Điéu tiết hơi thờ và xử lí ngôn ngữ là những kĩ năng cơ bản, rất quan trọng để thực hiện những kĩ thuật hát phổ biến như hát liền giọng, hát nảy tiếng, hát nhanh, hát thể hiện sắc thái c
Trang 1Chúng ta đã tìm hiểu về hoạt động cùa cấc cơ quan phát thanh, các xoang cộng minh đê’ nắm được cách tổ chúc âm thanh trong ca hát, phân biệt các loại giọng hát Muốn thể hiện được đúng sắc thái tình cảm, phong cách, nội dung tư tường của từng bài hát, cần phải biết sử dụng kết hợp đổng thời các kĩ nãng hát trong một
kĩ thuật hát nhất định.
Điéu tiết hơi thờ và xử lí ngôn ngữ là những kĩ năng cơ bản, rất quan trọng để thực hiện những kĩ thuật hát phổ biến như hát liền giọng, hát nảy tiếng, hát nhanh, hát thể hiện sắc thái cường độ, nhịp độ phục vụ cho việc thể hiện những tình cảm phong phú, phức tạp khác nhau trong các bài hát và hát được rõ lời.
Chương II sẽ giới thiệu về hơi thớ trong ca hát và các bài tập luyện hơi thớ; những đặc điểm cơ bản trong ngôn ngữ tiếng Việt, cách xử lí nhả chữ trong ca hát: tìm hiểu một số kĩ thuật hát - hát liền tiếng, nảy tiếng, hát nhanh và hướng dẫn
thực hành thể hiện bài hát trong chương trình Trung học cơ sở.
• Mụctiêu
+ Hiểu và biết cách luyện tập hơi thở trong ca hát.
+ Hiểu được đặc điểm ngôn ngữ tiếng Việt.
+ Biết cách luyện tập hát rõ lời.
+ Hiểu và làm quen với một số kĩ thuật hát cơ bản.
+ Úng dụng tập thể hiện bài hát trong chưcmg trình Trung học cơ sờ.
Trang 2HƠI THỎ TRONG CA HÁT
Sừ dụng hơi thở trong ca hát là một kĩ năng cơ bản, quyết định nhiều đến chất lượng thể hiện tác phẩm, tạo ra giọng hát đẹp, truyền cảm Hơi thở trong ca hát gắn bó chặt chẽ với sự phát ám.
Tuy nhiên, có lúc gọi nhau đột ngột, lúc tức giận, tranh cãi hay lúc hoảng sợ
la hét thường phải nói to, hét to, tính chất thó bạo, mạnh Khi đó, người ta phải hít hơi vào gấp, bộ máy phát âm bắt buộc phải hoạt động với một cường độ cực lớn
Cơ bắp cổ họng phải tập trung dùng nhiều sức, mạch máu dồn căng gáy đỏ mặt,
âm phát ra nặng nề, cứng, thô (dằn giọng) Đó là cách thở không bình thường Cách thở đó đối khi khiến người ta lạc cả giọng Nếu kéo dài tình trạng thớ như vậy thém có thể làm ho sặc sụa, để rồi sau đó mất cả tiếng.
§1
Trang 3Trong nghệ thuật ca hát, người hát chủ động và luyện tập thành kĩ thuật, sử dụng để điều tiết hơi, nhằm mục đích thể hiện tác phẩm thanh nhạc.
Khi đó, hơi thở hít vào sâu, được khống chế bằng hoành cách mô và được đưa
ra từ từ Do vậy, các cơ bắp cổ, bụng, ngực không bị căng thẳng, mà có thể đàn hồi,
co dãn mềm mại và có sức Âm thanh phát huy được cộng hưởng của các khoảng vang cộng minh, trở nên tròn, đầy, vang sáng, kết hợp nhịp nhàng với hoạt động cùa môi, miệng, răng lưỡi, hàm tạo thành ngón ngữ ca hát một cách chính xác,
rõ ràng.
Thờ có khống ch í hơi còn được các vận động viên thể thao, diễn viên múa
sử dụng.
1.2 Một sô cách lấy hơi
Trong ca hát, sự thay đổi và phất triển các kiểu hít thở là do nhu cáu tạo ra
âm thanh, nhằm thể hiện theo yêu cầu của tinh cảm, tính chất âm nhạc và phong cách tác phẩm, phong cách biểu diễn Vì thế có thể áp dụng nhiều kiểu hít thớ khác nhau Mỗi ngưòi có thể sử dụng một kiểu hít thờ nào đó để đạt được yêu cầu nghệ thuật mà mình thực hiện và điều kiện cơ thể cho phép.
Ta hãy tìm hiểu một số kiểu lấy hơi (hít hơi) để phân biệt và sử dụng cho phù hợp.
a Lấy hơi ngực
Lấy hơi ngực, có khi còn được người ta gọi là thở ngực.
