Từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đã quy định: “Khi phạt tù toà án có thể cho tội nhân được hưởng án treonếu có lý do đáng để khoan hồng” với sự quy định của văn bản pháp luật này ántreo
Trang 1Phần 1: Giới thiệu chuyên đề
án treo, một chế định pháp lý hình sự ra đời sớm xuất hiện cùng với sự rađời và phát triển của luật Hình sự Việt Nam Từ sau cách mạng tháng 8 năm
1945 đã quy định: “Khi phạt tù toà án có thể cho tội nhân được hưởng án treonếu có lý do đáng để khoan hồng” với sự quy định của văn bản pháp luật này ántreo được hiểu là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện
Theo quy định tại điều 60 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999:
“Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân người phạm tội
và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tùthì toà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một đến nămnăm”
Khi xét xử cho người bị kết án phạt tù được hưởng áo treo là thể hiện sựkhoan hồng của pháp luật hình sự Việt Nam và chính sách của Đảng và nhànước ta nhằm đưa người phạm tội nhanh chóng trở lại với cộng đồng, để hiểuthêm về thực tiễn xét xử và thực trạng áp dụng pháp luật vào thực tiễn của toà ánnơi thực tập tại địa phương nên em chọn đề tài: “thực tiễn áp dụng án treo tại địaphương nơi sinh viên thực tập, những thuận lợi khó khăn và biện pháp khắcphục” thông qua việc lựa chọn đề tài này em muốn tìm hiểu thêm về thực tiễn ápdụng án treo tại địa phương nơi mình thực tập, qua đó hiểu thêm những thuậnlợi, khó khăn trong việc áp dụng án treo tại địa phương nơi mình thực tập từ đó
đề ra những biện pháp khắc phục, những khó khăn đó cũng thông qua đề tài này
em muốn tìm hiểu thêm về việc áp dụng án treo tại địa phương nơi mình thựctập và việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn dựa trên những căn cứ pháp luật,hiểu thêm về tình hình phạm tội tại địa phương, tìm hiểu thêm về nguyên nhâncũng như các điều kiện phạm tội và từ đó tìm ra những thuận lợi, khó khăn và từ
đó tìm ra biện pháp khắc phục, để hiểu thêm về những vấn đề đó nên em chọn
đề tài này
Thông qua chuyên đề thực tập này em rất mong nhận được nhận xét củathầy cô để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn, em xin chân thành cảm ơn
Trang 2Phần 2: Quá trình tìm hiểu, thu thập thông tin.
1 Thời gian thu thập thông tin.
Được sự phân công, chỉ đạo của nhà trường với thời gian thực tập tại Toà
án nhân dân huyện Quỳnh Lưu từ ngày 7 tháng 1 năm 2008 đến ngày 18 tháng 4năm 2008
Trong quá trình thực tập tại Toà án được sự giúp đỡ của cán bộ công nhânviên tại toà án đặc biệt là của cán bộ hướng dẫn đã giúp cho chúng em có thờigian để bước đầu làm quen với kiến thức thực tế và cũng là khoảng thời gian đểthu thập thông tin phục vụ cho chuyên đề thực tập của mình
Thời gian:
- Ngày 14 tháng 1 năm 2008 đến ngày 22 tháng 2 năm 2008: Nghiên cứu
hồ sơ vụ án đã giải quyết và chưa giải quyết
- Ngày 25 tháng 2 năm 2008 đến 29 tháng 2 năm 2008: Xem toà án xửcác vụ
- Ngày 01 tháng 3 năm 2008 đến 21 tháng 3 năm 2008: Nghiên cứu hồ sơ
và tham gia các chuyến đi cơ sở
- Ngày 24 tháng 3 năm 2008 đến 31 tháng 3 năm 2008: Tham gia cácphiên xét xử của toà án, viết biên bản phiên toà
- Ngày 01 tháng 4 năm 2008 đến 22 tháng 4 năm 2008: Nghiên cứu hồ sơtại toà án và tham gia các chuyến đi cơ sở
2 Phương pháp thu thập:
a Phương pháp nghiên cứu hồ sơ tài liệu có sẵn:
Trong quá trình thực tập tại toà án, được sự giúp đỡ, hướng dẫn của cán
bộ toà án đặc biệt là cán bộ hướng dẫn đã tạo điều kiện thuận lợi để nghiên cứu,tìm hiểu, thu thập thông tin dựa trên nguồn tài liệu có sẵn của toà án đó là cácbản án, các quyết định đã giải quyết là nguồn tài liệu sẵn có để phục vụ cho việcnghiên cứu thông qua việc nghiên cứu các hồ sơ tài liệu có sẵn tại toà án đó vừa
