1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình hát (dành cho cao đẳng sư phạm) phần 1 ngô thị nam

54 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Hát (Dành Cho Cao Đẳng Sư Phạm) Phần 1
Tác giả Ngô Thị Nam
Người hướng dẫn TS. Ngô Thị Nam
Trường học Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Sư Phạm Âm Nhạc
Thể loại Giáo Trình
Năm xuất bản 2004
Thành phố Nhà Xuất Bản
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 4,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học phẩn Hát 1 gồm bốn học trình, giới thiệu một số cơ sở lí luận vể nghệ thuật hát, một số bài tập luyện giọng và phương pháp thực hiện, cách ứng dụng để thể hiện bài hát dùng ở trường

Trang 1

BỘ GIÁO DỰC VÀ ĐÀO TẠO

D ự ÁN ĐÀO TẠO GIẢO VIÊN THCS

LOAN N o 1718 - VIE (SF)

NGÔ THỊ NAM

N H À XUẤT BẢN ĐẠI HỌC s ư PHẠM

Trang 2

TS NGÔ THỊ NAM

HÁT PHẦN NĂM THỨ NHẤT

(Giáo trình Cao đắng Sư pham)

NHÀ XUẤT BẨN ĐẠI HỌC s ư PHẠM

Trang 3

Mã số: 01.01.267/305 - ĐH 2004

Trang 4

§2 Hoạt động của các cơ quan phát thanh 11

§3 Các xoang cộng minh và tổ chức âm thanh 17

Trang 5

LỜ I NÓI Đ Ẩ U

Ca hát là một nội dung quan trọng trong dạy học âm nhạc ờ nhà trường phổ thông Thông qua hoạt động ca hát, học sinh có thể tiếp thu những kiến thức, khái niệm âm nhạc một cách cụ thể, tích luỹ những ấn tượng, cảm xúc chân thực về tác phẩm âm nhạc Trong chương trình bộ môn Âm nhạc ở trường Trung học cơ sờ (THCS), hoạt động

ca hát chiếm một thời lượng đáng kể, góp phẩn tích cực hình thành ở học sinh năng iực cảm thụ âm nhạc, đẩy mạnh khả năng hoạt động âm nhạc, gợi ờ các em nhu cầu tìm hiểu

vể âm nhạc, đặt cơ sở ban đẩu cho sờ thích, thị hiếu âm nhạc đúng đắn, lành mạnh.

Để tiến hành dạy học và giáo dục âm nhạc, phát triển khả năng âm nhạc ờ học sinh THCS, người giáo viên âm nhạc cần phải có những năng lực nhất định về âm nhạc, trong

đó có năng lực hát.

Sách được biên soạn theo chương trình môn học Hát trong đào tạo giáo viên âm nhạc

dạy ghép môn (chuyên môn 1 - 60 % và chuyên môn 2 - 40%).

Học phẩn Hát 1 gồm bốn học trình, giới thiệu một số cơ sở lí luận vể nghệ thuật hát,

một số bài tập luyện giọng và phương pháp thực hiện, cách ứng dụng để thể hiện bài hát dùng ở trường THCS, một số ca khúc quẩn chúng, ca khúc nghệ thuật, dân ca Việt Nam

và bài hát nước ngoài.

Học phẩn Hát 2 gồm hai học trình, giới thiệu những kiến thức chung về hát tập thể,

một sô' kĩ năng hát hợp xướng đơn giản và phương pháp luyện tập, thực hành thể hiện các bài hợp xướng.

Toàn bộ giáo trình này sử dụng cho hệ đào tạo CĐSP Âm nhạc chuyên môn 1 (60 %).

Hệ đào tạo CĐSP Âm nhạc chuyên môn 2 (40 %), thực hiện các chương I , II của học

phẩn Hái 1 và các chương V, VI cùa học phần Hát 2.

Giáo sinh sử dụng tài liệu này cẩn có sự hướng dẫn của giảng viên chuyên ngành

Sư phạm Âm nhạc thanh nhạc.

Trang 6

Xó khơi dạy ờ học sinh những cảm xúc chán thực với cái đẹp, cái thiện.

Đe hát chuẩn xác và diễn cảm người giáo viên ám nhạc cần có hiểu biết sơ giản vé nghệ thuật hát.

Chúng ta đã biết gì vé hoạt độns cùa các cơ quan phát thanh, các xoang cộng minh, và tổ chức ãm thanh? Có những loại giọng hát nào? Tại sao tư thế hất lại có ảnh hường đẽn sự thể hiện trong ca hát? Làm thế nào để có được một giọng hát đẹp truvén cảm?

Bước đầu chúng ta sẽ làm quen với nhữns vấn để này trong Chương I.

• Mục tiêu

- Tim hiểu và luyện tập các tư thế hát.

- Nắm được hoạt độn2 của các cơ quan phát thanh.

- Biết về cấc xoana cộna minh và tổ chức âm thanh.

- Phàn biệt các loại siọns hát.