Khi hít hơi vào, không khí chứa đầy phần trên của hai lá phổi, làm cho lồng ngực phía trên nhô lên, hoành cách mô hầu như ổn định, không hoạt động Lấy hơi ngực được ít hơi và hơi lại nông Người hát nếu chỉ lấy hơi ngực thường dùng miệng đế lấy hơi Vì thế miệng, yết hầu rất nhanh bị khô.
b Lấy hoi bụng
Lấy hơi bụng, còn được gọi là thở bụng Khi hít hơi vào, lồng ngực hẩu như không động đậy, chỉ có bụng phình ra Hơi được hít vào sâu, đầy đến tận đáy phổi Nếu chỉ dùng một kiểu lấy hơi bụng, hơi thở do hít được vào nhiều, đẩy xuống làm bụng dưới to lên, nhưng mô hoảnh cách vì thế cũng bị chèn ép, khó linh hoạt
cứ động.
Trang 4c Láy hơi ngực và bung
Lấy hơi ngực và bụng còn gọi là thở sâu Khi hít hơi vào, phần ngực dưới căng
ra, các xương sườn cụt giương lẽn, bụng cũng hơi phinh ra một chút ờ phía dưới và
cả hai bên sườn Các bộ phận như phổi, lồng ngực, bắp thịt ngực và hoành cách mô phối hợp với nhau khống chế hơi thở một cách chủ động.
1.3 Phương pháp luyện tập hơi thờ trong ca hát
Để điều tiết hơi thở một cách khoa học, phối hợp nhịp nhàng với các bộ phận khác nhau cùa cơ quan phát âm, cần phải luyện tập về hơi thở Người hát qua luyện tập thường xuvên kĩ nãng sử dụng hơi thờ sẽ nắm được những cảm giác cố định của hoạt động, điều khiển các thao tác liên quan đến hơi thờ một cách chù động Trước hết, tập lấy hơi vào nhanh và đẩy hơi ra chậm Quy trình luyện tập gồm các khâu sau:
Sau khi hít hơi vào nhanh và gọn ta giữ hơi lại trong khoảng một, hai giây Sau
đó dần dần đưa hơi thờ theo âm thanh ra đểu dặn Dùng các cơ bắp, lồng ngực,
cơ bụng và hoành cách mô để khống chế và điểu khiển hơi thở sao cho tới cuối câu hát hơi thờ vẫn còn thừa lại một ít trước khi hít hơi thờ mới.
Những sinh viên mới tập hát có thể tập riêng hơi thờ, không có âm thanh để bước đầu làm quen với cách thờ tích cực trong ca hát.
Khi tập, ta hít hơi vào như ngửi hương thơm Giữ hơi thờ một vài giây, rồi đặt đầu lưỡi vào giữa hai hàm răng và xì dần hơi ra qua khe hỡ cùa hai hàm răng Âm thanh phát ra phải liên tục, đều đặn, không được đứt quãng Bụng không được xẹp xuống đột ngột Thời gian xì hơi càng dài càng tốt.
c Sừ dụng hơi thở vào bài hát
Rèn luvện hơi thớ gắn liền với tập thể hiện bài hát, đồng thời với luyện tập riéns từng thao tác của quy trình sừ dụng hơi thờ Qua đó, sinh viên Sư phạm
Trang 5Âm nhạc có được những hiểu biết cụ thể, có khả nang thực hành vận dụng vào giải quyết những yêu cầu cẩn đạt ở từng chi tiết trong bài hát.
Trong một bài hát, cần quy định chỗ phải lấy hơi Không lấy hơi bừa bãi, tuỳ tiện.
Lấy hơi vào cuối mỗi câu hát khi lời ca tương đối đủ ý Nếu câu nhạc dài, có thể ngắt hơi ở cuối các tiết nhạc, nhưng phải phù hợp với lời ca.
Không lấy hơi ở giữa các từ kép (lung linh, mênh mông, hoà bình )
Tuỳ theo nhịp độ và tính chất âm nhạc cũng như phong cách, thể loại bài hát
mà lấy hơi cho phù hợp Với bài hát trữ tình, lấy hơi phải yên tĩnh, sâu và kín Với bài hát nhanh, vui, phải hít hơi nhanh, lấy ít hơi, linh hoạt Với bài hát hành khúc, phải lấy hơi mạnh, sâu
Sử dụng hơi thớ trong nhiều bài hát còn có ý nghĩa biểu cảm, diễn tả tình cảm một cách tích cực.
d Bài luyện thanh tập hơi thở
Thực hiện các bài tập dưới cần chủ ỷ:
+ Đặt âm thanh cho tự nhiên, mềm mại, liên tục, các ám phát ra đều đăn, giữ đều âm lượng, vị trí âm thanh chuẩn xác.
+ Khi phát âm phải có sự chuẩn bị, có sức bật, không được buông lóng cơ môi,
hớ mối.
+ Khi mới tập, có thể hát với tốc độ vừa phải Sau đó, tập với tốc độ chậm dẩn
đế luyện kéo dài hơi thở.