là nguồn tài liệu quan trọng giúp em hiểu thêm về cách xét xử của từng thẩmphán cũng từ đó thu thập được thông tin một cách có hiệu quả hơn Qua cac bản
Trang 3án, quyết định của toà án mà thu thập được là nguồn tài liệu quan trọng phục vụcho chuyên đề thực tập đạt được hiệu quả hơn ngoài việc nghiên cứu những hồ
sơ tài liệu sẵn có của toà án còn thông qua mạng internet cũng là nguồn tài liệuquan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu và thu thập thông tin lam cho chuyên đềthực tập được phong phú hơn Cùng với đó là các chuyến đi thực tế tại các cơ
sở, xem xét các vụ án giải quyết tại phiên toà cũng là điều kiện thuận lợi để thuthập thông tin phục vụ cho chuyên đề thực tập đạt được hiệu quả cao hơn
b Phương pháp phân tích.
Dựa trên nguồn tài liệu sẵn có tại toà án đó là các bản án, quyết định, cácchuyến đi thực tế và các phiên toà xét xử, kinh nghiệm của các thẩm phán trongcác buổi họp với sinh viên thực tập là nguồn tài liệu sẵn có, dựa trên nguồn tàiliệu ấy thông qua việc phân tích, nghiên cứu rút ra được những nội dung cũngnhư kinh nghiệm cơ bản phục vụ cho việc nghiên cứu, từ nguồn tài liệu sẵn cócủa toà dựa trên cơ sở phân tích là nguồn tài liệu phục vụ cho chuyên đề thựctập của mình, cũng từ quá trình nghiên cứu các nguồn tài liệu giúp em hiểu thêm
về các căn cứ mà toà án áp dụng đối với người phạm tội mà toà án cho hưởng ántreo:
- Gồm các căn cứ:
Mức phạt tù
Nhân thân của người phạm tội
Các tình tiết giảm nhẹ
Không cần phải bắt chước chấp hành phạt tù
Dựa trên những căn cứ đó của pháp luật để xem xét cho một người phạmtội được hưởng án treo hay không
Thông qua việc phân tích tài liệu hồ sơ của toà án cùng với nguồn tài liệutrên internet giúp em hiểu thêm về quá trình xét xử của toà án và việc áp dụngnhững quy định của pháp luật vào thực tiễn
c Phương pháp điều tra:
Trong quá trình thực tập tại toà án, đó là khoảng thời gian để chúng em có
cơ hội làm quen với những gì đang diễn ra trong thực tế, những vấn đề lý thuyết
Trang 4và thực tiễn có gì giống và khác nhau, trong quá trình thực tập thông qua việcnghiên cứu hồ sơ tài liệu có sẵn tại toà án, qua các chuyến đi thực tế và các buổihọp với các thẩm phán với sinh viên thực tập là cơ hội để thu thập thông tin,học hỏi những kinh nghiệm thực tế của các thẩm phán khi giải quyết các vụ án
cụ thể có những thuận lợi và khó khăn gì
Các chuyến đi cơ sở cũng là cơ hội và điều kiện để tìm kiếm, thu thậpthông tin phục vụ cho chuyên đề thực tập của mình
Thông qua phương pháp điều tra giúp em hiểu về việc áp dụng pháp luậtvào thực tiễn cũng như tình hình tội phạm tại địa phương nơi mình thực tập
d Phương pháp xã hội học:
- Các chuyến đi cơ sở thu thập những kiến thức thực tế
- Các buổi họp của thẩm phán với sinh viên thực tập
- Phiên toà xét xử các vụ án
- Thông qua internet
Thông qua phương pháp này là cơ hội cũng như điều kiện thu thập thôngtin phục vụ cho chuyên đề thực tập
3 Nguồn tư liệu thu thập:
- Các bản án, quyết định đã giải quyết của toà án
- Internet
- Từ các chuyến đi cơ sở
- Số liệu thống kê thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm
- Các phiên toà xét xử toà án trong thời gian thực tập
4 Các thông tin thu thập:
Trong thời gian thực tập tại toà án, được sự giúp đỡ của cán bộ công nhânviên của toà án đặc biệt là cán bộ hướng dẫn trực tiếp đã giúp em nghiên cứu thuthập thông tin đạt được kết quả và bước đầu làm quen với những kiến thức thựctiễn tại toà trong quá trình thực tập cùng với sự giúp đỡ và hướng dẫn đã giúp
em thu thập được thông tin thông qua:
- Các bản án, quyết định của toà án
Trang 5- Số liệu thông kê thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm của cácnăm: năm 2006, năm 2007.
