Hàng năm, NCCD tiếp và làm việc với hàng trăm lượt khách, chuyên gia quốc tế đến trao đổi, tìm hiểu về hoạt động của NCCD và lĩnh vực khuyết tật của Việt Nam; đồng thời đối với cộng đồng
Trang 1Hµ NéI 12/2010
NGƯỜI TÀN TẬT VIỆT NAM (NCCD)
Báo cáo năm 2010
về hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam
Trang 217 - 42
02 - 03
Mã số:
Trang 3Lời mở đầu
Việt Nam là một trong những quốc gia tham gia tích cực vào các cam kết quốc tế và khu vực
về vấn đề người khuyết tật Tháng 10/2007, Việt Nam đã ký Công ước của Liên Hiệp quốc về quyền của người khuyết tật; đồng thời cam kết thực hiện khuôn khổ hành động Biwako “Hướng tới một xã hội hoà nhập, không vật cản và vì quyền của người khuyết tật” của khu vực châu
Á - Thái Bình Dương thập kỷ thứ II về người khuyết tật (2003-2012) với 7 lĩnh vực ưu tiên và một lĩnh vực của riêng Việt Nam là “nâng cao nhận thức xã hội với các vấn đề của người tàn tật” Để thực hiện các cam kết quốc tế, và khu vực, Việt Nam từng bước hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính sách về người khuyết tật, triển khai các chương trình, đề án trợ giúp người khuyết tật nhằm tạo ra môi trường pháp lý và huy động tối đa sự tham gia của xã hội trợ giúp người khuyết tật hòa nhập cộng đồng và phát triển.
Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (NCCD) được thành lập năm 2001 theo Quyết định số 55/2001/QĐ-BLĐTBXH của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, đóng vai trò điều phối, thúc đẩy, giám sát việc xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật, chương trình hành động về người khuyết tật ở Việt Nam Từ năm 2010, NCCD sẽ xuất bản Báo cáo thường niên nhằm điểm lại những hoạt động trong lĩnh vực người khuyết tật, đúc rút những bài học kinh nghiệm từ thực tế hoạt động và định hướng các hoạt động trong những năm tiếp theo Báo cáo năm 2010 được xây dựng trên cơ sở tổng hợp báo cáo của thành viên NCCD, các địa phương, ý kiến của người khuyết tật và kết quả hoạt động Đề án “hỗ trợ người tàn tật giai đoạn 2006 - 2010”
Trong quá trình xây dựng báo cáo, NCCD đã nhận được sự đóng góp và hỗ trợ của các Bộ: Nội vụ, Y tế, Giáo dục, Giao thông vận tải, Văn hóa - thể thao và Du lịch, Thông tin và Truyền thông,… các cơ quan hữu quan, các tổ chức của và vì người khuyết tật; sự hỗ trợ của Hội Trợ giúp Người tàn tật Việt Nam (VNAH), cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), cùng các chuyên gia Nguyễn Bao Cường, Phạm Huy Tuấn Kiệt và lãnh đạo, chuyên viên Văn phòng NCCD
Báo cáo năm 2010 là báo cáo thường niên đầu tiên nên không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp để báo cáo của những năm sau được hoàn chỉnh hơn.
NCCD trân trọng cảm ơn những đóng góp quý báu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc “Báo cáo năm 2010 về hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam”.
Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam
Trang 5
I GIỚI THIỆU VỀ NCCD
1.1 Cơ cấu tổ chức
Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (NCCD) được thành lập năm
2001 theo Quyết định số 55/2001/QĐ-BLĐTBXH của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội (Bộ LĐ-TB & XH) NCCD có 23 ủy viên gồm: 13 Bộ, ngành và 5 tổ chức của người khuyết tật, vì người khuyết tật, do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội làm Chủ tịch danh dự và Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Nguyễn Trọng Đàm làm Trưởng ban NCCD họp thường kỳ toàn thể ủy viên ba tháng một lần NCCD có văn phòng giúp việc thường trực đặt tại trụ sở Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Sau gần 10 năm hoạt động, NCCD đã thể hiện được vai trò điều phối, thúc đẩy các Bộ, ngành hữu quan về lĩnh vực người khuyết tật, gắn bó chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức hữu quan
và các thành viên của mình để thúc đẩy thực hiện các chương trình hành động đã đề ra Ở Việt Nam, NCCD trở thành một trung tâm tiếp nhận thông tin của Quốc tế, Liên Hợp Quốc, khu vực châu Á - Thái Bình Dương và của đông đảo các nước trên thế giới về lĩnh vực khuyết tật, đồng thời cũng là trung tâm cung cấp thông tin về lĩnh vực người khuyết tật Việt Nam tới các cơ quan,
tổ chức quốc tế và nước ngoài Hàng năm, NCCD tiếp và làm việc với hàng trăm lượt khách, chuyên gia quốc tế đến trao đổi, tìm hiểu về hoạt động của NCCD và lĩnh vực khuyết tật của Việt Nam; đồng thời đối với cộng đồng người khuyết tật Việt Nam, NCCD là một địa chỉ đáng tin cậy để bày tỏ nguyện vọng và gửi phản hồi về việc triển khai các chương trình, chính sách trong thực tế, qua đó giúp NCCD tổng hợp vấn đề, đề xuất và báo cáo lên Văn phòng Chính phủ và Văn phòng Quốc hội
Trong những năm qua, các hoạt động của NCCD tập trung vào công tác truyền thông và thúc đẩy việc thực hiện 7 lĩnh vực ưu tiên trong khuôn khổ hành động thiên niên kỷ Biwako (BMF) và 01 lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam là truyền thông nâng cao nhận thức Cán bộ của NCCD đã tham dự các Hội nghị quốc tế và khu vực để giới thiệu mô hình hoạt động của NCCD Việt Nam Đặc biệt, trong báo cáo đánh giá nửa Thập kỷ thứ II về người khuyết tật khu vực châu
Á - Thái Bình Dương, Ủy Ban kinh tế - xã hội khu vục châu Á Thái Bình Dương (UNESCAP)
đã đánh giá cao hoạt động, những đóng góp tích cực của NCCD vào lĩnh vực người khuyết tật trong nước, khu vực và quốc tế
1.2 Chức năng, nhiệm vụ
Với vai trò điều phối, thúc đẩy các Bộ, ngành hữu quan về lĩnh vực khuyết tật, gắn bó chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức hữu quan và các thành viên của mình để có ý kiến thúc đẩy thực hiện các chương trình hành động đã đề ra, chức năng và nhiệm vụ của NCCD bao gồm:
Trang 6- Xây dựng nội dung, chương trình, kế hoạch hoạt động liên quan đến việc chăm sóc, hỗ trợ người khuyết tật;
- Chủ trì, phối hợp với các thành viên NCCD, các đơn vị thuộc Bộ, các tổ chức trong nước
và nước ngoài để xây dựng, triển khai và giám sát thực hiện pháp luật liên quan đến người khuyết tật;
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong nước và nước ngoài liên quan đến công tác người khuyết tật, tổ chức các hội thảo chuyên đề, tập huấn nghiệp vụ, thăm quan khảo sát, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao năng lực cho cán bộ của các bên đối tác và các tổ chức của người khuyết tật và tổ chức vì người khuyết tật;
- Thực hiện chương trình, dự án, đề án hỗ trợ người khuyết tật nhằm huy động nguồn lực
và hỗ trợ kỹ thuật liên quan đến hoạt động chăm sóc người khuyết tật;
- Thực hiện công tác vận động các chương trình, dự án của các tổ chức quốc tế nhằm
hỗ trợ kinh phí hoạt động cho người khuyết tật và chuyển giao cho các cơ sở và địa phương thực hiện;
- Tổ chức hoạt động giám sát, khảo sát, nghiên cứu liên quan tới quyền và lợi ích hợp pháp của người khuyết tật;
- Thúc đẩy việc thực hiện các khuyến nghị của thập kỷ châu Á - Thái Bình Dương về người khuyết tật;
- Thực hiện giao ban định kỳ, đột xuất của Ban điều phối và đảm bảo hoạt động thường xuyên của Văn phòng NCCD; phối hợp với các đơn vị có liên quan nhằm kiện toàn, bổ sung ủy viên Ban điều phối;
- Thực hiện việc quản lý tài chính, tài sản được giao theo quy định của pháp luật hiện hành;
- Thực hiện báo cáo định kỳ quý, năm và báo cáo đột xuất về lĩnh vực được giao
1.3 Các hoạt động điều phối
a) Tiếp nhận các thông tin, các nghị quyết mới liên quan đến người khuyết tật của Liên Hiệp Quốc (UN) và UNESCAP, để truyền thông tới các cơ quan hữu quan, các tổ chức vì người khuyết tật và của người khuyết tật;
b) Thực hiện báo cáo và thường xuyên thông tin về lĩnh vực người khuyết tật Việt Nam tới UNESCAP, các tổ chức quốc tế và khu vực theo yêu cầu cầu các tổ chức này;
c) Điều phối công tác hỗ trợ, tạo điều kiện để người khuyết tật được thực sự bình đẳng trong xã hội, giám sát việc thực hiện đầy đủ và có hiệu quả những điều khoản của Luật Người khuyết tật và 7 lĩnh vực ưu tiên trong thập kỷ thứ II về người tàn tật khu vực châu Á - Thái Bình Dương (2003 - 2012);
d) Phối hợp với các đơn vị, các cơ quan hữu quan, hợp tác với các tổ chức quốc tế tiến hành các hội nghị, hội thảo, tập huấn liên quan đến lĩnh vực người khuyết tật;
Trang 7đ) Tham gia đóng góp ý kiến xây dựng và sửa đổi một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực người khuyết tật;
e) Đàm phán với các tổ chức quốc tế dành các khoản tài chính, thiết bị kỹ thuật, hỗ trợ các
cơ quan, tổ chức hữu quan thực hiện các chương trình hỗ trợ người khuyết tật;
g) Tiếp nhận, triển khai và giám sát các dự án hỗ trợ người khuyết tật
1.4 Hợp tác quốc tế
NCCD xây dựng quan hệ tốt đẹp và đang hợp tác có hiệu quả với các tổ chức, cơ quan quốc
tế và khu vực như: Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), Uỷ ban Kinh tế - Xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Liên Hiệp Quốc (UNESCAP), Trung tâm phát triển về người tàn tật khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APCD), Diễn đàn người tàn tật khu vực châu
Á - Thái Bình Dương (APDF), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Ngân hàng thế giới (WB), Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GTZ) và nhiều tổ chức Phi chính phủ nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam như: Hội Trợ giúp Người tàn tật Việt Nam (VNAH), Tổ chức Pearl S Buck International (PSBI), Tổ chức Cứu trợ và Phát triển (CRS), Tổ chức Mối quan tâm thế giới (WCDO), Tổ chức thầy thuốc tình nguyện hải ngoại (HVO), Ủy ban Y tế Hà Lan - Việt Nam (MCNV), Tổ chức Hands of Hope
Kết quả hợp tác quốc tế của NCCD đã huy động được nhiều nguồn lực hỗ trợ bao gồm: tài chính, kỹ thuật, kinh nghiệm quốc tế về lĩnh vực người khuyết tật góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện hiệu quả về lĩnh vực người khuyết tật trong nước, đồng thời cũng đóng góp, chia sẻ với cộng đồng quốc tế những kinh nghiệm, bài học quý báu của Việt Nam trong giải quyết vấn
đề người khuyết tật, đóng góp hữu ích vào giải quyết các vấn đề người khuyết tật toàn cầu
Trang 8II TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ KHUYẾT TẬT VÀ
NGƯỜI KHUYẾT TẬT VIỆT NAM
2.1 Thực trạng người khuyết tật Việt Nam
Kết quả cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam năm 2006 (VHLSS, 2006) cho thấy, tỷ lệ khuyết tật của dân số từ 5 tuổi trở chiếm đến 15,3% trong tổng dân số, và mới đây nhất, kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 cho thấy, tỷ lệ người khuyết tật ở độ tuổi từ
5 tuổi trở lên chiếm 7,8% dân số tương đương với 6,7 triệu người, trong đó có khoảng 5,8% là
nữ giới và khoảng 75% tập trung ở khu vực nông thôn
Mặc dù, những số liệu trên có thể còn chưa phản ánh đầy đủ và chính xác quy mô, cơ cấu người khuyết tật ở Việt Nam, nhưng ở một chừng mực nào đó đã cho thấy vấn đề khuyết tật và người khuyết tật là phổ biến ở Việt Nam1 và là vấn đề cần quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội quốc gia
Trong những năm tới, số lượng người khuyết tật có xu hướng gia tăng do tai nạn giao thông, tai nạn lao động, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, đồng thời những nguyên nhân dẫn tới tàn tật cũng sẽ có sự biến động và khác hơn so với giai đoạn trước đây Các nguyên nhân dẫn đến khuyết tật do bẩm sinh, bệnh tật chiến tranh giảm đi thì các nguyên nhân do tai nạn có
xu hướng tăng do quá trình phát triển của công nghiệp hoá và đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ
ở Việt Nam
Về mặt xã hội, kết quả của một số cuộc điều tra mẫu2 cho thấy, gần 8% hộ gia đình ở Việt Nam có người khuyết tật, bình quân một hộ gia đình người khuyết tật có 1,12 người khuyết tật Khoảng 75% hộ gia đình có người khuyết tật sinh sống ở khu vực nông thôn và 32,5% thuộc diện nghèo (cao gấp hai lần so với tỷ lệ nghèo chung cùng thời điểm); gần 24% những hộ gia đình có người khuyết tật phải sống trong điều kiện nhà ở tạm, 65% sống trong những ngôi nhà bán kiên
cố Do điều kiện khó khăn, hầu hết các hộ gia đình có người khuyết tật (82,2%) chỉ đảm bảo đáp ứng được nhu cầu căn bản về ăn, ở và mặc cho người khuyết tật, còn lại các nhu cầu khác của người khuyết tật thì khả năng đáp ứng của hộ gia đình rất hạn chế Kết quả điều tra mẫu cho thấy, trên 80% hộ gia đình có người khuyết tật đang gặp phải khó khăn trong việc khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho người khuyết tật, hơn một nửa hộ gia đình (51,2%) gặp khó khăn trong việc chăm sóc, hỗ trợ người khuyết tật trong sinh hoạt hàng ngày và gần 55% hộ gia đình gặp khó khăn về việc làm và vốn sản xuất kinh doanh tạo việc làm cho người khuyết tật