Bài số 13 yêu cầu tập giữ hơi để hát các âm mờ khác nhau trên cùng một độ cao Yêu cầu tập hát từng âm, rõ ràng, ngân đều, vang Theo khả năng, có thể lấy hơi sau từng nhịp (2 âm) một Giữ vững cao độ, không thay đổi vị trí âm thanh Bài số 14, 15, 17, 18 yêu cầu phát triển hơi thờ dẩn dần Ngắt hơi, hít nhẹ, để hát hai nhịp đầu, hát nhấn hơn vào đầu nhịp Sau nhịp thứ hai cẩn giữ hơi để hát tiết nhạc cuối dài ba nhịp.
Bài số 16 cần hít hơi sâu, nín thở để âm thanh phát ra liên tục, ngân dài tự do
ờ cuối nhịp thứ hai theo khả năng để tập giữ hơi, rồi đi xuống một cách nhẹ nhàng Điều tiết hơi thờ trong khi thể hiện bài hát còn tuỳ thuộc vào độ dài ngắn cùa cáu nhạc Chẳng hạn, với những câu hát ngắn, ờ âm khu thấp, có thể lấy hơi nông
Trang 6đẩy hơi ra bình thường, nhẹ nhàng Với những câu hát ờ âm khu cao, những nốt ngân dài, cần chuẩn bị hít hơi nhanh, sâu và khống chế hơi mạnh hơn.
Trang 7-Bài sô' 18:
2.1 Tầm quan trọng của hát rõ lời
Bài hát là sụ kết hợp giữa ãm nhạc và lời ca, là nghệ thuật tổng hợp cùa hai yếu tô vãn học và âm nhạc.
Nhờ có lời ca, việc cảm thụ âm nhạc có phần dễ dàng hơn Bản thán người hát, qua việc xử lí ngôn ngữ trong lời hát cũng thể hiện phần âm nhạc được thuận lợi hơn.
Vì vậy, kĩ năng hát rõ lời là một trong những yếu tố góp phần vào chất lượng thể hiện bài hát Điều đó lại càng quan trọng đối với giáo viên Âm nhạc Trung học
cơ sở trong việc tổ chức tiết học âm nhạc Đế có kĩ năng hát rõ lời, cần tìm hiếu
sơ qua về đặc điểm ngôn ngữ và ngữ âm tiếng Việt.
2.2 Đặc điểm ngòn ngữ tiếng Việt
Tiếng Việt là loại ngôn ngữ đơn âm, đa thanh Cấu trúc vãn tự tiếng Việt đã La-tinh hoá, nhưng vẫn giữ được vẻ độc đáo, riêng biệt của mình Các nguyên âm phụ âm, vần và thanh điệu trong tiếng Việt đều có những đặc điểm riêng.
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG CA HÁT
Trang 8Mỗi nhóm có nguyên âm chính và các biến dạng của nguyên âm.
Nhóm A có nguyên ám chính A và các biến nguyên âm Â, Â.
Nhóm E cỗ nguyên ám chính E và biến nguyên âm Ê.
Nhóm I có nguyên âm chính I và biến nguyên âm Y.
Nhóm o có nguyên âm chính o và các biến nguyên âm 0 , ơ.
Nhóm u có nguyên âm chính u và biến nguyên âm ư
Theo các nhà sư phạm thanh nhạc, vì tính chất cộng minh khác nhau cùa những nguyên âm nẽn khi hát, vị trí khẩu hình cũng khác nhau.
• Khi hát nhóm nguyên âm A (ă, á), miệng mớ rộng, hơi tròn Mõi trẽn hơi nhếch lên, để lộ hàm răng trên Mặt lưỡi đặt bằng phẳng, đầu lưỡi tiếp giáp nhẹ với răng hàm dưới Tính chất âm thanh sáng.
• Khi hát nhóm nguyên âm E (ê), miệng không mở rộng như khi hát nguyên
âm A, mà thu nhỏ hơn, răng hơi lộ, phần lưng lưỡi hơi uốn cong Tính chất
âm thanh sáng.
• Khi hát nhóm nguyên âm I (y), miệng thu nhỏ lại SO với khi hát nhóm A và
E Phẩn lưng lưỡi dính sát vòm ếch mềm Tính chất âm thanh sáng, mang nhiều chất thép.
• Khi hát nhóm nguyên ám o (ô), miệng mở tròn, môi phía trên hơi thu lại Phía trong miệng mờ rộng, lưỡi gà nâng lên Cằm dưới hạ xuống Âm thanh
Trang 9• Nhóm phụ âm uốn lưỡi: gi, s, tr.
• Nhóm phụ âm rung lưỡi: r.
• Nhóm phụ âm kết hợp rãng cửa trẽn và môi dưới: ph.
• Nhóm phụ âm kết hợp đầu lưỡi và hai hàm răng khít: d, X , ch.
