Mặc dù lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất nhưng do quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, quy định cách thức tổ chức, quản lý, phân công sản xuất, quy định sự phát
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-*** -BÀI TẬP LỚN MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ
CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN
ĐỀ TÀI:
VẬN DỤNG LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA
LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT, PHÂN TÍCH
TÍNH TẤT YẾU CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN
ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI
Họ và tên SV: Đỗ Việt Hoàng Lớp tín chỉ: Triết học Mác – Lenin (219)_11
Mã SV: 1192062 GVHD: TS NGUYỄN VĂN HẬU
HÀ NỘI, NĂM2020
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 2MỤC LỤC
Lời mở đầu -3
I MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT -4
1 Các khái niệm -4
1.1 Phương thức sản xuất: -4
1.2 Lực lượng sản xuất: -5
1.3 Quan hệ sản xuất: -5
2 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất trình độ của lực lượng sản xuất
6 2.1 Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với sự hình thành và biến đổi của quan hệ sản xuất: -6
2.2 Tác động ngược lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất -7
II VẬN DỤNG PHÂN TÍCH TẤT YẾU CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIÊN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA -8
1 Thế nào là công nghiệp hóa - hiện đại hóa? -8
2 Sự cần thiết và tính tất yếu tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam -9
3 Phân tích quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội -10
5 Kết Luận -15Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 3Lời mở đầu
Theo C.Mác, trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai
mặt có mối quan hệ biện chứng với nhau làm cho sản xuất phát triển Lực lượng sản xuất
là sự thống nhất hữu cơ giữa người lao động với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao
động Con người không thể sản xuất có hiệu quả nếu tiến hành riêng lẻ, mà phải liên kết,
phối hợp với nhau, quan hệ tác động với nhau Bởi vậy, thiếu một trong hai mối quan hệ
này thì không thể có sản xuất vật chất Mặc dù lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản
xuất nhưng do quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, quy định cách thức tổ
chức, quản lý, phân công sản xuất, quy định sự phát triển và ứng dụng khoa học công
nghệ và cơ chế thực hiện lợi ích của con người vì vậy, tác động đến thái độ của con người
trong sản xuất từ đó hình thành những yếu tố, khuynh hướng thúc đẩy hoặc kìm hãm
sự phát triển của lực lượng sản xuất Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản của xã hội Trong quá trình vận hành nền
kinh tế theo cơ chế mới, vấn đề chúng ta cần quan tâm là vai trò con người, sự phát triển
của công cụ lao động, trình độ quản lý sản xuất, phân công lao động và trình độ áp dụng
khoa học kỹ thuật của người lao động trong quá trình sản xuất Và tác động qua lại biện
chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất được Mác và Ănghen khái quát thành
qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất Từ những lí luận trên
đưa Mác – Ănghen vươn lên đỉnh cao của trí tuệ nhân loại Vậy nên cho thấy muốn phân
tích được sự phát triển của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, thì
chúng ta nên đi sâu vào sự phát triển tất yếu của công nghiệp hóa và hiện đại hóa qua sự
vận dụng lí luận trên Vấn đề “Vận dụng lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, hãy phân tích tính tất yếu của quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội” là vấn đề hết
sức quan trọng trong quá trình phát triển đất nước trong gia đoạn này Trong quá độ lên
Chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng sáng tạo lý luận này
Với trình độ nhận thức hiểu biết về mọi mặt còn hạn chế, nên không tránh khỏi những sai
sót mong thầy giáo góp ý để bài viết được hoàn thiện hơn
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 4I MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ
QUAN HỆ SẢN XUẤT
1 Các khái niệm
1.1 Phương thức sản xuất:
Phương thức sản xuất là cách thức mà con người dùng để làm ra của cải vật chất cho
mình trong một giai đoạn lịch sử nhất định, theo cách đó con người có những quan hệ
nhất định với tự nhiên và có những quan hệ nhất định với nhau trong sản xuất vật chất