1 Theo ước tính của Tổ chức quốc tế Y tế thế giới (WHO) thì tỷ lệ người tàn tật nói chung thường chiếm đến 10% dân số.
2 Điều tra tình hình thực hiện pháp luật người tàn tật tại 11 tỉnh/thành phố ở Việt Nam, năm 2009, Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội
Trang 9Về cá nhân người khuyết tật, kết quả cuộc điều tra mẫu phản ánh một thực trạng đáng lo ngại về người khuyết tật và cuộc sống của người khuyết tật Đa số người khuyết tật có trình độ văn hoá thấp và chưa qua đào tạo nghề Trong tổng số người khuyết tật, có khoảng 21% người khuyết tật còn khả năng lao động và 62% trong số này đang tham gia hoạt động kinh tế tạo thu nhập; lĩnh vực hoạt động kinh tế chủ yếu của người khuyết tật là sản xuất nông nghiệp - một trong những lĩnh vực có năng suất lao động và tạo ra giá trị thặng dư thấp nhất trong các lĩnh vực sản xuất của nền kinh tế quốc dân Với những hạn chế do khuyết tật và những hạn chế về trình độ năng lực nên đa phần người khuyết tật có ít nguồn thu nhập, nguồn thu nhập không
ổn định, thu nhập thấp, không đủ trang trải nên cuộc sống của gia đình người khuyết tật và bản thân người khuyết tật gặp rất nhiều khó khăn Khoảng 80% người khuyết tật ở thành thị và 70% người khuyết tật ở nông thôn phải sống dựa vào gia đình, người thân và trợ cấp xã hội Số người khuyết tật có thể tự lập được cuộc sống chỉ chiếm khoảng 11% trong tổng số
Bên cạnh những hạn chế do khuyết tật gây ra và những hạn chế về trình độ năng lực, người khuyết tật không những phải đối mặt với nỗi lo cơm áo hàng ngày mà còn phải đối mặt với những rào cản (định kiến xã hội, hạ tầng cơ sở xã hội chưa phù hợp với người khuyết tật, ) khó
có thể vượt qua khi họ muốn tham gia bình đẳng trong cuộc sống cộng đồng nếu như không có
sự hỗ trợ từ Nhà nước và cộng đồng
2.2 Hệ thống chính sách, luật pháp về người khuyết tật Việt Nam
Để thực hiện các Công ước, Nghị quyết của Liên Hợp Quốc và các cuộc vận động, Chương trình hành động khu vực châu Á - Thái Bình Dương về vấn đề người khuyết tật mà Việt Nam tham gia; đồng thời thực hiện trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, xã hội đối với người khuyết tật, nhiều chính sách, văn bản pháp luật về người khuyết tật đã được ban hành, các chương trình, đề
án hỗ trợ người khuyết tật, được triển khai với sự tham gia tích cực của hệ thống các tổ chức,
cá nhân trong toàn xã hội Vấn đề người khuyết tật được thể hiện trong văn bản luật pháp cao nhất, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 1992
và sửa đổi năm 2001 ghi rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được
Nguồn: Điều tra tình hình thực hiện pháp luật người khuyết tật, Bộ LĐTB&XH, 2008
Trang 10Nhà nước và xã hội giúp đỡ Nhà nước và xã hội tạo mọi điều kiện cho trẻ em tàn tật được học văn hoá và học nghề phù hợp” Việc bảo vệ người khuyết tật được nêu tại Điều 59 và Điều 67 của Hiến pháp
Trên cơ sở Pháp lệnh người tàn tật, nhiều văn bản pháp luật khác đã được ban hành, triển khai áp dụng trong thực tiễn đảm bảo quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người khuyết tật trên mọi mặt của đời sống xã hội Có thể phân loại các văn bản pháp luật này thành 6 nhóm như sau: (chi tiết xem phụ lục 1)
• Thứ nhất là, nhóm các văn bản về giáo dục cho người khuyết tật;
• Thứ hai là, nhóm các văn bản về y tế cho người khuyết tật;
• Thứ ba là, nhóm các văn bản về lao động và dạy nghề cho người khuyết tật;
• Thứ tư là, nhóm các văn bản về bảo trợ xã hội;
• Thứ năm là, nhóm các văn bản quy định hoạt động thể dục, thể thao và văn hóa;
• Thứ sáu là, nhóm các văn bản quy định giao thông thông minh và quy chuẩn, tiêu chuẩn
xây dựng cho người khuyết tật được tiếp cận các phương tiện giao thông và công trình công cộng;
Đến nay, sau hơn 10 năm Pháp lệnh Người tàn tật ra đời, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước có nhiều thay đổi theo hướng tích cực, Nhà nước có điều kiện hơn để quan tâm đến người khuyết tật, nguồn lực xã hội có thể dành nhiều hơn để giải quyết vấn đề khuyết tật Chính vì vậy, để tiếp tục giải quyết có hiệu quả hơn vấn đề khuyết tật, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Người khuyết tật, Luật có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 Đây là văn bản pháp luật cao nhất về người khuyết tật từ trước tới nay và là cơ sở pháp lý toàn diện để thực hiện trợ giúp người khuyết tật có hiệu quả trong giai đoạn tới
Trang 11III TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT VIỆT NAM
3.1 Nâng cao nhận thức về vấn đề khuyết tật và người khuyết tật
a) Về chính sách
Các văn bản pháp luật khẳng định quyền bình đẳng của người khuyết tật trong mọi mặt của đời sống xã hội, đây là nền tảng cho các hoạt động nâng cao nhận thức Pháp lệnh Người tàn tật năm 1998, Luật Người khuyết tật năm 2010 nêu rõ: người khuyết tật được bả o đả m thự c hiệ n các quyền tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; số ng độ c lậ p, hòa nhậ p cộ ng đồ ng; được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạ ng tậ t và mứ c độ khuyế t tậ t
Khung hành động thiên niên kỷ (Biwako Framework) là một trong những chính sách khu vực châu Á - Thái Bình Dương mà Chính phủ Việt Nam cam kết thực hiện Việt Nam còn bổ sung một ưu tiên thành ưu tiên số 8 của Việt Nam được các nước trong khu vực đánh
giá cao đó là về “Nâng cao nhận thức về người khuyết tật và vấn đề khuyết tật”
Chính sách nhà nước quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về người khuyết tật cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng của mình phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng quản lý nhà nước về người khuyết tật; Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về người khuyết tật ở địa phương; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội khác có trách nhiệm vận động nhân dân thực hiện chính sách về người khuyết tật Như vậy, trách nhiệm chính là nâng cao nhận thức cộng đồng về vấn đề khuyết tật
và người khuyết tật thuộc về các cơ quan hành chính nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội
b) Kết quả đạt được
Để thực hiện chính sách pháp luật về người khuyết tật có hiệu quả cần có sự hiểu biết sâu sắc, cảm thông và sự chung tay của toàn xã hội Chính vì vậy, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật nhằm nâng cao nhận thức về vấn đề khuyết tật và người khuyết tật ở Việt Nam trong những năm qua được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện
Việc nâng cao nhận thức đã được thực hiện liên tục với nhiều hình thức khác nhau từ truyền thông gián tiếp qua đài truyền thanh, truyền hình, báo chí, pano, áp phích, cho đến truyền
Trang 12thông trực tiếp qua việc tổ chức tập huấn các văn bản, quy định mới của Nhà nước về chính sách trợ giúp đối với người khuyết tật, trang bị các tài liệu có liên quan đến chính sách, pháp luật về người khuyết tật, nói chuyện chuyên đề, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về pháp luật người khuyết tật, thường xuyên phát động các phòng trào, hoạt động vì người khuyết tật trên quy mô
cả nước
Đặc biệt, từ năm 2006 đến nay công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được nâng cao một bước thường qua việc thực hiện “Đề án trợ giúp người tàn tật Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010” Theo Đề án này, các phương tiện thông tin đại chúng từ trung ương đến địa phương đã đẩy mạnh công tác truyền thông về người khuyết tật Đài tiếng nói Việt Nam đã có các hệ phát thanh chuyên mục về người khuyết tật (VOV1, VOV2, VOV new ) Các đài phát thanh, truyền hình, báo của trung ương và các tỉnh đã phối hợp với các ngành, các cấp tổ chức, đưa tin, bài về vấn
đề người khuyết tật, nêu gương người tốt việc tốt về công tác bảo trợ người khuyết tật và những người khuyết tật tự vươn lên Các Sở Lao động - Thương binh và Xã hội ở địa phương đã làm đầu mối tổ chức triển khai hướng dẫn, tập huấn các văn bản, quy định mới của Nhà nước về chính sách trợ giúp đối với người khuyết tật tới đối tượng thực hiện, trang bị các tài liệu có liên quan đến chính sách, pháp luật về người khuyết tật tới các ngành, các cấp, tổ chức hội đoàn thể
để thực hiện và tuyên truyền phổ biến tới toàn thể nhân dân Mặt khác, các Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch cũng đã tổ chức các hình thức truyền thông phổ biến như: tranh cổ động cỡ lớn, băng zôn, khẩu hiệu, pano, áp phích, các hình thức sân khấu hoá… tuyên truyền về người khuyết tật Hàng năm, vào dịp ngày người khuyết tật Việt Nam, Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ
em mồ côi Việt Nam phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam tổ chức các Chương trình “Một trái tim - Một thế giới”, “Người xây tổ ấm”, “Vượt lên số phận” với mục đích tuyên truyền những điển hình của người khuyết tật tự vươn lên đạt thành tích cao trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, kỹ thuật, thể thao, văn hoá
Mặc dù, không có số liệu đánh giá mức độ thay đổi nhận thức cộng đồng, những hoạt động nêu trên đã góp phần làm thay đổi quan niệm, nhận thức của xã hội và của bản thân người khuyết tật 3 về vấn đề khuyết tật và người khuyết tật Kết quả cuộc điều tra mẫu thực hiện trong năm 2008 về tình hình thực hiện pháp luật người tàn tật cho thấy, có 80% cán bộ nhân viên làm việc liên quan đến người khuyết tật biết và nắm bắt được nội dung cơ bản của các chính sách đối với người khuyết tật Tương tự, khoảng 76% người khuyết tật và gần 80% hộ gia đình có người khuyết tật biết và nắm được nội dung cơ bản về các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với người khuyết tật và hộ gia đình có người khuyết tật 4
Ngoài ra, thay đổi về nhận thức trong xã hội được thể hiện qua mức độ tăng tính trách nhiệm của Chính phủ, các cơ quan, tổ chức trong bộ máy hành chính nhà nước và các tổ chức,
cá nhân trong xã hội Luật Người khuyết tật ra đời năm 2010 với sự tham gia đóng góp xây dựng của nhiều cơ quan Chính phủ, các ban ngành, các tổ chức của người khuyết tật và các cá
3 Điều tra tình hình thực hiện pháp luật người tàn tật tại 11 tỉnh/thành phố ở Việt Nam, năm 2009, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