Tất cả gồm 15 phụ âm đơn và 9 phụ ãm kép.
c  m vần
Âm ván (còn gọi là âm vận) do một nguyên âm hoặc ghép hai, ba nguyên âm với nhau, hoặc ghép với phụ âm tạo thành từ có nghĩa Âm vần trong tiếng Việt có những dạng sau:
• Đon nguyên úm - Do một nguyên âm tạo thành từ độc lập: a, e, ê, o, ô, ơ, u,
ư’
y-• Nguyên úm kép - Do hai nguyên ám hợp thành từ độc lập: ai ói, oa oe
• Nguyên úm tô’hợp - Do ba nguyên âm hợp lại thành từ độc lập: oai, yêu
Khi ghép các nguyên âm nói trên với phụ âm thì tạo thành các loại từ có vần bằng và vần trắc.
• VÚn bằng có hai loại:
+ Vần bằng mờ: ang, ăng, âng (trong các từ mở mang, măng non, lúng lúng ) + Vần bằng đóng: ông, ung (trong các từ dòng sóng, thuỷ chung).
• Vần trắc có hai loại:
+ Vần trắc mở: ác, ắc, ấc, ích, éc, ức, uyến (trong các từ lác đác, phương bắc,
gió bấc, lợi ích, eng éc, đức, khuyên khích ).
+ Vần trắc đóng: óc, ốc, áp, ắp, ấp, óp, ốp, ép, ếp, úp (trong các từ đáu óc, dốc
lấp lúp, hắp, vấp váp, chóp, xốp ).
Do cách cấu tạo âm vận nói trên, từ trong tiếng Việt được hình thành rất phong phú và đa dạng.
Từ ngắn nhất là một đơn nguyên âm (a ! ô !) Một từ tiếng Việt dài nhất gồm
6 nguyên âm và phụ âm nối lại (khuyến, chương).
Theo bảng cấu tạo điển hình về từ tiếng Việt thì có tới 24 kiểu từ khác nhau.
Trang 10Muốn nhả chữ cho rõ ràng trong ca hát, ta cần phân biệt những từ có vần mớ
và ván đóng, kết hợp với những quy định vẻ ngữ nghĩa do đặc điểm ngữ ám tiếng Việt tạo nén.
2.3 Đặc điểm ngữ ám tiếng Việt
Tiếng Việt là thứ tiếng đơn ám nhưng đa thanh Thanh điệu trong tiếng nói góp phần quyết định ngữ nghĩa Tiếng Việt có 6 thanh, đó là:
Thanh bằng - không có dấu
Thanh sắc - dấu
Thanh huvền - dấu
Thanh hỏi - dấu ?
+ Những từ có thanh huyền, thanh hói, thanh nặng thường rơi vào những âm
thấp hơn những từ có thanh bằng Ví dụ như Xe chỉ luồn kim (dân ca quan họ
Bắc Ninh).
+ Những từ có thanh sắc thanh ngã thường rơi vào những âm cao hơn những
từ có thanh bằng Ví dụ như Trống quân (dán ca đồng bằng Bắc Bộ).
Tuy nhiên, sự trùng hợp giữa giai điệu và tiếng nói còn chịu ảnh hướng tiếng nói iừng vùng, từng miền.
Mối quan hệ giữa thanh điệu và giai điệu trong các bài hát nói chung, dán ca nói riêng cũng không có sự trùng hợp tuyệt đối.
Trong quá trình phát triển, giai điệu ca khúc, dân ca tuy vẫn giữ mối quan hệ chặt chẽ với thanh điệu trong lời ca, nhưng mỗi ngày một tinh tế và phát triển tự do hơn theo bản chất vốn có của những quy luật ám nhạc để tạo ra những giai điệu phong phú đa dạng và hết sức biểu cám hình thành các tác phấm hoàn chinh
Ví dụ như R ii con - dán ca Nam Bộ.
Trang 11Trong chương trình Trung học cơ sở, nội dung phán môn Hát bao gồm những ca khúc mới và các bài dân ca Việt Nam, dân ca nước ngoài đã dịch lời ra tiếng Việt.
Các bài hát này có đường nét giai điệu khá phong phú, với những âm hình tiết tấu phức tạp, đa dạng.
2.4 Phương pháp xử lí ca từ trong ca hát
Muốn phát ãm chính xác, nhả chữ rõ ràng trong ca hát, trước hết cần nắm được cách phối hợp vận động các cơ quan phát thanh như mói, miệng, răng, lưỡi một cách linh hoạt, mềm dẻo.
a Đối với những từ có vần mở là nguyên ăm
• Nếu đuôi từ là nguyên âm đơn (a, ô, do, mơ, li, kì, u, tư ), chỉ cần mở khẩu
hình, phát ẫm đúng và ngân đù trường độ.
• Nếu đuôi từ là nguyên âm kép (hoa, lao, tôi ), thì sau khi mở khẩu hình,
phải uốn vần và kết chữ Ví dụ:
Từ ¡ao thì phải ngân ở âm lu và kết thúc bằng ãm II.
Từ tói thì ngân ờ tô và kết thúc bằng i.
• Nếu đuôi từ là tổ hợp nguyên âm (Hoài, liễu, khuya ) thì phải uốn và nhả
chữ khá rõ bằng một quá trình rồi mới kết thúc.