- Làm quen với cách luvện siọns hát.

- Thưc hành thê hiện bài hát Truns học cơ sờ.

6

Trang 7

• Điều cần biết trước

lí thuyết, thực hành các bài luyện thanh và thể hiện bài hát.

TƯ THẾ CA HÁT

1.1 Vai trò của tư thê trong ca hát

Tư thế cơ thể trong khi hát phải tạo thuận lợi cho việc phát âm, thể hiện âm thanh, diễn đạt tình cảm Tư thế hát đẹp mới giúp cho hơi thớ được vận dụng một cách dễ dàng, linh hoạt, tiếng hát phát ra có sức thu hút nhất định dối với người nghe, góp phần không nhỏ giúp cho việc trinh bày bài hát thèm sinh động, chất lượng Luyện tập tư thế ca hát cũng giúp cho bản thân có dáng dấp uyển chuyển, tao nhã Giáo viên Âm nhạc ở trường Trung học cơ sở cần quan tâm đến tư thế của mình khi hát trưóc học sinh Điều đó rất cần thiết và quan trọng Bởi lẽ, trong khi ngồi nghe cô giáo hoặc thầy giáo hát, học hát dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh luôn quan sất và theo dõi từng hoạt động cũng như mọi biểu hiện của giáo viên.

Tư thế hát cùa giáo viên trong dạy học âm nhạc có ảnh hưởng nhất định đến quá trình cảm thụ bài hát của học sinh Bài hát sẽ trờ nên hấp dẫn hơn khi được giáo viên thể hiện có chất lượng với tư thế hát phù hợp, vừa phải Ngược lại, khi nghe hát, học sinh sẽ bị mất tập trung, xao nhãng nếu bài hát được trình bày kèm theo những động tác vô nghĩa, rời rạc hoặc quá nhiều động tác liên tục.

Các bài hát trong trường Trung học cơ sở mang nội dung và phong cách khác nhau nên tư thế ca hát của giáo viên Âm nhạc cũng phải thay đổi tuỳ theo từng bài hát cụ thể.

Trang 8

Các tư thế ca hát cùa giáo viên Ảm nhạc Trung học cơ sở trong tiết học có thế

là đứng, ngồi, đi lại Cần phải có sự luyện tập để khi hát với mọi tư thế mà vẫn thực hiện được nhữns yêu cầu thể hiện tác phẩm thanh nhạc.

\.Ị Tư thế đứng hát

Khi đứng hát người thẳng, mềm mại, không căng cứng Sức nặng của cơ thể gần như dồn vào một chân Trọng lượng toàn cơ thể như dựa vào phía sau, chỗ thắt lưns.

Hai chán hơi tách ra, một chán hơi đua lên phía trước Bàn chán trước để thắng cùng hướng với mặt, chân sau lùi xuống chừng nửa bàn chán, mũi bàn chân sau hơi

mờ ra phía bên phải (hoặc bén trái).

Cũna có thể đứng hát để hai bàn chán đứng song song với nhau Sinh viên nam

có thể đứna mờ rộna khoảng cách giữa hai bàn chán, tạo dáng khoè mạnh Khi đó, trọna lượna cơ thể dàn đều xuống cả hai chân Hai vai hạ xuống, nét mặt tự nhiên, đầu giữ ngav ngắn Hai tay buõna lòns bàn tav để tự nhiên.

Khi biểu hiện tình cảm bằng nét mặt hoặc bằng tay, phải hài hoà, phù hợp Thóna thườns tav khõns đưa lên cao quá mặt Mặt nhin về phía nào, tay và người

8

Trang 9

cũng hướng về phía đó Bàn tay duỗi nhẹ, ngón cái hơi mở Khi cần phải đưa tay

ra phía trước hoặc lên cao, bàn tay thường mở ngừa, theo hướng đi của ngón tay trỏ Khi cần đưa tay vào phía ngực, bàn tay thường úp, thu nhẹ dần về bằng cổ tay, hoặc thả xuống từ từ.

1.3 Tư thê ngồi hát

Bình thường, khi hát trong dạy học Âm nhạc, giáo viên thường đứng Tuy nhiên cũng có khi ngồi hát Vậy ngồi hát như thế nào để không ảnh hưởng đến chất lượng thể hiện bài hát?

Ngồi hát tự nhiên, vững vàng, không gập bụng.

Hai vai hạ xuống, đẩu giữ ngay ngắn, nét mặt tự nhiên.

Hai tay buông lỏng, có thể đặt lên đùi, hoặc kết hợp một vài động tác nhẹ nhàng để biểu hiện cho thêm diễn cảm.

1.4 Tư thè đi lại trong khi hát

Trong tiết học Âm nhạc ở trường Trung học cơ sở, giáo viên có thể đứng hoặc ngồi hát cho học sinh nghe khi các em làm quen với bài hát mới, nghe lại bài hát

đã học từ những tiết học trước.