Thông qua các hồ sơ vụ án đã giải quyết giúp em thu thập được những vụ
án cụ thể:
Bản án số: 31/2006/HSST ngày 24/8/2006
* Nguyễn Văn Hải, sinh 1969
Sinh trú quán: khối 8, phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh HàTĩnh
Nghề nghiệp: Buôn bán, trình độ văn hoá: 10/10
Tiền án, tiền sự: không
Bị bắt tạm giữ từ ngày 13/6/2006 đến ngày 19/6/2006, cho bảo lãnh (cómặt)
* Trịnh Dương Trường, sinh năm 1977
Sinh trú quán: xóm Nam Tiến, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, Nghệ An.Nghề nghiệp: lái xe, trình độ văn hoá: 12/12
Tiền án, tiền sự: Không
Nội dung bản án:
Vào tối ngày 12/6/2006
Nguyễn Văn Hải đi đến cửa khẩu Cầu treo mua một người không quenbiết 11 con tê tê với giá 19.500.000đ (mười chín triệu năm trăm nghìn đồng)đem về nhà cho tê tê ăn và cất tại nhà Hải để đưa ra Thanh Hóa bán kiếm lời,khoảng 6 giờ ngày 13 tháng 6 năm 2006, Hải điện cho Trịnh Dương Trườngthuê tác xi do Trường lái vận chuyển một số lượng hàng từ thị xã Hồng Lĩnh raThanh Hóa Do buổi sáng phải lên toà án huyện Nam Đàn nên Trường khônghỏi Hải chở hàng gì và nói với Hải nếu đi thì đưa hàng sang nhà Trường chờ,sau khi điện thoại cho Trường xong, Hải thuê một người lái xe lại không rõ tên,địa chỉ chở Hải và 11 con tê tê đi theo đường Hồ Chí Minh đến nhà Trường.Khoảng 9h30 phút cùng ngày (13/6/2006) Trường ở toà án huyện Nam Đàn vànhà thì gặp Hải, hai bên thoả thuận Trường dùng xe ô tô 37H – 3677 thuê củacông ty cổ phần thương mại miền Trung chở 11 con tê tê cùng Hải ra Thanh
Trang 6Hóa tìm mối bán, thuê vận chuyển với giá là 1000.000 đồng (một triệu đồng)thanh toán sau khi Hải bán hàng xong sau khi thoả thuận.