Tuy có thể mở rộng hay hẹp hơn, nhưng khi phát âm các loại từ có vẩn mò là nguyên âm nói trên, hình dáng miệng đều mớ.
b Đối với những từ kết bàng phụ ám
Từ kết bằng phụ âm, cần chú ý đến khẩu hình khác nhau ở các vẩn mò hoặc đóng.
• Nếu đuôi từ là vẩn mở (khang, năng, lủng, nhưng, xanh, mênh, xiiìhũ, hoặc
cúc, mắc, tấc, nhức□) thì đóng tiếng bằng cách mở rộng khẩu hình, ngân lén mũi, hoặc bằng cuống lưỡi.
• Nếu đuôi từ là vần đóng (xong, công, trung, nóc, cấp, xúc, táp, bắp nấp
bóp, nếp, IỚỊÌ, úp, 1 -hípC.) thì phát âm, ngậm miệng, ngân lên mũi, hoặc đóng tiếng bằng cuống lưỡi, khép cằm dưới một cách nhẹ nhàng.
Trang 12• Để có được kĩ nãng hất rõ lời, nhả chữ chính xác, có thể áp dụng một số cách luyện tập sau:
+ Nghiên cứu đường nét giai điệu của ca từ để xác định mối quan hệ ngữ nghĩa trong lời ca.
+ Đọc diễn cảm nhiều lần riêng phần lời ca.
+ Tập đọc lời ca theo âm hình tiết tấu âm nhạc của bài hát.
+ Không lấy hơi, ngắt hơi giữa các cụm từ để đảm bảo trọn vẹn ý nghĩa cùa lời
ca, đảm bảo sự trong sáng của tiếng Việt.
Cần chú ý rằng, xử lí ngôn ngữ để hát rõ lời, đúng thanh điệu theo từng lời ca nhưng không được làm mất đi vẻ duyên dáng, tế nhị của phong cách nói, ý nghĩa trọn vẹn của lời ca.
• Câu hỏi ôn tập
1 Hãy trình bày sơ qua đặc điểm cấu tạo từ trong tiếng Việt.
2 Hãy nêu vài nét về đặc điểm ngữ âm tiếng Việt.
• Bài tập thực hành
Thực hành phát âm một sô' từ có cấu tạo phức tạp trong các bài hát dùng ờ trường Trung học cơ sở.
GIỚI THIỆU Kĩ THUẬT HÁT
3.1 Phương pháp hát liền tiếng
Hát liền tiếng (liền giọng), còn được gọi là kĩ thuật hát Légato Đáy là kĩ năng hát cơ bản, quan trọng nhất để thể hiện các ca khúc trữ tình, các bài hát ru Hát liền tiếng thường được sử dụng kết hợp với các kĩ thuật hát khác như hát nảy tiếng hoặc hát nhấn tiếng , để tạo ra sự tương phản cần thiết trong thể hiện một tác phẩm thanh nhạc.
Trang 13Hát liền tiếng đòi hỏi âm thanh phải ngân vang Từ âm này sang âm khác phải
có sự liên kết với nhau, không bị ngắt quãng Âm thanh lí tường phải tròn, gọn, sáng, thanh thoát, mềm mại.
Với sự phối hợp khéo léo các cơ quan phát âm, các xoang cộng minh và sự điều tiết về hơi thớ, giai điệu bài hát không bị vụn nát, mà tạo thành dòng âm thanh trong sáng, diễn cảm, uyển chuyển, liên tục, có sức thu hút, làm rung động lòng người.
b Phương pháp hát liền tiếng
+ Hít hơi nhẹ nhàng, dồn hơi thở xuống sâu rồi đẩy ra phía sau, sao cho hai cánh sườn nâng lẽn, nhưng không nhô vai Nín thờ trong giây lát để đưa âm thanh
ra một cách yên tĩnh, chắc chắn, đều đặn và liên tục.
+ Chú ý lắng nghe điều tiết âm thanh sao cho tròn, vang, sáng, không thay đổi màu sắc âm thanh.
+ Ngân dài âm thanh bằng nguyên âm, rồi kết thúc từ bằng các loại ván mớ hoặc đóng.
+ Những chỗ luyến hai hoặc nhiều âm phải được hát bằng các nguyên âm + Hơi thờ phải được khống chế, giữ đều, liên tục trong quá trình hát, bụng không được xẹp xuống một cách đột ngột.
+ Kết thúc câu hát hoặc câu luyện thanh, hơi thở vẫn phải được tiếp tục khống chế cho đến lúc lấy tiếp một hơi thờ mới để hát câu tiếp theo.
