TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ---***---BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN ĐỀ TÀI: Vận dụng lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, hãy phân tích
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-*** -BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI: Vận dụng lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, hãy phân tích tính
tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội
Họ và tên SV: Nguyễn Việt Anh Lớp tín chỉ: triết học Mác – Lênin(219)_11
Mã SV: 11190443
GVHD: TS NGUYỄN VĂN HẬU
HÀ NỘI, NĂM 2019
-Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 2MỤC LỤC
A, LỜI NÓI ĐẦU
B, NỘI DUNG
I, ĐỊNH NGHĨA
1, Lực lượng sản xuất
2, Quan hệ sản xuất
II, QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN
HỆ SẢN XUẤT
1, Quy luật sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
2, Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
3, Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
4, Ý nghĩa
III, TÍNH TẤT YẾU CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI
1, Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
2, Tính tất yếu của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
C, KẾT LUẬN
D, TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 3A LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, chỉ có con
đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa mới đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng
kinh tế xã hội Chỉ có con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa mới đưa nước
ta trở nên giàu mạnh, đồng thời xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, từ đó từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, rút ngắn khoảng cách lạc hậu
với các nước phát triển, hòa nhập với thế giới Từ cuối thế kỷ thứ XVIII đến
nay, trong lịch sử đã diễn ra các loại công nghiệp hóa khác nhau: công nghiệp
hóa tư bản chủ nghĩa và công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Chúng có sự khác
nhau về mục đích và phương thức tiến hành, về sự chi phối của quan hệ sản
xuất thống trị Công nghiệp hóa diễn ra ở các nước khác nhau, vào những thời
điểm lịch sử khác nhau, trong những điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, do vậy
nội dung khái niệm cũng khác nhau
Bằng việc chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân loại
về công nghiệp hóa vào điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta, Đảng ta nêu ra
quan niệm về công nghiệp hóa hiện đại hóa là quá trình biến đổi căn bản, từ sử
dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng sức lao động với công nghệ,
phương tiện, phương pháp hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghê và
tiến bộ khoa học tạo ra năng suất lao động xã hội cao Có thể thấy phần nào
mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất đối với quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 4B NỘI DUNG
I Định nghĩa:
Ở mỗi giai đoạn lịch sử con người tiến hành sản xuất theo một cách thức
nhất định, tức là có một cách sinh sống, một cách sản sản xuất riêng của mình,
đó là phương thức sản xuất Phương thức sản xuất là cách thức con người tiến
hành quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội
loài người Phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất với
một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng Phương thức sản xuất là
cách thức con người thực hiện đồng thời sự tác động giữa con người với tự
nhiên bà sự tác động giữa người với người để sáng tạo ra của cải vật chất phục
vụ nhu cầu con người và xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định
1 Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản
xuất, tạo ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật
chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội Về cấu
trúc, lực lượng sản xuất được xem xét trên cả hai mặt, đó là mặt kinh tế - kỹ
thuật (tư liệu sản xuất) và mặt kinh tế - xã hội (người lao động) Lực lượng sản
xuất chính là sự kết hợp giữa “lao động sống” với “lao động vật hóa” tạo ra sức
sản xuất, là toàn bộ những năng lực thực tiễn dùng trong sản xuất của xã hội ở
các thời kỳ nhất định
Người lao động là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động
và năng lực sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuất của xã hội
Tư liệu sản xuất là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất, bao
gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Đối tượng lao động là những yếu
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 5tố vật chất của sản xuất mà lao động con người dùng tư liệu lao động tác động
lên, nhằm biến đổi chúng cho phù hợp với mục đích sử dụng của con người Tư
liệu lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dựa vào đó để
tác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản
phẩm đáp ứng yêu cầu sản xuất của con người Tư liệu lao động gồm công cụ
lao động và phương tiện lao động Phương tiện lao động là những yếu tố vật
chất của sản xuất, cùng với công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động
Công cụ lao động là nhũng phương tiện vật chất mà con người trực tiếp sử
dụng để tác động vào đối tượng lao động tạo ra của cải vật chất Công cụ lao