9

Trang 10

Cũng có khi giáo viên thay đổi tư thế hát Giáo viên có thể đi từ phía trái lớp sang phía bên phải, hoặc ngược lại Đôi khi, đang đứng hất hoặc đang ngồi hát, giáo viên từ từ đứng lên, hoặc đi xuống phía đưối lóp Có khi, từ phía dưới lóp, giáo viên \ìra hát, vừa đi lên phía bục giảng.

Những chuyển động như vậy cẩn phải có sự chuẩn bị, để được thay đổi một cách Nũng vàng, chắc chắn và dần dần tránh đột ngột, vội vàng để không ảnh hường đến việc điểu khiển âm thanh, hơi thở Cho dù bắt dầu bước đi, tiếp tục đi hoặc dừng lại trong khi hất, tư thế cơ thể vẫn phải giữ được thăng bằng, mềm mại,

tự nhiên, thoải mái để tạo ra một dáng dấp đẹp, duyên dáng.

Khi cẩn phải đi sang phải, nên bắt đầu bước đi bằng chân trái; khi cắn phải đi sang trái, nên bắt đầu bước đi bằng chân phải Để tư thế người, bước đi trước mắt các em học sinh được tế nhị, nén đặt nhẹ gót chân xuống nển trước rồi mới hạ mũi bàn chân xuống sau Người từ từ quay theo hướng bước chân tiến tới.

Chú ý rằng, mọi chuvển động của giáo viên khi hất phải nhẹ nhàng, hài hoà gắn lién với nội dung, phong cách và thể loại bài hát.

10

Trang 11

Khi luyện tập, nên đứng trước gương để tự kiểm tra tư thế, hoặc nhờ những người xung quanh góp ý kiến để sửa chữa kịp thời về tư thế hát tạo ra dáng đẹp phù hợp vói phong cách của riêng mình.

1 Tập các tư thế đứng, ngồi hát.

2 Thử nhấc chân trái để dồn trọng tâm vào chân phái xem có vững và có thế đứng trên một chân phải hay không Làm lại như vậy để dồn trọng tâm vào chán trái.

3 Tập các bước đi sang trái, sang phải theo hướng dẫn trong bài.

HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC c ơ QUAIM PHÁT THANH

2.1 Giới thiệu bộ máy phát ám

Bộ máy phát âm của con người vô cùng tinh vi và hoàn chỉnh, bao gồm nhiều

bộ phận làm việc gần như cùng một lúc, liên quan chật chẽ với nhau và không thể tách rời Y học dã có những nghiên cứu riêng về những lĩnh vực này như các

chuyên ngành tai - mũi - họng, răng - hùm - mặt

Để có thể điều khiển cơ quan phát thanh hoạt động theo những yêu cầu của các

kĩ năng hát, chúng ta cán tìm hiếu sơ qua về những bộ phận cơ bản cúa bộ máy phát âm ở con người Đó là bộ phận phát ra ám thanh, bộ phận khuyếch đại âm thanh, động lực phát thanh, bộ phận nhả chữ.

a Bộ phận phát ra ám thanh

Bộ phận phát ra âm thanh là thanh quản (Hình 1)

Thanh quản là một ống nối tiếp với khí quản nằm ở phía trước cổ (Hình 2 hình 3) Phần giữa thanh quản thắt lại như cổ chai Chỗ thắt lại là do những dây cơ

và sụn nằm chắn hai bẽn, đó là thanh đới Thanh đới là một bộ phận quan trọng của thanh quản, chịu sự điều khiển trực tiếp cùa thần kinh trung ương (Hình 4 hình 5 hình

6, hình 7).

§2

Trang 12

6 Thực quàn

1.

2.

Nép lưỡi - náp thanh món giữa

Náp thanh mòn (thiẽt)

3 Thanh đới

4 Thanh đói

5 Khi quan

Hình 2: Thanh quản bình thường Hình 3: Thanh quản bình thường

12

Trang 13

Hình 4: Tác dụng của các cơ nhẫn giáp

kéo dài (căng) nếp thanh âm

Hình 5: Tác dụng của các cơ nhẫn -

phễu sau, dạng xa nếp thanh âm Hình 6: Tác dụng của các cơ nhẫn - phễu bên, khép nếp thanh âm

Trang 14

Co hoanh

Thưc quàn - Các thán kinh thanh quãn

Phế quan

dáy thán kính thanh quàn

Thưc quan

Hình 8

Thanh đới khi khổng hoạt động nằm ở hai bên ống thanh quản tạo nên một khe

hờ gọi là khe thanh quản Phần trên thanh đới có hai khoảng trống ỡ hai bén, song song với nhau gọi là buồng thanh quản.

Phần trên cùng cùa thanh quản có một bộ phận nhỏ như cái nắp, gọi là nắp thanh môn Nắp thanh môn mở ra khi phát âm và đóng lại khi ta nuốt thức ăn để thức ãn đi vào thực quản mà không lọt vào thanh quản.

b Bộ phận khuyếch đại ám thanh

Bộ phận khuyếch đại âm thanh là những xoang cộng minh ở các khoảng trống trong đầu, những xoang ở mũi, vòm mặt và trán Ngoài ra, miệng, yêt hầu và ngực

có tác dụng làm tăng âm lượng rất tích cực.