+ Lúc đẩu nên tập từ những giai điệu đơn giản, quãng hẹp, những âm rải của điệu trường, điệu thứ, những bài hất có giai điệu ổn định, giàu chất trữ tình Dần dần mới đưa vào tập những bài tập phức tạp hơn.
c Bài luyện thanh tập hát liért tiếng
Trang 14mê mi
Trang 15Bài sô' 19, 20, 21, 22 là các bài tập hát liền tiếng cơ bản, phát triển dần từ cách luyến 2 âm, 3 âm, 4 âm với nhau Các bài tập này đòi hỏi phải giữ hơi liên tục, âm thanh ngân vang, liên kết với nhau trong sự chuyển động của giai điệu.
Bài số 22, 23 tập hát liền tiếng giữa các âm có trường độ khác nhau Cần tăng cường khống chế hơi để đủ ngân liên tục các âm có trường độ dài hơn ớ cuối câu Bài số 24 luyện hát liền tiếng giữa các âm có quãng nhảy xa (quãng 6), giữ hơi
đê ngân dài ờ một nốt rồi đi xuống nhanh theo giai điệu.
3.2 Phương pháp hát nhanh
a Khái niệm
Hát nhanh là cách hát những giai điệu có nhiều nốt (hoặc dấu lặng) với trường
độ ngắn, hoặc những bài hát có nhịp độ, tốc độ nhanh.
Tốc độ hát nhanh được sử dụng để thể hiện tình cảm vui, phấn khỏi, sói động, phấn khích, náo động Hát nhanh cũng có khi đế thể hiện tình cảm bi thương, kìm nén, hoặc dí dóm, hài hước.
Hát nhanh có khi được dùng để thể hiện ờ một phần, một đoạn cùa bài hát có hình thức âm nhạc hai, ba đoạn đơn, một chương trong tác phẩm thanh nhạc có cấu trúc hình thức phức tạp hơn, để diễn tả sự thay đổi vẻ tình cảm, tư tường, nội dung Đây là một kĩ thuật hát rất quan trọng trong nội dung môn hát Qua đó, sinh viên có được những hiểu biết nhất định về nghệ thuật thanh nhạc Sinh viên
Sư phạm Âm nhạc bắt buộc phải rèn luyện những kĩ năng hát cần thiết để có thể diễn đạt được nội dung, tư tướng, nghệ thuật, tình cảm phong phú, đa dạng trong các bài hát và để ứng dụng trong dạy học Ảm nhạc nói chung, dạy phán môn Hát,
tổ chức hoạt động ngoại khoá nói riêng ờ nhà trường Trung học cơ sờ sau này.
+ Khấc với cách hít hơi chủ yếu bằng mũi trong hát liền tiếng, khi hát nhanh
có thế hít hơi bằng cả mũi và một phẩn qua miệng.
+ Âm thanh linh hoạt, sáng, gọn, nhẹ nhàng.
Trang 16+ Hát nhấn mạnh hơn vào phách có trọng âm Các nốt còn lại trong chuôi ám thanh ỡ các phách nhẹ, hát lướt, nhỏ hơn thì âm thanh mới trỏi chảy, không vấp + Hát nhanh rất cẩn chú ý đảm bảo đúng nhịp độ, tránh kéo nhịp chậm lại, làm sai lệch tính chất âm nhạc trong bài hát.
+ Bước đầu, nén tập kĩ thuật hát nhanh bằng những bài tập luyện thanh đơn giản, với tốc độ vừa phải cho chính xác Sau khi đã học thuộc bài tập mới tâng dần tốc độ cho đến mức quy định.
c Bài luyện thanh tập hát nhanh
Bài số 25 yêu cầu bật môi nhanh, hàm cử động linh hoạt, nhẹ nhàng để hát từng
âm cho vang, sáng, ám thanh hướng về phía trước.
Bài số 26 yêu cáu luyến nhanh giữa hai âm, bật môi, lưỡi theo các từ mô, mu,
mi, ma.
Bài số 27, 28, 29, 30, 31 yêu cầu hít hơi nhanh, lấy ít hơi để có thể hát nhanh, nhẹ nhàng theo gam hoặc theo các quãng hai đi lên đi xuống Hát lướt nhanh, nhấn hơn vào đầu nhịp Hát với âm thanh trong sáng, trôi chảy.
Trang 17a a
m
m
1 a
-é- ^
nô mê
_^ 4
na ma
Trang 18Kĩ thuật hát nẩy tiếng giúp cho giọng hát linh hoạt, nhẹ nhàng, tạo điểu kiện
mờ rộng âm vực giọng, phát triển giọng hát Hát nẩy tiếng còn là biện pháp đe khắc phục các cô' tật như giọng mũi, giọng cổ, hát sâu, hát gàn tiếng.
b Phương pháp hát nẩy tiếng
+ Khi hát âm nẩy, hàm dưới buông lòng, môi hơi nhếch lẽn, dể lộ hàm răng trên như cười Càng hát lên cao miệng càng mở rộng.
+ Hơi thở hít vào không nhiều, tự nhiên như lấy hơi trong lúc nói.
+ Sau khi lấy hơi vào, phải nén liên tục Khi hát, đẩy hơi ra gọn, chắc, trong sự khống chế của cơ hoành cách Cần phải giữ cho bụng tương đối ổn định, mém mại,
để có thể tiếp tục nén hơi chặt sau từng âm.