động giữ vai trò quyết định đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm
Bởi vậy khi công cụ lao động được tin học hóa, tự động hóa và trí tuệ hóa càng
có vai trò đặc biệt quan trọng
Trong lực lượng sản xuất, người lao động là nhân tố hàng đầu giữ vai trò
quyết định Cùng với người lao động, công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ
bản của lực lượng sản xuất, đặc biệt, trình độ phát triển của công cụ la động là
một nhân tố quyết định năng suất lao động xã hội
2 Quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người
với người trong quá trình sản xuất vật chất Đây chính là một quan hệ vật chất
quan trọng nhất – quan hệ kinh tế, trong các mối quan hệ vật chất giữa người
với người Quá trình sản xuất vật chất chính là tổng thể các yếu tố trong quá
trình thống nhất, gồm sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của cải vật
chất Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan
hệ trong tổ chức quản lý và trao đổi hoạt động với nhau, quan hệ về phân phối
sản phẩm lao động
Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn trong
việc chiếm hữu, sử dụng các tư liệu sản xuất xã hội Đây là quan hệ quy định
địa vị kinh tế - xã hội của các tập đoàn người sản xuất, từ đó quy định quan hệ
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 6quản lý và phân phối Do vậy, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ
xuất phát, cơ bản, trung tâm của quan hệ sản xuất, luôn có vai trò quyết định
các quan hệ khác
Quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người
trong việc tổ chức sản xuất và phân công lao động Quan hệ này có vai trò
quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất; có khả năng
đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của nền sản xuất xã hội
Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động là quan hệ giữa các tập đoàn
người trong việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cáh thức và quy
mô của cải vật chất mà các tập đoàn người được hưởng Quan hệ này có vai trò
đặc biệt quan trọng, kích thích lợi ích trực tiếp của con người; là “chất xúc tác”
kinh tế thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu sản xuất, làm năng động hóa toàn bộ đời
sống kinh tế xã hội, hoặc ngược lại, nó có thể làm trì trệ, kìm hãm quá trình sản
xuất
Các mặt trong quan hệ sản xuất có mỗi quan hệ hữu cơ, tác động qua lại,
chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau Trong đó quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất giữ
vai trò quyết định bản chất và tính chất của quan hệ sản xuất
II Quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
1 Quy luật sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
quy định sự vận động, phát triển của các phương thức sản xuất trong lịch sử
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của một phương thức sản
xuất có tác động biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung, quan hệ
sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất Lực lượng sản xuất quyết định quan
hệ sản xuất, còn quan hệ sản xuất tác động tích cực trở lại lực lượng sản xuất
Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 7thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại, nếu không phù hợp sẽ kìm
hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Đây là quy luật cơ bản nhất của sự
vận động và phát triển xã hội
2 Vai trò
Sự vận động và phát triển của phương thức sản xuất bắt đầu từ sự biến
đổi của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất là nội dung của quá trình sản
xuất, có tính năng động, cách mạng, thường xuyên vận động và phát triển; quan
hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất có tính ổn định tương đối
Lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời của một kiểu quan hệ sản xuất
mới trong lịch sử, quyết định nội dung và tính chất của quan hệ sản xuất
3 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
Do quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất có tính
độc lập tương đối nên tác động mạnh mẽ trở lại đối lực lượng sản xuất Vai trò
của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất được thực hiện thông qua sự
phù hợp biện chứng giữa quan hệ sản xuất với trfnh độ phát triển của lực lượng
sản xuất
Nếu quan hệ sản xuất vượt trước quá xa hoặc lạc hậu so với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất đều không phù hợp Dựa vào năng suất lao
động thì biết được quan hệ sản xuất có phù hợp vào lực lượng sản xuất Sự tác
động của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất diễn ra theo hai chiều
hướng, đó là thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
Trạng thái vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất diễn ra từ phù hợp đến không phù hợp, rồi đến sự phù hợp
mới ở trình độ cao hơn
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 84 Ý nghĩa
Là cơ sở cho chính sách kinh tế nhiều thành phần, nhiều kiến thức sở
hữu, chiến lược cho công nghiệp hóa hiện đại hóa, coi giáo dục đào tạo và công
nghệ là cuốc sách hàng đầu
III Tính tất yếu của quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã
hội
Ở nước ta, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bắt đầu từ năm 1954 ở
