1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phân tích tính tất yếu của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở việt nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

15 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận Dụng Lý Luận Về Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Lực Lượng Sản Xuất Và Quan Hệ Sản Xuất, Phân Tích Tính Tất Yếu Của Quá Trình Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Ở Việt Nam Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội
Tác giả Đỗ Việt Hoàng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Hậu
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác- Lênin
Thể loại bài tập lớn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 395,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất nhưng do quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, quy định cách thức tổ chức, quản lý, phân công sản xuất, quy định sự phát

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-*** -BÀI TẬP LỚN MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ

CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN

ĐỀ TÀI:

VẬN DỤNG LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA

LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT, PHÂN TÍCH

TÍNH TẤT YẾU CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN

ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ

NGHĨA XÃ HỘI

Họ và tên SV: Đỗ Việt Hoàng Lớp tín chỉ: Triết học Mác – Lenin (219)_11

Mã SV: 1192062 GVHD: TS NGUYỄN VĂN HẬU

HÀ NỘI, NĂM2020

Tiểu luận triết học mác lê nin

Trang 2

MỤC LỤC

Lời mở đầu -3

I MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT -4

1 Các khái niệm -4

1.1 Phương thức sản xuất: -4

1.2 Lực lượng sản xuất: -5

1.3 Quan hệ sản xuất: -5

2 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất trình độ của lực lượng sản xuất

6 2.1 Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với sự hình thành và biến đổi của quan hệ sản xuất: -6

2.2 Tác động ngược lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất -7

II VẬN DỤNG PHÂN TÍCH TẤT YẾU CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIÊN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA -8

1 Thế nào là công nghiệp hóa - hiện đại hóa? -8

2 Sự cần thiết và tính tất yếu tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam -9

3 Phân tích quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội -10

5 Kết Luận -15Tiểu luận triết học mác lê nin

Trang 3

Lời mở đầu

Theo C.Mác, trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai

mặt có mối quan hệ biện chứng với nhau làm cho sản xuất phát triển Lực lượng sản xuất

là sự thống nhất hữu cơ giữa người lao động với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao

động Con người không thể sản xuất có hiệu quả nếu tiến hành riêng lẻ, mà phải liên kết,

phối hợp với nhau, quan hệ tác động với nhau Bởi vậy, thiếu một trong hai mối quan hệ

này thì không thể có sản xuất vật chất Mặc dù lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản

xuất nhưng do quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, quy định cách thức tổ

chức, quản lý, phân công sản xuất, quy định sự phát triển và ứng dụng khoa học công

nghệ và cơ chế thực hiện lợi ích của con người vì vậy, tác động đến thái độ của con người

trong sản xuất từ đó hình thành những yếu tố, khuynh hướng thúc đẩy hoặc kìm hãm

sự phát triển của lực lượng sản xuất Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát

triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản của xã hội Trong quá trình vận hành nền

kinh tế theo cơ chế mới, vấn đề chúng ta cần quan tâm là vai trò con người, sự phát triển

của công cụ lao động, trình độ quản lý sản xuất, phân công lao động và trình độ áp dụng

khoa học kỹ thuật của người lao động trong quá trình sản xuất Và tác động qua lại biện

chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất được Mác và Ănghen khái quát thành

qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất Từ những lí luận trên

đưa Mác – Ănghen vươn lên đỉnh cao của trí tuệ nhân loại Vậy nên cho thấy muốn phân

tích được sự phát triển của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, thì

chúng ta nên đi sâu vào sự phát triển tất yếu của công nghiệp hóa và hiện đại hóa qua sự

vận dụng lí luận trên Vấn đề “Vận dụng lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa lực

lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, hãy phân tích tính tất yếu của quá trình công nghiệp

hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội” là vấn đề hết

sức quan trọng trong quá trình phát triển đất nước trong gia đoạn này Trong quá độ lên

Chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng sáng tạo lý luận này

Với trình độ nhận thức hiểu biết về mọi mặt còn hạn chế, nên không tránh khỏi những sai

sót mong thầy giáo góp ý để bài viết được hoàn thiện hơn

Tiểu luận triết học mác lê nin

Trang 4

I MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ

QUAN HỆ SẢN XUẤT

1 Các khái niệm

1.1 Phương thức sản xuất:

Phương thức sản xuất là cách thức mà con người dùng để làm ra của cải vật chất cho

mình trong một giai đoạn lịch sử nhất định, theo cách đó con người có những quan hệ

nhất định với tự nhiên và có những quan hệ nhất định với nhau trong sản xuất vật chất

Mỗi hình thái kinh tế – xã hội có một phương thức sản xuất đặc trưng nhất định và theo

đó có một phương thức sinh hoạt xã hội nhất định

Các phương thức sản xuất trong lịch sử được thay thế lẫn nhau một cách tất yếu khách

quan bằng các cuộc cách mạng xã hội Khi phương thức sản xuất mới ra đời, thì toàn bộ

kết cấu kinh tế, kết cấu giai cấp, xã hội, các quan điểm tư tưởng chính trị, pháp luật, đạo

đức cùng các thiết chế tương ứng của nó như nhà nước, đảng phái,… cũng thay đổi

Sự thay đổi của phương thức sản xuất quyết định sự chuyển biến của xã hội loài người

qua các giai đoạn lịch sử khác nhau Lịch sử loài người trước hết là lịch sử của sản xuất

và sự phát triển kế tiếp nhau của các PTSX khi PTSX cũ mất đi, PTSX mới ra đời thì chế

độ xã hội cũ cũng mất đi và chế độ xã hội mới xuất hiện Loài người đã trải qua 5 PTSX

tương ứng với chúng là 5 chế độ xã hôi: Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong

kiến, Tư bản chủ nghĩa và bước đầu của phương thức Cộng sản văn minh ( mà giai đoạn

thấp của nó là Chủ nghĩa xã hội )

Từ những vai trò của quyết định sản xuất, khi nghiên cứu những qui luật của lịch sử XH,

chúng ta không phải tìm nguồn gốc phát triển XH ở thế giới tinh thần, ý thức của XH, mà

PTSX ở mỗi giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử trong chế độ Kinh tế - Xã hội

Mặt khác PTSX là sự thống nhất giữa LLSX ở một trình độ nhất định về QHSX tương

ứng

Tiểu luận triết học mác lê nin

Trang 5

1.2 Lực lượng sản xuất:

Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động (sức khoẻ thể chất, kinh nghiệm,

kỹ năng, tri thức lao động của họ) với tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động

để tạo ra một sức sản xuất vật chất nhất định

Lực lượng sản xuất do con người tạo ra nhưng mang tính khách quan Nó biểu hiện mối

quan hệ giữa con người với tự nhiên Lực lượng sản xuất nói lên năng lực hoạt động thực

tiễn của con người trong quá trình chinh phục tự nhiên Nó là sản phẩm của sự kết hợp

giữa lao động sống và lao động quá khứ

Lực lượng sản xuất là tiêu chí quan trọng nhất để chỉ ra những nấc thang của sự tiến bộ

xã hội vì các chế độ kinh tế khác nhau ở chỗ, nó sản xuất bằng cách nào, với công cụ lao

động nào

Trong lực lượng sản xuất gồm ba yếu tố cơ bản: con người – người lao động với thể lực,

học vấn, kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ lao động; tư liệu lao động (gồm công cụ lao

động và đối tượng lao động) Các yếu tố trong lực lượng sản xuất không thể tách rời

nhau, chúng có quan hệ hữu cơ với nhau trong đó yếu tố con người – người lao động giữ

vị trí hàng đầu, tư liệu sản xuất đóng vai trò rất quan trọng

Trải qua các cuộc cách mạng khoa học cùng sự phát triển sản xuất, khoa học càng ngày

càng quan trọng trong sản xuất Ngày nay khoa học – kỹ thuật ngày càng trở thành lực

lượng sản xuất trực tiếp của xã hội Điều này thể hiện ở chỗ, khoa học đã thẩm thấu vào

tất cả quy trình lao động, đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, quản lý sản xuất, trong

chế tạo, cải tiến công cụ lao động,…

1.3 Quan hệ sản xuất:

Quan hệ sản xuất là những quan hệ cơ bản giữa người với người trong quá trình sản xuất

vật chất (sản xuất và tái sản xuất xã hội) thể hiện ở quan hệ về mặt sở hữu đối với tư liệu

Tiểu luận triết học mác lê nin

Trang 6

sản xuất, ở quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ về mặt phân phối sản phẩm

sản xuất ra Như vậy, quan hệ sản xuất gồm ba quan hệ:

– Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất;

– Quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất

– Quan hệ phân phối sản phẩm sản xuất

Ba quan hệ trên trong quan hệ sản xuất thống nhất với nhau Tuy nhiên, trong ba quan hệ

này thì quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất đóng vai trò quyết định Bởi lẽ, ai nắm tư

liệu sản xuất trong tay, người ấy sẽ quyết định việc tổ chức, quản lý sản xuất cũng như

phân phối sản phẩm Chính quan hệ sở hữu cũng quy định tính đặc trưng cho từng quan

hệ sản xuất của từng xã hội Do vậy, quan hệ sản xuất là tiêu chí quan trọng để phân biệt

hình thái kinh tế – xã hội này với hình thái kinh tế – xã hội khác Mặc dù vậy, quan hệ tổ

chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm có ảnh hưởng quan trọng tới quan

hệ sở hữu Chúng có thể góp phần củng cố hoặc phá hoại quan hệ sở hữu

Quan hệ sản xuất mang tính khách quan, nó được hình thành trong quá trình phát triển

lịch sử không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Quan hệ sản xuất là quan

hệ cơ bản quyết định tất cả các quan hệ xã hội khác của con người

2 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất trình độ của lực lượng sản

xuất

2.1 Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với sự hình thành và biến đổi

của quan hệ sản xuất:

Trình độ của lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động, ở trình độ kỹ

năng, kinh nghiệm của người lao động, trình độ ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản

xuất, v.v ứng với trình độ của lực lượng sản xuất là tính chất của nó Ví dụ, khi trình độ

sản xuất thủ công thì tính chất của nó là cá nhân Khi trình độ của lực lượng sản xuất là

Tiểu luận triết học mác lê nin

Trang 7

cơ khí, hiện đại thì tính chất của nó là xã hội hoá Trình độ của lực lượng sản xuất quyết

định quan hệ sản xuất Điều này thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, xu hướng của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi và phát triển Sự biến

đổi đó bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất mà

trước hết là công cụ lao động Từ sự biến đổi của lực lượng sản xuất này mà quan hệ sản

xuất phải biến đổi theo cho phù hợp

Thứ hai, lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất, nó luôn luôn vận động

và biến đổi trong quá trình lịch sử Lực lượng sản xuất là nội dung, quan hệ sản xuất là

hình thức xã hội của quá trình sản xuất Sự biến đổi trong lực lượng sản xuất (nội dung)

sớm muộn cũng kéo theo sự biến đổi trong quan hệ sản xuất (hình thức)

Thứ ba, sự phát triển của lực lượng sản xuất đến trình độ nào đó nhất định làm cho quan

hệ sản xuất trở nên không phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất nữa Khi ấy, xuất

hiện mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất Mâu thuẫn này tất yếu dẫn

đến đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao của nó là cách mạng xã hội nhằm phá bỏ “xiềng xích

trói buộc” lực lượng sản xuất để xác lập quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và

trình độ của lực lượng sản xuất

2.2 Tác động ngược lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất

Mặc dù bị quyết định bởi lực lượng sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất có tính độc lập

tương đối so với lực lượng sản xuất Vì vậy, quan hệ sản xuất có thể tác động trở lại lực

lượng sản xuất Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất diễn

ra theo hai xu hướng:

Thứ nhất, nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng thì sẽ thúc đẩy lực

lượng sản xuất phát triển

Tiểu luận triết học mác lê nin

Trang 8

Thứ hai, nếu quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất (hoặc là

lạc hậu, hoặc là vượt trước quá xa so với trình độ của lực lượng sản xuất) thì sẽ kìm hãm

sự phát triển của lực lượng sản xuất

Sự phù hợp (được quan niệm là sự phù hợp biện chứng chứa đựng mâu thuẫn), tức là sự

phù hợp trong mâu thuẫn, bao hàm mâu thuẫn

Tiêu chí của sự phù hợp được biểu hiện thông qua sự tác động biện chứng giữa lực lượng

sản xuất và quan hệ sản xuất và được thể hiện cụ thể là năng suất lao động tăng; người

lao động hăng hái sản xuất; đời sống của người lao động được nâng cao; môi trường làm

việc được cải thiện; lực lượng sản xuất phát triển, v.v

Sự tác động của quan hệ sản xuất tới lực lượng sản xuất còn được thể hiện ở chỗ, quan hệ

sản xuất quy định mục đích của nền sản xuất Trên cơ sở đó tác động đến thái độ của

người lao động, tới tính tích cực ứng dụng khoa học, kỹ thuật hay cải tiến công cụ lao

động, v.v của người lao động Từ đó tác động tới lực lượng sản xuất Ví dụ, nếu mục đích

của nền sản xuất xã hội là vì lợi nhuận thì sớm hay muộn người lao động cũng không tích

cực lao động Nếu mục đích của nền sản xuất là vì con người – nhân dân lao động thì

chắc chắn, người lao động sẽ tích cực, nhiệt huyết lao động

Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất là quy

luật chung nhất chi phối toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại Quy luật này làm cho lịch sử

là một dòng chảy liên tục song mang tính gián đoạn Trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể,

quy luật này có những biểu hiện đặc thù của nó

II VẬN DỤNG PHÂN TÍCH TẤT YẾU CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA

HIÊN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN XÃ HỘI CHỦ

NGHĨA

Tiểu luận triết học mác lê nin

Trang 9

Trước đây, vào thế kỷ XVII, XVIII, khi cuộc cách mạng công nghiệp được tiến hành

ở Tây Âu, công nghiệp hóa được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao

động sử dụng máy móc Nhưng theo dòng thời gian, khái niệm công nghiệp hóa luôn có

sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, của khoa học công nghệ, tức là

khái niệm công nghiệp hóa mang tính lịch sử Dựa trên việc kế thừa có chọn lọc những tri

thức văn minh của nhân loại và rút kinh nghiệm trong lịch sử tiến hành công nghiệp

hóa, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ bẩy khoá VI và Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ VII Đảng Cộng Sản Việt Nam xác định: công nghiệp hóa là quá trình

chuyển đổi căn bản toàn diện các nền hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý

kinh tế- xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ

biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa

trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học- công nghệ tạo ra năng suất lao

động xã hội cao

Như vậy, công nghiệp hóa theo tư tưởng mới là không bó hẹp trong phạm vi trình độ các

lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao

động cơ khí như trước đây mà bao hàm cả về các hoạt động sản xuất kinh doanh, cả về

ngành dịch vụ và quản lí kinh tế- xã hội, được sử dụng bằng các phương tiện và các

phương pháp tiên tiến hiện đại cùng với kỹ thuật và công nghệ cao

Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa còn cần phải hoàn thiện cơ cấu tổ chức và vận

hành xã hội, nâng cao chất lượng sống của người dân trong cả nước, tích cực xoá đói

giảm nghèo, phấn đấu tăng mức thu nhập bình quân đầu người cả nước…

Nam

Trong những năm 1986-1988, cuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội ở nước ta đã trở nên gay

gắt nhất, khi lạm phát lên tới mức “phi mã”(3 con số), những cơ sở sản xuất kinh doanh

của nhà nước bị đình đốn, thua lỗ, sản xuất cầm chừng, thậm chí phải đóng cửa; bội chi

ngân sách lớn; giá cả thì tăng vọt; tiền lơng thực tế giảm khiến cho đời sống nhân dân

giảm sút nghiêm trọng, khó khăn chồng chất khó khăn, có lúc tưởng chừng không thể

vư-ợt qua Trong khi đó, công cuộc “cải tổ” ở Liên Xô- người anh của chủ nghĩa xã hội trên

Tiểu luận triết học mác lê nin

Trang 10

thế giới- đang ngày càng đi vào con đờng bế tắc Điều này có ảnh hưởng không nhỏ tới

công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta Bên cạnh đó, nước ta tiến lên chủ

nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất- kỹ thuật thấp kém, trình độ

của lực lợng sản xuất cha phát triển, cha đợc hoàn thiện, sản xuất nhỏ lẻ, lao động thủ

công là chủ yếu Vì vậy, quá trình công nghiệp hoá chính là con đường duy nhất để đất

n-ước ta có thể thoát ra khỏi cảnh đói nghèo, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho nền sản

xuất lớn hiện đại Có tiến hành công nghiệp hóa thì chúng ta mới: xây dựng được cơ sở

vật- chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội ở nước ta; tiến hành tái sản xuất mở rộng nâng

cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân; tăng cường phát triển lực lượng giai cấp

công nhân; củng cố quốc phòng giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội; góp phần xây

dựng và phát triển nền văn hoá dân tộc, xây dựng con người mới ở Việt Nam Mỗi bước

tiến của quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa là một bước tăng cường cơ sở vật

chất-kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp phần hoàn

thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa để nước ta có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội một

cách nhanh chóng và thành công

Để đạt được hiệu quả cao thì công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp với

những bước tiến tuần tự về công nghệ vận dụng phắt triển chiều rộng, tạo nhiều công ăn

việc làm cho đội ngũ đông đảo lao động hiện nay Với việc tranh thủ với bước đi tắt đón

đầu phát triển chiều sâu tạo nên những mũi nhọn theo trình độ phất triển của khoa học và

công nghệ trên thế giới Khoa học và công nghệ hiện đại là nhân tố then chốt của hiện đại

hoá, nhưng hiện đại hoá có nội dung sâu sắc và rộng lớn hơn nhiều, bao gồm các mặt

kinh tế, chính trị và văn hoá

Nắm bắt được tầm quan trọng vấn đề, sự bức bách phải công nghiệp hóa hiện đại hoá để

xử lý nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, không phải bây giờ mà ngay từ đại hội

VIII( tháng 9-1996), Đảng ta đã đề ra đường lối công nghiệp hoá và coi đó là nhiệm vụ

xuyên suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta

Tiểu luận triết học mác lê nin

Ngày đăng: 08/12/2023, 15:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w