1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài Giảng Nguyên Lý Quy Hoạch Cảnh Quan ( Combo Full Slide 4 Chương )

68 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên Lý Quy Hoạch Cảnh Quan
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 5,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà địa lý học dùng từ cảnh quan như một danh từ khoa học, nó được định nghĩa là cảnh tượng trên bề mặt đất, một khu vực địa lý tự nhiên hay một loại hình đơn vị nào đó, chẳng hạn: C

Trang 1

Tên môn học:

Trang 2

NỘI DUNG

 CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM

 CHƯƠNG 2 QUAN ĐIỂM VÀ NHẬN THỨC TRONG QUY HOẠCH THIẾT KẾ CẢNH QUAN

 CHƯƠNG 3 QUY HOẠCH CẢNH QUAN

 CHƯƠNG 4 ĐẶC ĐIỂM VÀ NGUYÊN TẮC QUY HOẠCH MỘT SỐ LOẠI HÌNH CẢNH QUAN CHỦ YẾU

2

Trang 3

Chương 1 KHÁI NIỆM

1.1 Khái niệm cảnh quan

Theo (Naveh,1984) trong lịch sử văn hoá các nước phương tây, cảnh quan (Landscape) thấy xuất hiện sớm nhất trong cuốn Kinh Cựu ước ( The Old Testament) - Kinh Thánh của của người Hebrew ( Người

Do Thái cổ bao gồm cả người Ixar-en), nó dùng để mô tả cảnh sắc khu Hoàng thành Solomon ( Solomon, năm 971 – 932 trước công nguyên).

Trong tiếng Anh, tiếng Đức và tiếng Nga từ Cảnh quan có nghĩa là phong cảnh thiên nhiên, hình thái mặt đất Trong tiếng Hán thì từ cảnh quan có nghĩa là “Phong cảnh, cảnh sắc, cảnh vật”, nó phản ánh sự cảm thụ và sự nhận thức của người quan sát.

“Cảnh” là chỉ sự vật tồn tại khách quan, nó có thể là cảnh vật, nó cũng có thể là phong cảnh “Quan” là chỉ sự quan sát, sự cảm thụ sự vật tồn tại khách quan Từ “Cảnh quan” ở đây bao hàm những cái mà chúng ta có thể quan sát được, đó là cảnh vật tự nhiên và cảnh vật nhân tạo

Trang 4

Nhìn chung, từ cảnh quan cho dù là phương Đông hay phương Tây ban đầu đều là một khái niệm liên quan đến cái đẹp

và khó có thể giải thích một cách rõ ràng và cụ thể

Các nhà địa lý học dùng từ cảnh quan như một danh từ khoa học, nó được định nghĩa là cảnh tượng trên bề mặt đất, một khu vực địa lý tự nhiên hay một loại hình đơn vị nào đó, chẳng hạn: Cảnh quan đô thị, Cảnh quan rừng…;

Các nhà nghệ thuật định nghĩa cảnh quan là sự biểu hiện và tái hiện một đối tượng và đồng nghĩa với từ phong cảnh; Những người làm nghề kiến trúc sư thì định nghĩa cảnh quan là yếu tố làm nền hoặc phối cảnh cho kiến trúc vật; Các nhà sinh thái học thì định nghĩa cảnh quan là một hệ sinh thái hoặc một hệ thống các hệ sinh thái (Naveh, 1984; Forman and Godron, 1986); Các nhà du lịch thì cảnh quan là tài nguyên du lịch

Trang 5

Như vậy, mỗi lĩnh vực chuyên môn đều có những cách nhìn khác nhau về cảnh quan Căn cứ vào nguyên nhân hình thành, cảnh quan có thể được phân thành hai loại chính: Cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân tạo

Cảnh quan tự nhiên là chỉ những cảnh quan được hình thành bởi các yếu tố tồn tại khách quan trong thế giới tự nhiên, những cảnh quan này ít bị tác động bởi yếu tố con người Các yếu tố cảnh quan trong tự nhiên có thể là: Rừng núi, sông hồ, thực vật, địa mạo, thời tiết…

Cảnh quan nhân tạo là chỉ những cảnh quan được hình hành bởi sự sáng tạo của con người, như: Các công trình kiến trúc, công viên, quảng trường, các tác phẩm nghệ thuật công cộng …

Trang 6

1.2 Quy hoạch cảnh quan

Tính đa dạng về cảnh quan bắt nguồn từ địa lý tự nhiên và đặc trưng môi trường sinh thái tại khu vực đó

Từ những năm 70 của thế kỉ 20, người ta đã phát hiện ra rằng diện mạo cảnh quan nhiều khu vực trên thế giới ngày càng có xu hướng đồng nhất hóa một cách rõ rệt cả về hình thức lẫn công năng Hậu quả là đã làm mất đi tính đa dạng và các giá trị cảnh quan vốn có ở đó và đây cũng chính là những vấn đề cơ bản cần giải quyết trong quy hoạch cảnh quan

Quy hoạch cảnh quan là một khái niệm bao hàm các nội dung liên quan đến đặc tính, và hệ thống các quá trình hình thành cảnh quan,có liên quan chặt chẽ với vấn đề môi trường vĩ mô trong hoạt động quy hoạch, sử dụng đất

Ian L McHarg (1969), quy hoạch cảnh là quá trình tìm ra biện pháp thích hợp nhất lợi dụng hệ thống tự tài nguyên Nó thuộc về loại hình quy hoạch không gian vật chất (Physical planning), được phân biệt với quy hoạch xã hội, quy hoạch chính sách và quy

Trang 7

Chính vì thế, khi chúng ta quy hoạch sử dụng đất và thực hiện các hoạt động xây dựng phát triển nhất thiết phải tôn trọng và tuân theo các quy luật tự nhiên để bảo tồn được tính đa dạng về cảnh quan là nhiệm vụ hết sức quan trọng, hạn chế tối đa sự mâu thuẫn giữa các phương thức sử dụng đất và các yếu tố về môi trường.

1.3 Quan hệ không gian: Điểm (khu) và vùng

Khu và vùng bản chất nó đều là những đơn vị không gian nói chung và không gian cảnh quan nói riêng Khái niệm “khu” là chỉ một khu đất có diện tích có thể có diện tích từ khoảng chưa đến 1 mẫu Anh ( khoảng 0,486 ha) đến vài trăm mẫu Anh, nó có thể được sở hữu bởi 1 cá nhân, một gia đình hay một cộng đồng, đồng thời nó cũng là một đơn nguyên không gian trong quy hoạch

cơ cấu sử dụng đất hoặc xây dựng một khu phố

Trang 8

Trong lĩnh vực quy hoạch sử dụng đất và thiết kế cảnh quan, giới hạn về khái niệm “Vùng” có thể có sự khác nhau tùy theo sự biến đổi của bối cảnh địa lý khu xây dựng các cộng đồng dân cư

Nó có thể chỉ đơn thuần là một khu cộng đồng dân cư với một trung tâm lãng xã hoặc là một khu vực gồm nhiều cộng đồng dân

cư và các cộng đồng này có sự liên hệ với nhau (như liên hệ thông qua hệ thống đường giao thông, sông ngòi…) Có cũng có thể là một vùng đô thị, trong đó có vùng nội đô, các khu công nghiệp và vùng ngoại đô Ngoài ra, khái niệm vùng, trên quan điểm của lĩnh vực địa lý thường là chỉ cả một vùng rộng lớn thí dụ

ở nước ta có vùng Đông Bắc, vùng Tây Bắc, vùng Đồng bằng sông hồng, vùng Bắc trung bộ, Trung bộ…

Như vậy, khái niệm về khu và vùng như trên chỉ có tính chất tương đối Việc ta phân chia và sử dụng chúng thế nào là cần căn

cứ vào tình hình cụ thể và thuận tiện cho quá trình nghiên cứu

Trang 9

Chương 2 Quan điểm và nhận thức trong quy hoạch thiết kế cảnh quan

Thông qua nhận thức cảm tính đi đến nhân thức lý tính, thông qua hiện tượng sự vật nắm bắt bản chất và quy luật phát triển của sự vật,

đó chính là nhiệm vụ cơ bản trong nhận thức sự vật khách quan Nhưng bất luận là nhận thức cảm tính hay là nhân thức lý tính cũng đều bắt nguồn từ thực tiễn và nhận thức cảm tính chính là cơ sở của nhận thức lý tính Quan điểm và nhận thức trong quy hoạch thiết kế cảnh quan chính là quá trình nhận thức bản chất của sự vật

Trang 10

Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu trong nhận thức sự vật khách quan, giai đoạn này chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu

về một số hiện tượng, hoặc một số mặt cá biệt trong các sự vật khác quan và cũng như mối liên hệ giữa chúng Những cảm giác

và ấn tượng về các sự vật cảm nhận được dần dần có sự biến đổi

về chất trong não bộ và từ đó hình thành khái niệm về sự vật Từ chỗ hình thành khái niệm đi đến phán đoán, lý giải sự vật bước sang nhận thức sự vật ở mức độ cao hơn, chính là giai đoạn nhận thức lý tính

Nhận thức lý tính, không những người ta có thể nêu ra được bản chất vấn đề và mối quan hệ nội tại trong sự vật đó mà còn có thể phán đoán xu thế phát triển của sự vật

Trong lịch sử quy hoạch thiết kế cảnh quan, sự nhận thức của con người về sự vật khác quan cũng không ngừng biến đổi theo thời gian và luôn phát triển Mỗi một khâu trong quá trình nhận thức đều về sự vật khách quan đều trải quan quá trình biến đổi từ

Trang 11

Do đó, trong quá trình quy hoạch thiết kế cảnh quan, ngoài việc phải nhận thức thật sâu sắc và toàn diện về sự vật, còn phải phân tích được vấn đề một cách cụ thể chi tiết.

Khi thực hiện quy hoạch thiết kế cảnh quan việc đầu tiên cần thực hiện được đó là nên đặt mình vào trong hoàn cảnh đó

và cố gắng nghiên cứu môi trường hoàn cảnh xung quanh, đồng thời phải có biện pháp quan sát một cách bao quát và tỉ mỉ các chi tiết

Việc quan sát ở đây, không chỉ dừng ở lại việc quan sát về thể lượng và đặc trưng của các kiến trúc vật ở môi trường xung quanh mà còn phải cần điều tra các quy luật hoạt động cũng như các hoạt động của con người trong hoàn cảnh môi trường đó

Trang 12

Quy hoạch thiết kế cảnh quan

Công năng tinh thần, sử dụng Đặc điểm tạo hình

Phát huy giá trị văn hoá

Bảo hộ môi trường

Trang 13

2.1 Chức năng của cảnh quan

Cảnh quan có các chức năng chính sau:

a) Chức năng sử dụng

Công trình cảnh quan cần thoả mãn được nhu cầu hoạt động của người dân (sản xuất, ngơi tái tạo sức lao động, nhu cầu tâm sinh lý, nhu cầu giao tiếp xã hội, nhu cầu sinh hoạt văn hoá và dịch vụ

b) Chức năng tinh thần

Quy hoạch thiết kế cảnh quan là một môn khoa học có tính tổng hợp cao, nó không những liên quan đến các vấn đề khoa học tự nhiên, kĩ thuật mà còn có sự liên hệ chặt chẽ đến các vấn đề về đời sống xã hội và đời sống sinh hoạt

Trang 14

c) Chức năng làm đẹp:

Chức năng làm đẹp môi trường của cảnh quan chủ yếu thể hiện thông quan cái đẹp hình thức Thông qua sử dụng các yếu tố hình tượng để biểu đạt ý niệm và truyền đạt về tình cảm

Nghệ thuật cảnh quan là một loại hình nghệ thuật đặc thù biểu hiện cái đẹp hình thức

d) Chức năng bảo hộ: Đây chính là vấn đề bảo hộ môi trường

2.2 Hình thái và không gian cảnh quan

2.2.1 Hình thái cảnh quan

Hình thái của một đơn vị cảnh quan bao gồm cả cảnh quan đô thị đều do các bộ phận thực thể và không gian hình thành bởi các thực thể đó hình thành Các yếu tố thực thể bao gồm mặt giới hạn không gian, đường bao không gian, tuyến không gian và lớp không gian

Trang 15

a) Sự liên tục và gián đoạn mặt giới hạn

không gian

b) Đường bao không gian

Trang 18

Đây chỉ là hình ảnh mô phỏng để thuận lợi cho việc tìm hiểu về hình thái không gian Cho dù là thiết kế không gian trong phòng hay thiết kế cảnh quan thì cũng đều bắt đầu bằng việc thiết lập không gian và thiết kế các yếu tố không gian để biểu hiện chủ đề

Trên một ý nghĩa nào đó thì quy hoạch thiết kế cảnh quan chính

là thiết kế không gian, chứ không phải là chỉ quy hoạch thiết kế mặt bằng Bản vẽ mặt bằng chỉ là hình chiếu vuông góc của không gian cảnh quan thiết kế, nó không thể thể hiện chính xác hình thái của môi trường cảnh quan

Thiết kế không gian mới là mục đích thực trong thiết kế cảnh quan, còn thiết kế mặt bằng chủ yếu là thể hiện mối quan hệ về vị trí

Không gian được đề cập đến ở đây chính là không gian được hình thành bởi các yếu tố kiến trúc , công trình, cây cối, tường phân cách ngoài nhà, các bề mặt thẳng đứng, mặt đất, mặt nước, các công trình kiến nhỏ trong đô thị

