý và được cộng đồng quốc tế công nhận nếu nó không đi chệch quá xa xu hướng chung của bờ biển và các vùng biển phía trong của đường cơ sở này phải gắn với đất liền đủ đến mức được đặt dưới chế độ nội thủy Đối với các quốc gia quần đảo phương pháp đường cơ sở thẳng cũng được áp dụng cho việc vạch đường cơ sở quần đảo của quốc gia quần đảo

Điều 14 Công ước Luật biển 1982 cũng quy định: "Quốc gia ven biển tùy theo hoàn cảnh khác nhau có thể vạch ra các đường cơ sở theo một hay nhiều phương pháp được trù định ở các điều nói trên"

Theo Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam ngày 12/11/1982 Tuyến đường cơ sở của Việt Nam là đường cơ sở thẳng gồm 10 đoạn nối liền 11 điểm, bắt đầu từ điểm 0 trên vùng nước lịch sử Việt Nam, Campuchia và cuối cùng là điểm A11 ở đảo Cồn Cỏ Điểm 0

và điểm kết thúc ở cửa vịnh Bắc Bộ chưa xác định được nên hệ thống đường cơ sở của Việt Nam chưa khép kín Hai điểm này sẽ được xác định rõ ràng sau khi Việt Nam và các quốc gia hữu quan đạt được kết quả trong việc thỏa thuận về phân định biển

Sau khi quốc gia ven biển xác định được đường cơ sở (tức là ranh giới phía trong của lãnh hải) việc xác định ranh giới phía ngoài của lãnh

Luận văn Kế toán kiểm toán

Trang 6

hải được thực hiện dễ dàng Đó là đường song song với đường cơ sở và mỗi điểm của nó đều cách đều mỗi điểm tương ứng nằm trên đường cơ sở một khoảng cách bằng chiều rộng lãnh hải (tối đa bằng 12 hải lý) Ranh giới phía ngoài của lãnh hải chính là đường biên giới quốc gia trên biển

Câu 3: Phân tích các trường hợp được hưởng quốc tịch theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam Với mỗi trường hợp, bạn hãy nêu 1 ví dụ minh họa?

Trên cơ sở chủ quyền quốc gia, mỗi nước quy định bằng pháp luật nước mình những trường hợp được hưởng quốc tịch, cũng như những trường hợp thay đổi và mất quốc tịch Việc quy định các điều kiện và cách thức hưởng và mất quốc tịch là công việc nội bộ của mỗi nước Mỗi nước có thể quy định các cách thức hưởng quốc tịch khác nhau Nhìn chung, theo pháp luật về quốc tịch hiện nay của nhiều nước trên thế giới, có những cách thức hưởng quốc tịch phổ biến sau đây:

- Theo sự sinh đẻ;

- Theo sự gia nhập quốc tịch;

- Theo sự lựa chọn quốc tịch;

- Theo sự phục hồi quốc tịch

* Hưởng quốc tịch theo sự sinh đẻ.

Đây là cách thức hưởng quốc tịch phổ biến nhất Một số nước Tây

Á và Bắc Âu (như ở Afghanistan, Austria, Norway…) quy định việc hưởng quốc tịch do sinh đẻ theo nguyên tắc huyết thống (Jus sanguinis)

Luận văn Kế toán kiểm toán

Trang 7

Theo nguyên tắc này, đứa trẻ mới sinh ra có quốc tịch theo cha mẹ chứ không phụ thuộc vào nơi sinh

Ví dụ: cha mẹ là công dân Austria công tác tại Việt Nam, thì dù đứa trẻ sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam nó vẫn mang quốc tịch Austria

Một số nước khác như Arghentina, Brazil, Bolivia…, lại quy định việc hưởng quốc tịch do sinh đẻ theo nguyên tắc quyền nơi sinh (Jus soli) Theo nguyên tắc này, đứa trẻ sinh ra ở nước nào thì có quốc tịch nước ấy, không phụ thuộc vào quốc tịch của cha mẹ

Ví dụ: đứa trẻ sinh ra trên lãnh thổ Brazil thì có quốc tịch Brazil, không phụ thuộc vào việc cha mẹ đứa trẻ là công dân Brazil hay công dân của nước khác

Nguyên tắc "quyền huyết thống" và nguyên tắc "quyền nơi sinh" trái ngược nhau Do vậy trong thực tiễn quốc tế đã xảy ra nhiều trường hợp một đứa trẻ sinh ra hoặc không có quốc tịch hoặc có hai quốc tịch Để giải quyết những trường hợp này, các nước phải hợp tác với nhau trên cơ

sở ký kết các điều ước quốc tế nhằm loại trừ tình trạng không quốc tịch hoặc hai quốc tịch

Pháp luật đa số các nước trên thế giới đều quy định việc hưởng quốc tịch

do sinh đẻ trên cơ sở kết hợp hai nguyên tắc trên Chẳng hạn, Luật quốc tịch của Ba Lan quy định đứa trẻ được hưởng quốc tịch Ba Lan nếu:

- Cha, mẹ là công dân Ba Lan

- Một trong hai người là công dân Ba Lan còn người kia không biết là ai hoặc không rõ quốc tịch hay không xác định được quốc tịch

Luận văn Kế toán kiểm toán

Trang 8

- Được sinh ra hoặc tìm thấy ở Ba Lan mà không biết cha mẹ là ai hoặc quốc tịch của cha mẹ không rõ hay không xác định được

* Hưởng quốc tịch theo sự gia nhập (Naturallisaten).

Hưởng quốc tịch theo sự gia nhập được hiểu là việc một người được nhận quốc tịch của một nhà nước nhất định do việc xin gia nhập quốc tịch của nhà nước đó Việc nhập quốc tịch được quyết định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc trao quốc tịch của nước đó cho một người theo trình tự được pháp luật nước đó quy định

Pháp luật về quốc tịch của đa số các nước đều cho phép những người chưa có quốc tịch nước nào hoặc những người có quốc tịch nhưng muốn xin thay đổi quốc tịch, hoặc thậm chí những người đã có một quốc tịch muốn xin thêm một quốc tịch nữa, có thể gia nhập quốc tịch của nước đó

Pháp luật của các nước đều quy định một số điều kiện nhất định đối với người xin gia nhập quốc tịch Thông thường những điều kiện đó là: Phải đến một độ tuổi nhất định (chẳng hạn từ 18 tuổi trở lên như Luật quốc tịch Albania 1946), phải cư trú tại nước xin gia nhập quốc tịch trong một thời gian nhất định (có thể là 5 năm như ở Mỹ, 7 năm ở Anh, Thụy Điển,

15 năm ở Luxembourg ) phải biết tiếng của nước mà mình xin gia nhập quốc tịch, phải có điều kiện bảo đảm cuộc sống ở nước xin gia nhập quốc tịch

Luận văn Kế toán kiểm toán

Trang 9

Ở đây cũng cần nhấn mạnh rằng, việc cho phép một người nào đó gia nhập quốc tịch của một nước luôn luôn mang tính chất giai cấp sâu sắc và biểu hiện bản chất của nhà nước đó

Pháp luật về quốc tịch ở các nước tư bản chủ nghĩa thường quy định những điều kiện khắt khe, phức tạp và mập mờ đối với việc nhập quốc tịch của những người mà giai cấp tư sản thống trị không ưa thích

Ví dụ: Theo đạo luật nhập cư và quốc tịch của Mỹ thì những người muốn gia nhập quốc tịch Mỹ phải có đầy đủ các điều kiện sau:

- Đủ 18 tuổi trở lên;

- Đã sinh sống ở Mỹ 5 năm trở lên;

- Biết tiếng Anh;

- Không phải là kẻ thù của chế độ hiện hành ở Mỹ;

- Không phải kẻ vô thần;

- Là những người thuộc các chủng tộc châu Âu và châu Phi và có quan hệ đến công việc ở Mỹ

* Hưởng quốc tịch theo sự lựa chọn (Optation).

Vấn đề lựa chọn quốc tịch được đặt ra trong trường hợp một bộ phận lãnh thổ của quốc gia này được sát nhập vào một quốc gia khác và trong trường hợp chính phủ hai nước đó đã thỏa thuận với nhau về việc di chuyển các bộ phận dân cư nhất định từ nước này sang nước khác

Lựa chọn quốc tịch là quyền của một người dân được tự do lựa chọn cho mình một quốc tịch (hoặc là giữ nguyên quốc tịch cũ, hoặc là nhận quốc tịch của quốc gia khác) Việc lựa chọn quốc tịch cần phải

Luận văn Kế toán kiểm toán

Trang 10

được tiến hành trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với nguyên tắc dân tộc tự quyết và các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại

Trong thực tiễn quan hệ quốc tế có nhiều trường hợp chính phủ các nước ký kết với nhau Hiệp định trao đổi dân cư nhằm di chuyển các bộ phận dân cư nhất định từ nước này sang nước kia và ngược lại Việc di

cư này được tiến hành chủ yếu với những người cùng dân tộc và trên cơ

sở hoàn toàn tự nguyện

Ví dụ : Hiệp định 6/7/1945 giữa chính phủ Liên Xô và chính phủ lâm thời của mặt trận dân tộc thống nhất Ba Lan đã quy định người

Ba Lan và người Do thái có quốc tịch Liên Xô nên chuyển về Ba Lan, người Nga, người Ukraine và người các dân tộc khác của Liên Xô hiện đang cư trú trên lãnh thổ của Ba Lan có quyền rút khỏi quốc tịch Ba Lan và nên chuyển về Liên Xô Hiệp định ngày 10/6/1946 giữa Liên Xô và Tiệp Khắc về lựa chọn quốc tịch và di dân cũng quy định nguyên tắc tương tự

Ngoài ra, trên thực tế, việc hồi hương (Repatration) cũng đặt ra việc lựa chọn quốc tịch cho một nhóm người nhất định Đây là một dạng đặc biệt của hình thức di dân Hình thức này đã từng được áp dụng đối với người Đức cư trú ở Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungari trong những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai theo quy định của Hiệp ước Potsdam năm 1945

* Hưởng quốc tịch theo sự phục hồi quốc tịch (Reintegration)

Luận văn Kế toán kiểm toán

Trang 11

Phục hồi quốc tịch là việc khôi phục lại quốc tịch của một nước cho người đã mất quốc tịch đó

Ví dụ: Vấn đề phục hồi quốc tịch thường được đặt ra đối với những người trước đây ra nước ngoài sinh sống nay trở về tổ quốc và đối với những người mất quốc tịch nước mình do kết hôn hay ly hôn với người nước ngoài

* Ngoài bốn cách thức hưởng quốc tịch phổ biến trên, trong lịch sử quan hệ quốc tế người ta thấy còn có trường hợp thưởng quốc tịch

Trường hợp đầu tiên thưởng quốc tịch trong lịch sử xảy ra vào giai đoạn Cách mạng tư sản Pháp thế kỷ XVIII, khi Quốc hội Pháp tặng thưởng quốc tịch cho 18 người nước ngoài, trong đó có vị anh hùng dân tộc Mỹ George Washington Cho đến nay vẫn còn những trường hợp thưởng quốc tịch như vậy

Thưởng quốc tịch là hành vi của cơ quan có thẩm quyền của một nước công nhận người nước ngoài có công trạng lớn đối với nước mình,

là công dân nước mình Việc thưởng quốc tịch phải được sự đồng ý của đương sự

Câu 4: Có ý kiến cho rằng:

Con đường hình thành Luật quốc tế là quá trình mang tính chất tự nguyện của các quốc gia, thể hiện ở sự tự điều chỉnh quan hệ lập pháp mà các quốc gia tiến hành hoặc theo phương thức thỏa

Luận văn Kế toán kiểm toán

Trang 12

thuận công khai bằng quan hệ điều ước, hoặc mặc nhiên thừa nhận quy tắc xử sự trong luật tập quán.

Bình luận ý kiến trên.

Sự tồn tại của hệ thống quốc tế mà trung tâm là các quốc gia đã hình thành một cách khách quan cơ chế thỏa thuận trong quá trình hình thành Luật quốc tế Khi trong quan hệ quốc tế luôn xuất hiện và hiện hữu tương quan lợi ích riêng của mỗi quốc gia, đặt bên cạnh lợi ích của quốc gia khác và lợi ích cộng dồng thì các quy phạm luật quốc tế tất yếu

là sản phẩm của sự đấu tranh, nhân nhượng lẫn nhau giữa các quốc gia trong quá trình hợp tác và phát triển

Quan hệ giữa các quốc gia có chủ quyền loại bỏ quyền lực siêu quốc gia và những khả năng áp đặt các quy tắc hay quy phạm bắt buộc cho bất kỳ quốc gia nào khác và thay vào đó bằng việc thừa nhận thỏa thuận là phương thức duy nhất để hình thành hệ thống các nguyên tắc và quy phạm Luật quốc tế, có chức năng duy trì trật tự pháp lý cần thiết đối với cộng đồng quốc tế Đây cũng là đặc điểm lý giải cho sự thiếu vắng

cơ chế quyền lực chung, “đứng trên” các quốc gia khi tiến hành các hoạt động liên quan đến cả hai quá trình hình thành và thực thi các quy phạm của Luật quốc tế

Trên thực tế, sự hình thành Luật quốc tế khác với trình tự xây dựng luật quốc gia, bởi vì việc hình thành luật quốc tế là quá trình mang tính chất tự nguyện của các quốc gia, thể hiện ở sự tự điều chỉnh quan hệ lập pháp mà các quốc gia tiến hành theo phương thức thỏa thuận công khai

Luận văn Kế toán kiểm toán

Ngày đăng: 08/12/2023, 15:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w