1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận tn asean trong cấu trúc an ninh khu vực châu á – thái bình dương và ý nghĩa trong đối ngoại quốc phòng hiện nay

36 7 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề ASEAN Trong Cấu Trúc An Ninh Khu Vực Châu Á – Thái Bình Dương Và Ý Nghĩa Trong Đối Ngoại Quốc Phòng Hiện Nay
Tác giả Lương Thanh Hậu
Trường học Trường QSQK7
Chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học
Thể loại tiểu luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 131,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (viết tắt là ASEAN) là một tổ chức chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Tổ chức này được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 với các thành viên đầu tiên là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore và Philippines, nhằm biểu hiện tinh thần đoàn kết giữa các nước trong cùng khu vực với nhau, đồng thời hợp tác chống tình trạng bạo động và bất ổn tại những nước thành viên. ASEAN ngày càng đóng vai trò quan trọng trong ổn định và phát triển khu vực châu Á Thái Bình Dương và trên thế giới. Khái niệm “vai trò trung tâm của ASEAN” bắt đầu được các nước thành viên nhắc đến nhiều từ các năm 2005, 2006, khi Hiệp hội đối mặt với sức ép tác động, lôi kéo ngày càng tăng từ các đối tác bên ngoài. Trong bối cảnh đó, “vai trò trung tâm” được hiểu là ASEAN luôn phối hợp quan điểm và hành động trong quan hệ với các đối tác, giữ vững vai trò “động lực chính” trong hợp tác cũng như ở “vị trí trung tâm” trong nỗ lực định hình cấu trúc hợp tác ở khu vực dựa trên các khuôn khổ, diễn đàn do ASEAN khởi xướng và dẫn dắt. Với sự ra đời của Hiến chương ASEAN, “vai trò trung tâm” đã được pháp điển hóa, vừa trở thành mục tiêu, vừa trở thành nguyên tắc định hướng cho mọi hoạt động của ASEAN. Vai trò trung tâm của ASEAN có nền tảng từ những thành quả hợp tác mà Hiệp hội đã đạt trong quá trình hình thành và phát triển, từ quan hệ hợp tác Hiệp hội đã thiết lập với các đối tác bên ngoài, cũng như từ những thành công của các khuôn khổ, cơ chế hợp tác khu vực mà Hiệp hội đã khởi xướng thành lập và giữ vai trò dẫn dắt. Từ 5 nước thành viên ban đầu, ASEAN đã từng bước mở rộng để bao gồm 10 nước Đông Nam Á, biến một khu vực từ đối đầu, chia rẽ, nghi kỵ trong thời kỳ chiến tranh lạnh sang khu vực của hòa bình, đoàn kết, hợp tác và phát triển, đưa ASEAN thành một trong những hình mẫu về hợp tác khu vực trên thế giới. Luôn rộng mở hợp tác với bên ngoài, ASEAN đã thiết lập quan hệ đối tác đối thoại với 9 nước và 1 tổ chức quốc tế (Liên hợp quốc) và 1 tổ chức khu vực quan trọng (Liên minh châu Âu), trong đó có những nước lớn, trung tâm quyền lực chính trị kinh tế của thế giới. Không dừng ở hợp tác tay đôi, ASEAN đã đi đầu khởi xướng thành lập nhiều diễn đàn, cơ chế quan trọng, trong đó có Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), tiến trình ASEAN+3 và Cấp cao Đông Á (EAS), qua đó gắn kết các đối tác ngày càng sâu sắc hơn vào các tiến trình đối thoại và hợp tác ở khu vực. Với vị trí, vai trò to lớn của ASEAN trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương và trên thế giới, tôi lựa chọn nội dung “ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và ý nghĩa trong đối ngoại quốc phòng Việt Nam hiện nay” để làm chủ đề nghiên cứu tiểu luận.

Trang 1

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP

ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực Châu Á –

Thái Bình Dương và ý nghĩa trong đối ngoại quốc

phòng hiện nay.

Khoa: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Lớp, trường: Hoàn chỉnh chương trình cao cấp lý luận

Trang 2

MỤC LỤC

NỘI DUNG

I KHÁI NIỆM, CẤU TRÚC AN NINH KHU VỰC CHÂU Á -

2. Cấu trúc an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương 6

II ĐỊNH HÌNH, XU HƯỚNG CẤU TRÚC AN NINH KHU VỰC

1. Định hình trong cấu trúc an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình

III VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA ASEAN TRONG CẤU TRÚC AN

NINH KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY 9

1. Vị trí chiến lược của Đông Nam Á và tính chính danh của ASEAN

trong cấu trúc an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương hiện nay 9

2. Vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực châu

3. Khả năng kết nối các quốc gia của ASEAN trong khu vực châu Á -

IV THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ TRIỂN VỌNG CỦA ASEAN TRONG CẤU TRÚC AN NINH KHU VỰC CHÂU Á - THÁI

BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY

16

3.

Triển vọng về vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc an ninh

khu vực châu Á - Thái Bình Dương hiện nay và vai trò, trách nhiệm

của Việt Nam

20

V TÁC ĐỘNG ĐẾN QUỐC PHÒNG - AN NINH CỦA VIỆT

VI Ý NGHĨA TRONG CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG VIỆT NAM HIỆN NAY. 26

Trang 3

1. Cơ sở pháp lý về công tác đối ngoại quốc phòng Việt Nam 26

2. Kết quả của công tác đối ngoại quốc phòng Việt Nam thời gian qua 26

3. Một số giải pháp của công tác đối ngoại quốc phòng Việt Nam 28

VII VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 29

1. Vai trò, trách nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay 29

2. Một số giải pháp chủ yếu nâng cao vai trò quốc phòng - an ninh

Trang 4

MỞ ĐẦU

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (viết tắt là ASEAN) là một tổ chức chính

trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Tổchức này được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 với các thành viên đầu tiên làThái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore và Philippines, nhằm biểu hiện tinh thầnđoàn kết giữa các nước trong cùng khu vực với nhau, đồng thời hợp tác chống tìnhtrạng bạo động và bất ổn tại những nước thành viên

ASEAN ngày càng đóng vai trò quan trọng trong ổn định và phát triển khu

vực châu Á- Thái Bình Dương và trên thế giới Khái niệm “vai trò trung tâm của

ASEAN” bắt đầu được các nước thành viên nhắc đến nhiều từ các năm 2005, 2006,

khi Hiệp hội đối mặt với sức ép tác động, lôi kéo ngày càng tăng từ các đối tác bên

ngoài Trong bối cảnh đó, “vai trò trung tâm” được hiểu là ASEAN luôn phối hợp quan điểm và hành động trong quan hệ với các đối tác, giữ vững vai trò “động lực

chính” trong hợp tác cũng như ở “vị trí trung tâm” trong nỗ lực định hình cấu trúc

hợp tác ở khu vực dựa trên các khuôn khổ, diễn đàn do ASEAN khởi xướng và dẫn

dắt Với sự ra đời của Hiến chương ASEAN, “vai trò trung tâm” đã được pháp

điển hóa, vừa trở thành mục tiêu, vừa trở thành nguyên tắc định hướng cho mọihoạt động của ASEAN

Vai trò trung tâm của ASEAN có nền tảng từ những thành quả hợp tác màHiệp hội đã đạt trong quá trình hình thành và phát triển, từ quan hệ hợp tác Hiệphội đã thiết lập với các đối tác bên ngoài, cũng như từ những thành công của cáckhuôn khổ, cơ chế hợp tác khu vực mà Hiệp hội đã khởi xướng thành lập và giữvai trò dẫn dắt Từ 5 nước thành viên ban đầu, ASEAN đã từng bước mở rộng đểbao gồm 10 nước Đông Nam Á, biến một khu vực từ đối đầu, chia rẽ, nghi kỵtrong thời kỳ chiến tranh lạnh sang khu vực của hòa bình, đoàn kết, hợp tác và pháttriển, đưa ASEAN thành một trong những hình mẫu về hợp tác khu vực trên thếgiới Luôn rộng mở hợp tác với bên ngoài, ASEAN đã thiết lập quan hệ đối tác đối

thoại với 9 nước và 1 tổ chức quốc tế (Liên hợp quốc) và 1 tổ chức khu vực quan trọng (Liên minh châu Âu), trong đó có những nước lớn, trung tâm quyền lực chính

trị - kinh tế của thế giới Không dừng ở hợp tác tay đôi, ASEAN đã đi đầu khởixướng thành lập nhiều diễn đàn, cơ chế quan trọng, trong đó có Diễn đàn Khu vựcASEAN (ARF), tiến trình ASEAN+3 và Cấp cao Đông Á (EAS), qua đó gắn kếtcác đối tác ngày càng sâu sắc hơn vào các tiến trình đối thoại và hợp tác ở khu vực.Với vị trí, vai trò to lớn của ASEAN trong khu vực Châu Á -Thái Bình

Dương và trên thế giới, tôi lựa chọn nội dung “ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và ý nghĩa trong đối ngoại quốc phòng Việt Nam hiện nay” để làm chủ đề nghiên cứu tiểu luận.

Trang 5

Cấu trúc an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là một trong những vấn

đề then chốt nhất trong bối cảnh an ninh hiện nay ở châu Á - Thái Bình Dương,cấu trúc an ninh khu vực bao gồm những cơ chế, diễn đàn, những công cụ pháp lýquan trọng để các bên có thể tìm hiểu lập trường của nhau về các vấn đề “nóng” ởkhu vực, từ đó thúc đẩy sự thông hiểu, tăng cường đối thoại, tiến tới cùng hợp tác,giải quyết mâu thuẫn, xung đột, thông qua các biện pháp hòa bình Đây là nhữngdiễn đàn, cơ chế có tác động sâu rộng tới môi trường hòa bình, ổn định của tất cảcác nước ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương Hiện nay, các cấu trúc an ninhkhu vực đang không ngừng biến đổi và chưa được định hình rõ nét do tác độngcủa sự điều chỉnh chính sách và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn

Châu Á - Thái Bình Dương

Thuật ngữ châu Á - Thái Bình Dương gắn liền với những biến động về an ninh

- chính trị có phạm vi rộng, hẹp khác nhau, tùy thuộc vào sự xem xét theo lợi íchquốc gia và trên từng lĩnh vực địa - kinh tế, địa - chính trị, địa - chiến lược an ninhquân sự Nhìn chung, khi nói đến châu Á - Thái Bình Dương thường được hiểutheo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, châu Á - Thái Bình Dương gồm các quốc gia,vùng lãnh thổ thuộc châu Á và ven bờ Thái Bình Dương (khoảng 80 quốc gia vàvùng lãnh thổ) Theo nghĩa hẹp, châu Á - Thái Bình Dương gồm các quốc gia nằmtrên và ven hai bờ Thái Bình Dương (khoảng 50 quốc gia và vùng lãnh thổ)

Ở Việt Nam, trong các Văn kiện của Đảng về chính sách đối ngoại thườngtiếp cận theo nghĩa hẹp, nhưng xét trên lĩnh vực kinh tế khi Việt Nam hội nhập sâurộng vào các nền kinh tế lớn ở châu Á - Thái Bình Dương thì lại được tiếp cậntheo nghĩa rộng vì có thêm các đối tác là Mỹ, Ốtxtrâylia, các nền kinh tế ở khu vựcNam Á, nhất là Ấn Độ, nước có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam

và là một cường quốc mới nổi trong khu vực châu Á

1.2 Cấu trúc an ninh khu vực

Hiểu theo nghĩa hẹp, cấu trúc an ninh khu vực là các cơ chế đa phương ở khu

vực do các nước trong hoặc ngoài khu vực đề xuất và dẫn dắt nhằm tạo diễn đàn đểcác nước cùng nhau bàn bạc, trao đổi về các vấn đề an ninh khu vực Theo cáchphân loại phổ biến nhất hiện nay, cấu trúc an ninh khu vực ở châu Á - Thái BìnhDương có hai loại chủ yếu:

Loại thứ nhất là các diễn đàn do Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

(ASEAN) thành lập và nắm giữ vai trò chủ đạo, như các cơ chế ASEAN+, Cấp caoĐông Á (EAS), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốcphòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Diễn đàn Biển ASEAN mở rộng (EAMF)

Đi kèm với các cơ chế này là những công cụ pháp lý, như Hiến chương ASEAN,Hiệp ước Thân thiện

Trang 6

và Hợp tác (TAC), Hiệp ước Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ),Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), các hiệp định thương mại tự

do giữa ASEAN và các đối tác (FTA ASEAN+1) và Hiệp định Đối tác kinh tế toàndiện khu vực (RCEP)

Loại thứ hai là các diễn đàn/cơ chế mà trong đó ASEAN có vai trò hạn chế

hơn, như Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Đông Á - Mỹ La-tinh(FEALAF) và Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC).Ngoài ra, có thể tính tới một số cơ chế hợp tác tiểu vùng Mê Công, như Cam-pu-chia - Lào

- Việt Nam (CLV), Cam-pu-chia - Lào - Mi-an-ma - Việt Nam (CLMV), Cơ chếACMES1, Hợp tác tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS)

Hiểu theo nghĩa rộng, một số học giả cho rằng, cấu trúc an ninh khu vực

không thể không tính tới các mối quan hệ liên minh của Mỹ với những đồng minh

ở khu vực Các quan hệ đồng minh này tuy có đặc điểm và cơ chế rất khác so vớicác diễn đàn, cơ chế đa phương, nhưng cũng đóng vai trò quan trọng trong việcbảo đảm an ninh khu vực

Nếu phân loại theo lĩnh vực, các diễn đàn, cơ chế khu vực có thể được phân

thành hai loại chính Một là, các cơ chế về chính trị - an ninh ARF là diễn đàn khu

vực ra đời đầu tiên (năm 1994) và quan trọng nhất, mà tiền thân là cơ chế họpthường niên ngay sau Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM/PMC); tiếp

đó là EAS (năm 2005), ADMM+ (năm 2010), EAMF (năm 2012), Đối thoại

Shangri-La và Đàm phán sáu bên về phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên Hai là,

các cơ chế về kinh tế APEC là diễn đàn khu vực ra đời sớm nhất (năm 1989) vàquan trọng nhất; tiếp đó đến EAS, SCO, các FTA giữa ASEAN với sáu đối tác(Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân), RCEP, TPP/CPTPP, Hợp tác ba nước Đông Bắc Á

2 Cấu trúc an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Cấu trúc an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương hiện nay thường tậptrung vào hai lĩnh vực chính là kinh tế và an ninh - chính trị với các cơ chế hợp tácsong phương và đa phương

Trong cơ chế đa phương có Diễn đàn hợp tác an ninh khu vực (ARF),ADMM+, Diễn đàn hợp tác an ninh Thượng Hải (SCO), Hội nghị Cấp cao Đông Á(EAS), Đối

1 Khuôn khổ hợp tác kinh tế gồm 5 nước Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma, Thái Lan và Việt Nam

Trang 7

thoại Shangri - La, đàm phán 6 bên về vấn đề hạt nhân ở Triều Tiên; các cơ chếliên kết, liên minh đa phương đang hình thành như liên kết đa phương Mỹ - NhậtBản - Ấn Độ - Ốtxtrâylia nhằm bảo vệ những lợi ích chiến lược của bốn nước vàđối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc; các liên minh truyền thống theo hình thái

“trục nan hoa” do Mỹ đứng đầu đang có sự nâng cao, phối hợp chặt chẽ hơn, chẳnghạn như liên minh Mỹ - Hàn Quốc, Mỹ - Nhật Bản

2.2 Cấu trúc an ninh kinh tế

Cấu trúc an ninh trên lĩnh vực kinh tế, chủ yếu là về thương mại và tài chính ởchâu Á - Thái Bình Dương được thể hiện qua các cơ chế hợp tác và cạnh tranhgiữa các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ; cơ chế hợp táckinh tế đa phương như: Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương(APEC), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), Hiệp định Đối tácToàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) Trong đó APEC là diễnđàn kinh tế lớn nhất, hiện có 21 thành viên, chiếm 54% tổng GDP thế giới và 44%giá trị thương mại toàn cầu Ngoài ra, ở châu Á - Thái Bình Dương hiện có khoảng

100 cơ chế thương mại khu vực bao gồm một số cơ chế đối thoại và diễn đàn đượcthành lập trong bối cảnh khu vực hóa kinh tế như Diễn đàn đối thoại châu Á(ACD), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc, Hiệp hội Nam Á

Ngoài cách phân loại trên, còn có cách phân loại cấu trúc quyền lực ở châu Á

- Thái Bình Dương dựa trên vai trò dẫn dắt của ASEAN là:

Loại thứ nhất, là các diễn đàn do ASEAN thành lập và nắm giữ vai trò chủ

đạo như các cơ chế ASEAN+, EAS, ARF, ADMM, ADMM+, Diễn đàn BiểnASEAN mở rộng (EAMF) Đi kèm với các cơ chế này là những công cụ pháp lýnhư Hiến chương ASEAN, Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC), Hiệp ướcĐông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ), Tuyên bố về ứng xử của cácbên ở Biển Đông (DOC), các hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN và các đốitác (FTA ASEAN+1) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP)

Loại thứ hai, là các diễn đàn/cơ chế mà trong đó ASEAN có vai trò hạn chế

hơn như Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Đông Á - Mỹ Latinh(FEALAF), APEC, cơ chế hợp tác tiểu vùng Mê Công giữa Campuchia - Lào -Việt Nam (CLV), Campuchia - Lào - Mianma - Việt Nam (CLMV), Hội nghị Cấpcao Tổ chức Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyarwady - Chao Phraya -Mêkông(ACMES), Hợp tác tiểu vùng Mêkông Mở rộng (GMS)…

Như vậy, cấu trúc an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương hiện nay mangtính phức hợp, nhiều tầng nấc, nổi bật rõ nét là cục diện “nhất siêu đa cường” trongcấu trúc an ninh - chính trị và kinh tế thương mại Các cơ chế an ninh, thương mại

đa phương là cơ sở làm nên cấu trúc quyền lực khu vực và là xu thế phát triển củachâu Á - Thái Bình Dương trong thế kỷ XXI Tất cả những chuyển động này đã vàđang tác động mạnh tới định hình cấu trúc an ninh khu vực châu Á - Thái BìnhDương hiện nay

II ĐỊNH HÌNH, XU HƯỚNG CÂU TRÚC AN NINH KHU VỰC CHẤU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG

Trang 8

1 Định hình cấu trúc an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Một trong những biểu hiện rõ nét nhất của “định hình” cấu trúc an ninh khuvực là, thời gian qua liên minh Mỹ - Nhật Bản (do Mỹ thiết lập trước đây), vẫn tiếptục phát triển và giữ vai trò chủ đạo, chi phối các cơ chế an ninh trong khu vực.Đây là liên minh chủ chốt được hai nước tiếp tục củng cố nhằm ứng phó với cácvấn đề: hạt nhân của Triều Tiên và răn đe, kiềm chế sự “trỗi dậy” của Trung Quốc,

v.v Theo đó, “quyền phòng vệ tập thể” bên ngoài lãnh thổ được Tô-ky-ô xác định

không chỉ đối với Mỹ mà còn với những quốc gia Đông Nam Á khác, như: pin, Ma- lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, v.v Qua đó, giúp Mỹ có những con bài thuận lợihơn trong việc thỏa hiệp hoặc gây sức ép với Trung Quốc Ngoài ra, các liên minhgiữa Mỹ với Phi-líp-pin, Ô-xtrây-li-a và “quan hệ đối tác chiến lược” Mỹ - Ấn Độcũng là yếu tố quan trọng tạo ra “định hình” cấu trúc an ninh khu vực

Phi-líp-Cùng với các liên minh song phương, sự tồn tại đan xen của các thể chế an

ninh đa phương là đặc thù trong cấu trúc an ninh khu vực Thời gian qua, về cơ

bản các thể chế an ninh đa phương ở Châu Á – Thái Bình Dương được chia làmhai loại: Một là Các thể chế do ASEAN giữ vai trò điều phối, như: ASEAN vớiTrung Quốc (ASEAN+1); ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc(ASEAN+3); Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS)

và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM) và mở rộng(ADMM+) Hai là Các thể chế đa phương khác: Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á –Thái Bình Dương (APEC); Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Tổ chức hợp tácThượng Hải (SCO),

v.v Tất cả các thể chế này đều song trùng tồn tại, phát triển và cạnh tranh, bổsung, thúc đẩy nhau trong cấu trúc an ninh khu vực

2 Xu hướng trong cấu trúc an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Với sự trỗi dậy mạnh mẽ và hành xử quyết đoán, Trung Quốc tiếp tục trở

thành nhân tố thúc đẩy sự chuyển động trong cấu trúc an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong thời gian tới Với sức mạnh kinh tế, Trung Quốc liên tục

tăng cường tiềm lực quốc phòng, hiện đại hóa quân đội, làm cho khoảng cách sứcmạnh quân sự giữa Trung Quốc và Mỹ thu hẹp đáng kể Trung Quốc tiếp tục theođuổi một khuôn khổ liên kết khu vực Đông Á khép kín do Trung Quốc làm chủđạo, nhằm gạt ảnh hưởng của Mỹ ra ngoài; coi EAS là cơ chế hỗ trợ choASEAN+3 trong công cuộc xây dựng Cộng đồng Đông Á; Việc Trung Quốc đưa

ra khái niệm an ninh mới cho thấy, nước này muốn thiết lập một hệ thống an ninhchâu Á theo hướng giảm vai trò của Mỹ, nhấn mạnh “công việc của châu Á phải

do người châu Á giải quyết” Những đề xuất của Trung Quốc được cho là sẽ tácđộng nhiều chiều đến cấu trúc an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Cùng với đó, là Chiến lược “Tái cân bằng” với Chính sách “xoay trục” về

Châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ đã và đang thúc đẩy việc xây dựng cấu trúc an

ninh theo hướng khẳng định vai trò không thể thiếu của Mỹ tại khu vực Theo đó,Mỹ chủ trương đẩy mạnh liên minh với Nhật Bản, Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a, Phi-líp-pin và Thái Lan; đồng thời, khẳng định, sẽ phát triển các mối quan hệ chiến lượcmới với các nước mới nổi, như: In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, v.v Hơn thế, Mỹ sẽthúc

Trang 9

đẩy “chủ nghĩa đa phương” thông qua các cơ chế hợp tác khu vực, nhất là đối vớiEAS; coi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là mô hình hợp táckinh tế đa phương “điển hình” do Mỹ lãnh đạo để lôi kéo các nước vừa và nhỏtham gia.

Bên cạnh đó, sự nổi lên của Nhật Bản, nhất là về quốc phòng, đưa quan hệ

Nhật - Mỹ đóng vai trò lớn hơn trong cấu trúc an ninh khu vực Thông qua “quyềnphòng vệ tập thể” tăng cường quan hệ với Ô-xtrây-li-a, Ấn Độ; đẩy mạnh quan hệvới ASEAN; thúc đẩy các cơ chế đa phương có sự tham gia của Mỹ và các nướcngoài khu vực, như: EAS, APEC, v.v Tô-ky-ô đang có bước đi mới, thể hiện vaitrò ngày càng quan trọng trong cấu trúc anh ninh khu vực Trong đó, liên minh Mỹ

- Nhật Bản vẫn được coi là xương sống của cấu trúc an ninh Châu Á – Thái BìnhDương trong tương lai gần

Ngoài ra, vị thế, vai trò của Ấn Độ, Nga cũng là những nhân tố không thểthiếu và ngày càng quan trọng trong việc thúc đẩy cấu trúc an ninh Châu Á – TháiBình Dương trong thời gian tới

Đối với ASEAN, với mục tiêu xây dựng cấu trúc Châu Á – Thái BìnhDương dựa trên các nguyên tắc cơ bản của Khối, ASEAN luôn ủng hộ một cấutrúc khu vực đa tầng nấc, dựa trên tiến trình hợp tác khu vực hiện có để bổ sung và

hỗ trợ lẫn nhau; trong đó, ASEAN giữ vai trò trung tâm và là động lực chính Theoquan điểm của các nước ASEAN, vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khuvực là điều kiện cần thiết để bảo đảm độc lập, chủ quyền, duy trì môi trường hòabình, ổn định, phát triển cho các nước trong khu vực Để hoàn thành mục tiêu xâydựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015, ASEAN ủng hộ quan hệ hài hòa giữa cáccường quốc và tạo điều kiện cho các cường quốc đóng góp tích cực vào việc xử lýcác vấn đề liên quan đến hòa bình và ổn định trong khu vực

Như vậy, từ những động thái của các nước, các tổ chức trong khu vực Châu Á– Thái Bình Dương cho thấy, cấu trúc an ninh khu vực này đang tồn tại sự đan xengiữa các cấu trúc hiện có và các cấu trúc đang hình thành, theo hướng đa tầng nấc,phức tạp, bổ sung hỗ trợ lẫn nhau, vừa góp phần duy trì, vừa tiềm ẩn nguy cơ đedọa hòa bình, ổn định và phát triển thịnh vượng của khu vực và thế giới

III VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA ASEAN TRONG CẤU TRÚC AN NINH KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY

1 Vị trí chiến lược của Đông Nam Á và tính chính danh của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương hiện nay

1.1 Vị trí chiến lược của Đông Nam Á

Đông Nam Á bao gồm 11 quốc gia, 10 quốc gia là thành viên của ASEAN:Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Xingapo, Thái Lan, Brunây, Việt Nam, Lào,Myanma và Campuchia Đông Timor hiện đang là quan sát viên của ASEAN.Đông Nam Á có diện tích 4,7 triệu km2, dân số 651 triệu người, chiếm khoảng8,59% dân số thế giới Ngoại trừ Lào là quốc gia không có biển, các quốc gia cònlại đều là quốc gia ven biển hoặc quốc gia hải đảo, tiếp giáp với biển Đông, TháiBình Dương hoặc Ấn Độ Dương

Trang 10

Đông Nam Á án ngữ các tuyến giao thông hàng hải mang tính “huyết mạch”của thế giới đi qua eo biển Malacca nối liền Đại Tây Dương với Ấn Độ Dươngsang Thái Bình Dương Giá trị chiến lược của khu vực mang tầm quốc tế còn đượcđánh giá bởi hệ thống cảng biển quan trọng như Xingapo, Đà Nẵng và các quầnđảo, cao nguyên; nằm giữa hai quốc gia lớn là Trung Quốc và Ấn Độ, gần cườngquốc kinh tế Nhật Bản, Ốtxtrâylia và những trung tâm thương mại quan trọng nhất,rất có lợi cho sự phát triển kinh tế và mở rộng hợp tác khu vực Với vị trí chiếnlược đó, khu vực Đông Nam Á kiểm soát hầu hết những trục đường biển quantrọng trên thế giới.

Lợi thế địa lý của Đông Nam Á tạo thuận lợi, đồng thời cũng đưa lại nhiềuthách thức cho các quốc gia trong khu vực khi xây dựng chính sách phát triển vàhội nhập quốc tế Cũng chính vì tầm chiến lược cực kỳ quan trọng của Đông Nam

Á đối với châu Á - Thái Bình Dương nên nhiều thế kỷ qua, khu vực này luôn làđiểm nóng của thế giới do các cuộc xâm lược chiếm đóng của các thế lực đế quốcnhư Anh, Pháp, Mỹ, Nhật Bản và các nước phương Tây khác

Ngày nay, xu thế đối đầu Đông - Tây không còn nữa, nhưng Đông Nam Ávẫn là nơi các nước lớn trên thế giới luôn quan tâm, thể hiện các toan tính chính trị,kinh tế và cạnh tranh quyền lực với nhau trong thế kỷ XXI Xu thế hợp tác để pháttriển của khu vực Đông Nam Á đã thu hút các nước trên thế giới và đang dần dầnđóng vai trò trung tâm tập hợp sự đối thoại hợp tác Á - Âu thông qua tổ chức khuvực là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN

1.2.Tính chính danh của ASEAN

Ngày 8 tháng 8 năm 1967, tại Băng Cốc Thái Lan, Bộ trưởng Ngoại giao 5nước là Inđônêxia, Thái Lan, Philíppin, Xingapo và Phó Thủ tướng Malaixia họp

đã ký Tuyên bố thành lập Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association ofSoutheast Asian Nations - ASEAN), đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trìnhphát triển của khu vực Đến năm 1984, kết nạp thêm Brunây làm thành viên thứ 6.Ngày 28 tháng 7 năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội.Ngày 23 tháng 7 năm 1997, kết nạp Lào và Myanma Ngày 30 tháng 4 năm 1999,kết nạp Campuchia

Trải qua 32 năm, từ khi ra đời với 5 nước thành viên ban đầu, ASEAN đã mởrộng gồm 10 nước/11 nước ở Đông Nam Á Từ một khu vực nhiều xung đột, căngthẳng, Đông Nam Á trở thành khu vực hòa bình, ổn định và phát triển với vai trògắn kết và thúc đẩy hợp tác của ASEAN Từ các quốc gia đa dạng và khác biệt vềnhiều mặt, 10 nước Đông Nam Á đã trở thành thành viên của Cộng đồng ASEANthống nhất, trong đó nguyên tắc đối thoại, đồng thuận, hợp tác cùng xử lý các vấn

đề chung của khu vực luôn đóng vai trò chủ đạo

Tính chính danh còn được thể hiện ở nỗ lực xây dựng tư cách pháp nhân củaASEAN Ý tưởng về xây dựng một Hiến chương ASEAN được đưa ra lần đầu tiêntại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN năm 1974 tại Giacácta (Inđônêxia) do Philíppin

đề xuất nhưng chưa được thực hiện Việc xây dựng Hiến chuơng ASEAN đượcchính thức đề cập lại tại Hội nghị cấp cao ASEAN năm 2004 tại Viên Chăn (Lào)

và được Hội nghị cấp cao ASEAN năm 2005 tại Kuala Lumpur (Malaixia) thôngqua Hiến chương ASEAN được ký ngày 20 tháng 11 năm 2007 tại Xingapo, bắtđầu có hiệu

Trang 11

lực ngày 15 tháng 12 năm 2008 Hiến chương ASEAN ra đời nhằm mục đích tăngcường liên kết ASEAN, xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN, giúp ASEANtiếp tục hoạt động có hiệu quả và có vai trò trong thế giới toàn cầu hóa sâu rộng;đóng góp tốt hơn cho hòa bình, ổn định, thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới.

Hiến chương ASEAN có 3 tác động chính đối với ASEAN: Thứ nhất, trao cho ASEAN tư cách pháp nhân; thứ hai phân định rõ trách nhiệm giữa các chủ thể

tham gia và các cơ quan trong bộ máy ASEAN, thiết lập các cơ chế bảo đảm thực

thi; thứ ba, nâng cao vị thế của ASEAN như một tổ chức có uy tín ở khu vực châu

Á - Thái Bình Dương Bên cạnh đó, Hiến chương cũng bổ sung một số mục tiêu,nguyên tắc, phương thức hoạt động và một số cơ quan mới trong tổ chức bộ máycủa ASEAN, tạo cơ hội cho ASEAN hoạt động rộng hơn và chặt chẽ hơn

2 Vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực châu Á Thái Bình Dương hiện nay

-2.1 ASEAN là đối tác quan trọng trong hợp tác, liên kết kinh tế khu vực

Từ một tổ chức hợp tác có tính tiểu khu vực của Đông Nam Á, ASEAN đã trởthành “hạt nhân” và đóng vai trò “trung tâm” ở khu vực châu Á - Thái BìnhDương, quy tụ được sự tham dự của tất cả các nước lớn, các nước trong khu vực vàtrên thế giới trong các cơ chế của ASEAN Đối với các nước lớn, ASEAN luôn làđối tác không thể thiếu, đặc biệt là trong bối cảnh khu vực châu Á - Thái BìnhDương được đánh giá là khu vực năng động, trỗi dậy mạnh mẽ trong thế kỷ XXI

Với Mỹ, đối tác lớn của khu vực đã coi trọng và ủng hộ vai trò trung tâm của

ASEAN trong cấu trúc Đông Á và châu Á - Thái Bình Dương, cam kết tiếp tục hỗtrợ ASEAN xây dựng Cộng đồng, nhấn mạnh ASEAN là đối tác kinh tế quan trọngcủa Mỹ, tiếp tục triển khai Sáng kiến kết nối ASEAN - Mỹ Mỹ là bạn hàng lớnthứ tư của ASEAN với tổng kim ngạch thương mại hai chiều năm 2017 đạt trên

200 tỷ USD, là một trong những nước đứng đầu về đầu tư trực tiếp vào ASEANvới số vốn FDI đạt 306,5 tỷ USD Các nỗ lực xây dựng năng lực như “Sáng kiếngắn kết kinh tế mở rộng” và các chương trình bổ trợ kỹ thuật như “Kết nối ASEANthông qua thương mại và đầu tư” đang được Mỹ và các nuớc ASEAN tích cựchành động

Với Trung Quốc, ASEAN được coi là khu vực quan trọng để Trung Quốc

thực hiện chiến lược cân bằng với Mỹ Trung Quốc đã có những hỗ trợ nhất địnhđối với ASEAN khắc phục khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997; tăng cườngbuôn bán đầu tư vào ASEAN, tạo điều kiện cho ASEAN đầu tư nhiều vào TrungQuốc nhằm tạo ràng buộc hơn nữa các nền kinh tế ASEAN vào lục địa TrungQuốc; cùng ASEAN xây dựng FTA; giảm hoặc xóa nợ cho một số nước ĐôngNam Á, nhất là các thành viên ASEAN mới; cung cấp hàng trăm triệu USD tíndụng ưu đãi và viện trợ phát triển cho nhiều nuớc khác, trong đó có các dự án pháttriển Tiểu vùng Mêkong mở rộng

Với chính sách “Đàn chim nhạn bay” và chủ trương hướng về châu Á, NhậtBản đã thành công trong việc thiết lập quan hệ kinh tế với các nước ASEAN trongthế kỷ XX và đang thúc đẩy hơn nữa trong thế kỷ XXI Nhật Bản đã trở thành một

Trang 12

đối tác quan trọng của ASEAN trên tất cả các lĩnh vực, ủng hộ vai trò trung tâmcủa ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình và tiếp tục coi ASEAN là ưutiên lớn trong chính sách đối ngoại của mình.

Trong “Chính sách hướng Đông” và “Hành động hướng Đông” của Ấn Độđặt trọng tâm việc tái cấu trúc quan hệ với các nước trong khu vực châu Á - TháiBình Dương, ASEAN là hướng ưu tiên trong chính sách đối ngoại của mình Ấn

Độ sẽ tiếp tục hợp tác với ASEAN một cách toàn diện, trên mọi lĩnh vực, hỗ trợASEAN xây dựng Cộng đồng kinh tế, văn hóa - xã hội

Các nước EU, nhất là Anh, Đức, Pháp ngày càng chú trọng hơn thúc đẩy hợptác với ASEAN và khu vực châu Á - Thái Bình Dương Tháng 1 năm 2014, Nghịviện châu Âu lần đầu tiên ra nghị quyết về “Tương lai quan hệ EU - ASEAN”; năm

2018, EU chính thức đưa ra Chiến lược kết nối Á - Âu, ký Hiệp định thương mại tự

do với Nhật Bản (JEFTA) và Xingapo (EUSFTA) Ngày 12 tháng 2 năm 2020,Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) được ký kết và được Quốchội Việt Nam phê chuẩn vào ngày 8/6/2020 EU chủ trương thúc đẩy sự tham giavào các cấu trúc an ninh khu vực do ASEAN dẫn dắt, hỗ trợ tăng cường khả năngcho các nước ASEAN trong giải quyết vấn đề an ninh hàng hải truyền thống và phitruyền thống

Liên bang Nga ngày càng thể hiện sự quan tâm nhiều hơn trong chính sáchđối ngoại với khu vực châu Á - Thái Bình Dương Có thể nhận diện chính sách củaNga tại khu vực này bao gồm: Nâng cao chất lượng hợp tác Nga - Trung, trước hếttrong lĩnh vực kinh tế, khoa học, kỹ thuật và nhân đạo; đa dạng hóa tối đa quan hệkinh tế và chính trị của Nga ở châu Á - Thái Bình Dương, bao gồm cả tiểu khu vựcĐông Bắc Á và Đông Nam Á; vượt qua những phức tạp trong quan hệ với Ấn Độ

và không để xảy ra đối đầu Trung - Ấn ở châu Á và Ấn Độ Dương, không để xảy

ra xung đột quân sự trên bán đảo Triều Tiên, đồng thời duy trì được mục tiêu dàihạn biến bán đảo này thành khu vực không vũ khí hạt nhân; đẩy mạnh tham gia vàcác cơ chế đa phương và chế độ đảm bảo an ninh và phát triển khu vực châu Á -Thái Bình Dương

Ở quy mô khu vực châu Á - Thái Bình Dương, một số quốc gia ASEAN làthành viên sáng lập APEC năm 1989 Đây là Diễn đàn của 21 nền kinh tế ở hai bờThái Bình Dương Tại APEC Bogo năm 1994, APEC đã thông qua một chươngtrình tự do hóa thương mại đầy tham vọng với mục tiêu giảm thuế quan xuống mức

0 - 5% đối với các nền kinh tế thành viên thuộc nhóm các nước phát triển vào năm

2010 và đến năm 2020 đối với các thành viên thuộc nhóm các nước đang pháttriển APEC là diễn đàn kinh tế mở, nhằm xúc tiến các biện pháp kinh tế, thúc đẩythương mại và đầu tư giữa các nền kinh tế thành viên trên cơ sở hoàn toàn tựnguyện ASEAN được coi là hạt nhân để xây dựng Cộng đồng APEC 2020, một cơchế quan trọng của cấu trúc kinh tế ở châu Á - Thái Bình Dương

2.2 Các cơ chế hợp tác an ninh của ASEAN đóng vai trò là bộ khung để xây dựng cấu trúc an ninh khu vực và liên khu vực

Một số cơ chế hợp tác an ninh điển hình của ASEAN được chú ý như: ARF

-cơ chế hợp tác an ninh đa phương đầu tiên ở châu Á - Thái Bình Dương do ASEANsáng lập ARF được tổ chức hàng năm, mang tính đối thoại rộng rãi, thu hút mạnh

mẽ sự

Trang 13

tham gia của nhiều nước trên thế giới, trong đó có hầu hết cường quốc lớn ARFhướng tới xây dựng lòng tin và nền ngoại giao phòng ngừa trong khu vực ARFchứng tỏ là một hình thức hợp tác thích ứng với tình hình mới, phù hợp với khu vựcchâu Á - Thái Bình Dương và đã có nhiều những đóng góp đáng kể đối với an ninhkhu vực.

Năm 2006, ADMM ra đời đánh dấu sự khởi đầu của cơ chế hợp tác quốcphòng chính thức và đầy đủ Cơ chế này tạo khuôn khổ cho đối thoại và tham vấncấp Bộ trưởng Quốc phòng về các vấn đề chiến lược quốc phòng - an ninh và lànền tảng thúc đẩy hợp tác trên thực tế giữa lực lượng vũ trang các nước ASEAN.ADMM coi trọng hợp tác thực chất nhằm tạo ra khả năng, sức mạnh chung để đẩylùi nguy cơ xung đột, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực

Năm 2010, ADMM+ lần đầu tiên đã được tổ chức thành công tại Việt Nam.Đây là cơ chế có sự tham dự của Bộ trưởng Quốc phòng của 18 quốc gia nhằm bànthảo các biện pháp duy trì hòa bình, an ninh khu vực Cơ chế này được đánh giá làmột trong những bộ khung làm nên vai trò trung tâm của ASEAN hiện nay

Tham gia cơ chế EAS, ASEAN góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổnđịnh và củng cố mối quan hệ hợp tác tin cậy giữa các nước thành viên trong lĩnhvực an ninh - chính trị; tạo dựng mối quan hệ mới về chất giữa các nước Đông Átheo chiều hướng hữu nghị, ổn định lâu dài, hợp tác toàn diện ngày càng chặt chẽ

cả về song phương và đa phương Ngoài ra, ASEAN cũng chú trọng các cơ chế anninh khu vực khác như Đối thoại Shangri-La, Hội thảo An ninh châu Á - Thái BìnhDương, Đối thoại Quốc phòng Xơun (SDD), Đối thoại Quốc phòng Giacácta(JIDD), Diễn đàn Quốc phòng Tokyo (TDF), Diễn đàn Hương Sơn, qua đó gópphần nâng tầm vị thế của ASEAN đối với an ninh khu vực châu Á - Thái BìnhDương

2.3 ASEAN luôn coi trọng và đề cao trách nhiệm đối với việc bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông

Biển Đông là một trong những “điểm nóng” về an ninh và ổn định của khuvực châu Á - Thái Bình Dương Ở khu vực này, các tuyên bố chủ quyền của một sốquốc gia và vùng lãnh thổ chồng lấn lên nhau, bao gồm tuyên bố chủ quyền củaTrung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippin, Malaysia và Brunây khiến cho tìnhhình rất phức tạp Hiện tại, trong khu vực Biển Đông đang tồn tại hai loại tranhchấp chủ yếu là: Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa giữaViệt Nam và Trung Quốc, quần đảo Trường Sa giữa các bên gồm Trung Quốc,Việt Nam, Philippin, Brunây, Malaysia và Đài Loan; tranh chấp ranh giới các vùngbiển và thềm lục địa chồng lấn giũa các nước có bờ biển đối diện hoặc liền kề nhưtranh chấp về ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh TháiLan có liên quan giữa Việt Nam và Thái Lan Các tranh chấp này đã ảnh hưởngđến một loạt quan hệ song phương giữa các quốc gia trong khu vực và quan hệTrung Quốc

- ASEAN

Trong khu vực, ASEAN đã có nhiều nỗ lực nhằm giải quyết các tranh chấp ởBiển Đông thông qua thương lượng, đàm phán, để xây dựng lòng tin giữa các bênnhằm kiềm chế xung đột tiềm tàng, ngăn chặn đụng độ quân sự làm phức tạp thêmtình hình Các văn bản pháp lý của ASEAN đã được thông qua như: TAC (1976),

Trang 14

SEANWFZ (1995); Tuyên bố Manila - Tuyên bố Biển Đông năm 1992; Tuyên bố

về Ứng xử ở biển Đông DOC giữa Trung Quốc và ASEAN năm 2002 Để tăng tínhpháp lý cho các hoạt động của các bên ở Biển Đông, hiện nay, ASEAN và TrungQuốc đã thông qua được bộ khung Bộ quy tắc về cách ứng xử ở Biển Đông (COC)

và đang nỗ lực cùng sớm hoàn thành COC Các hoạt động trên đã khẳng định rõvai trò của ASEAN trong việc giải quyết các tranh chấp trong khu vực

3 Khả năng kết nối các quốc gia của ASEAN trong khu vực châu Á Thái Bình Dương

-3.1 Khả năng giải quyết những vấn đề xuyên quốc gia

Ngay trong Tuyên bố Băng Cốc năm 1967 và Tuyên bố Bali năm 1976 đã xáclập các nguyên tắc nền tảng cho quan bệ hợp tác bền vững của ASEAN Đặc biệtTuyên bố Bali dành riêng Chương IV quy định sự ra đời một cơ chế chung nhằmgiải quyết các tranh chấp trên mọi lĩnh vực an ninh - chính trị, kinh tế, xã hội củaASEAN Về biện pháp giải quyết tranh chấp, Điều 15 của Hiệp ước Bali quy định:Các bên có quyền lựa chọn áp dụng biện pháp giải quyết theo quy trình riêng củaASEAN như đàm phán trực tiếp, thông qua bên thứ ba, giải quyết tại trọng tàiASEAN hoặc ra tòa án quốc tế Khi có tranh chấp xảy ra, nếu các bên thỏa thuậnlựa chọn áp dụng quy trình của ASEAN, các tranh chấp được giải quyết theo cácĐiều 13,14,15,16 của Hiệp uớc Bali

ASEAN đóng vai trò trung gian hòa giải, làm dịu các bất đồng và căng thẳng

về chính trị - an ninh, chủ quyền lãnh thổ, đặc biệt là các tranh chấp trên biển giữamột số thành viên trong khu vực với nhau và với Trung Quốc, giữa Trung Quốcvới Nhật Bản, giữa Nhật Bản với Hàn Quốc

3.2 Sự phối hợp thông tin, chính sách và hành động cấp khu vực của ASEAN

Hiện nay, khu vực Đông Nam Á đang đối mặt với nhiều vấn đề có thể gâymất ổn định như tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, an ninh, an toàn hàng hải, chủnghĩa khủng bố, kiểm soát vũ khí, buôn bán người và vũ khí trái phép, ma túy,bệnh dịch, biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, di cư và tị nạn, tình trạng mất cânđối tài chính và thương mại quốc tế Do quy mô và bản chất vấn đề ở tầm khu vựcnên việc giải quyết phải thông qua các cơ chế của khu vực - các cơ chế do ASEANsáng lập nên Chính bởi khả năng hấp dẫn của mình đối với thế giới bên ngoài, chonên các nước đều muốn thiết lập quan hệ hợp tác với ASEAN, tạo cơ hội choASEAN có thể thực hiện ngoại giao cân bằng giữa các nước lớn, góp phần ngănchặn nguy cơ xung đột có thể xảy ra trong tương lai

3.3 Tính trung lập của ASEAN trong giải quyết các vấn đề mang tính khu vực

Tính trung lập của ASEAN trong giải quyết các vấn đề mang tính khu vực thểhiện qua Tuyên bố về Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập (ZOPFAN) do các

Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN ký tại Kuala Lumpur (Inđônêxia), ngày 27 tháng 11năm 1971 ZOPFAN thể hiện rõ định huớng trung lập trong các giai đoạn pháttriển của tổ chức này Tuyên bố ZOPFAN đã định ra các mục tiêu cơ bản và lâu dàicủa ASEAN

Trang 15

là xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình, tự do và trung lập, không

có sự can thiệp dưới bất cứ hình thức nào của các cuờng quốc bên ngoài Vấn đềtrung lập hóa mà tuyên bố đưa ra tại thời điểm đó đã đáp ứng nhiệm vụ giữ nguyêntrạng tình hình ở Đông Nam Á; ngăn chặn sự can thiệp của các cường quốc mớinhư Trung Quốc, Nhật Bản xuống khu vực, buộc các nước ngoài Đông Nam Áchính thức cam kết không can thiệp vào công việc của khu vực Trên thực tế, hìnhthức này cũng dễ chấp nhận đối với các nước ngoài khu vực và ngay cả đối vớiLiên hợp quốc

ASEAN không ngừng hoàn thiện cơ chế đối thoại với các đối tác, nỗ lực xâydụng một kết cấu khu vực lấy ASEAN làm trung tâm Trong quá trình hợp tác rabên ngoài, ASEAN luôn lấy cơ chế đối thoại làm cơ sở Các cơ chế hợp tác củaASEAN đều có sự mở rộng mang tính chất tịnh tiến của cơ chế ASEAN+, về thựcchất là triển khai hợp tác quanh trục ASEAN, lấy ASEAN làm nền tảng, làm trungtâm để mở rộng hợp tác về mặt kinh tế Cơ chế này giúp cho ASEAN mở rộng thịtrường xuất khẩu, thu hút ngày càng nhiều đầu tư trực tiếp nước ngoài Về chínhtrị, các cơ chế này thúc đẩy nước đối thoại chấp nhận quy tắc ứng xử của ASEAN,

từ đó mở rộng tầm ảnh hưởng chính trị của ASEAN Như vậy, cấu trúc ASEAN+,

một mặt, thúc đẩy hợp tác, duy trì sự phát triển và hòa bình khu vực; mặt khác, mở

rộng hợp tác khu vực từ Đông Nam Á ra toàn Đông Á đến châu Á - Thái BìnhDương, kích thích sự phát triển của hợp tác khu vực, giúp ASEAN thực thi chiếnlược cân bằng với các nước lớn, từ đó nắm vai trò và vị thế đặc biệt trong cấu trúcquyền lực khu vực Đây là biểu hiện ASEAN trở thành một “cộng đồng ngoại giao”tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương

3.4.ASEAN đã hạn chế sự áp đặt của các nước lớn trong các vấn đề khu vực

Từ rất sớm, nhận thức rõ tầm quan trọng không thể thiếu của các nước lớn,các đối tác trong và ngoài khu vục, ASEAN đã có nhiều nỗ lực nhằm quản lý quan

hệ với các nước lớn và các đối tác dưới nhiều hình thức khác nhau, đồng thời tìmcách chèo lái quan hệ với các nước lớn theo hướng có lợi nhất cho ASEAN và khuvực Đông Nam Á Để đạt được mục tiêu này, ASEAN đã sáng tạo ra nhiều loại

“quy chế đối thoại” để trao cho các nước lớn, các đối tác trong và ngoài khu vực,phù hợp với năng lực và hoàn cảnh của từng đối tác cũng như nhu cầu củaASEAN

Về bản chất, “quy chế đối thoại” là phương thức xử lý quan hệ với các nướclớn của ASEAN, các đối tác thông qua đối thoại, hợp tác ở các mức độ khác nhaunhằm tăng cường xây dựng lòng tin, tránh hiểu nhầm, thúc đẩy hợp tác cùng có lợithay vì sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực “Quy chế đối thoại” củaASEAN bao gồm nhiều mức độ khác nhau như đối tác đối thoại chính thức, đối tácđối thoại ngành, đối tác phát triển, quan sát viên đặc biệt và quy chế khách mời Gần đây, ASEAN bổ sung thêm quy chế đối tác chiến lược và đối tác toàn diện đểnâng cấp một số mối quan hệ quan trọng của ASEAN với các nước lớn Chínhphương thức xử lý thông qua “quy chế đối thoại” đã tạo ra dấu ấn riêng củaASEAN mà không có tổ chức nào trên thế giới có được

Bên cạnh đó, ASEAN cũng xây dựng thành công quan hệ hữu nghị và hợp táccùng có lợi với nhiều tổ chức ở khu vực và trên thế giới Trong đó, đáng kể nhất làđối tác toàn diện ASEAN - Liên hợp quốc được thành lập và nâng cấp năm 1977,

Trang 16

Hội đồng hợp tác các nước vùng Vịnh (GCC), Khối thị trường chung Nam Mỹ(Mercosur), Nhóm Rio và sau này là Cộng đồng các quốc gia Nam Mỹ và Caribê,Liên minh Thái Bình Dương.

Với các nước lớn, sự trỗi dậy của Trung Quốc và chiến lược “xoay trục” củaMỹ vào các vấn đề ở châu Á - Thái Bình Dương nói chung, Đông Nam Á nói riêng

đã và đang tạo ra cú hích mới cho ASEAN theo đuổi chiến lược hướng ngoại, cânbằng ảnh hưởng trong quan hệ với các nước lớn, duy trì vai trò trung tâm và chủđộng của ASEAN như là một động lực chủ chốt trong một cấu trúc quyền lực khuvực mới đang định hình

IV THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ TRIỂN VỌNG CỦA ASEAN TRONG CẤU TRÚC AN NINH KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY

1 Thuận lợi

1.2 Thuận lợi từ nội khối

Bộ khung vận hành các cơ chế của ASEAN giúp nâng cao vai trò của ASEAN trong liên kết khu vực và bên ngoài.

Trong tiến trình hoạt động từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, ASEAN đã lầnlượt tạo ra các cơ chế hợp tác đa phương như ARF, ASEAN+3, EAS, ADMM+,Shangri- La Các cơ chế này không phải ngẫu nhiên được các nuớc trong và ngoàikhu vực chấp nhận ASEAN đóng vai trò trung tâm, mà bởi ASEAN có cách vậnhành các cơ chế theo cách riêng của mình nhưng phù hợp với mong muốn của cácbên và đặc điểm của bối cảnh Đông Nam Á Thông qua các cơ chế này, ASEAN đãthúc đẩy hợp tác tích cực dựa trên “phương cách ASEAN”, chú trọng đối thoại, hộithảo, thương lượng, ngoại giao phòng ngừa mà ít tính đến sự ràng buộc Chính vìvậy, ASEAN đã tạo ra được một cơ chế “mềm” và “mở” để các thành viên thôngqua đối thoại sẽ hiểu nhau hơn, chia sẻ quan điểm đi đến thiết lập lòng tin

Các cơ chế của ASEAN có tính liên kết, ràng buộc các thành viên bên ngoài.Chính các cơ chế này đã cho ASEAN cơ hội xây dựng lòng tin và tranh thủ được

sự ủng hộ của các nuớc trong và ngoài khu vực ASEAN được Liên hợp quốc ghinhận và tuyên bố sẵn sàng tham gia vào cuộc thảo luận chính thức và không chínhthức của ARF do ASEAN đóng vai trò trung tâm Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác(TAC) của ASEAN đã có 23 nước tham gia, trong đó có tất cả cường quốc lớn.Bản Hiến chương ASEAN là mốc sự kiện đánh dấu buớc trưởng thành củaASEAN Hiến chương ASEAN ra đời không chỉ chứng tỏ tính nghiêm túc củaASEAN trong việc hiện thực hóa các kế hoạch đã cam kết hướng tới Cộng đồngASEAN, mà còn khẳng định cho quốc tế thấy rằng, ASEAN đã thực sự trở thànhmột tổ chức có tư cách pháp nhân, đại diện quyền lợi hợp pháp cho các nước thànhviên trong quan hệ quốc tế

ASEAN có lộ trình phát triển cụ thể, phù hợp.

Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN được các nhà lãnh đạo ASEAN thôngqua tại Hội nghi cấp cao ASEAN lần thứ 14 tại Hua Hin (Thái Lan) năm 2009, baogồm các kế hoạch tổng thể nhằm xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN - 2015

Kế hoạch công tác về Sáng kiến liên kết ASEAN giai đoạn II (2009 - 2015), nhưmột

Trang 17

văn kiện kế tục Chương trình hành động Viên Chăn, giúp ASEAN đẩy mạnh các

nỗ lực thu hẹp khoảng cách phát triển, tăng cường kết nối các thành viên ASEAN

và giữa ASEAN với khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Tầm nhìn chung ASEAN được quy định trong Kế hoạch tổng thể xây dựngCộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) năm 2015 Đến năm 2025, AEC sẽ là một cộngđồng hội nhập và gắn kết cao; cạnh tranh, sáng tạo và năng động cùng với tăngcường kết nối và hợp tác theo ngành; một cộng đồng dung nạp và tự cường, hướngtới người dân, lấy người dân làm trung tâm, đồng thời hội nhập vào nền kinh tế toàncầu

Cộng đồng chính trị - an ninh ASEAN (APSC) vào năm 2025 sẽ là một cộngđồng đoàn kết, dung nạp và tự cường Cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN(ASCC) vào năm 2025 sẽ là một cộng đồng thu hút sự tham gia của người dânmang lại lợi ích cho người dân và là một cộng đồng dung nạp, bền vững, tự cường

và năng động

Cộng đồng ASEAN gắn kết trên ba trụ cột kinh tế, an ninh - chính trị, văn hóa

- xã hội 2025 đã nâng khu vực Đông Nam Á lên tầm cao mới Tuy nhiên, để đạtđược Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025, ASEAN cần tiếp tục tăng cường cảithiện quy trình hoạt động và phối hợp nội khối, nâng cao hiệu quả và hiệu suất làmviệc của các cơ quan trong ASEAN, bao gồm tăng cường Ban Thư ký ASEAN.Theo đó, các Hội đồng Cộng đồng ASEAN triển khai đầy đủ và hiệu quả các camkết trong văn kiện ASEAN 2025

1.2 Thuận lợi từ bên ngoài

Xu thế hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực đang được chú trọng Xu thế chủ yếu trong quan hệ quốc tế hiện nay là xây dựng một thế giới hòa

bình, dân chủ và phát triển Các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia vừa và nhỏ có ýthức cấu kết, hợp tác với nhau để cùng phát triển và tránh khỏi sự chi phối của cáccường quốc Nhiều tổ chức quốc tế và khu vực ra đời thể hiện cho sự cấu kết ngàycàng tăng như sự ra đời của APEC năm 1989, EU và quá trình nhất thể hóa châu Âutrong thập niên 90 của thế kỷ XX, ARF năm 1994, ASEM năm 1996

Sau Chiến tranh lạnh, tất cả các quốc gia đều có sự điều chỉnh chiến lược pháttriển và tập trung mọi sức lực vào ưu tiên phát triển kinh tế Kinh tế trở thành trọngđiểm cạnh tranh sức mạnh tổng hợp quốc gia thay thế cho chạy đua vũ trang nhưtrước đây Các quốc gia lớn, nhỏ đã tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợptác và liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vựckhác Hợp tác ngày càng tăng nhưng cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt Vì vậy,hội nhập quốc tế tạo điều kiện để liên kết tốt hơn, giúp các nước đứng vững trongcạnh tranh và phát triển

Xu thế khu vực hóa ở Đông Á và châu Á - Thái Bình Dương Trong xu thế

toàn cầu hóa và khu vực hóa, châu Á - Thái Bình Dương là một khu vực được đánhgiá năng động trong thế kỷ XXI Các hình thức liên kết khu vực với nhiều đặcđiểm, tính chất và mức độ khác nhau đã được khởi xướng và vận hành trong khuvực châu Á - Thái Bình Dương, điển hình như các cơ chế của ASEAN, APEC,EAS, ASEM, RCEP, CPTPP Các cơ chế này vận hành và bổ sung lẫn nhau vàcùng phát triển Trong đó,

Trang 18

ASEAN đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các cơ chế này Các liên kếttrong khu vục Đông Á và châu Á - Thái Bình Dương diễn ra từng bước và bắt đầu

từ hợp tác kinh tế để tạo nền tảng và sự gắn kết ban đầu, qua đó mở rộng sang cáclĩnh vực khác Xu thế khách quan này đòi hỏi các nước phải tham gia tích cực vàoquá trình liên kết ở phạm vi khu vực và toàn cầu, tạo cơ hội và thách thức đan xenđối với tất cả các nước thành viên

Sự ủng hộ của các nước lớn và các tổ chức quốc tế đối với ASEAN Đây là

thuận lợi nổi bật của quan hệ ASEAN với các nước lớn trong thời kỳ sau Chiếntranh lạnh Xuất phát từ lợi ích chiến lược căn bản của mình, các cường quốc tiếnhành điều chỉnh lại chính sách đối ngoại để tìm chỗ đứng tốt nhất, xây dựng khuônkhổ quan hệ mới ổn định lâu dài, xác lập các điều kiện quốc tế có lợi hơn và mởrộng hệ thống an ninh quốc gia Các nước lớn đã xây dựng chiến lược quan hệ vớiASEAN, ủng hộ một ASEAN hòa bình, phát triển và đều coi ASEAN là trọng tâmtrong chiến lược tranh giành ảnh hưởng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương Vìvậy, ngay khi ASEAN xúc tiến các cơ chế hợp tác đa phương ở khu vực, các quốcgia và các tổ chức quốc tế đều ủng hộ một cách khá tích cực Các cơ chế củaASEAN đã phần nào đáp ứng được những yêu cầu đặt ra đối với Đông Á và châu

Á - Thái Bình Dương, đồng thời là sự lựa chọn tốt nhất cho các nước lớn với thamvọng kiềm chế các đối thủ của mình

2 Khó khăn

2.1 Khó khăn từ nội khối

Tính khác biệt về chế độ chính trị giữa các nước ASEAN Hiện nay, Đông

Nam Á đang tồn tại nhiều mô hình nhà nước và thể chế chính trị khác nhau Mặc

dù sau khi trật tự hai cực tan rã, mâu thuẫn ý thức hệ đã phần nào bị xóa mờ bởinhu cầu hợp tác và phát triển của các nước, nhưng nó vẫn còn để lại nhiều vấn đềmang tính lịch sử Tình hình chính trị ở một số nước trong ASEAN còn khá phứctạp, quan hệ giữa một số nước thành viên chưa được suôn sẻ Sự ảnh hưởng củacác vùng văn hóa và tôn giáo khác nhau ở Đông Nam Á như Đạo Phật, Nho giáo,

Cơ đốc giáo, Ấn Độ giáo, Islam,… đang tiềm ẩn những nguy cơ có thể xảy ra xungđột tôn giáo, dân tộc và mâu thuẫn về các vấn đề dân chủ, nhân quyền Chínhnhững điều trên đã tạo ra một khoảng cách nhất định giữa các nước thành viênASEAN

Cơ chế và cách thức hoạt động của ASEAN còn có những bất cập, chưa thật hiệu quả Mặc dù ASEAN đã có rất nhiều cơ chế hợp tác đa phương, nhưng hầu hết

nguyên tắc hoạt động của các cơ chế này đều xây dựng dựa trên các nguyên tắc chủyếu là nguyên tắc “đồng thuận“ và “không can thiệp” Các nguyên tắc này phù hợpvới đặc điểm đa dạng của khu vực Đông Nam Á và giúp ASEAN thực hiện hiệuquả việc thống nhất các thành viên Tuy nhiên, việc áp dụng một cách tuyệt đối hainguyên tắc này có thể cản trở tính linh hoạt cũng như hiệu quả của ASEAN trongcác chương trình và hoạt động cụ thể, nhất là việc giám sát các thành viên thựchiện cam kết Ngoài ra, cách thức hoạt động của ASEAN từ năm 2015 đến naychưa thực sự hiệu quả, sự phối hợp giữa các nước thành viên trong việc thực hiệncác chương trình, kế

Ngày đăng: 08/12/2023, 09:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giao trình cao cấp lý luận chính trị, Tập 13, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao trình cao cấp lý luận chínhtrị, Tập 13
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
4. Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết số 22 - NQ/TW của Bộ Chính trị vềhội nhập quốc tế, ngày 10/4/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 22 - NQ/TW của Bộ Chính trị về"hội nhập quốc tế
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, BCHTW, Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Nxb Chính trị quốc gia, H, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận -thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứXII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứXIII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
8. Bộ Quốc phòng, Sách trắng Quốc phòng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách trắng Quốc phòng Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
9. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Quan hệ quốc tế: Tổng quan đề tài khoa học cấp Bộ “An ninh chính trị khu vực châu Á - Thái Bình Dương từ sau Chiến tranh lạnh đến nay và tác động của nó đối với Việt Nam”, Hà Nội, 2006, tr.7- 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An ninh chính trị khu vực châu Á - Thái Bình Dươngtừ sau Chiến tranh lạnh đến nay và tác động của nó đối với Việt Nam
1. Giáo trình Quan hệ quốc tế, TCCT Quân đội nhân dân Việt Nam Khác
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Nxb CTQG, Hà Nội, 2011 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w