Hải và Trường bỏ hai con tê tê vào túi du lịch và để dưới sàn xe còn 9con tê tê bỏ vào hộp sắt dưới ghế ngồi ở hàng ghế sau cùng của xe ô tô, bốchàng xong, Trường rũ Trần Minh Hiếu (bạn của Trường) cùng đi chơi cho vui.Trường điều khiển xe ô tô chờ Hải và Hiếu chạy trên quốc lộ 1A Khi xe chạyđến thị trấn Cầu Giát huyện Quỳnh Lưu khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày thì họ
bị lực lượng hạt kiểm lâm Quỳnh Lưu phát hiện, bắt giữ, lập biên bản phạmpháp quả tang thu giữ gồm: 1xe ô tô hiệu NISAN màu trắng biển kiểm soát 37H– 3677 và 11 con tê tê có trọng lượng 41,5g
Bản cáo trạng số 30 ngày 28/7/2006 của Viện Kiểm soát nhân dân huyệnQuỳnh Lưu đã truy tố hai bị cáo Nguyễn Văn Hải và Trịnh Dương Trường vềtội: “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm” theo khoản
1 điều 190 Bộ luật hình sự
Tại phiên toà Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưugiữ nguyên quyền công tố, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị hội đồngxét xử áp dụng khoản 1điều 190 điểm, h, p khoản 1 điều 46 và điều 60 xử phạtNguyễn Văn Hải từ 12 tháng 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách
18 đến 24 tháng
áp dụng khoản 1 điều 190, điểm h, p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự xửphạt: Trinh Dương Trường từ 12 đến 16 tháng cải tạo không giam giữ Cấmchức vụ lái xe trong thời gian cải tạo phạt tiền bổ sung đối với bị cáo Hải từ 4đến 5 triệu đồng, phạt tiền đối với bị cáo Trường từ 3 đến 4 triệu đồng
Căn cứ vào các cứ tài liệu đã được thẩm tra tại toà, căn cứ vào kết quảtranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét thấy đầy đủ toàn diện chứng cứ, ýkiến kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác
Xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, các bịcáo Nguyễn Văn Hải và Trịnh Dương Trường đã khai nhận toàn bộ hành viphạm tội của mình như cáo trạng của Viện Kiểm sát đã nêu
Trang 7Đối chiếu lời khai của các bị cáo với nhau, với biên bản bắt giữ người cóhành vi phạm pháp quả tang, vật chứng thu được hoàn toàn phù hợp về thời giancũng như nội dung vụ việc Có đủ căn cứ kết luận Nguyễn Văn Hải có hành vimua bán 11 con tê tê có trọng lượng 41,5kg thuê Trịnh Dương Trường vậnchuyển bằng xe tô tô do Trịnh Dương Trường thuê của Công ty CP Thương mạimiền Trung ra Thanh Hóa bán kiếm lời.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn Hải và Trịnh Dương Trường đã phạmtội “vi phạm các quy định bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm” theo khoản 1điều 190 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và luận tội củakiểm sát viên tại phiên toà
Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, đãxâm hại động vật hoang dã quý hiếm gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái,ảnh hưởng đến cuộc sống của con người Vì vậy cần xử lý nghiêm nhằm giáodục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung
Vai trò các bị cáo trong vụ án này nổi lên là Nguyễn Văn Hải người trựctiếp mua bán động vật tê tê thuê Trường vận chuyển ra Thanh Hóa bán kiếm lời.Hải phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lầnđầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo,
ăn năn hối cải, nhân thân bị cáo từ trước đến nay chưa có tiền án, tiền sự, bởivậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ngoài xã hội ma cho bị cáo hưởng ántreo cũng đủ điều kiện để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xãhội, hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện nay khó khăn, bố mẹ già yếu em trai bị cáomới mất, số tiền mua động vật bị cáo vay mượn tiền của người khác gửi bị cáomua hàng điện tử nay phải vay nợ trả cho họ, nên chỉ áp dụng hình phạt tiền bổsung đối với Hải mức 3.000.000đ (ba triệu đồng) sung công quỹ nhà nước
Đối với Trinh Dương Trường là người được Hải thuê vận chuyển độngvật tê tê nhưng chưa được hưởng lợi gì Nhân thân bị cáo từ trước đến nay chưa