miền Bắc và từ năm 1975, sau khi đất nước đã hoàn toàn độc lập và cả nước
thống nhất, cách mạng dân tộc – dân chủ nhân dân đã hoàn toàn thắng lợi trên
phạm vi cả nước thì cả nước cùng tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, cùng
quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thời kỳ quá độ là thời kỳ lịch sử mà bất cứ một quốc gia nào đi lên chủ
nghĩa xã hội cũng đều phải trải qua, ngay cả đối với những nước đã có nền kinh
tế phát triển, bởi ở các nước này tuy lực lượng sản xuất đã phát triển cao,
nhưng vẫn cần phải cải tạo và cần xây dựng quan hệ sản xuất mới Tất nhiên,
đối với những nước này sẽ co nhiều thuận lợi hơn, thời kỳ quá độ có thể diễn ra
ngắn hơn so với các nước đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa có
nền kinh tế lạc hậu Đối với nước ta, một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ
nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa thì lại càng phải trải qua một thời kỳ quá
độ lâu dài
Từ cuối thế kỷ XVIII đến nay, trong lịch sử đã diễn ra các loại công
nghiệp hóa khác nhau: công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa và công nghiệp hóa
xã hội chủ nghĩa Theo một cách khái quát nhất, công nghiệp hóa là quá trình
biến một nước có nền kinh tế lạc hậu thành một nước công nghiệp
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta phải kết hợp chặt chẽ
giữa hai nội dung công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong quá trình phát triển
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 9Quá trình ấy không chỉ đơn thuần phát triển công nghiệp mà còn phải thực hiện
chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, từng lĩnh vực và nền kinh tế quốc dân
theo hướng kỹ thuật và công nghệ hiện đại Quá trình ấy không chỉ tuần tự trải
qua các bước cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa mà còn sử dụng kết hợp kỹ
thuật thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện
đại ở những khâu có thể và mang tính quyết định
Về tính tất yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Mỗi phương thức sản xuất nhất định có một cơ sở vật chất – kỹ thuật
tương ứng Cơ sở vật chất kỹ thuật của một xã hội là toan bộ hệ thống các yếu
tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội, phù hợp với trình độ kỹ thuật công
nghệ tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sản xuất ra của cải
vật chất đáp ứng nhu cầu xã hội
Chỗ dựa để xem xét sự biến đổi của cơ sở vật chất – kỹ thuật của một xã
hội là sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất; sự phát triển khoa học –
kỹ thuật; tính chất và trình độ của các quan hệ xã hội; đặc biệt là quan hệ sản
xuất thống trị
Nói cơ sở vật chất – kỹ thuật của một phương thức sản xuất nào đó là
nói cơ sở vật chất – kỹ thuật đó đã đạt đến một trình độ nhất định làm đặc
trưng cho phương thức sản xuất đó
Đặc trưng của cơ sở vật chất kỹ thuật của các phương thức sản xuất
trước chủ nghĩa tư bản là dựa vào công cụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu Đặc trưng
của cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản là nền đại công nghiệp cơ
khí hóa
Chủ nghĩa xã hội – giai đoạn thấp của phương thức sản xuất mới cao
hơn chủ nghĩa tư bản – đòi hỏi cơ sở vật chất – kỹ thuật cao hơn trên cả hai
mặt: trình độ kỹ thuật và cơ cấu sản xuất, gắn với thành tựu của cách mạng
khoa học và công nghệ hiện đại
Tiểu luận triết học mác lê nin
Trang 10Do vậy có thể hiểu, cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền
công nghiệp lớn hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa cao
dựa trên trình độ khoa học và công nghệ hiện đại được hình thành một cách có
kế hoạch và thống trị trong nền kinh tế quốc dân
Từ chủ nghĩa tư bản hay từ trước chủ nghĩa tư bản quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội là một tất yếu
khách quan, một quy luật kinh tế mang tính phổ biến và được thực hiện thông
qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã
hội như nước ta, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội phải
được thực hiện từ đầu, từ không đến có, từ gốc đến ngọn thông qua công
nghiệp hóa, hiện đại hóa Mỗi bước tiến của quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa là một bước tăng cường cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội,
phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa
C KẾT LUẬN
Nước ta tuy còn ở trong nền kinh tế nông nghiệp và là nước đang phát
triển thu nhập thấp, nhưng biết phát huy đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ
có năng lực tiếp thu và ứng dụng công nghệ cao, qua chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế, vẫn có thể có cơ hội rút ngắn thời gian để tiến nhanh hơn Muốn vậy,
phải đồng thời tiếp thu công nghệ cao của phát triển kinh tế và vận dụng vào
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần thiết
Nhìn lại mục tiêu cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến
nước ta thành một nước có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế
hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, để thực hiện được mục
tiêu trên, Đảng đã xác định mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tiểu luận triết học mác lê nin