Mỗi hình thái kinh tế – xã hội có một phương thức sản xuất đặc trưng nhất định và theo
đó có một phương thức sinh hoạt xã hội nhất định
Các phương thức sản xuất trong lịch sử được thay thế lẫn nhau một cách tất yếu khách
quan bằng các cuộc cách mạng xã hội Khi phương thức sản xuất mới ra đời, thì toàn bộ
kết cấu kinh tế, kết cấu giai cấp, xã hội, các quan điểm tư tưởng chính trị, pháp luật, đạo
đức cùng các thiết chế tương ứng của nó như nhà nước, đảng phái,… cũng thay đổi
Sự thay đổi của phương thức sản xuất quyết định sự chuyển biến của xã hội loài người
qua các giai đoạn lịch sử khác nhau Lịch sử loài người trước hết là lịch sử của sản xuất
và sự phát triển kế tiếp nhau của các PTSX khi PTSX cũ mất đi, PTSX mới ra đời thì chế
độ xã hội cũ cũng mất đi và chế độ xã hội mới xuất hiện Loài người đã trải qua 5 PTSX
tương ứng với chúng là 5 chế độ xã hôi: Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong
kiến, Tư bản chủ nghĩa và bước đầu của phương thức Cộng sản văn minh ( mà giai đoạn
thấp của nó là Chủ nghĩa xã hội )
Từ những vai trò của quyết định sản xuất, khi nghiên cứu những qui luật của lịch sử XH,
chúng ta không phải tìm nguồn gốc phát triển XH ở thế giới tinh thần, ý thức của XH, mà
PTSX ở mỗi giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử trong chế độ Kinh tế - Xã hội
Mặt khác PTSX là sự thống nhất giữa LLSX ở một trình độ nhất định về QHSX tương
ứng
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 51.2 Lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động (sức khoẻ thể chất, kinh nghiệm,
kỹ năng, tri thức lao động của họ) với tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động
để tạo ra một sức sản xuất vật chất nhất định
Lực lượng sản xuất do con người tạo ra nhưng mang tính khách quan Nó biểu hiện mối
quan hệ giữa con người với tự nhiên Lực lượng sản xuất nói lên năng lực hoạt động thực
tiễn của con người trong quá trình chinh phục tự nhiên Nó là sản phẩm của sự kết hợp
giữa lao động sống và lao động quá khứ
Lực lượng sản xuất là tiêu chí quan trọng nhất để chỉ ra những nấc thang của sự tiến bộ
xã hội vì các chế độ kinh tế khác nhau ở chỗ, nó sản xuất bằng cách nào, với công cụ lao
động nào
Trong lực lượng sản xuất gồm ba yếu tố cơ bản: con người – người lao động với thể lực,
học vấn, kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ lao động; tư liệu lao động (gồm công cụ lao
động và đối tượng lao động) Các yếu tố trong lực lượng sản xuất không thể tách rời
nhau, chúng có quan hệ hữu cơ với nhau trong đó yếu tố con người – người lao động giữ
vị trí hàng đầu, tư liệu sản xuất đóng vai trò rất quan trọng
Trải qua các cuộc cách mạng khoa học cùng sự phát triển sản xuất, khoa học càng ngày
càng quan trọng trong sản xuất Ngày nay khoa học – kỹ thuật ngày càng trở thành lực
lượng sản xuất trực tiếp của xã hội Điều này thể hiện ở chỗ, khoa học đã thẩm thấu vào
tất cả quy trình lao động, đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, quản lý sản xuất, trong
chế tạo, cải tiến công cụ lao động,…
1.3 Quan hệ sản xuất:
Quan hệ sản xuất là những quan hệ cơ bản giữa người với người trong quá trình sản xuất
vật chất (sản xuất và tái sản xuất xã hội) thể hiện ở quan hệ về mặt sở hữu đối với tư liệu
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 6sản xuất, ở quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ về mặt phân phối sản phẩm
sản xuất ra Như vậy, quan hệ sản xuất gồm ba quan hệ:
– Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất;
– Quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất
– Quan hệ phân phối sản phẩm sản xuất
Ba quan hệ trên trong quan hệ sản xuất thống nhất với nhau Tuy nhiên, trong ba quan hệ
này thì quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất đóng vai trò quyết định Bởi lẽ, ai nắm tư
liệu sản xuất trong tay, người ấy sẽ quyết định việc tổ chức, quản lý sản xuất cũng như
phân phối sản phẩm Chính quan hệ sở hữu cũng quy định tính đặc trưng cho từng quan
hệ sản xuất của từng xã hội Do vậy, quan hệ sản xuất là tiêu chí quan trọng để phân biệt
hình thái kinh tế – xã hội này với hình thái kinh tế – xã hội khác Mặc dù vậy, quan hệ tổ
chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm có ảnh hưởng quan trọng tới quan
hệ sở hữu Chúng có thể góp phần củng cố hoặc phá hoại quan hệ sở hữu
Quan hệ sản xuất mang tính khách quan, nó được hình thành trong quá trình phát triển
lịch sử không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Quan hệ sản xuất là quan
hệ cơ bản quyết định tất cả các quan hệ xã hội khác của con người
2 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất trình độ của lực lượng sản
xuất
2.1 Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với sự hình thành và biến đổi
của quan hệ sản xuất:
Trình độ của lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động, ở trình độ kỹ
năng, kinh nghiệm của người lao động, trình độ ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản
xuất, v.v ứng với trình độ của lực lượng sản xuất là tính chất của nó Ví dụ, khi trình độ
sản xuất thủ công thì tính chất của nó là cá nhân Khi trình độ của lực lượng sản xuất là
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 7cơ khí, hiện đại thì tính chất của nó là xã hội hoá Trình độ của lực lượng sản xuất quyết
định quan hệ sản xuất Điều này thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, xu hướng của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi và phát triển Sự biến
đổi đó bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất mà
trước hết là công cụ lao động Từ sự biến đổi của lực lượng sản xuất này mà quan hệ sản
xuất phải biến đổi theo cho phù hợp
Thứ hai, lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất, nó luôn luôn vận động
và biến đổi trong quá trình lịch sử Lực lượng sản xuất là nội dung, quan hệ sản xuất là
hình thức xã hội của quá trình sản xuất Sự biến đổi trong lực lượng sản xuất (nội dung)
sớm muộn cũng kéo theo sự biến đổi trong quan hệ sản xuất (hình thức)
Thứ ba, sự phát triển của lực lượng sản xuất đến trình độ nào đó nhất định làm cho quan
hệ sản xuất trở nên không phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất nữa Khi ấy, xuất
hiện mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất Mâu thuẫn này tất yếu dẫn
đến đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao của nó là cách mạng xã hội nhằm phá bỏ “xiềng xích
trói buộc” lực lượng sản xuất để xác lập quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất
2.2 Tác động ngược lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
Mặc dù bị quyết định bởi lực lượng sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất có tính độc lập
tương đối so với lực lượng sản xuất Vì vậy, quan hệ sản xuất có thể tác động trở lại lực
lượng sản xuất Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất diễn
ra theo hai xu hướng:
Thứ nhất, nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng thì sẽ thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 8Thứ hai, nếu quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất (hoặc là
lạc hậu, hoặc là vượt trước quá xa so với trình độ của lực lượng sản xuất) thì sẽ kìm hãm
sự phát triển của lực lượng sản xuất
Sự phù hợp (được quan niệm là sự phù hợp biện chứng chứa đựng mâu thuẫn), tức là sự
phù hợp trong mâu thuẫn, bao hàm mâu thuẫn
Tiêu chí của sự phù hợp được biểu hiện thông qua sự tác động biện chứng giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất và được thể hiện cụ thể là năng suất lao động tăng; người
lao động hăng hái sản xuất; đời sống của người lao động được nâng cao; môi trường làm
việc được cải thiện; lực lượng sản xuất phát triển, v.v
Sự tác động của quan hệ sản xuất tới lực lượng sản xuất còn được thể hiện ở chỗ, quan hệ
sản xuất quy định mục đích của nền sản xuất Trên cơ sở đó tác động đến thái độ của
người lao động, tới tính tích cực ứng dụng khoa học, kỹ thuật hay cải tiến công cụ lao
động, v.v của người lao động Từ đó tác động tới lực lượng sản xuất Ví dụ, nếu mục đích
của nền sản xuất xã hội là vì lợi nhuận thì sớm hay muộn người lao động cũng không tích
cực lao động Nếu mục đích của nền sản xuất là vì con người – nhân dân lao động thì
chắc chắn, người lao động sẽ tích cực, nhiệt huyết lao động
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất là quy
luật chung nhất chi phối toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại Quy luật này làm cho lịch sử
là một dòng chảy liên tục song mang tính gián đoạn Trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể,
quy luật này có những biểu hiện đặc thù của nó
II VẬN DỤNG PHÂN TÍCH TẤT YẾU CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA
HIÊN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 9Trước đây, vào thế kỷ XVII, XVIII, khi cuộc cách mạng công nghiệp được tiến hành
ở Tây Âu, công nghiệp hóa được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao
động sử dụng máy móc Nhưng theo dòng thời gian, khái niệm công nghiệp hóa luôn có
sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, của khoa học công nghệ, tức là
khái niệm công nghiệp hóa mang tính lịch sử Dựa trên việc kế thừa có chọn lọc những tri
thức văn minh của nhân loại và rút kinh nghiệm trong lịch sử tiến hành công nghiệp
hóa, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ bẩy khoá VI và Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VII Đảng Cộng Sản Việt Nam xác định: công nghiệp hóa là quá trình
chuyển đổi căn bản toàn diện các nền hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý
kinh tế- xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ
biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa
trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học- công nghệ tạo ra năng suất lao
động xã hội cao
Như vậy, công nghiệp hóa theo tư tưởng mới là không bó hẹp trong phạm vi trình độ các
lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao
động cơ khí như trước đây mà bao hàm cả về các hoạt động sản xuất kinh doanh, cả về
ngành dịch vụ và quản lí kinh tế- xã hội, được sử dụng bằng các phương tiện và các
phương pháp tiên tiến hiện đại cùng với kỹ thuật và công nghệ cao
Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa còn cần phải hoàn thiện cơ cấu tổ chức và vận
hành xã hội, nâng cao chất lượng sống của người dân trong cả nước, tích cực xoá đói
giảm nghèo, phấn đấu tăng mức thu nhập bình quân đầu người cả nước…
Nam
Trong những năm 1986-1988, cuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội ở nước ta đã trở nên gay
gắt nhất, khi lạm phát lên tới mức “phi mã”(3 con số), những cơ sở sản xuất kinh doanh
của nhà nước bị đình đốn, thua lỗ, sản xuất cầm chừng, thậm chí phải đóng cửa; bội chi
ngân sách lớn; giá cả thì tăng vọt; tiền lơng thực tế giảm khiến cho đời sống nhân dân
giảm sút nghiêm trọng, khó khăn chồng chất khó khăn, có lúc tưởng chừng không thể
vư-ợt qua Trong khi đó, công cuộc “cải tổ” ở Liên Xô- người anh của chủ nghĩa xã hội trên
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 10thế giới- đang ngày càng đi vào con đờng bế tắc Điều này có ảnh hưởng không nhỏ tới
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta Bên cạnh đó, nước ta tiến lên chủ
nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất- kỹ thuật thấp kém, trình độ
của lực lợng sản xuất cha phát triển, cha đợc hoàn thiện, sản xuất nhỏ lẻ, lao động thủ
công là chủ yếu Vì vậy, quá trình công nghiệp hoá chính là con đường duy nhất để đất
n-ước ta có thể thoát ra khỏi cảnh đói nghèo, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho nền sản
xuất lớn hiện đại Có tiến hành công nghiệp hóa thì chúng ta mới: xây dựng được cơ sở
vật- chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội ở nước ta; tiến hành tái sản xuất mở rộng nâng
cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân; tăng cường phát triển lực lượng giai cấp
công nhân; củng cố quốc phòng giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội; góp phần xây
dựng và phát triển nền văn hoá dân tộc, xây dựng con người mới ở Việt Nam Mỗi bước
tiến của quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa là một bước tăng cường cơ sở vật
chất-kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp phần hoàn
thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa để nước ta có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội một
cách nhanh chóng và thành công
Để đạt được hiệu quả cao thì công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp với
những bước tiến tuần tự về công nghệ vận dụng phắt triển chiều rộng, tạo nhiều công ăn
việc làm cho đội ngũ đông đảo lao động hiện nay Với việc tranh thủ với bước đi tắt đón
đầu phát triển chiều sâu tạo nên những mũi nhọn theo trình độ phất triển của khoa học và
công nghệ trên thế giới Khoa học và công nghệ hiện đại là nhân tố then chốt của hiện đại
hoá, nhưng hiện đại hoá có nội dung sâu sắc và rộng lớn hơn nhiều, bao gồm các mặt
kinh tế, chính trị và văn hoá
Nắm bắt được tầm quan trọng vấn đề, sự bức bách phải công nghiệp hóa hiện đại hoá để
xử lý nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, không phải bây giờ mà ngay từ đại hội
VIII( tháng 9-1996), Đảng ta đã đề ra đường lối công nghiệp hoá và coi đó là nhiệm vụ
xuyên suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta
Tiểu luận triết học mác lê nin