+ Âm thanh phát ra phải rất gọn, sắc, linh hoạt, nhẹ nhàng, rõ ràng từng ám một + Không hét to, tống hơi ra ổ ạt.
c Bài luyện thanh tập hát nẩy tiếng
Trang 19Bài số 33, 34, 35, 36 hát lấy đà bằng chuỗi bốn móc kép để bật vào các âm nẩy
đi lên đi xuống theo gam, theo âm rải Hát ngắt gọn từng âm.
Bài số 37, 38, 39 luyện hát âm nẩy, khó dần và mở rộng dần trong quãng 5, quãng 6, quãng 8 Yêu cầu hất nhẹ nhàng, miệng mở rộng, tươi như cười, hơi nén chặt, âm thanh gọn, sắc Nên áp dụng cho giọng nữ.
Trang 20§4 THỰC HÀNH THỂ HIỆN BÀI HÁT
4.1 Chuẩn bị thể hiện bài hát
Trước khi lên lớp tập thể hiện bài hát, sinh viên cẩn phải tự chuẩn bị một số việc sau:
• Hát trôi chảy theo đúng cao độ và trường độ quy định trong bài.
• Xấc định ý nghĩa, nội dung, tính chất và phong cách thể loại của bài hát.
• Tim hiểu cấu trúc hình thức bài hất (một đoạn hay hai đoạn, có mấy câu ).
• Xác định chỗ lấy hơi, ngắt hơi Nếu cáu nhạc dài, có thể chia nhó lấy hơi theo từng ý của lời ca cho đú nghĩa, phù hợp với ý nhạc.
• Dự kiến cách trình bày bài hát: hát mấy lần, nhắc lại phẩn nào, kết thúc thế nào, bài hát có cao trào ở chỗ nào, ngân tự do ờ đâu, thể hiện sắc thái tình cảm to nhò ờ từng chỗ, từng câu; lựa chọn tư thế trình bày bài hát: các động tác, nét mặt, diễn cảm phù hợp với tính chất âm nhạc và phong cách bài hát
Trang 21lên lá cờ hoà bình ' cờ của ta.
Bài hát Tiếng chuông vù ngọn cờ có cấu trúc hai đoạn đơn tương phản, không
tái hiện.
Đoạn a gồm hai câu nhạc cân phương, mỗi câu 8 nhịp Đoạn a được xây dựng
ờ giọng Rê thứ tự nhiên với ám hình tiết tấu ổn định, đều dặn, mô tả nhịp đi Câu một bắt đầu bài hát bằng đường nét giai điệu bình dị mà đằm thắm, mang tính ca ngợi Câu hai nhắc lại àm hình tiết tấu của câu một, phát triển giai điệu, thể hiện niềm tin, tự hàn.
Trang 22Đoạn b bắt đầu sự tương phản rõ rệt với đoạn a bằng sự thav đổi điệu tính sang
Rê trưởng Sự thay đổi ám hình tiết tấu làm đường nét giai điệu ngắt ra, thể hiện niềm hân hoan, không khí nhộn nhịp Đoạn b có hai câu nhạc cân phương, mỗi câu
8 nhịp Câu hai nhắc lại câu một, thay đổi chút ít rồi kết hoàn toàn dắy đủ ớ giọng
Rẽ trướng.
Đáy là một ca khúc điển hình của thể loại hành khúc.
Lời ca thể hiện tinh thần gắn bó, đoàn kết cùa thiếu niên toàn thế giới, phản đối chiến tranh, mong ước hoà bình cho mọi dân tộc.
• Hướng dẫn thực hành luyện tập
+ Lấy hơi sau mỗi tiết nhạc, câu nhạc theo dấu V ở các nhịp thứ 4, 8, 12, 16.
20, 24, 28, 32.
+ Hơi thờ đẩy ra đều đặn, chú ý đẩy hơi mạnh hơn ở các ám cao.
+ Đoạn a hát theo nhịp hành khúc, nhấn mạnh các từ ò đầu nhịp, thể hiện tình cảm tha thiết, tự hào.
+ Đoạn b hát ngắt tiếng, nhấn nhẹ nhàng, thể hiện niềm hân hoan, rộn ràng + Tư thế hát chững chạc, tự hào.
+ Bài hát có thể trình bày hai lần, từ đầu đến cuối.
Bối 15: TIẾNG HÁT HOÀ BÌNH
Nhanh vui
Nhạc và lời: HOÀNG VÂN
Trên cao xanh tung bay ngọn cờ hoà bình Bước tiếp
Ệ j l J J|à>
Trang 23tinh tung bay cánh chim bổ câu Cùng
tráng dâng lên tiếng bom phải câm Cất tiếng
I J- ^ ¿Ịj> ý J.,jl s i J)
hát đấu tranh vì hoà bình Cất tiếng hát đấu tranh vì hoà binh.
Bài hát Tiếng hút lioà bình là một bài hành khúc viết ở giọng Đó trưởng Bài
hát có cấu trúc hình thức hai đoạn đơn tái hiện.
