1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận tn cơ sở khoa học của quan điểm đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong văn kiện đại hội xiii của đảng ý nghĩa đối với cán bộ chính trị trong quân đội nhân

34 18 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở khoa học của quan điểm đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Ý nghĩa đối với cán bộ chính trị trong Quân đội Nhân dân Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Văn Ngàn
Trường học Trường QSQK7
Chuyên ngành Triết học
Thể loại tiểu luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 87,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là biểu hiện của mối quan hệ giữa hai lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, đó là lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực chính trị. Nhận thức và giải quyết đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là vấn đề có ý nghĩa quyết định chiều hướng, nội dung, nhịp độ, hiệu quả và mức độ bền vững của sự phát triển đất nước. Xuất phát từ nhận thức và tư duy đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước vận dụng đúng đắn và giải quyết sáng tạo mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình đổi mới, nhờ đó cách mạng nước ta đã thu được những thành tựu to lớn. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta, cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả. Tuyệt đối không được cực đoan, phiến diện. Trong những mối quan hệ ấy, thì quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, suy cho cùng là mối quan hệ giữ vai trò quan trọng hàng đầu. Bởi lẽ, đây là hai lĩnh vực cốt lõi của chế độ xã hội. Để góp phần nghiên cứu, làm rõ quan điểm của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta, tác giả chọn vấn đề: “Cơ sở khoa học của quan điểm đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Ý nghĩa đối với cán bộ chính trị trong Quân đội Nhân dân Việt Nam hiện nay” để làm tiểu luận tốt nghiệp.

Trang 1

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP

Chủ đề: Cơ sở khoa học của quan điểm đổi mới kinh

tế và đổi mới chính trị trong văn kiện Đại hội XIII

của Đảng Ý nghĩa đối với cán bộ chính trị trong

Quân đội Nhân dân Việt Nam hiện nay.

Trang 2

1 Bản chất mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị 3

2 Quan điểm mácxít về mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị 6

II. QUAN ĐIỂM XUYÊN SUỐT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

1. Nhận thức của Đảng cộng sản Việt Nam về đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay 8

2. Một số vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay 16

III.

TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN ĐỘI TRONG THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG VỀ ĐỔI MỚI KINH TẾ KẾT HỢP ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ.

21

2 Trách nhiệm của cán bộ chính trị các cấp trong Quân đội 24

Trang 3

MỞ ĐẦU

Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là biểu hiện của mốiquan hệ giữa hai lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, đó là lĩnh vực kinh tế vàlĩnh vực chính trị Nhận thức và giải quyết đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữađổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là vấn đề có ý nghĩa quyết định chiềuhướng, nội dung, nhịp độ, hiệu quả và mức độ bền vững của sự phát triển đấtnước Xuất phát từ nhận thức và tư duy đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đãtừng bước vận dụng đúng đắn và giải quyết sáng tạo mối quan hệ giữa kinh tế vàchính trị trong quá trình đổi mới, nhờ đó cách mạng nước ta đã thu được nhữngthành tựu to lớn

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, cầntiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ giữa ổn định, đổi mới và pháttriển, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị Đó là những mối quan hệ lớn,phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi vềđường lối đổi mới của Đảng ta, cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và pháttriển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng

và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả Tuyệt đối khôngđược cực đoan, phiến diện Trong những mối quan hệ ấy, thì quan hệ giữa đổimới kinh tế và đổi mới chính trị, suy cho cùng là mối quan hệ giữ vai trò quantrọng hàng đầu Bởi lẽ, đây là hai lĩnh vực cốt lõi của chế độ xã hội

Để góp phần nghiên cứu, làm rõ quan điểm của Đảng về giải quyết mốiquan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta, tác giả chọn vấn đề:

“Cơ sở khoa học của quan điểm đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng Ý nghĩa đối với cán bộ chính trị trong Quân đội Nhân dân Việt Nam hiện nay” để làm tiểu luận tốt nghiệp.

Trang 4

NỘI DUNG

I BẢN CHẤT, MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA KINH TẾ VỚI CHÍNH TRỊ

1 Bản chất mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị

Lý luận hình thái kinh tế - xã hội là một lý luận khoa học Nó đem lại choloài người phương pháp xem xét thật sự khoa học để phân tích và nhận thức cáchiện tượng trong đời sống xã hội, để từ đó vạch ra phương hướng và giải phápđúng đắn cho hoạt động thực tiễn Lý luận đó đã được Đảng ta vận dụng mộtcách sáng tạo trong điều kiện cụ thể của đất nước, vạch ra đường lối đúng đắncho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó có vận dụng sáng tạo quyluật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầngtrong giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị

Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúcthượng tầng là cơ sở khoa học cho việc nhận thức một cách đúng đắn mối quan

hệ giữa kinh tế và chính trị Kinh tế và chính trị tác động biện chứng trong đókinh tế quyết định chính trị, chính trị tác động trở lại to lớn, mạnh mẽ đối vớikinh tế Quan hệ kinh tế quyết định địa vị kinh tế của các giai cấp khác nhau.Giai cấp thống trị về kinh tế sẽ thống trị về chính trị Lợi ích kinh tế xét đếncùng sẽ là nguyên nhân của những hành động chính trị Tính tất yếu kinh tế sẽquyết định tư tưởng chính trị và tổ chức chính trị tương ứng Sự vận động, biếnđổi của các quan hệ kinh tế sẽ quyết định sự thay đổi ít nhiều nhanh chóng của

tổ chức chính trị - xã hội Giai cấp nào thống trị về chính trị xét đến cùng phảihoàn thành nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực kinh tế

Mặt khác, giai cấp thống trị xã hội phải có lập trường chính trị, tư tưởngchính trị đúng mới hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo trong lĩnh vực kinh tế Mọibiến đổi trong chế độ kinh tế phải thông qua kiến trúc thượng tầng về chính trị,thông qua đường lối, quan điểm của đảng cầm quyền, của giai cấp thống trị,chính sách, pháp luật của nhà nước Lợi ích trọng yếu của giai cấp chính trịđược thỏa mãn

Trang 5

bằng cuộc cách mạng căn bản về chính trị Thực chất vai trò của kiến trúcthượng tầng là vai trò hoạt động tự giác tích cực của các giai cấp, đảng phái vìlợi ích kinh tế sống còn của mình Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với

cơ sở hạ tầng trước hết và chủ yếu thông qua đường lối, chính sách của đảng,nhà nước V.I.Lênin viết: “Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôngiáo, văn học, nghệ thuật v.v đều dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế Nhưng tất

cả chúng cũng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế”

Kinh tế là hoạt động xã hội tạo ra của cải vật chất; là toàn bộ phương thứcsản xuất và trao đổi của một chế độ xã hội; là tổng hòa các quan hệ sản xuất dựatrên một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, tạo nên kết cấu kinh tế củachế độ xã hội Nói đến kinh tế là nói đến lợi ích kinh tế, hiệu quả kinh tế và sựphát triển của lực lượng sản xuất gắn liền với mỗi thành viên tham gia quá trìnhsản xuất và tái sản xuất, cũng như lợi ích của mỗi tập đoàn, giai cấp và nhómtrong xã hội

Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các nhóm xã hội, trướchết là giai cấp, cũng như giữa các dân tộc và các nhà nước Cái quan trọng nhấtcủa chính trị là chính quyền nhà nước, sự tham gia vào công việc nhà nước, việcquy định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước Nói đếnchính trị là nói đến việc giành, giữ, thực thi quyền lực nhà nước; quyền quản lýcác quá trình kinh tế - xã hội; quyền tác động, chi phối, thống trị của giai cấp đốivới toàn bộ xã hội

Cả kinh tế lẫn chính trị đều là những lĩnh vực của đời sống xã hội nên giữachúng tồn tại một cách tự nhiên mối quan hệ hữu cơ, biện chứng Kinh tế cótrước, ngay từ buổi sơ khai của lịch sử loài người Chính trị có sau, bắt nguồn từkinh tế, ra đời từ chế độ chiếm hữu tư nhân và khi có sự phân hóa giai cấp trong

xã hội Giai cấp nào chiếm hữu tư liệu sản xuất thì giai cấp đó sẽ trở thành giaicấp thống trị, giai cấp cầm quyền Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệthống chính trị là biểu hiện của mối quan hệ giữa hai lĩnh vực cơ bản của đờisống xã hội, đó là lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực chính trị; liên quan mật thiết đến

Trang 6

mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; giữa cái khách quan vàcái chủ quan; giữa

Trang 7

cái tất yếu và cái có thể… Về mặt lịch sử - thực tiễn, do xử lý không đúng mốiquan hệ này, nên cải tổ, cải cách đã đẩy Liên Xô trước đây và các nước xã hộichủ nghĩa ở Đông Âu từ khủng hoảng tới rối loại và thất bại vào cuối thế kỷ XX.

Do vậy, nhất thiết phải nắm vững biện chứng giữa kinh tế và chính trị, nâng caotrình độ tư duy lý luận; đồng thời, phải sâu sát thực tiễn, biết phân tích cụ thểtừng tình hình, cụ thể mà công cuộc đổi mới, phát triển đất nước tạo ra

Phép biện chứng duy vật đã chỉ rõ rằng, kinh tế là yếu tố quyết định cuốicùng đối với chính trị và chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, là kinh tế côđọng lại Trong mỗi thời đại lịch sử, sự vận động của các chế độ chính trị - xãhội, suy cho cùng, đều phụ thuộc vào sự vận động của chế độ kinh tế - xã hội,trong đó phương thức sản xuất có vai trò, vị trí hàng đầu Mặt khác, các nhà kinhđiển cũng sớm cảnh báo, điều đó không hoàn toàn có nghĩa rằng kinh tế là yếu

tố duy nhất chủ động, còn mọi thứ khác chỉ có tác dụng thụ động Chính trị cũngnhư các nhân tố khác của kiến trúc thượng tầng và của ý thức xã hội có sự độclập, tương đối và tác động trở lại đối với kinh tế Dưới sự tác động của chính trị,kinh tế có thể được thúc đẩy hoặc bị kìm hãm, hoặc vừa thúc đẩy, vừa kìm hãm

Vai trò quyết định của kinh tế là điều hoàn toàn không thể bác bỏ, nhưngquan trọng hơn cần nhận thức nhất quán lại sự quyết định ấy không bao giờ diễn

ra một cách trực tiếp, đơn tuyến từ kinh tế đến chính trị; mà phải thông quanhiều tầng nấc, khâu trung gian như: văn hóa, xã hội, tư tưởng… bị khúc xạnhiều lần và phải thông qua thực tiễn hoạt động của con người Như thực tế đãchứng minh, không phải ở đâu có đa nguyên kinh tế là tất yếu có đa nguyênchính trị; không phải ở đâu có tự do kinh tế là tự nhiên sẽ có nền chính trị dânchủ… trên cơ sở tổng kết lịch sử chính trị thế giới, V.I.Lênin đã có kết luận xácđáng rằng chính trị không thể không chiếm vị hàng đầu so với kinh tế; rằng chínhtrị bao giờ cũng được ưu tiên hơn so với kinh tế

Trong nhận thức và thực tiễn nếu tách rời hoặc tuyệt đối hóa một yếu tốnào giữa kinh tế và chính trị đều là sai lầm Tuyệt đối hóa kinh tế, hạ thấp hoặcphủ nhận yếu tố chính trị là rơi vào quan điểm duy vật tầm thường, duy vật kinh

Trang 8

tế Trong thực tiễn sẽ dẫn đến vô chính phủ, bất chấp kỷ cương, pháp luật vàkhông tránh khỏi thất bại, đổ vỡ Nếu tuyệt đối hóa về chính trị, hạ thấp hoặcphủ định vai trò của kinh tế sẽ dẫn đến duy tâm, duy ý chí, nôn nóng, chủ quan,đốt cháy giai đoạn và tất yếu không tránh khỏi thất bại Chính vì vậy, trong quátrình phát triển kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, phải không ngừng đổi mới hệthống chính trị, nâng cao vai trò và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; nâng cao vai trò của các

tổ chức quần chúng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

2 Quan điểm mácxít về mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị

2.1 Chính trị phụ thuộc vào cơ sở kinh tế

Chính trị là một phạm trù tư tưởng thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội

Mà theo lý luận triết học Mác xít thì: Vật chất quyết định ý thức, cơ sở hạ tầngquyết định kiến trúc thượng tầng Vì vậy chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng: Tưtưởng chính trị sinh ra trên cơ sở kinh tế được quy định bởi cơ sở kinh tế Sựphụ thuộc của chính trị vào cơ sở kinh tế được biểu hiện ở những điểm sau:

Chính trị chỉ phát sinh trên cơ sở nền kinh tế đã phát triển đến một trình

độ nhất định Điều này quá rõ khi ta nghiên cứu sự ra đời của chính trị Trình độkinh tế yếu kém của chế độ cộng sản nguyên thuỷ đã không thể phát sinh vấn đềchính trị Chỉ từ khi xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất trong xã hội và

sự phân chia xã hội thành giai cấp thì nhà nước cùng những vấn đề chính trị mớibắt đầu xuất hiện Sự xuất hiện chế độ tư hữu trong xã hội đã đánh dấu một bướcphát triển rõ rệt của trình độ phát triển kinh tế Chính trị là phương tiện để thựchiện mục đích kinh tế

Chính trị phát triển theo sự phát triển của kinh tế Sự thay đổi của cơ sởkinh tế sớm hay muộn cũng dẫn đến sự thay đổi của chính trị Nội dung củachính trị do cơ sở kinh tế quyết định Chế độ kinh tế là cơ sở của chế độ chính trị

Trang 9

Chính trị không thể thấp hơn trình độ phát triển của kinh tế Chế độ chính trịphản ánh trình độ phát triển của kinh tế.

Trong xã hội có giai cấp, giai cấp giữ vị trí thống trị về kinh tế thì cũngchiếm địa vị thống trị về mặt chính trị và đời sống tinh thần của xã hội Các mâuthuẫn trong kinh tế, xét đến cùng, quyết định các mâu thuẫn trong lĩnh vực chínhtrị Đấu tranh giai cấp, thực chất là đấu tranh vì lợi ích kinh tế, điều đó đượcthực hiện thông qua cuộc đấu tranh chính trị Theo Ph.Ănghen, bất cứ cuộc đấutranh giai cấp nào cũng đều là cuộc đấu tranh chính trị, xét đến cùng đều xoayquanh vấn đề giải phóng về kinh tế Bất kỳ một giai cấp nào cầm quyền cũnghướng nền kinh tế của mình phát triển theo lập trường chính trị với mục đíchphục vụ cho mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định

2.2 Chính trị tác động to lớn trở lại cơ sở kinh tế

Mặc dù phụ thuộc vào kinh tế song chính trị cũng có tính độc lập tươngđối ở chỗ: chính trị không phản ánh thụ động các quan hệ kinh tế, mà còn tácđộng ngược trở lại đối với kinh tế theo hai chiều hướng: tích cực và tiêu cực.Chính trị tác động một cách tích cực vào cơ sở kinh tế khi nội dung của các tưtuởng, quan điểm chính trị phản ánh đúng, đầy đủ điều kiện khách quan của cơ

sở kinh tế và sự phát triển kinh tế Khi đó chính trị góp phần thúc đẩy làm chokinh tế phát triển với tốc độ nhanh, vững chắc Điều này chúng ta dễ dàng nhậnthấy tốc độ phát triển của Việt Nam từ khi Đảng ta nhận thức đúng quy luậtvận động khách quan của các quy luật kinh tế, từ đó đã có sự đổi mới tư duychính trị trên lĩnh vực kinh tế Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa không thể ra đời nếu tư duy về nền kinh tế hiện vật mang nặng tính tựcung tự cấp khép kín, quan liêu, bao cấp,… không bị phê phán, không bị loạibỏ; nếu tư duy chính trị không chấp nhận có tư duy hợp hữu cơ giữa quá trình

đi lên chủ nghĩa xã hội với tính tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 10

Chính trị tác động một cách tiêu cực vào cơ sở kinh tế khi hệ thống chínhtrị có quan điểm, tư tưởng thể hiện ý chí của giai cấp thống trị đã lỗi thời muốnduy trì quan hệ kinh tế đã lạc hậu không còn phù hợp nữa Do đó dẫn đến tìnhtrạng kinh tế đã phát triển vượt xa nhưng chính trị vẫn không thay đổi Chính trịlúc này sẽ kìm hãm sự phát triển của kinh tế V.I.Lênin đã khẳng định: “Nếu nhưkhông có một lập trường chính trị đúng đắn thì giai cấp nhất định nào đó khôngthể giữ vững được sự thống trị của mình Do đó cũng không thể nào hoàn thànhnhiệm vụ của mình trong sản xuất” Khi thể chế chính trị không phù hợp với yêucầu phát triển của kinh tế thì tất yếu dẫn đến sự sụp đổ của nền kinh tế đó Khi

đó, việc thay đổi thể chế chính trị sao cho phù hợp với yêu cầu phát triển củanền kinh tế đó chính là điều kiện quyết định để thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Như vậy, quan hệ giữa chính trị và kinh tế là mối quan hệ biện chứngtrong đó kinh tế là gốc của chính trị, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế.Đây là cơ sở phương pháp luận quan trọng trong việc nhận thức xã hội nóichung và nhận thức công cuộc đổi mới ở Việt Nam ta nói riêng

II QUAN ĐIỂM XUYÊN SUỐT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ

1 Nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay

Kinh tế và chính trị là hai lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, là sự thểhiện tập trung nhất mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúcthượng tầng Vì lẽ đó, việc nhận thức và vận dụng quy luật về mối quan hệ biệnchứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng vào giải quyết mối quan hệgiữa đổi mới kinh tế và chính trị là nội dung cốt lõi nhất, quan điểm cơ bản nhấtcủa đường lối đổi mới của Đảng ta Trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm,đồng thời từng bước đổi mới chính trị trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị nghiêmtúc, không cho phép gây mất ổn định chính trị

Trang 11

Sau hơn 35 năm đổi mới cho thấy, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế vàđổi mới chính trị được Đảng ta đặc biệt quan tâm nhận thức và giải quyết đúngđắn, phù hợp với từng giai đoạn cách mạng Việc nhận thức và giải quyết đúngđắn mối quan hệ này cũng là khâu đột phá trong đổi mới tư duy và thực tiễn lãnhđạo sự nghiệp đổi mới của Đảng.

Hiện nay có những quan điểm xuyên tạc, bóp méo hay cố tình phủ địnhnhững thành công của Đảng trong nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổimới kinh tế và đổi mới chính trị Để bác bỏ những luận điểm này, chúng ta cầnchỉ rõ những thành công cụ thể của Đảng trong nhận thức và giải quyết mốiquan hệ này trong quá trình đổi mới

Điều quan trọng đầu tiên là “Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xãhội chủ nghĩa mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng nhữngquan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, những hình thức, bước đi và biện phápthích hợp” Trên cơ sở nhận thức đúng đắn này, Đảng từng bước hoàn thiệnnhận thức về đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị Theo đó, “đổi mới kinh tế” làquá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung, bao cấp, chủ yếu dựa trênchế độ sở hữu toàn dân và tập thể sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, sự lãnh đạo củaĐảng theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN); là bước chuyển từ nền kinh tế

cơ bản là “khép kín” sang nền kinh tế “mở”, hội nhập, kết hợp tăng trưởng kinh

tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trườngsinh thái “Đổi mới chính trị” là đổi mới tư duy chính trị về chủ nghĩa xãhội (CNXH) và con đường đi lên CNXH; đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế vậnhành của hệ thống chính trị, trước hết là đổi mới phương thức lãnh đạo củaĐảng; đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước XHCN nhằm giữ vững

ổn định chính trị để xây dựng chế độ XHCN ngày càng vững mạnh; thực hiệntốt nền dân chủ XHCN nhằm phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân doĐảng lãnh đạo Ngay từ Hội nghị Trung ương VI khóa VI (3/1989), Đảng ta đãkhẳng định “Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị

Trang 12

không phải là hạ thấp hoặc thay đổi bản chất của nó, mà là nhằm tăng cường vaitrò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ

của nhân dân, có nghĩa là tăng cường sức mạnh và hiệu lực của chuyên chính vô

sản; là làm cho các tổ chức trong hệ thống chính trị hoạt động năng động hơn,

có hiệu quả hơn”; đồng thời nhấn mạnh “Trong quá trình mở rộng dân chủ phảingăn ngừa đấu tranh khắc phục khuynh hướng dân chủ hình thức, dân chủ cựcđoan, dân chủ tư sản, phải tỉnh táo, đấu tranh chống lại những lực lượng lợidụng việc mở rộng dân chủ để chống chế độ ta Phải lắng nghe ý kiến rộng rãicủa nhân dân, nhưng không “theo đuôi” quần chúng” Đây là những nguyêntắc chỉ đạo rất quan trọng, làm tiền đề để Đảng nhận thức và giải quyết tốt quan

hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong suốt quá trình đổi mới

Đảng ta hiểu rất rõ rằng không thể tiến hành đổi mới chính trị một cáchvội vã khi chưa đủ căn cứ, mở rộng dân chủ không có giới hạn, không có mụctiêu cụ thể và không đi đôi với tập trung thì dẫn đến sự mất ổn định về chính trị,gây thiệt hại cho sự nghiệp đổi mới Cho nên, ngay từ khi mới bắt đầu quá trìnhđổi mới, Đảng xác định ổn định kinh tế “không phải là hạn chế các hoạt độngkinh tế, mà là một quá trình vận động tiến lên, vừa phát triển, vừa điều chỉnh cácquan hệ tỷ lệ của nền kinh tế quốc dân” Còn ổn định chính trị không có nghĩa làbảo thủ, trì trệ, ngược lại nó có vai trò quan trọng bảo đảm điều kiện cho cáclĩnh vực khác như kinh tế, văn hóa, xã hội được đổi mới, phát triển, làm cho quátrình đổi mới trở nên toàn diện hơn, bền vững hơn Ổn định chính trị cũng đồngthời góp phần tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lýcủa Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân “Ổn định và phát triển gắnliền với nhau trong quá trình vận động tiến lên, ổn định để phát triển và có pháttriển mới ổn định được”

Như cách cải tổ của Liên Xô thất bại có nhiều nguyên nhân nhưng nguyênnhân sâu xa là Đảng Cộng sản Liên Xô đã nhận thức và giải quyết không đúngmối quan hệ giữa cải tổ kinh tế và cải tổ chính trị M.Goocbachốp đã tuyệt đổihóa cải tổ chính trị, không chú ý đúng mức tới cải tổ kinh tế, không lấy cải tổ

Trang 13

kinh tế làm căn cứ, cơ sở cho cải tổ chính trị, trong cải tổ chính trị thì giải quyếtkhông đúng quan hệ giữa giai cấp và nhân loại, tuyệt đối hóa cái nhân loại, đánhgiá không đúng cái giai cấp trong quan hệ với cái nhân loại Rút ra kinh nghiệm

từ những sai lầm vô nguyên tắc của Đảng Cộng sản Liên Xô trong cải tổ, ngay

từ khi bắt đầu tiến hành đổi mới, Đảng ta đã nhận thức rõ trước hết cần tập trungđổi mới kinh tế, trên cơ sở đó từng bước đổi mới chính trị

Đại hội VI (1986) diễn ra trong bối cảnh có sự “giảm sút của của sản xuấtvào những năm 70 cùng với những sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế, nhất là bốtrí đầu tư và xây dựng cơ bản của những năm 1976 - 1980, để lại hậu quả nặngnề”, đời sống kinh tế của nhân dân vô cùng khó khăn Trong bối cảnh ấy, Đạihội đã đề ra nhiệm vụ tập trung vào đổi mới kinh tế, cụ thể là “phải thực hiệnnhững biện pháp có hiệu quả để nhanh chóng ổn định tình hình kinh tế - xã hội,đưa mọi mặt hoạt động vào quỹ đạo phát triển bình thường và tiến hành nhữngcuộc cải cách về tổ chức, quản lý, thiết lập cơ cấu sản xuất và cơ chế quản lýkinh tế - xã hội” Từ mục đích này, Đại hội tập trung vào thực hiện ba chươngtrình kinh tế lớn là: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu

để ổn định và cải thiện đời sống của nhân dân Trên cơ sở đó, Đại hội đề ranhiệm vụ đổi mới chính trị mà trước hết tập trung vào phát huy quyền làm chủtập thể của nhân dân lao động, nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước xã hộichủ nghĩa, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng

Tiếp thu tinh thần của Đại hội VI, Đại hội VII (1991) xác định rất đúng

“Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trung làm tốt đổi

mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm

và các nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xãhội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vựcchính trị Đồng thời với đổi mới kinh tế phải từng bước đổi mới tổ chức vàphương thức hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy ngày càng tốt quyền làmchủ và năng lực sáng tạo của nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội” Đặc biệt, Đại hội rút ra bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu cho

Trang 14

việc đổi mới chính trị trong quan hệ với đổi mới kinh tế: “Vì chính trị đúngchạm đến các mối quan hệ đặc biệt phức tạp và nhạy cảm trong xã hội nên việcđổi mới trong hệ thống chính trị nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn

bị rất nghiêm túc, không cho phép gây mất ổn định chính trị, dẫn đến sự rối loạn.Nhưng không vì vậy mà tiến hành chậm trễ đổi mới hệ thống chính trị, nhất là

về tổ chức bộ máy và cán bộ, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thểnhân dân, bởi đó là điều kiện để thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và thực hiệndân chủ” Đây vừa là bài học kinh nghiệm quý báu, vừa là nguyên tắc quantrọng mà Đảng ta quán triệt trong suốt quá trình đổi mới

Tổng kết 10 thực hiện sự nghiệp đổi mới, Đại hội VIII (1996) tiếp tụckhẳng định bài học: xác định rõ đổi mới không phải là thay đổi mụctiêu XHCN mà là quan niệm đúng đắn hơn về CNXH và thực hiện mục tiêu ấybằng những hình thức, bước đi và biện pháp phù hợp Đổi mới phải được thựchiện trên cơ sở bảo vệ, kế thừa và phát huy truyền thống quý báu của dân tộc vànhững thành tựu cách mạng đã đạt được Phê phán nghiêm túc sai lầm, khuyếtđiểm phải đi đôi với khẳng định những việc làm đúng, không phủ nhận sạch trơnquá khứ, không hoang mang, mất phương hướng, từ thái cực này chuyển sangthái cực khác” Trên tinh thần lập trường, quan điểm này, Đại hội tiếp tục khẳngđịnh “Kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mớikinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị” tập trung trước hếtvào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục những khủnghoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững

ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi đểđổi mới các mặt khác của đời sống xã hội Đây là nhận thức đúng cả về mặt lýluận cả về mặt thực tiễn

Tại Đại hội IX (2001), Đảng rút ra bài học kinh nghiệm tiến hành đổi mớiphải xuất phát từ thực tiễn và cuộc sống của xã hội Việt Nam, tham khảo kinhnghiệm tốt của thế giới, không sao chép bất cứ mô hình có sẵn nào, đổi mới toàndiện, đồng bộ, triệt để với những bước đi, hình thức và cách làm phù hợp Trên

Trang 15

cơ sở đó, Đại hội chính thức bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tưtưởng của Đảng, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng lànhiệm vụ then chốt; coi kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tếtổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH; xác định quá độ bỏ quachế độ tư bản chủ nghĩa; đề ra nhiệm vụ xây dựng nhà nước phápquyền XHCN do Đảng lãnh đạo; phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương,tăng cường pháp chế.

Tiếp tục tinh thần các đại hội trước, Đại hội X (2006) rút ra bài học “đổimới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp.Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị,văn hóa, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnhđạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng bộ phậncủa hệ thống chính trị Đổi mới tất cả các mặt của đời sống xã hội nhưng phải cótrọng tâm, trọng điểm, có những bước đi thích hợp; bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ

và đồng bộ giữa ba nhiệm vụ: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng làthen chốt và phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội”

Tại Đại hội XI (2011), Đảng đưa ra quan điểm “Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng,xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng

và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương” Như vậy, về đổi mới

kinh tế, Đại hội XI tập trung vào đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường

định hướng XHCN Về đổi mới chính trị, tập trung ba lĩnh vực cơ bản, trọng yếu:

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; xây dựng Nhà nước pháp

quyền XHCN, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường

kỷ luật, kỷ cương Trong đó, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là cấp thiết và hàng đầu Đặc biệt, bắt đầu từ Đại hội XI, Đảng ta xác định quan hệ

“giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị” là một trong các quan hệ lớn cần giải quyết tốt trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH

Trang 16

Tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XI về đổi mới chính trị, Đạihội XII (2016) đã rút ra kết luận “Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mớikinh tế, năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm

nhiệm vụ” Từ thực trạng này, Đại hội XII đề ra mục tiêu chung: “đổi mới mạnh

mẽ, toàn diện và đồng bộ, có bước đi phù hợp trên các lĩnh vực, nhất là giữa

kinh tế và chính trị” Đồng thời đề ra mục tiêu cụ thể: “Đến năm 2020, phấn đấu

cơ bản hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hộinhập quốc tế; bảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị;giữa Nhà nước và thị trường; bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế vớiphát triển văn hóa, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảođảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững chủ động tíchcực hội nhập kinh tế quốc tế gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ; bảođảm tính công khai, minh bạch, tính dự báo được thể hiện trong xây dựng vàthực thi thể chế kinh tế, tạo điều kiện ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh tế -

chế kinh tế: “Tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ, hiện đại

trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tếquốc tế Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế chính sách, thực hiện đồng

bộ các giải pháp để phát triển, vận hành thông suốt, hiệu quả, đồng bộ và khả thicác loại thị trường và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch Nhà nước sửdụng thể chế, các nguồn lực, công cụ điều tiết, cơ chế, chính sách phân phối,phân phối lại để phát triển văn hóa, thực hiện dân chủ, tiến bộ, công bằng xã

hội” Đối với đổi mới chính trị: tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp

quyền XHCN do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thốngchính trị Xây dựng Nhà nước phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tưpháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh

gọn, hiệu lực, hiệu quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội Đối với xây

dựng Đảng: đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng, nhất là xây dựng Đảng

Trang 17

về đạo đức Trọng tâm là kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết

Trung ương 4 (khóa XI) Đối với phát huy dân chủ XHCN: bảo đảm tất cả quyền

lực nhà nước thuộc về nhân dân Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêmtúc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Tăng cường, củng cố tổ chức,đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

để phát huy hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân Đại hội XII tiếp tục coi quan

hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một trong các quan hệ lớn cầngiải quyết trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

Kế thừa tinh thần Đại hội XI, XII, tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục coiquan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một trong các quan hệ lớncần giải quyết trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam; khẳng định tiếp tụcthực hiện “phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là thenchốt”; đề ra nhiệm vụ “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bảnchất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầmquyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trongsạch, vững mạnh, toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực,hiệu quả” Đồng thời “phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợpcủa cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam” Quan điểmnày tiếp tục chỉ đạo, soi sáng việc đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong thờigian tới của Đảng ta

Cụ thể, trong Báo cáo chính trị cũng như các văn kiện của Đại hội XIII

của Đảng đề ra mục tiêu tổng quát phát triển đất nước là: “Nâng cao năng lực

lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệthống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tincủa nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khátvọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đạiđoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng

bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững

Ngày đăng: 08/12/2023, 09:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Bùi Ngọc Chưởng (1994), “Kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Cộng sản, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thị trường và định hướng xã hộichủ nghĩa
Tác giả: Bùi Ngọc Chưởng
Năm: 1994
1. Bôgônirốp (1974), Chủ nghĩa Lênin và vấn đề quan hệ hàng hoá - tiền tệ trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liênxô, Nxb. Khoa học, Mátxcơva Khác
3. Nguyễn Đức Bình (chủ biên), Hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (Chương trình KX- 05) Khác
4. Phạm Như Cương (chủ biên - 1987), Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - Một số vấn đề kinh tế - xã hội trong chặng đường đầu tiên, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Khác
5. Trường Chinh (1987), Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước và của thời đại, Nxb. Sự thật, Hà Nội Khác
7. Lê Duẩn (1976), Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb.ST, Hà Nội Khác
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội Khác
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội Khác
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w