4 Tỷ lệ này phản ánh đối với một số chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người khuyết tật.
Trang 13nhân trong cả nước đã minh chứng cho sự thay đổi này Hiện nay, giải quyết vấn đề khuyết tật
và người khuyết tật không chỉ thuộc phạm trù đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà còn
là trách nhiệm pháp lý của Nhà nước
c) Hạn chế, khó khăn, thách thức
Theo đánh giá của các Bộ, ngành trong những năm qua nhận thức của xã hội về vấn đề khuyết tật và người khuyết tật ở Việt Nam đã được nâng cao đáng kể, nhưng trên thực tế việc nâng cao nhận thức cộng đồng hiệu quả chưa cao Việc nâng cao nhận thức chưa được đồng đều trong toàn xã hội mà tập trung chủ yếu vào tầng lớp cán bộ, viên chức, nhân viên làm việc trong
cơ quan tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội, những người có tham gia công tác xã hội, đoàn thể
và hộ gia đình có người khuyết tật và bản thân một bộ phận người khuyết tật đang được hưởng chính sách trợ giúp xã hội Còn lại, số đông người dân và người khuyết tật nhận thức về vấn đề khuyết tật và người khuyết tật còn hạn chế, quá trình thay đổi nhận thức diễn ra chậm chạp Mặt khác, cũng cần lưu ý là nhận thức về vấn đề khuyết tật và người khuyết tật còn chưa thực sự đầy đủ, đa phần chỉ biết về các chính sách trợ giúp trực tiếp, chế độ ưu đãi xã hội đối với người khuyết tật chứ chưa quan tâm đến các quy định, chính sách khác; đặc biệt là các chính sách đảm bảo quyền của người khuyết tật và các chính sách trợ giúp người khuyết tật tham gia bình đẳng vào xã hội Kết quả khảo sát lấy ý kiến nhân dân về tình hình thực hiện Pháp lệnh Người tàn tật do Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội thực hiện năm 2008 tại 4 tỉnh, thành phố với mẫu điều tra 486 đối tượng cho thấy, có đến 77,2% không biết đến Pháp lệnh Người tàn tật, còn bản thân người khuyết tật có đến 64,4% trong số họ suy nghĩ rằng người tàn tật là người sống phụ thuộc, 29,7% nghĩ người tàn tật là vô dụng
Một cuộc điều tra khác thực hiện năm 2007 được sự tài trợ của Quỹ Ford, Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội (ISDS) đã tiến hành khảo sát 4 tỉnh, thành ở Việt Nam và đưa ra những
số liệu thống kê sau đây về quan điểm của cộng đồng về người khuyết tật Qua đó, phần nào phản ánh thực trạng về nhận thức của cộng đồng với vấn đề khuyết tật và người khuyết tật còn rất hạn chế: mang tính từ thiện, phân biệt đối xử, xét nét đến những khiếm khuyết, hạn chế của người khuyết tật
Thái độ của cộng đồng với người khuyết tật Tỉ lệ quan điểm đồng ý
Người khuyết tật không thể có cuộc sống bình thường 40% đến 59,4%
Người khuyết tật bị như vậy là do số phận 56% đến 65%
Người khuyết tật đáng phải gánh chịu số kiếp khuyết tật như
vậy vì họ phải trả giá cho việc làm xấu xa ở kiếp trước
14% đến 21%
Gặp phải người khuyết tật là gặp vận đen 17%
Nguồn: Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội (ISDS), năm2007
Trang 14Qua thực tế triển khai chính sách người khuyết tật trong nhiều năm qua có thể dễ dàng nhận thấy một số khó khăn, thách thức cơ bản làm hạn chế hiệu quả của công tác nâng cao nhận thức cộng đồng về vấn đề khuyết tật và người khuyết tật bao gồm:
- Ngân sách cho truyền thông, phổ biến văn bản pháp luật về người khuyết tật, vận động xã hội rất hạn hẹp thậm chí không có;
- Công tác truyền thông còn mang nặng tính phong trào, hình thức, chưa đi vào chiều sâu;
- Hình thức tuyên truyền vận động nghèo nàn, chưa thu hút được sự quan tâm của đối tượng truyền thông;
- Tuyên truyền chưa thường xuyên, rộng khắp phần lớn tập trung ở vùng đô thị, vùng tập trung dân cư, vào ngày lễ, ngày truyền thống như ngày Người khuyết tật Việt Nam, ngày Người khuyết tật Quốc tế, ngày Thương binh - liệt sĩ Vì vậy, nhiều người khuyết tật ở vùng sâu, vùng
xa không biết được nội dung của những chính sách đối với người khuyết tật;
- Các cấp chính quyền chưa thực sự quan tâm mà giao phó cho một số tổ chức đoàn thể theo dõi thực hiện
3.2 Chăm sóc sức khỏe người khuyết tật
a) Về chính sách
Ở Việt Nam, nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ cho người khuyết tật được Chính phủ giao cho
Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành khác xây dựng và thực hiện các chương trình y
tế cho người khuyết tật Hiện nay, khung chính sách chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật tương đối đầy đủ cả về phát triển hạ tầng cơ sở y tế xã hội cho đến những ưu tiên trợ giúp chăm sóc y tế đối với người khuyết tật Một số chính sách quan trọng như: Chiến lược phục hồi chức năng tại cộng đồng; Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008; Luật Khám bệnh, chữa bệnh được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ 01/01/2011, đã cơ bản đảm bảo cơ sở pháp lý để thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ cho người khuyết tật
b) Kết quả thực hiện
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ chương, chính sách chăm sóc sức khỏe người khuyết tật Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, đến nay các địa phương đã cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 100% người khuyết tật thuộc hộ gia đình nghèo, thực hiện chỉnh hình phục hồi chức năng và cấp dụng cụ chỉnh hình miễn phí cho khoảng 300 ngàn người khuyết tật; cung cấp phương tiện trợ giúp như: xe lăn, xe đẩy, chân tay giả cho trên
100 ngàn người; phẫu thuật chỉnh hình và trợ giúp phục hồi chức năng cho hàng trăm ngàn trẻ
em khuyết tật
Mạng lưới trạm y tế xã đã phát triển ở hầu hết các tỉnh, thành phố của cả nước, 98,6%
xã, phường có trạm y tế xã và 67,7% xã, phường có bác sỹ và gần 85% thôn bản có cán bộ
y tế cộng đồng, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh tối thiểu cho người dân và
Trang 15người khuyết tật Mạng lưới phục hồi chức
năng dựa vào cộng đồng đã được phát triển ở
51/63 tỉnh, thành phố với hơn 50% số huyện,
trên 50% số xã
Theo đánh giá của Uỷ ban các vấn đề xã
hội của Quốc hội năm 2008 có 52,4% người
khuyết tật đi khám bệnh, phục hồi chức năng
nhận được sự hỗ trợ về kinh phí (giảm viện
phí)
Báo cáo về tình hình thực hiện Quyết định
số 239/2006/QĐ-TTg ngày 24/10/2006 của
Thủ tướng Chính phủ về Đề án trợ giúp người
tàn tật giai đoạn 2006 - 2010 cho thấy, công
tác chăm sức khoẻ người khuyết tật đang được
quan tâm thích đáng, phấn đấu đạt được mục tiêu và các chỉ tiêu của Đề án, đảm bảo khoảng 70% người khuyết tật được tiếp cận với y tế; hơn 3.000 người khuyết tật vận động được phẫu thuật chỉnh hình, phục hồi chức năng; hoàn thiện tiêu chuẩn phân loại, phân hạng khuyết tật; triển khai công tác phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng ở 50% số tỉnh; 50% số quận, huyện
và 50% số xã, phường trong cả nước; đồng thời tăng cường năng lực chuyên môn chuyên ngành phục hồi chức năng cho đội ngũ cán bộ y tế, đặc biệt là tuyến cơ sở; phát triển dịch vụ phát hiện sớm - can thiệp sớm khuyết tật ở trẻ em
c) Hạn chế, khó khăn, thách thức
Người khuyết tật vẫn còn nhiều khó khăn trong tiếp cận với các dịch vụ y tế, nhất là người khuyết tật ở vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện đi lại không thuận tiện Kết quả điều tra đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về người khuyết tật năm 2008 của Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội cho thấy 58,34% người khuyết tật và 80% hộ gia đình có người khuyết tật còn đang gặp phải khó khăn trong việc khám chữa bệnh - chăm sóc sức khoẻ cho người khuyết tật
Mặc dù hầu hết các xã đã có trạm y tế nhưng chất lượng còn hạn chế, mới có 46% xã có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia; đội ngũ y bác sĩ, giáo viên ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn thiếu, chất lượng còn thấp, các trang thiết bị phục vụ chuyên môn còn thô sơ, lạc hậu, không đảm bảo chất lượng
Phần lớn hộ gia đình có người khuyết tật có hoàn cảnh kinh tế khó khăn (32,5% thuộc diện nghèo) nên khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế bị hạn chế, đặc biệt là tiếp cận với dịch vụ y tế chất lượng cao do những chi phí ngoài điều trị (chi phí đi lại, chăm sóc, ăn ở, thuốc men, ) vượt quá khả năng tài chính của người khuyết tật và hộ gia đình có người khuyết tật; bên cạnh
đó những thủ tục, quy định đối với việc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế khi chuyển tuyến còn phức tạp với đa số người khuyết tật
Khám cho người khuyết tật tại phường 8,
quận Tân Bình
Trang 16Một số khó khăn, thách thức trong công tác chăm sóc sức khoẻ người khuyết tật:
- Các mô hình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng mặc dù được triển khai ở Việt Nam
từ năm 1987, nhưng cho đến nay chủ yếu thực hiện các hoạt động trong phạm vi của lĩnh vực
y tế, sự tham gia của các ngành thuộc các lĩnh vực khác còn hạn chế Nguồn kinh phí chi cho chương trình này còn rất hạn chế, chủ yếu dựa vào các tổ chức Quốc tế, Tổ chức phi Chính phủ (NGO) nên kết quả thực hiện chưa cao
- Chất lượng của mạng lưới y tế tuyến cơ sở còn thấp, các trạm y tế xã thiếu trang thiết bị, trang thiết bị lạc hậu, không đảm bảo cơ số thuốc, thiếu bác sỹ, nhân viên y tế có chuyên môn
về phục hồi chức năng; chưa có chính sách ưu đãi cho cán bộ y tế làm công tác phục hồi chức năng và chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật
- Chưa có chính sách cấp thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng người khuyết tật nhẹ không hưởng chính sách bảo trợ xã hội
- Sử dụng thẻ bảo hiểm y tế còn nhiều bất cập, nhất là trong việc chuyển tuyến khám chữa bệnh, điều trị - phục hồi chức năng, một số danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng đang được thực hiện tại các cơ sở y tế chưa được quỹ bảo hiểm y tế chi trả, phần lớn các dụng cụ trợ giúp cho người khuyết tật chưa được bảo hiểm y tế thanh toán
40% người nghèo không tiếp cận được dịch vụ y tế vì không có tiền
Tại Hội nghị khoa học Kinh tế Y tế lần thứ nhất tổ chức ngày 7-8/12/2010, ông Lý Ngọc Kính, nguyên Cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh, Phó chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Y tế Việt Nam cho biết: “Xã hội đang tồn tại một nghịch lý là người nghèo mắc bệnh nhiều nhưng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế thấp hơn các đối tượng khác”.