có tiền án tiền sự Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, saukhi bị bắt đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố đẻ bị cáo là liệt sỹ Vì vậy,không cần phải cách ly bị cáo ngoài xã hội cho bị cáo hưởng án treo mức thấp
Trang 8hơn Hải cũng đủ điều kiện để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho
xã hội Hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện nay khó khăn, bị cáo đã ly hôn vợ, phảinuôi con nhỏ, mẹ già Bị cáo vận chuyển động vật cho Hải những chưa được lợi
gì nên chỉ phạt bổ sung bị cáo mức 2.000.000đ (hai triệu đồng)
Đối với Trần Minh Hiếu là người được Trường rủ đi theo xe ô tô chơikhông có hành vi mua bán vận chuyển động vật nên không xử lý là đúng phápluật
Xe ô tô nhãn hiệu NISAN mang biển số 37H – 3667 là phương tiện thuộcquyền sở hữu của Công ty cổ phần thương mại miền Trung do trường hợp đồngthuê xe với công ty Việc Trường dùng xe ô tô vận chuyển động vật không cótrong hợp đồng, xe ô tô dùng lần đầu vào việc phạm pháp, số lượng động vật doTrường vận chuyển không lớn nên không cần tịch thu, cơ quan công an huyệnQuỳnh Lưu đã trả lại cho bị cáo đã trả lại cho Công ty CP thương mại miềnTrung là đúng pháp luật
Số động vật tê tê thu giữ của bị cáo công an đã chuyển cho hai kiểm lâmQuỳnh Lưu xử lý theo thẩm quyền, số tiền bán động vật 23.400.000 đã nạp tạikho bạc huyện Quỳnh Lưu do phạm tội mà có nên sung quỹ nhà nước
Như vậy khi xét cho bị cáo được hưởng án treo toà án đã căn cứ vàonhững quy định của pháp luật:
+ Mức hình phạt tù: đây là căn cứ đầu tiên để toà án xem xét cho ngườiphạm tội xem họ có được hưởng án treo hay không
Người bị kết án phạt tù không quá ba năm, không kể tội đã phạm là tội gìđều có thể cho hưởng án treo, trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần vềnhiều tội mà hình phạt chung không vượt quá ba năm thì cũng thuộc diện đượchưởng án treo Tuy nhiên mức hình phạt tù không quá ba năm phải phù hợp vớitính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm
+ Về nhân thân người phạm tội: người được hưởng án treo phải là người
có nhân thân tốt Vì nhân thân tốt là căn cứ quan trọng để quyết định hình phạt
và là căn cứ cần thiết để xem xét người phạm tội với điều kiện cụ thể có khảnăng tự giáo dục, cải tạo hay không để quyết định cho hưởng án treo
Trang 9Khi xem xét nhân thân người phạm tội phải xem xét toàn diện tất cả đặcđiểm về nhân thân trong đó chú ý đặc điểm nhân thân ảnh hưởng đến khả năng
tự giáo dục cải tạo như thế nào, thái độ của người phạm tội sau khi gây án và khi
bị xét xử cũng có ý nghĩa nhất định đến việc cho họ hưởng án treo hay không
+ Có tình tiết giảm nhẹ: có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên được quy địnhtại khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999
+ Thuộc trường hợp không cần phải bất chấp hành hình phạt tù khi ápdụng án treo, toà án chủ yếu phải dựa vào ba căn cứ cần phải có trên đây để kếtluận khả năng tự giáo dục, cải tạo của người bị kết án
Như vậy, khi cho người phạm tội được hưởng án treo toà án phải dựa vàonhững căn cứ đã quy định trên nhằm xử phạt đúng với những quy định của phápluật đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho người phạm tội có cơ hội đượcsửa chữa sai lầm của mình và nhanh chóng trở lại với xã hội, trở lại với cộngđồng để thành người có ích
Trong thời gian thực tập tại toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu được với
sự giúp đỡ của cán bộ toà án cùng với các phương pháp nghiên cứu, phân tích sosánh còn thu thập được số liệu thống kê thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơthẩm của các năm 2006, năm 2007
Năm 2006:
* Từ 1/1/2006 đến 31/3/2006:
Tổng: - 13 vụ
- 22 bị cáoXét xử: - 13 vụ
Trang 10- 136 bị cáo
Tỷ lệ giải quyết: 75 vụ/ 87 vụ đật 96%
131 bị cáo trên 136 bị cáo đạt 96%
Trong đó có 60 bị cáo được hưởng án treo