Đoạn a gồm hai câu nhạc, kết cấu cân phương theo kiểu nhắc lại, mỗi câu
4 nhịp Câu một là nét giai điệu đi xuống theo các bước lẳn, thể hiện sức mạnh, vững vàng Câu hai tiếp tục chù đề âm nhạc bằng giai điệu đi lên theo bước lần, cắt nhỏ câu nhạc bằng cách dùng đảo phách, gây cảm giác nhấn mạnh như muốn khẳng định Đoạn a kết thúc bằng cách li điệu sang giọng Son trường.
Đoạn b tương phản với đoạn a bằng giai điệu vui, ca ngợi, tin tưởng ớ cảu một Câu hai nhắc lại nguyên dạng câu một, cãu ba tái hiện chù để âm nhạc cùa câu một trong đoạn a, nhưng di vị lên một quãng 4, có tính chất tổng kết toàn bài Bài hát kêu gọi đoàn kết, phản đối chiến tranh, thể hiện niềm tin vào cuộc đấu tranh vì hoà bình cho toàn thế giới.
Trang 24• Hướng dẵn thực hành luyện tập
+ Lấy hơi đúng quy định theo dấu V ở các nhịp thứ 2, 4, 8, 10, 12, 14.
+ Ngắt hơi, hít nhanh rất ít hơi theo dấu ’ ờ các nhịp thứ 5, 6.
+ Câu một đoạn a hát nhấn đáu nhịp với ám thanh trầm hùng, chú ý ngân đù các từ có trường độ nốt đen, nốt trắng chấm dôi.
+ Câu hai đoạn a hát nhấn, mạnh dần lên theo từng tiết nhạc cho đến cuối câu, giữ hơi để ngán đủ trường độ nốt trắng chấm dôi cuối cáu.
+ Đoạn b cần đẩv hơi mạnh hơn, hát với âm thanh sáng, ngân vang.
+ Cần chú ý hát chính xác những chỗ có đảo phách trong bài ờ các nhíp thứ 5,
+ Bài hát có thể trình bày hai lẩn từ đẩu đến cuối.
Bồi 16: NỔI VÒNG TAY LÓN
Nhạc và lời: TRINH CÔNG SƠN
Trang 25người trong ngày mới Thành phố
cười nờ trên môi Từ
Nổi vònỵ tay lớìì là một bài hát hành khúc, được viết ờ giọng Mi thứ Bài hát
có cấu trúc hình thức ba đoạn đơn.
Đoạn một (a) có hai câu nhạc Câu một dài 9 nhịp với hai tiết nhạc, giai điệu rộng rãi, phóng khoáng và gợi cảm Câu hai dài 13 nhịp, phất triển ý nhạc của câu một bằng giai điệu trầm bổng, thắm thiết Tiết tấu âm nhạc trong đoạn a mô phỏng tiết tấu giọng nói, tạo ra sự phong phú rất hợp lí.
Trang 26Đoạn hai (b) có hai câu nhạc kết cấu nhắc lại có thay đổi chút ít Cáu một
6 nhịp, câu hai 7 nhịp Âm nhạc trong đoạn b là những sóng nhạc đi xuống dần trên một ám hình tiết tấu lặp lại nhiều lần tạo ra không khí sôi nổi, dồn dập tương phản
+ Đoạn a hát nhấn đầu nhịp, trải rộng ầm thanh theo làn sóng giai điệu.
Âm thanh sáng, mạnh mẽ, ngân dài đù trường độ Thờ sáu, có khống chế, đấy hơi mạnh.
+ Đoạn b hát nhấn mạnh hơn vào đầu nhịp, vào đầu các sóng giai điệu trong mỗi tiết nhạc, hát nảy tiếng và lướt đi xuống dần.
+ Chú ý thể hiện rõ những từ có luyến, có móc giật, ngân đủ các từ có trường
độ nốt trắng nối sang nốt đen cuối các câu nhạc.
+ Thể hiện tình cảm trong sáng, tin tưởng và rộng mờ.
+ Bài hát có thể trình bày một lần từ đầu đến cuối Có thể trình bàv nhiều lán với phẩn hát lĩnh xướng ở đoạn a Có thể kết hợp hát và múa tập thể theo vòng tròn.
Trang 27tiếng sơn ca dâng cho đời khúc hát mê say ơi sơn
ca hỡi sơn ca Em cũng gọi được như sơn ca gọi ánh trăng
câu rợp khắp thế gian bằng tiếng hát mê say của em.
Khúc hát chim SƠ ÌI ca là một ca khúc thiếu nhi trư tình Bài hát được viết ở giọng Mi thứ, với cấu trúc hình thức hai đoạn đơn không tái hiện.
Đoạn a gồm hai câu nhạc, mỗi câu 8 nhịp Càu một là một nét giai điệu tiến hành theo các buóc lẩn từ trên đi xuống theo kiểu bậc thang Âm hình tiết tấu đảo