Cụ thể: Có khoảng 40% người nghèo ốm đau bệnh tật không được điều trị vì không
có tiền Cũng vì không có tiền nên người nghèo chỉ đi khám trung bình 2,9 lượt/người/ năm, trong khi người có khả năng kinh tế đi khám 4,7 lượt/người/năm Có 40% người
có điều kiện kinh tế sử dụng dịch vụ ngoại trú tuyến tỉnh nhưng với người nghèo, tỷ lệ này chỉ là 12%.
Đối với bệnh tiêu chảy, có tới 85% người giàu được khám chữa trong khi người nghèo chỉ có 20% Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người nghèo tại miền núi còn “thảm hại” hơn nhiều vì các rào cản như thủ tục cấp phát thẻ bảo hiểm y tế, quy trình phức tạp, thiếu nhiều giấy tờ… nên không thanh quyết toán được.
www.vietnamnet.com
Trang 173.3 Giáo dục cho trẻ em khuyết tật
a) Về chính sách
Đối với lĩnh vực giáo dục - đào
tạo đã có nhiều văn bản chính
sách hỗ trợ người khuyết tật
tiếp cận với giáo dục, quyền
lợi của các cơ sở, quyền lợi của
người tham gia dạy học đối với
người khuyết tật, chính sách
quy định về các loại hình giáo
dục cho người khuyết tật được
ban hành và áp dụng trong thực
tế đã hỗ trợ tích cực cho người
khuyết tật tiếp cận với hệ thống
giáo dục quốc dân Một số chính
sách quan trọng như: Luật Giáo
dục năm 2005 và Nghị định số 75/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục với các quy định đối với giáo dục cho người khuyết tật như: Quyết định số 23/2006/QĐ-BGDĐT ngày 22/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về giáo dục hòa nhập dành cho người tàn tật/khuyết tật; Thông tư liên tịch của liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 10/8/2005 hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở trong đó có quy định “Học sinh tàn tật thuộc diện hộ nghèo được miễn học phí và các khoản đóng góp xây dựng trường”
b) Kết quả thực hiện
Thực hiện Luật Giáo dục, Pháp lệnh về người tàn tật, Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương
đã tập trung nguồn lực tổ chức và phát triển các loại hình giáo dục phù hợp với người khuyết tật, đến nay đã tổ chức được ba loại hình giáo dục gồm: giáo dục hoà nhập, giáo dục chuyên biệt và giáo dục hội nhập/bán hòa nhập Với ba loại hình này đã tạo điều kiện tốt nhất để người khuyết tật lựa chọn tham gia loại hình giáo dục phù hợp với mức độ khuyết tật và năng lực bản thân
Đối với giáo dục hoà nhập
Cho đến nay công tác quản lý giáo dục hoà nhập bước đầu đi vào hoạt động tại các cơ quan quản lý và cơ sở giáo dục, hình thành hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập cấp tỉnh ở 20 tỉnh, thành phố trong cả nước
Mạng lưới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giáo viên cho giáo dục hoà nhập được hình thành và phát triển ở các trường đại học, cao đẳng và viện nghiên cứu Đội ngũ cán bộ quản lí và giáo viên tham gia giáo dục người khuyết tật ngày càng tăng về số lượng và chất lượng Từ năm 2002 đến nay, mỗi năm có gần 300 sinh viên được đào tạo trình độ đại học, cao đẳng về giáo dục khuyết tật, trên 10 nghìn cán bộ quản lý giáo dục mầm non, phổ thông của các Phòng, Sở Giáo
Lễ trao học bổng cho sinh viên khuyết tật vượt khó
Trang 18dục và Đào tạo trên cả nước đã được bồi dưỡng
nghiệp vụ về giáo dục người khuyết tật
Quy mô giáo dục người khuyết tật ngày
càng được mở rộng, các điều kiện cơ sở vật chất
đảm bảo cho người khuyết tật học tập ngày càng
được tăng cường Theo báo cáo của các Sở Giáo
dục và Đào tạo, năm học 2001 - 2002, có khoảng
70.000 người khuyết tật học trong 1.900 trường
phổ thông thuộc 97 quận/huyện của 54 tỉnh/
Công tác xã hội hoá giáo dục hoà nhập được thúc đẩy, chính quyền địa phương, các tổ chức
xã hội, cộng đồng, cá nhân tham gia và ủng hộ tích cực cho giáo dục hoà nhập như huy động trẻ đến trường, đóng góp kinh phí xây dựng cơ sở vật chất của trường học, mua đồ dùng thiết
bị học tập, bảo hiểm cho người khuyết tật dưới nhiều hình thức khác nhau Bên cạnh đó, các tổ chức và cá nhân ngoài nước đã hỗ trợ có hiệu quả về kĩ thuật và tài chính cho thực hiện và thúc đẩy giáo dục hòa nhập người khuyết tật ở Việt Nam Đến nay, có khoảng hơn 20 tổ chức quốc
tế đang hỗ trợ trực tiếp lĩnh vực này
Đối với giáo dục chuyên biệt
Hệ thống các trường giáo dục chuyên biệt được xây dựng và phát triển cả về số lượng và chất lượng, nếu năm 2001 có 90 trường giáo dục chuyên biệt thì cho đến nay cả nước đã có 106 trường giáo dục chuyên biệt cho trẻ khuyết tật Hệ thống cơ sở vật chất, trường lớp, phương tiện,
đồ dùng thiết bị cùng các điều kiện được cải tiến để chăm sóc, giáo dục chuyên biệt và phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật, đồng thời đã xây dựng được chương trình giáo dục chuyên biệt cho một số dạng khuyết tật như chậm phát triển trí tuệ, khiếm thính, khiếm thị
Số lượng trẻ khuyết tật tham gia giáo dục chuyên biệt ngày càng tăng, năm học 2001 - 2002
có 7.000 em, năm học 2003 - 2004 có khoảng 7.500 em và năm học 2006 - 2007 có khoảng gần 9.000 trẻ em khuyết tật học trong các cơ sở giáo dục chuyên biệt
Giáo dục hội nhập/bán hoà nhập hoặc hình thức giáo dục khác
Các hình thức giáo dục cho người khuyết tật khác như: trường, lớp bán trú dân nuôi tại xã, trường học dạy lớp ghép, trường có lớp cắm bản (trường chính và các điểm trường phân hiệu), trường dân tộc nội trú, lớp học linh hoạt, lớp học tình thương,… ngày càng được hình thành với nhiều hình thức phong phú hơn không chỉ nhằm phục vụ cho công tác chăm sóc, giáo dục
và phục hồi chức năng cho người khuyết tật mà còn phục vụ việc chăm sóc, giáo dục cho trẻ có những nhu cầu đặc biệt
Trẻ khuyết tật vươn lên trong giáo dục hòa nhập
Trang 19c) Hạn chế, khó khăn, thách thức
Hiện nay, giáo dục trẻ em khuyết tật ở Việt Nam còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng, vẫn còn bộ phận lớn trẻ em khuyết tật chưa tiếp cận được với giáo dục, nhất là trẻ em khuyết tật ở khu vực nông thôn, miền núi và nhóm trẻ em ở dạng tật về trí tuệ Theo báo cáo năm 2007 của Viện khoa học Giáo dục về công tác giáo dục trẻ khuyết tật cho thấy: có đến 55,49% trẻ em gái và 39,01% trẻ em trai bị khuyết tật chưa từng được đi học Tỷ lệ huy động trẻ khuyết tật đến trường hàng năm rất thấp và dấu hiệu gia tăng chậm, năm học 2005 - 2006 có 24,22%, năm học
2006 - 2007 có khoảng gần 27,38% và năm học 2007 - 2008 chỉ có 28% trẻ khuyết tật được đến trường và chủ yếu ở bậc mầm non và tiểu học5 Bên cạnh đó, tình trạng trẻ khuyết tật bỏ học cũng là vấn đề cần quan tâm, cũng theo báo cáo năm 2007 của Viện khoa học Giáo dục số trẻ
em khuyết tật đi học có đến 32,99% bỏ học
Bên cạnh đó, mạng lưới các cơ sở giáo dục cho người khuyết tật còn rất thiếu và chất lượng chưa đảm bảo, năm 2002 cả nước mới có 90 cơ sở giáo dục chuyên biệt cho người khuyết tật, đến năm 2008 cũng mới chỉ có 105 cơ sở và đến nay cũng mới chỉ tăng thêm 02 cơ sở đưa tổng
số cơ sở giáo dục chuyên biệt cho trẻ em khuyết tật lên 107 cơ sở Ngoài ra, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và đội ngũ giáo viên chuẩn tối thiểu về năng lực giáo dục trẻ khuyết tật còn thiếu nghiêm trọng
Những khó khăn và thách thức đối với giáo dục cho trẻ khuyết tật rút ra từ thực tế triển khai trong những năm qua là:
- Nhận thức của người khuyết tật và gia đình có người khuyết tật về giáo dục cho người khuyết tật còn chưa đầy đủ, không nhìn nhận đúng lợi ích của giáo dục đối với người khuyết tật Kết quả điều tra đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về người khuyết tật năm 2009 cho thấy, chỉ có 26,1% hộ gia đình có nhu cầu hỗ trợ để người khuyết tật trong hộ gia đình đi học văn hoá và chỉ có 6,9% người khuyết tật trong mẫu điều tra ở độ tuổi từ 6 - 18 tuổi có nhu cầu học văn hoá;
- Chưa có số liệu và thông tin đầy đủ về quy mô, cơ cấu giới tính, cơ cấu dạng tật của trẻ
em khuyết tật Số liệu và thông tin hiện có ở các lĩnh vực đều thiếu và không thống nhất giữa các Bộ, ngành từ trung ương đến địa phương;
- Thiếu cơ sở giáo dục chuyên biệt cho trẻ khuyết tật, đồng thời các cơ sở phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở khu vực thành thị, do vậy không thể đáp ứng được nhu cầu học tập của trẻ khuyết tật theo vùng, miền;
- Giáo dục cho người khiếm thính còn gặp khó khăn, bất cập khi mà học sinh khiếm thính chủ yếu được học cấp 1 ở các trường chuyên biệt, nhưng không có cơ hội học tiếp lên vì không