14

Trang 15

Âm thanh đi ra ngoài qua miệng, kết hợp với các bộ phận của miệng như hàm mềm (còn gọi là hàm ếch mềm), lưỡi, môi, hàm dưới, răng, tạo thành tiếng nói, lời hát.

b Hoạt dộng của các cơ quan phát thanh

• Hình dáng cùa miệng thay đổi theo sự phát âm, nhả chữ, phụ thuộc vào những

nguyên âm, phụ âm.

Khi nói, các nguyên âm đuợc phát ra nhanh, gọn Nhưng khi hát, các nguyên

âm được kéo dài theo trường độ nốt nhạc Do đó, khi hát, miệng phải mờ hơi rộng

và tích cực hơn Tư thế miệng đẹp là phải được mở thoải mái, nét mặt phải tự nhiên, tươi tỉnh.

Độ mở rộng, hẹp của miệng ờ từng loại giọng còn ảnh hưỏng tới âm lượng và

âm sắc của giọng.

Thường khi hát lên những nốt cao, miệng mở rộng hơn, nhưng vẫn phải giữ được độ mềm mại, biểu hiện được cảm xúc bằng nét mặt Hình dáng của miệng khi hát phụ thuộc vào những cử động của môi, lưỡi, hàm dưới, hàm ếch mềm.

• Tư thế cùa môi khi hát cũng phụ thuộc vào các nguyên âm, phụ âm Ví dụ: Môi mớ tròn khi hát nguyên âm a và ớ.môi hơi chúm lại, đưa ra phía trước khi hát nguyên âm u Còn khi hát nguyên âm ỉ' và ê, môi hơi nhếch lên.

Trang 16

Nhưng dù ờ tư thế nào, ở giọng hát nào, môi cung phải mềm mại, linh hoạt để tạo điều kiện hát được rõ lời, nhất là khi hát những bài có tốc độ nhanh.

• Lưỡi là bộ phận hoạt động liên tục trong khi hát Hoạt động cùa lưỡi phất ra

những phụ ám, tạo thành lời hát.

Khi hát, lưỡi của mỗi người ở những tư thế khác nhau Lưỡi hạ thấp, hay cong lên, phụ thuộc vào những yếu tố quyết định tính chất âm thanh như: độ mờ cùa vòm họng, cùa miệng, hơi thở.

Dù ờ bất cứ giọng nào, khi hát nên đật lưỡi ở tư thế tự nhiên, mềm mại, không đưa ra phía trước, không tụt về phía sau Lưỡi cứng là nguyên nhân gây ra hát giọng

cổ, hát không rõ lời Cuống lưỡi cong lên nhiều quá sẽ gây khó khăn khi hát những

âm cao.

Tuy lưỡi giữ vai trò quan trọng trong phát âm, nhung việc kiểm tra vị trí, tư thế phù hợp cùa lưỡi; chủ yếu qua chất lượng của tiếng hát Nếu như âm thanh đã tốt rồi, lời hát đã rõ ràng thi không cần thiết phải quan tâm đến vị trí của lưỡi nữa Hoạt động của hàm cũng có vai trò quan trọng tới chất lượng âm thanh Khi hát, hàm dưới phải buông lòng, hạ xuống một cách tự nhiên Khóng đưa hàm chìa ra phía trước Hàm dưới cứng cũng làm cho cuống lưỡi bị cong lên, cổ bị chà xát mạnh, âm thanh bị nghẹt.

• Vòm trên của miệng là hàm ếch Phần ngoài cố định, không cử động được,

gọi là hàm ếch cứng; phấn trong mềm, có thể cử động được, gọi là hàm ếch mềm Hàm ếch mềm nối liền với lưỡi gà, khi cử động có thể đóng, mờ đường ra miệng

và lên hốc mũi.

Hàm ếch mềm khi hát phải nâng lên để mờ rộng lối cho âm thanh cùng một lúc đi ra miệng và lên hốc mũi Đặc biệt, khi hát lên cao, hàm ếch mềm nhấc lên đổng thời với tăng cường hơi thờ là hai yếu tố quyết định chất lượng ám thanh.

Trang 17

§3 CÁC XOANG CỘNG MINH VÀ Tổ CHỨC ÂM THANH

3.1 Các xoang cộng minh

Cộng minh là hiện tượng vật thể nào đó bị chấn động mà phát ra âm thanh Am thanh này được truyền sang các vật khác, gây sự chấn động lan truyền, cộng hướng với âm thanh thỏi phát.

Âm thanh phát ra bằng thanh đới cùa con người bắt đầu không có độ vang Nhờ

có sự cộng hướng qua các khoáng trống ở các khí quản phát thanh, mới tạo ra được

âm thanh rõ ràng mà ta vẫn thường nghe Cách hát có sử dụng các khoảng trống đó

để ãm thanh vang, sáng, tròn và có âm lượng lớn gọi là hát cộng minh.