Trang 11* Từ 1/9/2007 đến 30/9/2007:
Tổng: - 11 vụ
- 13 bị cáoXét xử: - 11 vụ
- 26 bị cáo
Tỷ lệ giải quyết: - 18 vụ/21 vụ đạt 86%
- 26 bị cáo/29 bị cáo đạt 90%
Trong đó có 6 bị cáo cho hưởng án treo
Các tội thông thường được giải quyết tại toà án:
+ Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác(điều 104 bộ luật hình sự)
+ Tội cướp tài sản (điều 133)
+ Tội cướp giật tài sản (điều 136)
+ Tội trộm cắp tài sản (điều 138)
+ Tội sản xuất, tàng trữ vận chuyển buôn bán hàng cấm (điều 155)
+Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm (điều190)
+ Tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ (điều 202)
+ Tội chế tạo tàng trữ vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếmđoạt vật liệu nổ (điều 232)
+ Tội đánh bạc (điều 248)
Trang 12+ Tội chứa mại dâm (điều 254)
+ Tội môi giới mại dâm (điều 255)
+
Là một huyện phía bắc của tỉnh Nghệ An, Quỳnh Lưu có diện tích tựnhiên là 15.472.64 ha, dân số năm 2007 là 360.000 người, có đường biên giớidài 122km với 43 xã trong huyện Có đường biên giới đất liền 88km và 34kmđường biển, khoảng cách huyện lỵ là: từ thị trấn Cầu Giát đến thành phố Vinhkhoảng 60km, tiếp giáp: phía bắc giáp Tĩnh Gia, có chung địa giới khoảng 24kmvới ranh giới tự nhiên là khe nước lạnh Phía Nam và tây huyện Quỳnh Lưu giápvới Diễn Châu và huyện Yên Thành ranh giới tự nhiên khoảng 31km vùng phíaNam của huyện Quỳnh Lưu có chung khu vực đồng bằng với hai huyện DiễnChâu và Yên Thành Phía Tây của huyện Quỳnh Lưu giáp với huyện Nghĩa Đànvới ranh giới khoảng 33km, được hình thành một cách tự nhiên bằng các dãy núikéo dài liên tục mà giữa chúng có nhiều đèo thấp tạo ra những con đường nốiliền hai huyện với nhau Phía Đông huyện Quỳnh Lưu giáp biển đông, trongđiều kiện thời tiết có nhiều mặt không thuận lợi, dân cư trong huyện sống chủyếu bằng nghề nông nghiệp nên đời sống khó khăn từ đó dẫn tới số người phạmtội tương đối nhiều, một phần cũng do khả năng nhận thức cũng như mức độhiểu bíêt của người dân còn hạn chế có nhiều lúc phạm tội mà không biết
Trong số các bị cáo xét xử tại toà án hình phạt chủ yếu được áp dụng là từ
3 năm tù trở xuống và cho hưởng án treo
Trang 13như các văn bản hướng dẫn liên quan, để giải quyết làm sao cho đúng với nhữngquy định của pháp luật và phù hợp với hành vi phạm tội của người phạm tội.
Vì án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện nêntrong quá trình xét xử vụ án khi cho bị cáo được hưởng án treo toà án cũng rấtcần thiết và quan trọng phải xem xét những căn cứ và quy định của pháp luật đểgiải quyết vụ án đó là các căn cứ:
+ Mức hình phạt tù
+ Nhân thân người phạm tội
+ Có nhiều tình tiết giảm nhẹ
+ Thuộc trường hợp không cần bắt chấp hành hình phạt tù
Dựa trên những căn cứ ấy của pháp luật để áp dụng vào từng trường hợptừng vụ việc và từng bị cáo cụ thể để đưa ra phán quyết chính xác giúp ngườphạm tội có cơ hội nhanh chóng được trở lại hoà nhập với xã hội, cộng đồng
Là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện nên khi xét xử toà
án xem dựa vào những quy định của pháp luật để giải quyết vụ án cho phù hợpcho người phạm tội có cơ hội nhanh chóng trở lại với cộng đồng nếu cải tạo tốt
Phần 3: Xử lý thông tin đã thu thập được.
Theo quy định tại điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999;
1 “Khi xét xử phạt tù không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân của ngườiphạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hànhhình phạt tù thì toà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 1 đến
5 năm
2 Trong thời gian thử thách toà án giao người phạm tội được hưởng ántreo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phươngnơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục Gia đình người bị kết án cótrách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức chính quyền địa phương trong việc tổchức giám sát người đó