có trường học ở cấp cao hơn Hiện nay, mới chỉ có một số lớp thí điểm học cao hơn cho học sinh khiếm thính ở một số ít địa phương;
- Các trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập hiện có chưa đủ về số lượng và năng lực thực hiện chức năng hỗ trợ giáo dục hòa nhập, mới chỉ tập trung không đồng đều ở một số tỉnh, thành;
5 Tỷ lệ học sinh khuyết tật ở cấp học sau phổ thông cơ sở chỉ có khoảng 0,91% trong tổng số trẻ khuyết tật đang đi học
Trang 20- Hệ thống nguồn nhân lực hỗ trợ giáo dục hoà nhập thiếu và yếu, mạng lưới giáo viên cốt cán giáo dục hòa nhập cấp huyện, cụm trường và của từng trường chưa được hình thành và hoạt động có hiệu quả;
- Nguồn ngân sách nhà nước cho giáo dục trẻ khuyết tật chưa đáp ứng được nhu cầu;
- Các văn bản pháp quy về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục cho người khuyết tật chưa đề cập đầy đủ, rõ nét các điều khoản, các nội dung và đối tượng của giáo dục hòa nhập; cơ chế giám sát thực hiện các văn bản pháp quy liên quan đến giáo dục hòa nhập trong hệ thống giáo dục - đào tạo còn nhiều bất cập
3.4 Dạy nghề và việc làm cho người khuyết tật
a) Về chính sách
Vấn đề dạy nghề và việc làm cho người khuyết tật được Nhà nước Việt Nam quan tâm
và chỉ đạo tổ chức thực hiện Luật Dạy nghề năm 2006 dành toàn bộ chương VII quy định dạy nghề cho người khuyết tật với mục tiêu giúp người khuyết tật có năng lực thực hành nghề phù hợp với khả năng lao động của mình để tự tạo việc làm hoặc tìm được việc làm, ổn định đời sống và hoà nhập cộng đồng Đồng thời, Nhà nước cũng khẳng định, hỗ trợ về tài chính và các
ưu đãi khác đối với các cơ sở dạy nghề cho người khuyết tật nhằm khuyến khích công tác dạy nghề cho người khuyết tật Bộ luật Lao động ban hành năm 1994 đã dành một mục riêng với
4 Điều quy định về lao động là người khuyết tật và khẳng định: “Nhà nước bảo hộ quyền làm việc của người tàn tật và khuyến khích việc thu nhận, tạo việc làm cho người tàn tật” Nhà nước cũng thực hiện chính sách hỗ trợ tài chính cho người khuyết tật tạo việc làm Trong Bộ luật Lao động, Điều 125 nêu rõ: “Hàng năm, Nhà nước dành một khoản ngân sách để giúp người tàn tật phục hồi sức khỏe, phục hồi chức năng lao động, học nghề và có chính sách cho vay với lãi suất thấp để người tàn tật tự tạo việc làm và tự ổn định đời sống”
b) Kết quả thực hiện
Về học nghề của người khuyết tật
Dạy nghề và đào tạo nghề là một nội dung quan trọng trong việc bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xã hội nói chung và cũng bảo đảm yêu cầu giải quyết việc làm cho người lao động Đối với người khuyết tật, dạy nghề là tiền đề tạo ra cơ hội việc làm và xúc tiến việc làm cho người khuyết tật, góp phần hỗ trợ người khuyết tật từng bước hoà nhập cộng đồng
Ở Việt Nam, công tác dạy nghề cho người khuyết tật được Nhà nước đặc biệt quan tâm
hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi từ phát triển hạ tầng cơ sở dạy nghề, cho đến chính sách trợ giúp người khuyết tật học nghề, chính sách ưu đãi đối với người tham gia dạy nghề cho người khuyết tật
Số cơ sở dạy nghề ở Việt Nam tăng lên cả về số lượng, quy mô và chất lượng đào tạo, đồng thời công tác dạy nghề cho người khuyết tật từng bước được xã hội hoá với sự tham gia ngày càng nhiều của khu vực tư nhân Tính đến thời điểm hiện tại cả nước có 256 cơ sở dạy nghề (trong đó có 78 cơ sở của tư nhân) đóng trên địa bàn 56 tỉnh, thành phố Trong tổng số 256 cơ
Trang 21sở này chỉ có 55 cơ sở dạy nghề chuyên biệt cho người khuyết tật, còn lại là các cơ sở dạy nghề khác có tham gia dạy nghề cho người khuyết tật.
Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về dạy nghề từ trung ương đến địa phương đã được kiện toàn một bước, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dạy nghề cũng đã quy định: các cơ sở dạy nghề dành riêng cho người khuyết tật được ưu tiên cấp địa điểm thuận lợi, hỗ trợ vốn, cấp kinh phí đào tạo, miễn giảm thuế, được vay vốn với lãi suất ưu đãi; các cơ sở dạy nghề khác nhận người khuyết tật vào học nghề, nâng cao trình độ tay nghề được ưu tiên đầu tư, bảo đảm định mức kinh phí đào tạo Người khuyết tật học nghề được xem xét cấp học bổng và trợ cấp
xã hội, được miễn hoặc giảm học phí căn cứ mức độ khuyết tật và mức độ suy giảm khả năng lao động
Trong những năm qua, nguồn ngân sách nhà nước cho công tác dạy nghề cho người khuyết tật đã dành hàng trăm tỷ đồng kinh phí từ Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo để đầu tư xây dựng cơ sở, hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho người khuyết tật (2005 = 11,5 tỷ;
2006 = 20 tỷ; 2007 = 156 tỷ; 2008 =165 tỷ và 2009 = 183 tỷ (bao gồm 2 đối tượng nông dân và người khuyết tật)
Số lượng người khuyết tật được học nghề ngày càng tăng: giai đoạn 1999 - 2004 có gần 19.000 người khuyết tật được đào tạo nghề; giai đoạn 2005 - 2008 mỗi năm có khoảng 8.000 người, gấp hai lần so với giai đoạn trước (riêng năm 2008 có 8.712 người khuyết tật được học nghề)
Nguồn: Tổng Cục dạy nghề - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, năm 2010.
Số người khuyết tật được dạy nghề giai đoạn 2006-2010
Trang 22Về việc làm của người khuyết tật
Việc làm có ý nghĩa quan trọng đối với người khuyết tật, không những tạo ra thu nhập để đáp ứng nhu cầu của bản thân và gia đình người khuyết tật mà còn giúp cho người khuyết tật phục hồi chức năng, có cơ hội giao tiếp xã hội, hoà nhập cộng đồng, đảm bảo quyền công dân của người khuyết tật
Trong những năm qua, Nhà nước đã có nhiều biện pháp xúc tiến việc làm cho người khuyết tật, đã ban hành và thực thi nhiều chính sách ưu đãi, khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng lao động là người khuyết tật, cơ sở sản xuất kinh doanh của người khuyết tật, thành lập Quỹ quốc gia về việc làm Đặc biệt, từ năm 2006 ngành Lao động - Thương binh và Xã hội thường xuyên tổ chức các hội chợ việc làm, trong đó có khu vực dành riêng cho người khuyết tật với
sự tham gia của nhiều doanh nghiệp, cơ sở dạy nghề và người khuyết tật Do vậy, người khuyết tật có nhiều cơ hội việc làm hơn và số lượng người khuyết tật có việc làm được gia tăng hàng năm Bằng chứng là số lượng cơ sở sản xuất, kinh doanh của người khuyết tật và số lao động
là người khuyết tật đã tăng gấp đôi kể từ năm 1995 đến nay, từ 177 cơ sở với 7.821 lao động là người khuyết tật, đến nay đã có hơn 400 cơ sở và trên 15.000 lao động Riêng Hội người mù quản lý 146 cơ sở, thu hút khoảng 4.000 lao động
Quỹ quốc gia về việc làm đã giao cho Hội người mù quản lý trên 31 tỷ đồng cho khoảng 13.000 hội viên được vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm2, khoảng 65% số
hộ có người khuyết tật được hưởng các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, như: miễn giảm thuế, hỗ trợ tín dụng ưu đãi, hỗ trợ đất sản xuất
Ngoài ra, có nhiều tổ chức, cá nhân đã có nhiều sáng kiến, nỗ lực nhằm tạo việc làm cho người khuyết tật Điển hình là, với sự hỗ trợ từ VNAH và USAID, mạng lưới các doanh nghiệp thúc đẩy việc làm hòa nhập cho người khuyết tật (Hội đồng Dải Băng Xanh - BREC) được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thành lập năm 2007 và phát triển cho đến nay đã có hơn 100 doanh nghiệp thành viên đại diện cho các miền Bắc, Trung, Nam Các doanh nghiệp trong mạng lưới đã và đang đi tiên phong trong việc tư vấn và tuyển dụng người khuyết tật vào làm việc thực hiện tuyển dụng và trợ giúp người khuyết tật trong môi trường hòa nhập, hỗ trợ thông tin và kỹ thuật cho các doanh nghiệp về các vấn đề liên quan tới người lao động Tính đến cuối năm 2010, BREC đã tạo việc làm cho 990 người khuyết tật và 300 người khuyết tật được học nghề Kết quả này là nền tảng cho việc thúc đẩy vai trò của doanh nghiệp trong việc tạo việc làm trong môi trường hòa nhập cho người khuyết tật
c) Hạn chế, khó khăn, thách thức
Về học nghề của người khuyết tật
Số lượng người khuyết tật được học nghề còn quá ít và chiều hướng tăng không đáng kể
Tỷ lệ người khuyết tật sau đào tạo nghề tìm được việc làm còn rất thấp và chủ yếu là tự tạo việc làm, số có thể tìm được việc làm trong các doanh nghiệp lớn hầu như không đáng kể Theo đánh
6 Các dịch vụ trợ giúp việc làm đối với người tàn tật - Vụ Lao động - Việc làm - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, năm 2008.