Những khoảng trống gây ra cộng minh gọi là các xoang cộng minh 0 mỗi người đều có các xoang cộng minh chú yếu như xoang miệng, xoang mũi, xoang ngực, xoang trán.

• Xounỵ miệng là xoang cộng minh rất quan trọng Âm thanh đi qua xoang

miệng sẽ được cộng hướng tạo ra được âm lượng lớn, âm vang ấm áp, gần gũi Khi

ta ngậm miệng, lấy lưỡi lấp lên hàm ếch mềm, kết quả ám thanh phát ra rất nhỏ, vì không có cộng minh của xoang miệng.

• Xoang mũi là xoang cộng minh liên tiếp với xoang miệng Cộng minh ớ

xoang mũi tạo cho âm thanh độ sáng, chói nhất định Khi bị ngạt mũi, âm thanh phát ra nghe nghẹt, méo tiếng Xoang mũi kết hợp với các xoang trán, xoang bướm, xoang yết (phía sau mũi) tạo ra âm thanh nghe dày, đầy đặn, mạnh mẽ.

• Xoang ngực tuy không rỗng, nhưng góp phần quan trọng tới toàn bộ cộng

minh trong con người Giọng hát trung, trầm rất cần có cộng minh cùa xoang ngực mới tạo được âm vang trầm hùng.

Hiện tượng cộng minh không chí ớ các xoang cộng minh, mà còn dược sinh ra

từ các khoảng trống, các hốc xương trong người.

Trởng tất cả các xoang cộng minh, xoang càng to, cộng hường càng lớn Xoang càng nhó thì cộng hướng càng yếu Điều quan trọng là các xoang cộng minh đều phái được phát triến như nhau, đế tạo ra hiệu quả âm

Trang 18

Không nên chỉ vận dụng một xoang cộng minh nào đó để hát, bời khả năng cộng hưởng rất hạn chế, hiệu quả ãm thanh nghe nghèo nàn, đơn điệu, nhiều khi gày cảm giác khó chịu.

Chẳng hạn khi hát chì sử dụng xoang cộng minh mũi sẽ tạo ra âm thanh

<giọng mũi=, nghe đanh, chua và gắt Hoặc giả, một giọng nam khi hát thién

về sừ dụng xoang cộng minh yết, cổ họng sẽ tạo ra âm thanh nshe tối ãm u nhiều tạp âm

3.2 Ảm sác giọng hát

Trong thực tế không có hai giọng hát hoàn toàn giống nhau Vậy, làm thế nào

để có thể phân biệt được giọng hát nào là của ai?

Có thể nói, cơ sờ để phân biệt sự khác nhau giữa các giọng hát là ám sắc Mỗi giọns hát đều có một ám sắc riêng Âm sắc có được là do khả năng sừ dụng tổng hợp các xoang cộng minh cùa mỗi người một cách tự nhiên Âm sắc là yếu tố rất quan trọng trong đánh giá mỗi giọng hất Một giọng hát không khoé lắm nhung

có ám sắc đẹp, sẽ hấp dẵn hơn nhiều SO với một giọng hát khoẻ nhưns âm sắc không đẹp.

Người giáo viên âm nhạc cần có một giọng hát có âm sắc đẹp đê dễ dàng truvền đạt nội dung các phân môn hát, tập đọc nhạc trong chương trình dạv học

âm nhạc cho học sinh Trung học cơ sờ.

Âm sắc giọng hát đẹp có thể do giọng tự nhiên, bản năng ờ mối người Nhưng nhiéu người do rèn luyện kiên trì, đúng phương pháp đã làm cho giọng hát cùa mình thêm đẹp, duyên dáng.

Thông thường, tiếng hát đẹp là phải bao gồm cả âm thanh đẹp nhả chữ rõ ràng, diễn cảm và hình tượng phong phú Âm thanh lí tường phải tròn, gọn gàng, sáng sùa và thanh thoát Để có dược âm thanh đẹp cần phải luyện tập đê’ đưa âm thanh phóng ra phía trước mặt Cách hát phóns ra phía trước tạo cho âm thanh có đủ sức vang xa, rộng đến tai nsười nghe ờ mọi phía một cách rõ ràng Chất lượng âm thanh như thế là kết quả cùa khả nãng sử dụng tổng hợp các xoang cộng minh, đưa lại cho người nghe dòng âm thanh vang, sáng, nhiểu màu sắc, có sức truyền cảm Khi hát vào tác phẩm, cần có sự suy nghĩ, phân tích để sử dụng điều hoà các cộng minh và ám sắc tuỳ theo tính chất tình cảm, phong cách nghệ thuật cùa tác phẩm cụ thể để có sự biến hoá đa dạng, gây hiệu quả phong phú, gợi cảm.

18

Trang 19

Để giữ gìn và phát triển giọng hát đẹp, phong phú về âm sắc, cần chú ý sứa chữa kịp thời những sai lệch về kĩ thuật hát, về ám sắc Hát bằng giọng cổ làm cho

âm thanh cứng nhắc, nghe gẳn tiếng, nặng nề Hát giọng mũi là do ít vận dụng dộ vang cùa xoang miệng, mà chỉ sử dụng độ vang hoàn toàn ờ mũi, âm thanh rất mảnh, yếu, nghe nghẹt tiếng như tiếng loa rè, hoặc chua gắt Cách hát gào thét, quá cô gắng để hát to, hoặc ngược lại, cách hát hời hợt, ít vận động để âm thanh yếu ớt, mờ nhạt cũng là những biểu hiện sai lệch, có ảnh hưởng đến chất lượng giọng hát, đến sức khoẻ.

Giọng hát của con người rất phona phú được chia thành giọng hát người lớn

và giọng hát trẻ em.

4.1 Giọng hát người lớn

Giọng hát của người đã trưởng thành có giọng nam và giọng nữ Dựa vào âm sắc và âm vực giọng, giọng nam, giọng nữ lại được phãn thành các loại khác nhau với những đặc điếm riêng.

Để có thể luyện tập và phát triển giọng hất đúng phương pháp, đúng với khả năng cơ thể mỗi người cho phép, chúng ta cần tìm hiểu xem có những loại giọng hát nào và có gì khác nhau.

a Giọng hát nữ

Giọng hát nữ được chia thành ba loại chính là giọng nữ cao, giọng nữ trung, giọng nữ trầm Mỗi loại giọng nữ còn có thể phân thành các giọng khác nhau.

a.l Giọng nữ cao

Giọng nữ cao (tiếng Pháp gọi là Soprano) là giọng có khả năng hát lên cao nhất trong các loại giọng Âm vực giọng nữ cao:

PHÂN LOẠI GIỌNG HÁT

Trang 20

Người ta phân giọng nư cao thành ba loại:

• Giọng nữ cuo kịch tính (Soprano dramatique) là giọng khoè, có độ vang trên

toàn âm vực Giọng nữ cao kịch tính có khả năng hất xuyên qua dàn nhạc Khi hát xuống ãm khu trầm, âm sắc hơi giống giọng nữ trung.

• Giọng nữ cao trữ tình (Soprano lyrique) là loại giọng khoẻ, chắc chắn, có âm

sắc mểm mại, uyển chuyên hơn giọng nữ cao kịch tính.

• Giọnỵ nữ cao màu sắc (Soprano Coloré) là loại giọng rất linh hoạt, nhẹ

nhàng, âm sắc trong sáng, có khả năng hát lên cao hơn giọng nữ bình thường

5, 6 âm.

a.2 Giọng nữ trung (Mezzo - Soprano)

Giọng nữ trung là loại giọng giữa các giọng nữ cao và nữ trầm Giọng nữ trung

có âm sắc ấm áp, êm dịu Khi hát ờ âm khu trung nghe khoẻ, dày dặn 2/3 ám vực giọng hát vang ở cộng minh đầu Âm vực giọng nữ trung:

"v

a.3 Giọng nữ trám (Alto hoặc Contr' alto)

Giọng nữ trầm là loại giọng khoẻ rất dày Âm sắc giọng nghe rất trầm, ấm, hơi tối Toàn bộ âm vực của giọng nữ trầm được hát ở âm khu ngực, nhiều khi nghe như giọng nam cao Âm vực giọng nữ trầm:

b Giọng hát nam

Trên thực tế siọng nam khi hát thấp hơn giọng nữ một quãng 8.

Giọng hát nam được chia thành giọng nam cao, giọng nam tíung giọng nam trầm Mỗi loại giọng nam lại được phán thành các giọng khác nhau.

20

Trang 21

b I Giọng num cao (Ténor)

Giọng nam cao nói chung có âm vực:

Giọng nam cao được chia thành hai loại: nam cao trữ tình và nam cao kịch tính.

• Giọng nam cao trữ tình (Ténor lyrique) có ám sắc trong sáng, linh hoạt,

nhẹ nhàng, thể hiện thuận lợi những tình cám trữ tình.

• Giọng nam cao kịch tính (Ténor dramatique) có ãm thanh khoẻ, vang, có

cường độ ãm thanh lớn, giọng nghe như có nhiều chất <thép=, giàu tính kịch.

b.2 Giọng nam trung (Baryton)

Giọng nam trung có đặc điểm cơ bán là rất gần giọng nói Âm vực giọng nam trung:

Giọng nam trung có hai loại là nam trung trữ tình và nam trung kịch tính.

• Giọng nam trung trữ tình (Baryton lyrique) có độ vang tròn, mểm mại, mang

nhiều chất trữ tình, nhẹ nhàng.

• Giọng nam trung kịcli tínli (Baryton dramatịque) là giọng hát có độ vang lớn,

biểu hiện kịch tính.

b.3 Giọng nam trầm (Basse)

Giọng nam trầm có âm sắc trầm, ấm, đầy đặn, ít linh hoạt Loại giọng này dễ dàng thế hiện ớ âm khu thấp cùa giọng Giọng nam trám có âm vực chun»:

Trang 22

Giọng nam trầm chia làm hai loại:

• Giọng nam trầm nhẹ (Basse léger hoặc còn gọi là Basse baryton) là giọng

hất có âm sắc ấm áp gán với giọng nam trung, có thể hát xuống âm khu trầm xuống một cách thoải mái, dễ dàng.

• Giọng nam trầm nặng (Basse plafonde) là giọng hát thể hiện tính oai nghiêm,

trầm hùng rất rõ rệt.

4.2 Giọng hát trẻ em

Giọng hát trẻ em khác với giọng hát của người lớn.

Nếu ớ người lớn có sự phân chia rõ ràng về giới tính trong giọng hát như giọng nam và giọng nữ, thi ớ giọng trẻ em khóng có sự phân biệt giữa trẻ em nữ và trẻ

em nam v ề ám sắc, giọng trẻ các độ tuổi cho đến trước khi trưởng thành là khá thống nhất.

Giọng hát trẻ em là giọng cùa trẻ ờ các độ tuổi:

+ Trẻ trước tuổi dậy thì: Bao gồm trẻ từ trước tuổi học (từ 3 đến 72 tháng tuổi), học sinh Tiểu học (từ 7 đến 11 tuổi), học sinh các lớp đầu cấp Trung học cơ sờ (từ 12 đến 14 tuổi).

+ Trẻ ờ độ tuổi dậy thì: học sinh Trung học cơ sờ các lớp cuối cấp (từ 14 đến

18 tuổi).

Theo sự phát triển của cơ thể, các cơ quan phát thanh của trẻ ờ các độ tuổi cũng dần dắn hoàn chính và ổn định.

a Giọng trẻ trước tuổi dậy thi

ơ trẻ trước tuổi học các lóp đẩu Tiểu học, cơ quan phát âm cũng như các bộ phận khác của cơ thể trẻ còn đang phát triển, chưa ổn định Dãy thanh đới cùa trẻ rất yếu, nhạy cảm; lưỡi, môi, hàm còn cứng, chưa thuần thục trong phát âm;’hơi thớ còn ngắn, giọng tré vì thế còn yếu Tuy nhiên, trẻ lại hát chù yếu bằng cộng minh đấu, âm sắc trong sáng, vang, nghe như giọng nữ cao, mém mại nên gây ấn tượns xúc động khá mạnh mẽ.

Học sinh các lớp cuối Tiểu học và các lớp đầu Trung học cơ sở, ớ độ tuổi từ 9 đến 14 15 có xu hướng hát bằng giọng ngực Âm thanh vì thí vẫn trong sáng, nhưng mạnh mẽ, dày dặn hơn.

22

Trang 23

Âm vực giọng trẻ em khá rộng Càng lớn, âm sắc giọng càng ổn định, âm vực giọng mở rộng dần.

Ảm vực thuận lợi của giọng trẻ là:

b Giọng trẻ tuổi dậy thì

Tuy nhiên, ở học sinh Trung học cơ sò các lớp cuối cấp, cùng với những thay đổi mạnh mẽ về sinh lí đối với người đang trưởng thành, giọng hát cũng có những biến đổi rất rõ rệt Giọng hát của mỗi trẻ em ớ độ tuổi này đều diễn ra sụ chuyển giọng.

Có nhiều em nữ ở tuổi dậy thì, khi hát đã tự chuyển sang giọng nữ người lớn một cách tự nhiên Tức là biết hát cả bằng giọng ngực, phối hợp với các xoang cộng minh khác ờ mặt, đầu để thể hiện theo ý mình một cách tự nhiên Chuyển sang giọng nữ người lớn, ớ giai đoạn đầu nghe còn nhỏ, yếu, hát xuống nhũng nốt thấp

có thể còn khó Nhưng giọng nữ chuyển được đúng theo độ tuổi nghe mềm mại, linh hoạt, dần dần ổn định và phát triển, có khả năng thể hiện tốt hơn.

Các em gái, khi chuyển lên giọng nữ trường thành thường gặp khó khăn ờ các quãng chuyển giọng Các quãng chuyển ở giọng nữ cao thường là:

Trang 24

Các quãng chuyến ớ giọng nư trung thường là:

J hoặc L Tuv vậy, số đỏng các em nữ do không hiểu biết hoặc ngại khó trong giai đoạn phai chuyển giọng nén vẫn tiếp tục hát bằng giọng trẻ em sử dụng cộng minh naực như lúc còn bé Vì vậy giọng cùa các em nàv nghe thì khoè, sáng, nhưng thó, cứng, thiếu linh hoạt Tiếp tục hát bằna giọng trẻ em khi đã đến tuổi dậy thì thì khóng thể hát lên các nốt cao được, hấu hết là phải dùng sức hoặc gào thét lén khả nâng thể hiện rất hạn chế.

Đối với các em nam trong độ tuổi dậv thì, giọng biến đối rất mạnh, rõ rệt

Cơ thể cấc em phát triển nhanh, nhất là về chiều cao Còn giọng thì bị vỡ tiếng, đang nói binh thường, có lúc thét lẽn the thé có lúc mất hẳn tiếng hoặc trầm hẳn xuống Đặc biệt, các em nam trong giai đoạn nàv hát rất khó khăn.

Các quãng chuyển ở giọna nam cao thường là:

Các quãng chuyển ờ giọng nam trung thường là:

Tuy nhiên, qua thời gian chuyển, giọng nói giọng hát cùa trẻ em nam dán

ốn định Am sắc cùa giọng nam cao hay nam trầm biểu hiện khá rõ.

• Côu hỏi ôn tập

1 Hãy mô tả bộ máv phát ảm cùa con nsười.

2 Nêu nguyên lí phát thanh và hoạt động của cơ quan phát thanh.

3 Giới thiệu về các loại giọng hát người lớn.

4 Giọng hát trẻ em có nhữna đặc điểm gì?

24

Trang 25

§5 BÀI TẬP LUYỆN THANH

Đế có giọng hát hay, truyền cảm, cần phải thường xuyên luyện giọng và tập thể hiện vào bài hát.

Trước hết, cần làm quen với luyện thanh.

Luyện thanh là hát theo một giai điệu với một hoặc một số mẫu âm nhất định Thông thường, người ta tập hát theo một mầu âm, bắt đầu từ âm khu thuận lợi nhất của mỗi giọng hát là âm khu trung Sau đó, theo mẫu âm đó nâng lén cao dần theo từng nửa cung một, rồi hạ xuống thấp dần cũng theo từng nửa cung một đế luyện tập theo khả năng từng giọng.

Luyện thanh giúp cho giọng hát được đều, trôi chảy, rõ ràng, âm sắc, âm lượng thống nhất ớ tất cả các âm khu giọng.

Mỗi tiết học cần dành một phần thời gian để tập luyện thanh khoảng 5 đến 10 phút, trước khi vào tập bài hát.

Tuỳ theo khả năng của sinh viên, có thể chọn 2 hoặc 3 bài tập cho sinh viên luyện tập.

• Hướng dẫn thực hiện các bài luyện thanh:

+ Dùng đàn xác định âm chú (hoặc hợp âm chủ) cùa câu luyện thanh để bắt giọng.

+ Đánh đàn theo giai điệu để sinh viên có chỗ dựa.

+ Dịch dần câu luyện thanh từng nửa cung một đi lên cho tới nốt cao nhất rồi

đi xuống dần cho tới nốt trầm nhất cúa âm vực giọng theo khá năng cùa sinh viên 5.1 Bài tập luyện thanh với mầu âm trong quãng 3

Đây là những bài tập đơn giản để sinh viên Sư phạm Âm nhạc làm quen với luyện thanh Các bài tập 1, 2, 3 thực hiện như sau:

+ Chuẩn bị tư thế đứng hát vững vàng, tự nhiên.

+ Hát với nhịp độ vừa phải, không vội vàng.

Trang 26

+ Hát với âm lượng vừa phải theo khả nâng của mỗi người, không cố gắng hất

ma rê

ma

đô Bài sô 2:

Ma Mi

Trang 27

Đõ rê mi rê mi rê Đô rê mi ré mi ré đõ

+ Tập bật môi, lưỡi khi hát các phụ âm và mở khấu hình theo các nguyên âm

khi hát các từ mu, mê, Uli 1110 , (10, rẽ

+ Tập hít hơi bằng mũi một cách nhẹ nhàng Lấy vào đủ hơi đế hát trôi chảy

từng 2 nhịp một.

+ Kết thúc cáu luyện thanh, cần tiếp tục khống chế hơi thớ còn lại bằng cách

co nhẹ cơ bụng dưới Chờ nghe nhạc chuyến sang câu sau rồi mới lấy thêm hơi mới + Hát thoải mái, không căng thẳng, không cường điệu hoặc quá thận trọng để

âm thanh phát ra được tự nhiên.

Các bài tập 4, 5, 6 thực hiện với yêu cầu:

+ Tập ngân dài các nguyên âm i, é, a, ó theo giai điệu câu luyện thanh.

+ Giữ đêu âm thanh cho vang, sáng, không thay đối vị trí âm thanh khi hát

chuyển từ mi, mê, mô sang ma.

+ Hít hơi bằng mũi một cách nhẹ nhàng Lấy vừa đủ hơi đê’ hát được giai điệu trong 3 nhịp.

+ Có thể luyện theo cách hát tên nốt nhạc theo giai điệu dể tập bặt môi lưỡi nhanh hơn.

+ Để tránh căng thảng, có thể đứng hát kết hợp đánh nhịp một cách nhẹ nhàng.

Ngày đăng: 08/12/2023, 15:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm