GIỚI THIỆU VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP THEO QUAN ĐIỂMCỦA CHỦ NGHĨA MÁC VÀ CÁCH TIẾP CẬN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ NÀY Trước hết, cần nhận thấy rằng, Hồ Chí Minh chưa trình bày c
Trang 1MỤC LỤC
I GIỚI THIỆU VỀ VÁN ĐỀ DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ
NGHĨA MÁC VÀ CÁCH TIẾP CẬN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ NÀY 2
1 Vấn đề dân tộc 2
1.1 Vấn đề dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác 2
1.2 Cách tiếp cận của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc 3
2 Vấn đề giai cấp 4
2.1 Vấn đề giai cấp theo quan điểm của chủ nghĩa Mác 4
2.2 Cách tiếp cận của Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp 5
II ỨNG DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP QUA CÁC THỜI KÌ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM 6
III SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG VÀ QUAN ĐIỂM CỦA BẢN THÂN VỀ VẤN ĐỀ NÀY 9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 2I. GIỚI THIỆU VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP THEO QUAN ĐIỂM
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC VÀ CÁCH TIẾP CẬN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ NÀY Trước hết, cần nhận thấy rằng, Hồ Chí Minh chưa trình bày các quan điểm của Người về dân tộc và giai cấp một cách có hệ thống Tuy nhiên, tiếp cận các vấn đề dân tộc, vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh có thể được nhìn nhận các khía cạnh trên như sau:
1 Vấn đề dân tộc
1.1 Vấn đề dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác
Khái niệm dân tộc thường được xác định với hai nghĩa cơ bản, dân tộc - tộc người và dân tộc - quốc gia Ở góc độ dân tộc - tộc người: Dân tộc là khái niệm chỉ cộng đồng người được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa
và nhất là ý thức tự giác tộc người Cộng đồng người này có thể cùng chung sống trong một quốc gia, hoặc cũng có thể sinh sống ở nhiều quốc gia khác nhau Dân tộc là hình thức cộng đồng người cao hơn hình thức cộng đồng người trước đó kể
cả bộ tộc So với bộ tộc thì dân tộc là hình thức cộng đồng người thống nhất, ổn định, bền vững hơn Ở góc độ dân tộc - quốc gia: “Dân tộc là một khối cộng đồng gồm nhiều người, khối ổn định, hình thành trong quá trình lịch sử, sinh ra trên cơ
sở một ngôn ngữ chung, một lãnh thổ chung, một đời sống kinh tế chung, một cấu tạo tâm lý chung biểu hiện trong một nền văn hóa chung” Như vậy, dân tộc ở đây được hiểu là dân tộc - quốc gia, được hình thành trong quá trình lịch sử, được đặc trưng bởi sự đồng nhất, ổn định về đời sống kinh tế, về ngôn ngữ, lãnh thổ
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân tộc là cộng đồng xã hội - tộc người ổn định, bền vững, là sự kết tinh độc đáo của các cộng đồng ngôn ngữ, lãnh thổ, kinh tế, văn hóa, tâm lý, tính cách; nhà nước và pháp luật Ở châu Âu, dân tộc được hình thành gắn liền với sự ra đời và phát triển của giai cấp tư sản Giai cấp tư sản đóng vai trò quyết định đối với việc xóa bỏ tình trạng phân tán về tư liệu sản xuất, về tài chính dân cư, đưa đến sự tập trung về chính trị Còn đối với các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam thì lại có những điểm khác biệt về sự hình
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 3thành dân tộc, do đó vấn đề dân tộc cũng như vấn đề giai cấp ở phương Đông sẽ khác so với phương Tây Cụ thể ở Việt Nam, sự hình thành dân tộc vốn diễn ra từ rất sớm do nhu cầu đấu tranh chống giặc ngoại xâm và chinh phục tự nhiên chứ không gắn liền với sự ra đời của giai cấp tư sản
Khi đề cập vấn đề dân tộc dưới góc độ dân tộc - quốc gia, cần phải phân biệt một số khái niệm: chủ nghĩa dân tộc ích kỷ (hẹp hòi), chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa dân tộc chân chính Trong rất nhiều trường hợp cụm từ chủ nghĩa dân tộc được hiểu theo nghĩa chủ nghĩa dân tộc nghĩa dân tộc vị kỷ, chủ nghĩa dân tộc sô vanh nước lớn Đó là hệ tư tưởng, đường lối chính trị và tâm lý tư sản trong vấn đề dân tộc Hệ tư tưởng này, kìm hãm sự phát triển các dân tộc cũng như sự phát triển tiến bộ của xã hội loài người
1.2 Cách tiếp cận của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc
Khi tiếp cận khái niệm “dân tộc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh, với nghĩa là dân tộc - quốc gia, thì dân tộc Việt Nam bao gồm toàn thể các dân tộc - tộc người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Đối với Người, vấn đề trọng tâm của quốc gia - dân tộc Việt Nam là lợi ích dân tộc, trong điều kiện đất nước đang bị thực dân, đế quốc xâm lược thì lợi ích dân tộc gắn liền với đấu tranh giành độc lập dân tộc
Vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh bàn nhiều về đấu tranh giải phóng dân tộc ở thuộc địa Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường phát triển dân tộc để giải phóng dân tộc, cần xác định một con đường phát triển của dân tộc, vì phương hướng phát triển dân tộc quy định những yêu cầu và nội dung trước mắt của cuộc đấu trang giành độc lập Mỗi phương hướng phát triển gắn liền với một hệ tư tưởng và một giai cấp nhất định
Từ thực tiễn phong trào cứu nước của ông cha và lịch sử nhân loại, Hồ Chí Minh khẳng định phương hướng phát triển của dân tộc trong bối cảnh thời đại mới là chủ nghĩa xã hội
Hoạch định con đường phát triển của dân tộc thuộc địa là một vấn đề hết sức mới mẻ Từ một nước thuộc địa đi lên chủ nghĩa xã hội phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 4Hồ Chí Minh viết: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới
xã hội cộng sản” Con đường đó kết hợp cả nội dung dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa
xã hội; xét về thực chất chính là con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội
“Đi tới xã hội cộng sản” là hướng phát triển lâu dài Nó quy định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, đoàn kết mọi lực lượng dân tộc, tiến hành các cuộc cách mạng chống đế quốc và chống phong kiến cho triệt để
Con đường đó phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở thuộc địa Đó cũng là nét độc đáo, khác biệt với con đường phát triển của các dân tộc đã phát triển lên chủ nghĩa tư bản ở phương Tây
2 Vấn đề giai cấp
2.1 Vấn đề giai cấp theo quan điểm của chủ nghĩa Mác
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, các cuộc cách mạng xã hội chỉ để thay thế sự thống trị của giai cấp bóc lột này bằng sự bóc lột của giai cấp khác, theo một phương thức bóc lột khác Chỉ đến thời đại cách mạng vô sản, cuộc cách mạng vô sản do giai cấp vô sản lãnh đạo nhằm xóa bỏ sự thống trị của giai cấp
tư sản mới là một cuộc cách mạng xã hội duy nhất triệt để, hướng tới mục tiêu một
xã hội không có giai cấp, mọi người đều được hưởng tự do, bình đẳng, hòa bình và hạnh phúc C Mác và Ph Ăngghen khi nói về giai cấp công nhân hai ông dùng nhiều tên gọi khác nhau: Giai cấp vô sản, giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ dựa vào việc bán sức lao động của mình, lao động làm thuê ở thế kỷ XIX, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công nhân đại công nghiệp như những cụm từ đồng nghĩa để biểu thị một khái niệm giai cấp công nhân - con đẻ của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất hiện đại
Dù giai cấp công nhân có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng theo C.Mác và Ph.Ăngghen, họ vẫn chỉ mang hai thuộc tính cơ bản: Về phương thức lao động và về
vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Hai thuộc tính này nói lên một trong những đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa nên
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 5C.Mác và Ph.Ăngghen còn gọi giai cấp công nhân là giai cấp vô sản, là giai cấp duy nhất có thể giải quyết đúng đắn mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc chân chính và lợi ích của nhân dân lao động trên toàn thế giới
2.2 Cách tiếp cận của Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp
Vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là vấn đề giải phóng giai cấp (giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác ) khỏi tình trạng
áp bức bóc lột, đem lại cơm ăn áo mặc, tự do hạnh phúc cho các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam Trong điều kiện dân tộc bị xâm lược vấn đề giai cấp luôn được Hồ Chí Minh đặt trong mối quan hệ biện chứng với vấn đề dân tộc Lợi ích của giai cấp thống nhất chặt chẽ với lợi ích dân tộc Điều đó có nghĩa là chỉ có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp
Khi đất nước giành được độc lập rồi thì giải phóng giai cấp chính là phải từng bước xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu, vươn tới xây dựng cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc thật sự cho tất cả mọi người Đây là vấn đề nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp Người khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”
Đồng thời, vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng chính là nhìn nhận xem giai cấp nào đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam, đáp ứng được khát vọng độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân
Trong điều kiện quốc gia - dân tộc Việt Nam là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, vấn đề là giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân thì vấn đề được đặt ra
là giai cấp nào có thể đáp ứng được yêu cầu lịch sử đó, hay có thể nói một cách khác là vấn đề giai cấp ở đây chính là giai cấp nào có thể giải quyết được triệt để vấn
đề dân tộc thuộc địa, giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp
và giải phóng con người Hồ Chí Minh cho rằng, chỉ giải quyết triệt để vấn đề đó khi đứng trên lập trường của giai cấp công nhân Vì theo Người, chỉ có giai cấp công nhân là người duy nhất có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng đi tới thắng lợi cuối
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 6cùng, bằng sự liên minh với giai cấp nông dân và trí thức coi đó là nền tảng của mặt trận đoàn kết toàn dân
Mặt khác, trên cơ sở kế thừa những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào phân tích cơ cấu giai cấp xã hội Việt Nam, Hồ Chí Minh xem xét vấn đề giai cấp trong
xã hội Việt Nam dưới góc độ mối tương quan về lợi ích và tương quan về quyền lực giữa các giai cấp trong xã hội Việt Nam Theo Người, chỉ có đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân mới đảm bảo sự thống nhất biện chứng về lợi ích giữa giai cấp, tầng lớp trong xã hội với toàn thể dân tộc Việt Nam Điểm mấu chốt của sự thống nhất đó theo quan điểm của Hồ Chí Minh là phải giữ vững được sự lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam trong các giai đoạn cách mạng
CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Hồ Chí Minh hết sức trân trọng quyền con người Người đã tìm hiểu và tiếp nhận những nhân tố về quyền con người được nêu trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1791 của cách mạng Pháp, như quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc Người khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”
Nhưng từ quyền con người, Hồ Chí Minh đã khái quát và nâng cao thành quyền dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”
Độc lập, tự do là khát vọng lớn nhất của các dân tộc thuộc địa Hồ Chí Minh nói:
“Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu”
Năm 1919, vận dụng nguyên tắc dân tộc tự quyết đã được các đồng minh thắng trận trong chiến tranh thế giới thứ nhất long trọng thừa nhận, thay mặt những người Việt Nam yêu nước, Nguyễn Ái Quốc gửi tới hội nghị Versaille bản yêu sách gồm 8 điểm, đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 7Đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, một cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo, có tư tưởng cốt lõi
là độc lập, tự do cho dân tộc
Tháng 5 –1941, Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành trung ương Đảng, viết thư Kính cáo đồng bào, chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy” Người chỉ đạo thành lập Việt Nam độc lập đồng minh, ra báo Việt Nam độc lập, thảo Mười chính sách của Việt Minh, trong đó mục đầu tiên là: “Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền Tháng 8 –1945, Hồ Chí Minh đúc kết ý chí đấu tranh cho độc lập, tự do của nhân dân ta trong câu nói bất hủ: “Dù hy sinh tới đâu, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”
Cách mạng Tháng Tám thành công, Người thay mặt chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, long trọng khẳng định trước toàn thế giới:
“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tụ do, độc lập ấy”
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải là một nền độc lập thật
sự, hoàn toàn, gắn với hòa bình, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước
Trong các thư và điện văn gửi tới Liên hợp quốc và chính phủ các nước vào thời gian sau cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố: “Nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: Toàn vẹn lãnh thổ cho tổ quốc và độc lập cho đất nước”
Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ Thể hiện quyết tâm bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi vang dội núi sông:
“Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”
Khi đế quốc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh, ồ ạt đổ quân viễn chinh và phương tiện chiến tranh hiện đại vào Miền Nam, đồng thời tiến hành chiến tranh
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 8phá hoại Miền Bắc với quy mô và cường độ ngày càng ác liệt, Hồ Chí Minh nêu cao chân lý lớn nhất của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”
Độc lập dân tộc, cuối cùng, phải đem lại cơm no, áo ấm, hạnh phúc cho mọi người dân
Độc lập, tự do là mục tiêu chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, một tư tưởng lớn trong thời đại giải phóng dân tộc: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là khẩu hiệu hành động của dân tộc Việt Nam Đồng thời cũng là nguồn cổ vũ các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đang đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân Vì thế, Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam mà còn là “người khởi xướng cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa trong thế kỷ XX”
Khi chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, các cường quốc tư bản Phương Tây ra sức tiến hành chiến tranh xâm lược thuộc địa, thiết lập ách thống trị của chủ nghĩa thực dân với những chính sách tàn bạo
Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc thuộc địa càng nặng nề thì phản ứng của dân tộc bị áp bức càng quyết liệt Không chỉ quần chúng lao động, mà cả các giai cấp và tầng lớp trên trong xã hội đều phải chịu nỗi nhục của người dân mất nước, của một dân tộc mất độc lập, tự do
Cùng với sự lên án chủ nghĩa thực dân và cổ vũ các dân tộc thuộc địa vùng dậy đấu tranh, Hồ Chí Minh khẳng định vai trò của tiềm năng dân tộc trong sự nghiệp tự giải phóng
Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước chân chính của các dân tộc thuộc địa Đó là sức mạnh chiến đấu và thắng lợi trước bất cứ thế lực ngoại xâm nào
Theo Hồ Chí Minh, “Chính do tinh thần yêu nước mà quân đội và nhân dân ta
đã mấy năm trường chịu đựng trăm nghìn cay đắng, kiên quyết đánh cho tan bọn thực dân cướp nước và bọn Việt gian phản quốc, kiên quyết xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường, một nước Việt Nam dân
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 9chủ mới” Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước chân chính “Là một bộ phận của tinh thần quốc tế”, “khác hẳn với tinh thần vị quốc của bọn đế quốc phản động”
Xuất phát từ sự phân tích quan hệ giai cấp trong xã hội thuộc địa, từ truyền thống dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đánh giá cao sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước mà những người Cộng sản phải nắm lấy và phát huy
Hồ Chí Minh giải quyết vấn đề dân tộc theo quan điểm giai cấp, nhưng đồng thời đặt vấn đề giai cấp trong vấn đề dân tộc Giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân là điều kiện để giải phóng giai cấp Vì thế, lợi ích của giai cấp phải phục tùng lợi ích của dân tộc
Tháng 5 –1941, Người cùng Trung ương Đảng khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”
Luận cương của Đảng năm 1930 đã xác định, cách mạng Việt Nam “đi tới xã hội cộng sản” là một định hướng đúng đắn, phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp Đặt cách mạng giải phóng dân tộc nằm trong phạm trù cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với CNXH làm cho quan điểm Hồ Chí Minh mang tính toàn diện, triệt để Dưới góc độ giải phóng, độc lập dân tộc mới chỉ
là cấp độ đầu tiên Giải phóng về mặt chính trị tự bản thân nó chưa phải là công cuộc giải phóng hoàn toàn, độc lập dân tộc là tiền đề đầu tiên để tiến lên CNXH, đưa con người đi tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu trong thế kỷ XXI Song, việc xử lý mối quan hệ giữa các dân tộc, giai cấp và nhân loại đang trở thành một vấn đề mang tính chiến lược lâu dài đối với mỗi quốc gia -dân tộc Đối với Việt Nam, để giữ vững chủ quyền, độc lập -dân tộc và xây dựng đất nước đi lên CNXH đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần nhận thức và giải quyết đúng đắn
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 10mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố dân tộc, giai cấp, nhân loại trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong quá trình hội nhập quốc tế Muốn vậy, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cần kiên định nguyên tắc thống nhất giữa dân tộc, giai cấp và nhân loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đường lối nhất quán và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH Do vậy, việc giải quyết mối quan
hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp và quốc tế được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta vận dụng sáng tạo vào các giai đoạn cách mạng của nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh việc vận dụng chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam phải hết sức sáng tạo, phải tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của đất nước
Để bảo đảm cho sự nghiệp đổi mới, trong tất cả các văn kiện của Đảng luôn khẳng định mục tiêu cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Điều kiện cơ bản bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng là trung thành, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và cũng có nghĩa là trung thành với lợi ích cơ bản lâu dài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và lợi ích dân tộc Sự vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp trong đổi mới ở Việt Nam được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội IX của Đảng: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội Đó chính là sự quán triệt và vận dụng quan điểm lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Dưới đây là một số quan điểm của Đảng thể hiện sự vận dụng sáng tạo tư tưởng
Hồ Chí Minh trong giải quyết quan hệ dân tộc - giai cấp và quốc tế trong điều kiện mới
Đại hội IX đã đưa ra luận điểm mang tầm khái quát lý luận về quan hệ giai cấp, lợi ích giai cấp và lợi ích giai cấp dân tộc trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam: mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh
Tiểu luận triết học mác lê nin