Trang 19

2.2.2 Sự cấu thành không gian

Từ góc độ cấu tạo, không gian được cấu thành bởi mặt nền, mặt đứng và mặt đỉnh, chúng cũng quyết định đến tỉ lệ và hình dáng của không gian

- Mặt nền tức là mặt đất, sự cấu thành hình thái của nó bao gồm đường sá, quảng trường, cây xanh và mặt nước

- Mặt đứng là giới hạn theo chiều đứng tập hợp bởi các mặt đứng kiến trúc, nó phản ánh lịch sử và văn hoá của đô thị, nó ảnh hưởng đến tỉ lệ và tính chất của không gian

- Mặt đỉnh là phần đỉnh giới hạn bên trên của các mặt thẳng đứng, nó cũng là mặt có biến hoá phong phú nhất, tự nhiên nhất

Ba loại mặt nói trên là những mặt cơ bản của không gian, chúng quyết định đến cấu trúc không gian trong cảnh quan, là “cái khung” của không gian

Trang 20

2.2.3 Phân loại không gian

Việc phân loại không gian được căn cứ vào các tỉ lệ xích khác nhau

Tính lĩnh vực (Territoriality) là khái niệm về không gian đô thị được Osar Newmann đề ra đầu tiên Osar Newmann trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa các hành vi hoạt động của con người

và môi trường hình thể của đô thị đã xác định các loại hành vi hoạt động của con người yêu cầu có những lĩnh vực riêng tương ứng, đặc biệt là môi trường khu cư trú Ông đã đề ra những giả thiết hệ thống không gian cấu thành bởi không gian riêng tư, không gian bán công cộng, không gian công cộng

Nếu quan sát kĩ, trong rất nhiều nơi hoạt động công cộng của

đô thị, như là quảng trường, đường phố hoặc công viên, chúng ta đều phát hiện con người đòi hỏi các không gian mang tính lĩnh vực riêng

Trang 21

Ví dụ: như trên một quảng trường rộng lớn, nếu ta đối mặt với

một không gian hoàn toàn mở, mà không tìm thấy một nơi có thể nghỉ ngơi yên tĩnh hoặc trao đổi chuyện trò với bạn bè, có nghĩa là không gian bán công cộng hoặc không gian riêng tư, ta sẽ cảm thấy chán nản vô vị

Cho nên tính lĩnh vực của không gian trong cảnh quan còn có thể phân chia ra không gian mở, không gian bán mở và không gian riêng tư

Cách phân chia như trên là theo chiều ngang, còn có thể phân chia theo chiều đứng Ví dụ không gian chia theo vị trí trong môi trường, có không gian công cộng trên mặt đất, không gian công cộng dưới mặt đất và không gian công cộng trên không trung

Trang 22

2.2.4 Đặc điểm không gian và không gian chủ yếu

Không gian cảnh quan không như không gian kiến trúc, có thể

là không gian tổng thể tương đối độc lập, cũng có thể là không gian tuần tự có liên hệ với nhau

Khác với không gian kiến trúc là, trong không gian cảnh quan, loại không gian tuần tự có sự liên hệ với nhau chiếm vị thế chủ yếu Nó là các loại không gian có công năng khác nhau, diện tích khác nhau, hình thái khác nhau như quảng trường, đường phố, công viên, cây xanh, sân vườn trong nhà ở v.v tương hỗ giao hoà với nhau hình thành một chuỗi hệ thống

Cho nên điều chủ yếu cần tư duy trong thiết kế không gian cảnh quan là xây dựng tốt một trình tự không gian và thời gian, suy nghĩ đến sự thể nghiệm của con người đối với không gian khi họ đi lại từ không gian này đi sang không gian khác, cụ thể là các không gian đan xen, hoà nhập, chuyển đổi, dẫn hướng v.v

Trang 23

2.2.5 Giới hạn không gian

Không gian là yếu tố vật chất cơ bản nhất cho sự sinh tồn của con người Không gian còn có thể đem đến những sắc màu, tình cảm đặc biệt mà nó bao hàm cho con người, có tác dụng vô cùng lớn lao đối với cuộc sống

Trong cuốn sách “Không gian bên ngoài của kiến trúc” kiến trúc

sư người Mĩ Richard Heiderman nêu ra rằng “ việc đóng mở không gian, đối với mức độ dễ chịu ảnh hưởng rất lớn, nếu muốn cho không gian đô thị dễ chịu, phù hợp với con người, phải tạo cho mối quan hệ giữa các bề mặt không gian đô thị phù hợp với quy luật thị giác của con người, bảo đảm yêu cầu mặt cắt khu vực nhìn tối ưu, con người mới có thể tiếp thu được.”