Trang 23giá của Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội năm 2008 cho thấy, chỉ có khoảng 12,1% người khuyết tật được học nghề.
Khó khăn, thách thức:
- Nhận thức của bản thân người khuyết tật và gia đình về đào tạo nghề cho người khuyết tật còn chưa đầy đủ; nhu cầu học nghề của người khuyết tật rất thấp Kết quả điều tra năm 2008 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy chỉ có 13,7% người khuyết tật có nhu cầu học nghề
- Nhận thức của chính quyền các cấp về dạy nghề cho người khuyết tật còn chưa đầy đủ
- Hệ thống dạy nghề hiện nay vừa yếu, vừa thiếu, chưa đủ khả năng đáp ứng công tác dạy nghề cho người khuyết tật
- Nội dung chương trình, ngành nghề đào tạo, hình thức đào tạo chưa hợp lý về kết cấu, quá nặng về lý thuyết, thiếu thực hành; chưa có những giáo trình dành riêng cho người khuyết tật; thiếu các thiết bị dạy nghề đối với người khuyết tật
- Đội ngũ giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật còn yếu cả về kiến thức, kỹ năng và nhận thức về các lĩnh vực kỹ thuật, sư phạm và quản lý đối với người khuyết tật
- Năng lực giới thiệu việc làm sau đào tạo nghề cho người khuyết của hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm còn hạn chế
- Chưa có số liệu thống kê, đánh giá, phân loại số người khuyết tật theo mức độ khuyết tật, dạng tật, theo khả năng lao động để giúp cho công tác dạy nghề phù hợp với khả năng học nghề, khả năng lao động, yêu cầu của nghề nghiệp trong tương lai
- Các ngành nghề trong chương trình dạy chưa phù hợp với thị trường lao động, chủ yếu đào tạo ngắn hạn, các nghề/ công việc ở trình độ bậc thấp
Về việc làm của người khuyết tật
Trên thực tế nhu cầu việc làm của người khuyết tật là rất lớn và hiện nay mới chỉ đáp ứng được một phần nhỏ Mặt khác, phần lớn những người khuyết tật có việc làm không ổn định, làm các công việc tạm thời, lao động chân tay, chủ yếu là tự tạo việc làm, làm việc trong các tổ chức, cơ sở mang tính nhân đạo từ thiện Rất ít người tìm được việc làm và làm việc ổn định trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hoặc các công việc đòi hỏi kỹ năng, trình độ chuyên môn Thu nhập từ việc làm của người khuyết tật thấp do chủ yếu làm việc trong khu vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Khó khăn, thách thức:
- Mặt bằng trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật thấp và những hạn chế do khuyết tật, cộng thêm những rào cản xã hội như: thái độ phân biệt, suy nghĩ tiêu cực, e ngại về chất lượng lao động, chi phí lao động của các doanh nghiệp đối với lao động khuyết tật, một số doanh nghiệp “yêu cầu ngoại hình”,…nhà xưởng, cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị của doanh nghiệp không phù hợp với người khuyết tật Ngoài ra, các công trình kiến trúc, phương tiện giao thông
Trang 24công cộng thiết kế không phù hợp với người khuyết tật ,… là những yếu tố hạn chế cơ hội việc làm của người khuyết tật; để cải thiện những hạn chế này cần nhiều thời gian và sự hỗ trợ của cộng đồng.
- Nhận thức của các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức về vấn đề việc làm cho người khuyết tật còn hạn chế Hầu hết các doanh nghiệp chưa nhiệt tình khi nhận lao động là người khuyết tật vào làm việc với các lý do: pháp luật lao động quy định thời giờ làm việc của người khuyết tật không quá 7giờ/ngày, 42 giờ/tuần không phù hợp với dây chuyền sản xuất; trình độ chuyên môn của người khuyết tật thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghệ sản xuất; sức khỏe người khuyết tật không đảm bảo dễ xảy ra tai nạn lao động, đặc biệt một số ngành như: luyện kim, hóa chất, địa chất, khai thác mỏ, khoáng sản, xây dựng cơ bản, không phù hợp với sức khỏe của người khuyết tật
- Thời giờ làm việc của người khuyết tật được quy định trong Bộ luật Lao động là không quá 7 giờ một ngày hoặc 42 giờ một tuần Trên thực tế xét theo giác độ bình đẳng về cơ hội, quy định này đã làm giảm cơ hội việc làm cho người khuyết tật vì ảnh hưởng đến quy trình và năng suất sản xuất của cơ sở sản xuất, đặc biệt là những cơ sở sản xuất theo phương thức dây chuyền, ca kíp
- Dịch vụ hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật tập trung chủ yếu ở khâu dạy nghề và giới thiệu việc làm Trong khi khâu tư vấn nghề, hỗ trợ tại nơi làm việc, tạo ra các điều chỉnh hợp lý tại nơi làm việc còn hạn chế Các đơn vị cung cấp dịch vụ liên quan đến việc làm và phục hồi khả năng lao động cho người khuyết tật như: các cơ sở dạy nghề, trung tâm giới thiệu việc làm, đơn vị phục hồi chức năng - bệnh viện, doanh nghiệp chưa tạo được sự kết nối, hợp tác chặt chẽ do hiện nay Việt Nam chưa chính thức có chương trình phục hồi chức năng lao động cho người khuyết tật Ví dụ, các công nhân bị tai nạn lao động cần sự hỗ trợ phối hợp của bệnh viện, đơn vị giới thiệu việc làm, doanh nghiệp, cơ sở dạy nghề… để giúp người khuyết tật phục hồi khả năng lao động, quay trở lại công việc cũ hoặc chuyển đổi sang công việc mới phù hợp
- Thiếu số liệu thống kê chính thức về tỷ lệ người khuyết tật có việc làm, tỷ lệ có việc làm sau học nghề, tỷ lệ duy trì được việc làm sau 3 tháng…
3.5 Trợ giúp xã hội, giảm nghèo cho người khuyết tật
a) Về chính sách
Chính sách trợ giúp xã hội
Ở Việt Nam trợ giúp xã hội bao gồm hai nhóm chính sách: Trợ giúp thường xuyên và trợ giúp đột xuất Các chính sách trợ giúp đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thu nhập thường xuyên và đột xuất cho các đối tượng dễ bị tổn thương như người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn góp phần ổn định cuộc sống, nâng cao năng lực phòng chống rủi ro cho họ
Đối với chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên, điều kiện để được hưởng chính sách từng bước được cải tiến theo hướng mở rộng diện đối tượng được hưởng và mức hưởng Nghị định
Trang 25số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội đã mở rộng tới các đối tượng người khuyết tật nặng không có khả năng lao động ở
cả các hộ nghèo và hộ không nghèo với nguồn kinh phí được đảm bảo bởi ngân sách nhà nước Ngoài ra, nhiều mô hình trợ giúp xã hội được xây dựng phù hợp với nhu cầu của từng nhóm đối tượng Phong trào xã hội hóa chăm sóc đối tượng được mở rộng đã bổ sung một phần cho nguồn lực còn hạn chế từ ngân sách
Đối với trợ giúp xã hội đột xuất đã huy động được phong trào tương thân, tương ái của mọi tầng lớp nhân dân, của các tổ chức quần chúng, các doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, nhờ đó đã đóng góp được một phần đáng kể cho những thiếu hụt từ ngân sách nhà nước Công tác trợ giúp đột xuất đã góp phần quan trọng ổn định cuộc sống cho những đối tượng bị rủi ro do thiên tai
Các chính sách, chương trình giảm nghèo
Các chính sách, chương trình giảm nghèo trong thời gian qua đã đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm an sinh xã hội cho người nghèo, hộ nghèo và địa bàn nghèo Hệ thống chính sách giảm nghèo tương đối toàn diện, tập trung vào các vùng đặc thù, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc, miền núi Giảm nghèo được thực hiện đồng thời trên cả ba phương diện, gồm: (i) Tăng cường tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà ở và nước sinh hoạt; (ii) hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chính sách tín dụng ưu đãi, đất sản xuất cho hộ nghèo dân tộc thiểu số, khuyến nông - lâm - ngư, phát triển ngành nghề, xuất khẩu lao động; (iii) phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các xã đặc biệt khó khăn Các chương trình giảm nghèo đã hướng đến các địa bàn nghèo nhất Người nghèo đã dễ dàng tiếp cận với tín dụng ưu đãi, thủ tục vay đã được đơn giản Chính sách hỗ trợ y tế và giáo dục đã đem lại lợi ích thực sự cho người nghèo Hỗ trợ nhà ở đã góp phần quan trọng ổn định cuộc sống các hộ nghèo, đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo có người khuyết tật
Các chính sách, chương trình giảm nghèo trong thời gian qua đã đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ xã hội công, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận của người dân nói chung, người nghèo, người khuyết tật nói riêng tới các dịch
vụ y tế, giáo dục, nhà ở, đường, điện sinh hoạt, nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường, thông tin
và tư vấn, trợ giúp pháp lý Các tổ chức xã hội, cộng đồng ngày càng đóng vai trò quan trọng
và tham gia tốt hơn trong các hoạt động hỗ trợ và cung cấp các dịch vụ xã hội cho hộ nghèo, người khuyết tật, nhiều mô hình dịch vụ hỗ trợ người nghèo, nhóm đối tượng dễ bị tổn thương (người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn) dựa vào cộng đồng được hình thành phát triển có hiệu quả, có khả năng nhân rộng
b) Kết quả đạt được
Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đến năm 2008, các địa phương đã thực hiện trợ cấp xã hội hàng tháng cho 395.962 người khuyết tật nghèo và 8.599 hộ có từ hai người khuyết tật trở lên, nuôi dưỡng tập trung 9.798 người khuyết tật trong 300 cơ sở bảo trợ xã
Trang 26hội So với năm 1998, số người khuyết tật được hưởng các chính sách trợ giúp xã hội tăng gấp
4 lần Các chế độ trợ giúp cũng đã được điều chỉnh tăng từ 45.000 đồng/tháng năm 2000 lên 65.000 đồng/tháng năm 2004 và 120.000đồng/tháng năm 2007 Chính sách trợ giúp xã hội đã góp phần quan trọng trong việc ổn định đời sống vật chất và tinh thần của người khuyết tật Ngoài ra, còn có 622.783 người khuyết tật là thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh, quân nhân bị tai nạn lao động, quân nhân bị bệnh nghề nghiệp, 133.356 người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị hậu quả chất độc hóa học và khoảng 4.700 gia đình có công với cách mạng đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo quy định của Pháp lệnh Người có công với cách mạng; 30.869 người hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng
Bên cạnh đó, số lượng các cơ sở bảo trợ xã hội tăng nhanh Tính đến tháng 12/2008, cả nước có khoảng 571 cơ sở bảo trợ xã hội (hơn 1/3 trong số đó là các cơ sở ngoài Nhà nước) đang nuôi dưỡng khoảng 14.613 đối tượng
Các chương trình giảm nghèo đã trợ giúp có kết quả cho hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ gia đình có người khuyết tật ổn định cuộc sống Trong ba năm 2006-2008, gần 4,2 triệu hộ được vay vốn; gần 2,1 triệu lượt người nghèo được hướng dẫn làm ăn, chuyển giao
kỹ thuật; 60 nghìn người nghèo được miễn, giảm phí học nghề; mỗi năm hỗ trợ được 30 nghìn người học nghề; khoảng 7,8 triệu lượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí và các khoản đóng góp xây dựng trường; 99,54% người nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế năm 2008; 340 nghìn hộ nghèo được hỗ trợ xóa nhà tạm Hệ thống cơ sở hạ tầng ở những địa bàn khó khăn đã được cải thiện đáng kể
c) Hạn chế, khó khăn, thách thức
Tuy vậy, còn một bộ phận người
khuyết tật nặng chưa được hưởng
chính sách trợ giúp xã hội do quy
định của Pháp lệnh là đối tượng thuộc
diện hưởng chính sách phải là người
khuyết tật nặng không có nguồn thu
nhập và không nơi nương tựa; mức
trợ cấp xã hội hàng tháng còn quá
thấp so với mặt bằng mức sống dân
cư (mới chỉ bằng 60% chuẩn nghèo),
chưa đảm bảo được đời sống của
người khuyết tật
Khó khăn, thách thức:
- Việc xác định đối tượng thuộc
diện hưởng chính sách còn nhiều bất
cập, bỏ sót đối tượng;
Tặng quà cho các cháu khuyết tật là con
các chiến sĩ công an
Trang 27- Số lượng cơ sở chăm sóc người khuyết tật ít, chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc người khuyết tật, sự tham gia của khu vực tư nhân vào việc thành lập cơ sở chăm sóc người khuyết tật còn hạn chế;
- Các chương trình giảm nghèo chưa có các chính sách hỗ trợ riêng cho đối tượng là người khuyết tật
3.6 Tiếp cận giao thông và xây dựng cơ sở hạ tầng cho người khuyết tật
a) Về chính sách
Chính sách giao thông tiếp cận
Để hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận với giao thông và cơ sở hạ tầng giao thông xã hội, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật trong đó có những quy định ưu tiên đối với người khuyết tật tham gia giao thông; tiêu chuẩn, quy chuẩn khi xây dựng mới, nâng cấp và cải tạo công trình giao thông đảm bảo tiếp cận của người khuyết tật Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 quy định các nội dung ưu tiên đối với người khuyết tật tham gia giao thông, theo đó các phương tiện giao thông và người tham gia giao thông phải ưu tiên, giúp đỡ đối với người khuyết tật, người già yếu tham gia giao thông như nhường đường, qua cầu, phà Luật quy định công trình đường bộ xây dựng mới, nâng cấp và cải tạo phải bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật
và điều kiện an toàn giao thông cho người, phương tiện tham gia giao thông đường bộ, trong đó
có người đi bộ và người khuyết tật Luật Đường sắt số 35/2005/QH11 quy định về tiêu chuẩn nhà ga, trang thiết bị trên phương tiện giao thông đường sắt đảm bảo người khuyết tật có thể tiếp cận, sử dụng Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11, trong đó có quy định
về nghĩa vụ của người vận chuyển khi vận chuyển hành khách: phải quan tâm, chăm sóc hành khách, đặc biệt đối với hành khách là người tàn tật hoặc cần sự chăm sóc trong quá trình vận chuyển Ngoài ra, còn ban hành các tiêu chuẩn ngành (hiện đang chuyển đổi thành quy chuẩn
kỹ thuật) như: Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ - ô tô khách - yêu cầu kỹ thuật - số đăng ký là 22 TCN-302-06; Tiêu chuẩn ngành - giao thông đường sắt - toa xe khách - yêu cầu
kỹ thuật kho, sản xuất, lắp ráp mới - số đăng ký là 22TCN - 347 - 06
Chính sách tiếp cận trong xây dựng cơ sở hạ tầng
Năm 2002 Bộ Xây dựng đã ban hành bộ quy chuẩn xây dựng và tiêu chuẩn xây dựng tiếp cận cho người khuyết tật Bộ quy chuẩn và tiêu chuẩn áp dụng đối với việc xây dựng mới và cải tạo công trình công cộng, nhà ở, chung cư, đường và hè phố Một số văn bản bao gồm: Quy chuẩn xây dựng công trình để đảm bảo người khuyết tật tiếp cận sử dụng; Nhà và công trình - Nguyên tắc cơ bản xây dựng công trình để đảm bảo người khuyết tật tiếp cận sử dụng; Đường
và hè phố - Nguyên tắc cơ bản xây dựng công trình để đảm bảo người khuyết tật tiếp cận sử dụng; Nhà ở - Hướng dẫn xây dựng công trình để đảm bảo người khuyết tật tiếp cận sử dụng Đây là hệ thống văn bản pháp quy kỹ thuật và các giải pháp kỹ thuật nhằm đáp ứng các yêu cầu đặt ra khi xây dựng công trình có tính đến nhu cầu tiếp cận và sử dụng của người khuyết tật
Trang 28b) Kết quả thực hiện
Về giao thông tiếp cận.
• Hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức
Từ năm 2004 đến nay, hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các đối tượng có liên quan (nhà quản lý, đội ngũ lái phụ xe, giáo viên, sinh viên giao thông) được tiến hành thường xuyên, liên tục với nhiều hình thức đa dạng, bao gồm:
- Tổ chức hội thảo nâng cao nhận thức và trao đổi kinh nghiệm về giao thông tiếp cận; tổ chức hội nghị triển khai áp dụng tiêu chuẩn TCXDVN 265:2002 - Đường và hè phố nguyên tắc cơ bản xây dựng công trình để đảm bảo người khuyết tật tiếp cận sử dụng:
- Soạn thảo và xuất bản giáo trình về giao thông tiếp cận phục vụ giảng dạy trong trường đại học Soạn thảo tài liệu tập huấn cho nhân viên phục vụ trên xe khách, trong đó có dành một chương hướng dẫn phục vụ người khuyết tật Đến nay, việc tập huấn đã được thực hiện trên phạm vi toàn quốc; phối hợp với Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) tổ chức hội thảo giới thiệu thiết kế hòa nhập cho ngành giao thông vận tải Việt Nam (dự kiến sử dụng cho các dự
án có vốn vay JBIC); biên tập và xuất bản cuốn sách “Văn bản pháp luật về giao thông tiếp cận” Cuốn sách đã được gửi đến các Ủy ban nhân dân, Sở Giao thông vận tải của 63 tỉnh, thành phố
và các cơ quan có liên quan để phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật;
- Tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến pháp luật và tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Chương trình giao thông tiếp cận
Kết quả các hoạt động nâng cao nhận thức trong những năm qua đã có ảnh hưởng tích cực đến nhận thức, thái độ và hành vi giao thông của cộng đồng cũng như việc đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật trong xây dựng, cải tạo, nâng cấp các công trình giao thông, phương tiện giao thông
• Triển khai các tuyến xe buýt tiếp cận
Bộ Giao thông vận tải đã hợp tác với các cơ quan tổ chức như VNAH tổ chức các tuyến
xe buýt tiếp cận thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hà Nội Theo thống kê, tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2006 - 2008 đã phục vụ được 160.773 lượt người khuyết tật
sử dụng xe buýt Các hoạt động cụ thể bao gồm:
- Cải tạo phương tiện: Lắp đặt thiết bị leo cho xe lăn, thang nâng và dây đai an toàn trên một
số xe buýt, đồng thời tháo bớt ghế để tạo diện tích cho xe lăn; lắp lan can an toàn bằng inox cao 1m, dài 6,5m, sơn kẻ vạch và ký hiệu lối đi dành riêng cho xe lăn; dán logo của người khuyết tật (bên ngoài và bên trong xe);
- Cải tạo nhà chờ: Tạo lối ra, vào cho xe lăn; hạ bó vỉa, tạo dốc thoải (rộng 1,2m), dán logo người khuyết tật, thông tin về giờ xe buýt phục vụ người khuyết tật tại các nhà chờ;
- Xây dựng 01 điểm trung chuyển xe buýt mẫu tại Long Biên, trong đó đã đưa vào những thiết kế mới về hạ tầng phục vụ cho người khuyết tật như: lắp đặt mẫu bờ ke mới tạo điều kiện cho xe tiếp cận sát vỉa hè với độ chênh vỉa hè và sàn xe thấp, có lối lên xuống cho hành khách
đi xe lăn tiếp cận điểm trung chuyển, có gờ dẫn hướng dành cho người khiếm thị
Trang 29• Chế tạo phương tiện tiếp cận
Việt Nam đang trong quá trình sản xuất thử nghiệm các phương tiện giao thông tiếp cận cho người khuyết tật, đã chế tạo thành công xe buýt tiếp cận theo tiêu chuẩn ban hành: trên khoang hành khách có bố trí diện tích cũng như cơ cấu an toàn cho 01 xe lăn; lắp cơ cấu thang nâng, dẫn động thủy lực, điều khiển điện tự động để xe lăn của người khuyết tật có thể tiếp cận; đồng thời đã chế tạo thử nghiệm 01 toa xe đường sắt bảo đảm tiêu chuẩn giao thông tiếp cận cho người khuyết tật
• Tổ chức miễn, giảm giá vé đối với nguời khuyết tật:
Tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2006 đã tổ chức miễn thu phí đi xe buýt đối với người khuyết tật Tại Hà Nội đến nay đã phát được 16.286 thẻ miễn phí và đến ngày 31/12/2008 tại thành phố Hồ Chí Minh phát được 10.000 thẻ
Ngành đường sắt cũng đã có quy định giảm 10% giá vé đối với thương binh, học sinh trường SOS và học sinh các trường khuyết tật
Về tiếp cận trong xây dựng cơ sở hạ tầng
Năm 2007, Bộ Xây dựng đã tiến hành điều tra, khảo sát việc thực hiện quy chuẩn và tiêu chuẩn tiếp cận trong xây dựng công trình
Nhận thấy, bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn trước
chủ yếu phục vụ cho người khuyết tật dạng
vận động, hiện nay Bộ đang tiếp tục hoàn
thiện dự thảo tiêu chuẩn xây dựng công trình
đảm bảo cho người khiếm thị, khiếm thính
tiếp cận sử dụng
Sau một thời gian áp dụng, nhiều công
trình xây dựng lớn đã tính đến nhu cầu tiếp
cận của người khuyết tật Một số công trình
xây dựng công cộng đã được cải tạo để tăng
khả năng tiếp cận cho người khuyết tật như:
Ga Hà Nội, ga Sài Gòn, Cung Văn hóa Hữu
nghị Hà Nội, Bảo tàng Dân tộc học, Nhà hát
Bến Thành, Nhà Văn hóa Đà Nẵng… Điều này, bước đầu đã tạo ra cơ hội cho người khuyết tật tham gia vào các hoạt động xã hội và phát huy khả năng của mình để ổn định đời sống, hoà nhập cộng đồng
Tuy nhiên trong thực tế, số lượng các công trình đáp ứng sự tiếp cận và sử dụng của người khuyết tật còn rất hạn chế so với nhu cầu Một số công trình có tính đến nhu cầu tiếp cận nhưng
do không tuân thủ đúng các quy định đã được nêu trong các văn bản hiện hành nên không đảm bảo tiếp cận, như độ dốc quá cao, không bố trí tay vịn nên mất an toàn, không có biển báo, biển chỉ dẫn cho người khuyết tật
Xe lăn cho người khuyết tật tại sân bay
Trang 30Ngay tại các thành phố lớn như Hà Nội, nhiều dự án cải tạo công viên, vườn hoa, vườn bách thú, quảng trường chưa đạt tiêu chuẩn hoặc chưa tính đến nhu cầu tiếp cận của người khuyết tật Ví dụ như đá lát tại khu vực Hồ Gươm, Vườn hoa Lê Nin đều là loại đá xẻ tự nhiên có độ bóng cao nên rất dễ gây trơn trượt Tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả khảo sát các công trình công cộng phục vụ người khuyết tật do Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện cho thấy, trong tổng số 453 công trình công cộng phục vụ người khuyết tật như công trình y tế, cơ quan hành chính các cấp, công trình giáo dục, văn hóa, nhà chung cư xây dựng trước và sau năm
2003 (thời điểm quy chuẩn của Bộ Xây dựng đã có hiệu lực), có 267 công trình công cộng có lối đi chính độ dốc cao (chiếm gần 60% tổng số công trình), 53 công trình không có nhà vệ sinh (cho người bình thường và người khuyết tật), 34 công trình không có bãi giữ xe và cũng không nhận giữ xe ba bánh cho người khuyết tật Trong số 264 công trình được khảo sát thì có đến 260 công trình không có dấu hiệu chỉ báo cho người khuyết tật
c) Hạn chế, khó khăn, thách thức
Về giao thông tiếp cận
Mặc dù trong những năm qua Việt Nam đã có những bước tiến bộ bước đầu trong việc thúc đẩy giao thông tiếp cận cho người khuyết tật Tuy nhiên, trên thực tế vấn đề giao thông tiếp cận chưa đạt được kết quả cao, việc tham gia giao thông của người khuyết tật còn rất khó khăn; sự hạn chế này thể hiện ngay trong sự thiếu thốn và yếu kém của hệ thống hạ tầng giao thông cho đến phương tiện giao thông
Trên thực tế, các công trình hạ tầng giao thông được xây mới, cải tạo hoặc nâng cấp đảm bảo người khuyết tật tiếp cận rất ít Những công trình đạt yêu cầu kỹ thuật đảm bảo tiếp cận chủ yếu là những công trình được đầu tư từ nguồn vốn nhà nước hoặc những công trình mang tính chất cải tạo thí điểm Một số công trình được xây mới có các hạng mục tiếp cận nhưng người khuyết tật vẫn chưa dễ dàng tiếp cận được
Phương tiện giao thông tiếp cận cũng còn quá hạn chế, cả nước đến nay mới chỉ có 04 tuyến xe buýt với 2 - 3 xe buýt đảm bảo tiêu chuẩn tiếp cận và cũng chỉ có ở 02 thành phố trên
cả nước; 01 toa tầu điện có tiêu chuẩn phù hợp cho người khuyết tật sử dụng
Khó khăn, thách thức:
- Hạ tầng cơ sở giao thông của Việt Nam còn nhiều bất cập, hệ thống đường xá còn thiếu, chưa đồng bộ, chất lượng đường xá kém; phương tiện giao thông còn thiếu, chưa bảo đảm chất lượng, tiêu chuẩn
- Sự chỉ đạo chưa triệt để, nhất quán của các cấp quản lý địa phương, chưa chỉ đạo sát sao các cơ quan chuyên môn địa phương khi thẩm định, cấp phép các công trình xây dựng
- Ý thức, nhận thức và chấp hành pháp luật của các chủ đầu tư, các đơn vị tư vấn thiết kế, xây dựng công trình chưa cao Tâm lý e ngại, giá thành công trình tăng lên nhiều hoặc có tuân thủ quy chuẩn nhưng không đúng các chỉ tiêu về kỹ thuật (ví dụ: đường dốc vào công trình hoặc lên vỉa hè >12O nên người đi xe lăn không tự điều khiển xe lăn lên được, có thiết kế tiếp
Trang 31cận nhưng chưa hoà nhập, có nghĩa là người khuyết tật tìm được lối đi cho mình rất khó, vì nó
ở những nơi khuất, rất khó nhận thấy, không có biển báo hiệu)
- Thiếu chế tài xử phạt khi không tuân thủ các quy định trong quy chuẩn cũng như các văn bản pháp quy có liên quan trong quá trình đầu tư xây dựng mới, cải tạo hoặc nâng cấp các công trình xây dựng
- Ngân sách nhà nước hạn hẹp Ví dụ trong Đề án 239, một Đề án được đánh giá là rất cụ thể với các chỉ tiêu và ngân sách bố trí, nhưng theo kết quả báo cáo của Bộ Xây dựng, giai đoạn
2006 - 2010 cho thấy, không thể đạt được chỉ tiêu “100% các công trình xây dựng và giao thông công cộng, thiết kế và xây dựng mới phải theo quy định hiện hành; 20-30% công trình cũ được cải tạo phù hợp với tiếp cận của người khuyết tật
Về tiếp cận trong xây dựng cơ sở hạ tầng
- Thiếu sự chỉ đạo triệt để, nhất quán của các cơ quan có thẩm quyền, các cơ quan chuyên môn khi thẩm định, cấp phép các công trình xây dựng;
- Ý thức, nhận thức của các chủ đầu tư thấp, có tâm lý e ngại giá thành công trình tăng lên nhiều nếu thực hiện các tiêu chuẩn tiếp cận;
- Nhiều công trình có thực hiện quy chuẩn nhưng không đúng các chỉ tiêu về kỹ thuật do công tác giám sát xây dựng còn hạn chế;
- Chưa có các biện pháp chế tài xử phạt khi không tuân thủ các quy định trong quy chuẩn cũng như các văn bản pháp quy có liên quan trong quá trình đầu tư xây dựng mới, cải tạo hoặc nâng cấp các công trình xây dựng
3.7 Tiếp cận thông tin và truyền thông cho người khuyết tật
a) Về chính sách
Điều 9 Công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền của người khuyết tật nêu rõ: “…các quốc gia thành viên sẽ thực hiện các biện pháp thích hợp để đảm bảo người khuyết tật tiếp cận, bao gồm các công nghệ và hệ thống thông tin và truyền thông, trên cơ sở bình đẳng với những người khác,…” Lĩnh vực ưu tiên thứ 6 của khuôn khổ hành động thiên niên kỷ Biwako cũng đề cập cụ thể đến tiếp cận thông tin và viễn thông, bao gồm công nghệ thông tin, viễn thông và trợ giúp.Thông tin và truyền thông có vai trò quan trọng hỗ trợ người khuyết tật hoà nhập với cộng đồng, tăng cường khả năng tìm kiếm việc làm và cơ hội việc làm Năm 2006, Việt Nam đã ban hành Luật Công nghệ thông tin, tại khoản 6, Điều 5 của Luật nêu rõ: “có chính sách ưu đãi để
tổ chức, cá nhân có hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đối với nông nghiệp, nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người có hoàn cảnh khó khăn” Ngoài ra, Thông tư số 28/2009/TT-BTTTT ngày 14/9/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông, quy định về việc áp dụng Tiêu chuẩn, công nghệ hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông Hiện nay, Bộ Thông tin Truyền thông đang xây dựng và hoàn thiện tiêu chuẩn hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận công nghệ thông tin và truyền thông, hướng dẫn thiết kế các sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin và truyền thông đảm bảo tính tiếp cận
Trang 32b) Kết quả đạt được
Ở Việt Nam hệ thống phát thanh, truyền hình đã phủ sóng trên toàn quốc, ở bất cứ nơi nào người dân cũng có thể tiếp cận với truyền thanh và truyền hình nếu có phương tiện hỗ trợ Kết quả một số cuộc điều tra mẫu về người khuyết tật cho thấy, có từ 76,8 - 85% hộ gia đình người khuyết tật có ti vi; 35 - 45% có đài truyền thanh Như vậy có thể kết luận tình trạng tiếp cận thông tin của người khuyết tật qua hệ thống truyền thanh, truyền hình là khá tốt
Việt Nam cũng là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển viễn thông nhanh trên thế giới Tỷ lệ người có và sử dụng điện thoại và đặc biệt là di động tăng trưởng đáng khích lệ
Sự phát triển và tăng trưởng chung này đã mang lại nhiều lợi ích cho người khuyết tật Tốc độ bùng nổ của internet ở Việt Nam cũng rất nhanh, người khuyết tật đã có nhiều cơ hội tiếp cận với thông tin qua internet Hiện nay, còn có nhiều trang web dành cho người khuyết tật như: http://nccd.molisa.gov.vn; trang http://www.nghilucsong.net http://www.nguoikhuyettat.com; http://pwd.vn/; http://asvho.org.vn; hhtp://tamhonviet.net và http://cung khoinghiep.net; các sản phẩm phần mềm công nghệ khác dành cho người khuyết tật như: phần mềm đọc màn hình cho người khiếm thị, hệ thống hỗ trợ giao tiếp cho người khiếm thính
c) Hạn chế, khó khăn, thách thức
Đa số người khuyết tật và gia đình có người khuyết tật có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, do vậy người khuyết tật thiếu phương tiện tiếp cận với thông tin Kết quả nghiên cứu năm 2007 của Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội (ISDS) cho thấy, có 39% - 48% người khuyết tật trong mẫu điều tra cho biết họ thiếu phương tiện trợ giúp để tiếp cận thông tin; khoảng 34 - 35% cho biết thiếu hình thức và chương trình dịch vụ thông tin phù hợp với người khuyết tật
Sự phát triển của các đơn vị cung cấp dịch vụ truyền thông cho người khuyết tật còn rất chậm, chủ yếu hiện nay vẫn do các đơn vị của Nhà nước thực hiện, còn vắng sự tham gia của khu vực tư nhân Hình thức thông tin được đăng tải còn chưa phong phú, đa dạng, chưa đảm bảo cho người khuyết tật tiếp cận, đặc biệt là cho nhóm người khiếm thị, khiếm thính
Một hình thức tiếp cận thông tin phổ biến và hiệu quả hiện nay là sử dụng internet, tuy nhiên cho đến nay số lượng người khuyết tật tiếp cận sử dụng internet rất hạn chế Bởi, thứ nhất
là người khuyết tật thiếu và không có phương tiện tiếp cận internet; thứ hai là mạng internet không sẵn có mọi lúc, mọi nơi; thứ ba người khuyết tật thiếu hoặc không có kiến thức kỹ năng
để tiếp cận, đặc biệt là người khuyết tật ở những vùng xa, nông thôn, miền núi
Ngoài ra, hệ thống chính sách/tiêu chuẩn tiếp cận thông tin cho người khuyết tật Việt Nam mới ở giai đoạn đầu, vẫn còn chưa đầy đủ, cần phải được nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện
3.8 Tiếp cận văn hoá, thể dục thể thao của người khuyết tật
a) Về chính sách
Các văn bản pháp luật về văn hoá, thể thao, giải trí đã được ban hành nhằm tạo điều kiện
để người khuyết tật tham gia, tập luyện, thi đấu, phát triển tài năng, năng khiếu về thể thao, văn hoá, nghệ thuật và thụ hưởng các giá trị văn hoá, thể thao Các văn bản chủ đạo thuộc