Đối với lý luận về thị giác của con người đã có rất nhiều nghiên cứu và luận điểm, nhưng tự trung đều tập trung ở góc nhìn và khoảng cách nhìn

Trang 24

Không có cảm giác không gian đóng

nhìn của con người theo

phương ngang là khoảng

Trang 25

180 0

Ngang Thẳng đứng

55 0

75 0

130 0

Giới hạn của không gian

Hướng nhìn lên trên so với

hướng xuống dưới nhỏ hơn khoảng

200 Phân biệt là 550 và 750 Trong

phạm vi như vậy con người có thể

nhìn thấy tất cả mọi vật thể, nhưng

không nhất thiết nhìn rõ và chú ý

đến tất cả các vật thể

Đối với quảng trường, không

gian quảng trường tương đối nên

có tỉ lệ độ cao và độ rộng: 1:3

Trang 26

25m 260m 500m 4000m

Có thể nhìn thấy chi tiết

Nhìn thấy rõ đường bao

vật thể

Hình ảnh vật thể bị mở nhạt

Nhìn gần như không rõ vật thể

Cự ly quan sát

Trang 27

2.3 Nguyên tắc mĩ học trong thiết kế cảnh quan

2.3.1 Phong cách nghệ thuật cảnh quan

Phong cách là chỉ đặc điểm nghệ thuật và tư tưởng chủ yếu trong biểu hiện tác phẩm nghệ thuật, nó có tính thời đại, tính dân tộc, tính trường phái hoặc cá tính Phong cách thiết kế là cá tính, là đặc trưng nghệ thuật của người sáng tác các tác phẩm nghệ thuật nói chung và cảnh quan nói riêng

Phong cách nghệ thuật trong thiết kế cảnh quan là hình thức biểu hiện trong thiết kế cảnh quan, nó có thể có sự khác nhau theo không gian và thời gian

Căn cứ vào đặc điểm các giai đoạn phát triển, phong cách nghệ thuật cảnh quan được phân thành: Phong cách truyền thống, phong cách hiện đại, phong cách hậu hiện đại, phong cách tự nhiên và phong cách hỗn hợp

Trang 30

Căn cứ vào vị trí địa lý có thể phân thành phong cách truyền thống phương Đông và phong cách truyền thống phương Tây

Trang 33

Ảnh hưởng đến phong cách nghệ thuật cảnh quan có nhiều yếu tố, có yếu tố thuộc về các điều kiện khách quan, cũng có yếu

tố thuộc về điều kiện chủ quan Cả hai nhóm yếu tố này cùng tồn tại, có ảnh hưởng lẫn nhau, và liên hệ với nhau, đôi khi lại chế ước nhau

Các nhân tố khách quan có thể kể đến là: Vị trí địa lý, Khí hậu, phong tục tập quán, bản sắc dân tộc, phương thức sống, trào lưu văn hoá, phát triển khoa học kĩ thuật, thể chế xã hội, tôn giáo tín ngưỡng

Các nhân tố chủ quan như: Cá tính, năng lực nghề nghiệp và

tố chất nghệ thuật của bản thân người thiết kế

Các vấn đề đang được xem là thách thức đối với những người làm công tác thiết kế cảnh quan hiện nay là:

- Phong cách nghệ thuật cảnh quan không chỉ đơn thuần là biểu hiện hình thức mà phải gắn kế nó với những đặc trưng mang

Trang 34

- Thứ hai là: Phong cách nghệ thuật cảnh quan không phải là vấn đề chủ quan của người thiết kế mà là một quá trình tái hiện khách quan, đươc tích lĩ trong một quá trình dài phát triển.

- Phong cách nghệ thuật cảnh quan cần có sự thống nhất với chủ đề, công năng và nội dung, tránh hiện tượng xa rời thực tế

Do đó cái cần đạt được trong tác phẩm thiết kế chính là sự thống nhất giữa phong cách và hình thức, giữa nội dung và phong cách Tránh hiện tượng thiên về chủ nghĩa hình thức

Một số vấn đề cần lưu ý khi thực hiện thiết kế đó là:

- Phương pháp thực hiện rõ ràng

- Phương pháp biểu hiện rõ ràng

- Mục tiêu thiết kế rõ ràng

Ngày đăng: 08/12/2023, 05:55

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm