1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề về quản trị chất lượng trong các doanh nghiệp cơ khí của việt nam

25 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Vấn Đề Về Quản Trị Chất Lượng Trong Các Doanh Nghiệp Cơ Khí Của Việt Nam
Tác giả Trần Duy Giang
Người hướng dẫn PGS.TS Trần Việt Lâm
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại đề án môn học
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 230,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự thoảmãn người tiêu dùng đồng nghĩa với doanh nghiệp đã thực sự nhận thức được tầmquan trọng của vấn đề chất lượng cao nhà quản lý cũng đã tìm tòi những cơ chế mới để tạo ra những bước

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Chất lượng sản phẩm vốn là một điểm yếu kém kéo dài nhiều năm ở nước tatrong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung , khi đó vấn đề chất lượng được đề cao vàđược coi là mục tiêu quan trọng để phát triển kinh tế nhưng kết quả mang lại chưađược là bao nhiêu do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã phủ nhận nó trong hoạtđộng cụ thể của thời gian cũ

Trong mười lăm năm đổi mới tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế xã hội chấtlượng đã quay về vị trí đúng với ý nghĩa Người tiêu dùng họ là những người lựachọn những sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đạt chất lượng không những thế xuấtphát từ nhu cầu người tiêu dùng các doanh nghiệp phải chú ý đến nhu cầu ngườitiêu dùng mà bằng sự nhìn nhận và bằng những hành động mà doanh nghiệp đã cốgắng đem đến sự thoả mãn tốt nhất có thể đem đến cho người tiêu dùng Sự thoảmãn người tiêu dùng đồng nghĩa với doanh nghiệp đã thực sự nhận thức được tầmquan trọng của vấn đề chất lượng cao nhà quản lý cũng đã tìm tòi những cơ chế mới

để tạo ra những bước chuyển mới về chất lượng trong thời kỳ mới về chất lượngtrong thời kỳ mới

Xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và xu hướng hội nhậpcủa các nền kinh tế quốc gia và khu vực đã đặt các doanh nghiệp Việt Nam trướcnguy cơ bị cạnh tranh gay gắt bởi các doanh nghiệp nước ngoài Chính sách cạnhtranh về giá sẽ không đem lại hiệu quả kinh tế cao khi mà đời sống của người dântăng lên, lúc đó họ sẵn sàng trả giá cao để có được sản phẩm có chất lượng cao Dovậy trong tương lai các doanh nghiệp sẽ áp dụng hình thức cạnh tranh bằng cáchnâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ là chủ yếu Do đó các doanh nghiệp củaViệt Nam muốn cạnh tranh thắng để tồn tại trên thị trường không còn ảnh hưởngnào khác là phải nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ để tăng uy tín của doanhnghiệp trên thị trường, việc này chỉ có được thực hiện nếu như doanh nghiệp ápdụng tốt các hệ thống quản lý chất lượng vào quá trình sản xuất kinh doanh củamình

Từ sự kết hợp hài hoà giữa lý luận và thực tiễn em đã thấy tầm quan trọng củavấn đề quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp cơ khí ở Việt Nam từ đó trong

em nghĩ đến đề tài “ Một số vấn đề về quản trị chất lượng trong các doanh

nghiệp cơ khí của Việt Nam”

Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế

Trang 2

Bài viết này được chia làm 3 phần với nội dung như sau:

Phần I: Những vấn đề chung về chất lượng và quản trị chất lượng

Phần II: Những vấn đề trong quản trị chất lượng ở các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam

Phần III: Một số kiến nghị áp nhằm hoàn thiện QTCL trong các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam.

Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Việt Lâm đã giúp đỡ rất tận tình trongviệc hoàn thành đề tài này.Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế

Trang 3

I.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG và QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG

1 Những quan điểm chung về chất lượng

Mỗi quan niệm nào đó cũng lột tả một hay nhiều về vấn đề chất lượng, khôngnhững một người nhìn nhận về vấn đề chất lượng mà còn nhiều người nhìn nhậnvấn đề chất lượng có quan điểm đưa ra ban đầu thì phù hợp, nhưng sau này khi xemxét lại, phân tích lại có nhược điểm ở một phần nào đó

Nhưng càng sau này thì ta càng thấy rõ hơn chất lượng sẽ như thế nào, xuất phát

từ quan điểm nhà quản lý: "Chất lượng sản phẩm trong sản xuất công nghiệp là đặctính sản phẩm phản ánh giá trị sử dụng của nó"

Dựa trên quan điểm của nhà sản xuất thì nhà họ lại cho rằng: "Chất lượng là sựtuân thủ những yêu cầu kinh tế, yêu cầu kỹ thuật và bảng thiết kế lập ra" Như vậynhà sản xuất cho rằng khi họ thiết kế sản phẩm nếu sản phẩm làm theo bảng thiết kếthì sản phẩm của họ đạt chất lượng Quan điểm này có lẽ cũng có mặt trái của nóbởi lẽ nếu doanh nghiệp cứ đưa ra sản phẩm làm đúng theo bảng thiết kế thì lúc đó

có thể là phù hợp với nhu cầu của khách hàng cũng có thể sản phẩm đó không phùhợp với nhu cầu của khách hàng ví dụ như sản phẩm của Samsung Tivi hãng nàyvừa đưa ra sản phẩm đó là chiếc tivi màu ta có thể xem 2 kênh truyền hình cùngmột lúc, tính năng công dụng thật hoàn hảo Như vậy với loại ti vi đó thì chỉ phùhợp khách hàng giầu có mà khách hàng có khả năng thoả mãn nhu cầu của họ

Quan điểm người tiêu dùng: "Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu và mục đíchcủa người tiêu dùng" Quan điểm này có lẽ có ưu thế của nó Bởi lẽ doanh nghiệpluôn luôn phụ thuộc vào nhu cầu người tiêu dùng ưu thế ở đây là doanh nghiệp cóthể bán hàng phù hợp trên từng thị trường khác nhau Nếu doanh nghiệp áp dụngquan điểm này ta thấy được sản phẩm có chất lượng cao giá cả cao thì sẽ tiêu thụtrên những thị trường mà khách hàng có nhu cầu và có khả năng thoả mãn nhu cầucủa họ

Chính vì vậy quan điểm này nhà sản xuất cần phải nắm bắt một cách cần thiết vàthiết yếu Một chứng minh cho thấy doanh nghiệp Trung Quốc đã thành công trongchiến lược này Thông qua thực tế thì hàng hoá Trung Quốc trên thị trường khácnhau thì chất lượng khác nhau Nhưng nhược điểm của quan điểm này là ở chỗ nhưthế doanh nghiệp hay lệ thuộc vào người tiêu dùng nếu nói một phía nào đó thì tacho rằng doanh nghiệp luôn luôn theo sau người tiêu dùng

Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế

Trang 4

Ta thấy quan điểm nhìn nhận từ hiều góc độ khác nhau, mỗi quan điểm có mặt

ưu điểm và nhược điểm của nó nếu tận dụng mặt ưu điểm thì có khả năng đem lạimột phần thành công cho doanh nghiệp Nhưng nhìn chung quan điểm đưa ra ngàycàng tạo nên tính hoàn thiện để nhìn nhận chất lượng Một trong những định nghĩađược đánh giá cao là định nghĩa theo tiêu chuẩn hoá quốc tế đưa ra "Chất lượng làtập hợp những tính chất và đặc trưng của sản phẩm và dịch vụ có khả năng thoảmãn nhu cầu đã nêu và nhu cầu tiềm ẩn’’

Như vậy có lẽ định nghĩa này bao gồm nhiều nội dung nhất nó tránh phải nhượcđiểm quan điểm đầu là chất lượng là những gì hoàn hảo và tốt đẹp cũng không sailầm là làm cho doanh nghiệp phải luôn đi sau người tiêu dùng mà còn khắc phụcđược nhược điểm đó

Quan điểm này cho thấy không những doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu màcòn vượt khỏi sự mong đợi của khách hàng

Như vậy biết là từ lý luận đến thực tiễn là cả một vấn đề nan giải biết là như thếnhưng tất cả là phải cố gắng nhất là tại thời điểm hiện này nền kinh tế đất nước cònnghèo nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ Nhưng tất cả đều phải cố gắng sao chođưa lý luận và thực tiễn xích lại gần nhau tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế

Đối với đất nước ta, việc xem xét các khái niệm về chất lượng là cần thiết vìnhận thức như thế nào cho đúng về chất lượng rất quan trọng, việc không ngừngphát triển chất lượng trong phạm vi mỗi doanh nghiệp nói riêng và chất lượng hànghoá và dịch vụ của cả nước nói chung

2 Một số quan điểm về quản lý chất lượng.

Cùng với quá trình phát triển của chất lượng các quan niệm về quản trị chấtlượng ngày càng được thể hiện hoàn thiện, thể hiện ngày càng đầy đủ hơn bản chấttổng hợp, phức tạp của vấn đề và phản ánh sự thích hợp với điều kiện và môi trườngkinh doanh mới

Xét một cách chung nhất một quan điểm đúng đắn về quản trị chất lượng phải trảlời được 4 vấn đề sau:

- Quản trị chất lượng nhằm mục đích gì?

- Quản trị chất lượng bằng những biện pháp nào?

- Quản trị chất lượng thực hiện ở những giai đoạn nào?

- Quản trị chất lượng đưa lại hiệu quả ra sao?

Mục tiêu lớn nhất của quản trị chất lượng là: Bảo đảm chất lượng của đồ án thiết

kế sản phẩm và tuân thủ nghiêm đồ án ấy trong sản xuất, tiêu dùng sao cho tạo ra

Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế

Trang 5

những sản phẩm thoả mãn nhu cầu của xã hội, thoả mãn thị trường với chi phí xãhội tối thiểu.

Để đạt được mục tiêu trên nhiều tác giả đã đưa ra những định nghĩa khác nhau vềquản trị chất lượng A.G Robertson, một chuyên gia người Anh cho rằng: “Quản trịchất lượng là ứng dụng các phương pháp, thủ tục, kiến thức khoa học kỹ thuật bảođảm cho các sản phẩm sẽ hoặc đang sản xuất phù hợp với yêu cầu thiết kế, hoặc yêucầu trong hợp đồng kinh tế bằng con dường hiệu quả nhất, kinh tế nhất” ông ta còncho rằng “Quản trị chất lượng được xác định như là một hệ thống quản trị nhằm xâydựng chương trình và sự phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duytrì và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết kế sản xuất sao cho đảm bảonền sản xuất có hiệu quả nhất, đồng thời cho phép thoả mãn đầy đủ các yêu cầungười tiêu dùng.” A.V.Fêigenbaun, nhà khoa học người Mỹ lại định nghĩa rằng:

“Quản trị chất lượng là một hệ thống hoạt động thống nhất có hiệu quả của những

bộ phận khác nhau trong tổ chức chịu trách nhiệm triển khai các tham số chấtlượng, duy trì mức chất lượng đã đạt được và nâng cao nó để thoả mãn nhu cầungười tiêu dùng ”

Trong các tiêu chuẩn công nghiệp Nhật (JIS) có định nghĩa về quản trị chấtlượng như sau: “Hệ thống các phương pháp sản xuất tạo điều kiện sản xuất tiết kiệmnhững hàng hoá có chất lượng cao hoặc đưa ra những dịch vụ có chất lượng thoảmãn yêu cầu của người tiêu dùng ” Giáo sư tiến sĩ Kaoru Ishikawa, một chuyên giacủa Nhật về quản trị chất lượng, cho rằng: “Quản trị chất lượng có nghĩa là nghiêncứu triển khai, thiết kế sản xuất và bảo dưỡng một sản phẩm có chất lượng, kinh tếnhất, có ích nhất cho người tiêu dùngvà bao giờ cũng thoả mãn nhu cầu của ngườitiêu dùng ”

Định nghĩa của Philip B.Crosby: “ Quản trị chất lượng là một phương tiện có tínhchất hệ thống đảm bảo việc tôn trọng tổng thể tất cả các thành phần của một kếhoạch hành động”

Theo ISO_ 9000: “Quản trị chất lượng là các phương pháp hoạt động được sửdụng nhằm đáp ứng các yêu cầu về chất lượng ”

Mặc dù còn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau song ta có thể khái quát hoá bằngmột hệ thống các hoạt động, các biện pháp và quy định hành chính, xã hội, kinh tế –

kỹ thuật dựa trên các thành tựu của khoa học hiện đại, nhằm sử dụng tối ưu nhữngtiềm năng để đảm bảo, duy trì và không ngừng nâng cao chất lượng nhằm thoả mãntối đa nhu cầu của xã hội với chi phí nhỏ nhất”

Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế

Trang 6

Trong định nghĩa trên ta thấy có thể nhấn mạnh đến mấy vấn đề sau:

Quản trị chất lượng là một hệ thống các hoạt động, các biện pháp và các quy định

cụ thể quan tâm đến chất lượng, phòng ngừa các sai sót và kích thích tất cả mọingười tham gia Dù các biện pháp và các quy định có cụ thể bao nhiêu, chính xácbao nhiêu thì vẫn vô hiệu nếu người sản xuất và người tiêu dùng không có ý thứctuân thủ Vậy quản trị chất lượng là trách nhiệm của mọi thành viên của xã hội, chỉkhi nào con người cảm thấy rằng mình và chính mình có trách nhiệm về chất lượngsản phẩm thì lúc đó mới làm công tác quản trị chất lượng được Quản trị chất lượng

là trách nhiệm của tất cả các cấp nhưng phải được lãnh đạo cấp cao nhất chỉ đạo

Quản trị chất lượng phải được thực hiện trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm, từthiết kế, chế tạo đến sử dụng sản phẩm Trách nhiệm của người sản xuất không chỉdừng lại ở khâu bán sản phẩm mà họ còn có trách nhiệm, không kém phần quantrọng, với khâu sử dụng sản phẩm

3 Vai trò của quản trị chất lượng

Chất lượng mà phù hợp thì đó chính là sự thành công trong việc quản lý củadoanh nghiệp: quản lý chất lượng tốt thì lúc đó chính là sự phù hợp giữa giá cả hànghoá bỏ ra thị trường và chi phí bỏ ra sản xuất đó chính là sự thoả mãn nhu cầukhách hàng tức là "của nào thì giá đó"

Quản trị chất lượng có vai trò rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay bởi vì quảntrị chất lượng một mặt làm cho chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn tốt hơnnhu cầu khách hàng và mặt khác nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý Đó là cơ

sở để chiếm lĩnh, mở rộng thị trường, tăng cường vị thế, uy tín trên thị trường Quảntrị chất lượng cho phép doanh nghiệp xác định đúng hướng sản phẩm cần cải tiến,thích hợp với những mong đợi của khách hàng cả về tính hữu ích và giá cả

Sản xuất là khâu quan trọng tạo thêm giá trị gia tăng của sản phẩm hoặc dịch vụ

Về mặt chất, đó là các đặc tính hữu ích của sản phẩm phục vụ nhu cầu của conngười ngày càng cao hơn Về mặt lương, là sự gia tăng của giá trị tiền tệ thu được

so với những chi phí ban đầu bỏ ra Giảm chi phí trên cơ sở quản lý sử dụng tốt hơncác yếu tố sản xuất mà vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm cho doanh nghiệp hoạtđộng có hiệu quả hơn Để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, có thể tập trungvào cải tiến công nghệ hoặc sử dụng công nghệ mới hiện đại hơn Hướng này rấtquan trọng nhưng gắn với chi phí ban đầu lớn và quản lý không tốt sẽ gây ra lãngphí lớn Mặt khác, có thể nâng cao chất lượng trên cơ sở giảm chi phí thông quahoàn thiện và tăng cường công tác quản trị chất lượng Chất lượng sản phẩm được

Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế

Trang 7

tạo ra từ quá trình sản xuất Các yếu tố lao động, công nghệ và con người kết hợpchặt chẽ với nhau theo những hình thức khác nhau Tăng cường quản lý chất lượng

sẽ giúp cho xác định đầu tư đúng hướng, khai thác quản lý sử dụng công nghệ, congnười có hiệu quả hơn Đây là lý do vì sao quản trị chất lượng được đề cao trongnhững năm gần đây

4 Hệ thống quản trị chất lượng

4.1.Khái niệm

Hệ thống quản trị chất lượng là tổ chức,là công cụ,là phương tiện để thực hiện mụctiêu và chức năng quản trị chât lượng Theo ISO 9000:2000 thì “ Hệ thống quản trịchất lượng là hệ thống quản trị để chỉ đạo và quản lý một tổ chức vì mục tiêu chấtlượng”

Hệ thống quản trị chất lượng bao gồm nhiều bộ phận hợp thành và giữa các bộ phậnhợp thành đó có quan hệ mật thiết hữu cơ với nhau

4.2.Bộ tiêu chuẩn ISO 9000

ISO là một tổ chức quốc tế về vấn đề tiêu chuẩn hoá có tên đầy đủ là “THEINTERNATIONAL ORGANIZATION FOR STANDARDIZATION.” Các thànhviên của nó là các tổ chức tiêu chuẩn quốc gia của hơn 100 nước trên thế giới

ISO là một tổ chức phi chính phủ ra đời và hoạt động từ 23/02/1947 Trụ sởchính đặt tại Geneve- Thụy Sĩ Việt Nam ra nhập ISO năm 1977 và là thành viênthứ 72 của ISO Năm 1996 Việt Nam được bầu vào ban chấp hành của ISO

ISO 9000 đề cập đến các lĩnh vực chủ yếu trong quản lý chất lượng chính sách vàchỉ đạo về chất lượng, nghiên cứu thị trường, thiết kế và triển khai sản phẩm, cungứng kiểm soát quá trình…

ISO 9000 là tập hợp kinh nghiệm quản lý chất lượng tốt nhất đã được thực hiệntrong nhiều quốc gia và khu vực, đồng thời chấp nhận thành tiêu chuẩn quốc gia củanhiều nước

ISO 9000 là chuẩn mực hóa cho hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 được duytrì bởi tổ chức Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO), là tổ chức tiêu chuẩn quốc tếđang được hoạt động dựa trên giấy chứng nhận quyền công nhận tiêu chuẩn này

Mặc dù các tiêu chuẩn được bắt nguồn từ sản xuất nhưng chúng có thể áp dụngcho các loại hình tổ chức, bao gồm cả các trường đại học và cao đẳng Một ”sảnphẩm” theo cách nói trong từ điển ISO là một vật thể hay dịch vụ hay phần mềmnào đó mang tính vật chất Nhưng trên thưc tế, theo tiêu chuẩn ISO 2004, “hiện tại

Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế

Trang 8

các lĩnh vực dịch vụ được tính toán đi quá xa so với số liệu cao nhất của chứngnhận ISO 9001:2000, khoảng 30% trong tổng số ”theo cuộc điều tra về ISO 2004.

ISO 9000 : Hệ thống quản lí chất lượng - Nguyên tắc cơ bản và từ vựng, bao gồmnhững tiêu chuẩn cơ bản về hệ thống quản lí chất lượng đang chứa đựng nhữngngôn ngữ cốt lõi của bộ tiêu chuẩn ISO 9000

ISO 9001 : Hệ thống quản lí chất lượng - Các yêu cầu dự kiến cho sử dụng ở bất kì

tổ chức mà thiết kế, phát triển, sản xuất, lắp đặt hay phục vụ cho bất kì 1 sản phẩmnào hoặc cung cấp bất kì kiểu dịch vụ nào Nó đem lại số lượng yêu cầu mà các tổchức cần phải hoàn thành nếu như nó làm vừa lòng khách hàng thông qua nhữngsản phẩm và dịch vụ hoàn chỉnh mà làm thỏa mãn mong chờ của khách hàng Đâychỉ là sự thực hiện một cách đầy đủ đối với bên kiểm sóat thứ ba mà trao bằngchứng nhận

ISO 9004 : hệ thống quản lí chất lượng - Hướng dẫn cải tiến Nó đem lại cho bạnnhiều lời khuyên về việc bạn có thể làm gì để nổi bật hệ thống đã hoàn thiện Tiêuchuẩn này đã được tuyên bố một cách cụ thể rằng nó sẽ dẫn đường cho việc thực thimột cách đầy đủ

Có rất nhiều tiêu chuẩn trong bộ tiêu chuẩn ISO 9001, nhiều loại chất lượng trong

số đó thậm chí không mang số hiệu “ISO 900X” Ví dụ, một vài tiêu chuẩn trongloạt 10.000 tiêu chuẩn đang được coi như một phần của dòng tiêu chuẩn 9000: ISO10007:1995 được đưa ra tranh luận trong việc quản lí mô hình, mà đối với hầu hếtcác tổ chức chỉ là một yếu tố trong hệ thống quản lí hoàn chỉnh Chất lượng ISOkhuyến cáo rằng: “Điểm cốt yếu của bằng chất lượng là bảo vệ điều thực tế là có hệthống chất lượng ISO 9000 hoàn chỉnh vẫn đang có giá trị giành được những giá trịlớn nhất khi những tiêu chuẩn trong dòng hạt nhân mới đang được sử dụng như mộtcông cụ hợp nhất của dòng tiêu chuẩn đó với nhau cũng như tiêu chuẩn khác hìnhthành nên toàn bộ dòng tiêu chuẩn chất lượng ISO 9000.”

II.NHỮNG VẤN ĐỀ TRONG QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG Ở CÁC DOANH NGHIỆP CƠ KHÍ VIỆT NAM

Hiện nay ở nước ta, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cácdoanh nghiệp cơ khí có vị trí rất quan trọng, ngành cơ khí được coi là đầu máy củađoàn tàu kinh tế Việt Nam Có thể nói, sự hình thành phát triển và điều chỉnh để cácdoanh nghiệp cơ khí sẽ là những chiếc cầu để Việt Nam nhanh chóng vượt lên, đủsức cạnh tranh trên thị trường khu vực và trên thị trường thế giới

Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế

Trang 9

Trong 10 năm liên tục, từ năm 1990 đến năm 2000 ngành cơ khí nước ta duy trì

ở mức tăng trưởng 2 chữ số đưa giá trị công nghiệp năm 2000 cao gấp 1,5 năm

1990 và tăng so với năm 1995 là 3,2 lần Trong kế hoạch 5 năm (2006-2010), ngành

cơ khí đặt mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân từ 15,2-15,5%, Nhờ giá trị sảnxuất có tốc độ tăng khá mà GDP mà ngành cơ khí tạo ra cũng có giá trị cao so vớiGDP của các ngành khác Mục tiêu của Chương trình cơ khí trọng điểm đến năm

2010 và tầm nhìn tới 2020 là, tập trung vào 8 nhóm chuyên ngành CK lớn như máyđộng lực, máy kéo và máy nông nghiệp, máy công cụ, thiết bị toàn bộ, cơ khí xâydựng, CK tàu thủy, CK ô tô và cơ khí giao thông vận tải, thiết bị điện…

Những thách thức đối với nước ta hiện nay là trình độ phát triển còn thấp, chấtlượng tăng trưởng kém, hiệu quả và sức cạnh tranh yếu cộng với sức mua của dâncòn thấp.Điều đó được thể hiện qua mặt hàng xuất khẩu hiện nay chủ yếu tập trungvào sản phẩm có giá trị gia tăng thấp các nguyên liệu thô chưa chế biến hoặc cáchàng sơ chế Các mặt hàng trong nước được bảo vệ và nâng đỡ nhiều trong việc bảotrợ hàng nội.Vì thế để tạo ra môi trường hoạt động kinh doanh tăng trưởng toàn diệntốt nhất thì bên cạnh việc phát triển cơ sở hạ tầng cả phần cứng và phần mềm thìnhà nước phải khuyến khích các doanh nghiệp cơ khí đầu tư vào các hệ thốngQTCL Đồng thời tự bản thân các doanh nghiệp cũng phải thấy rõ vai trò quan trọngcủa chất lượng trong các cơ sở sản xuất trong đời sống xã hội đặc biệt là trong lĩnhvực cạnh tranh và cả với doanh nghiệp trong nước và ngoài nước Như vậy thựctrạng công tác QTCL trong các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam hiện nay ra sao?

1.Giới thiệu khái quát các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam

Giai đoạn 1958- 1965 : đây là giai đoạn khai thác công suất của thiết bị đào tạođội ngũ cán bộ, đảm bảo tự lực điều hành trong mọi khâu sản xuất kinh doanh từthiết kế công nghệ chế tạo đến lắp giáp và chuẩn bị kỹ thuật cho những loại sảnphẩm chế tạo

Giai đoạn 1965- 1975 : sản xuất và chiến dấu

Trong thời gian này vừa phải tích cực sản xuất vừa phải kiên cường chiến đấuchống lại sự phá hoại của giặc mỹ Sản xuất trong điều kiện chiến tranh phá hoại ácliệt xong tinh thần quyết tâm của Đảng bộ lãnh đạo và toàn thể anh em công nhân

đã đem lại những con số đáng khích lệ (giá trị tổng sản lượng đạt 67,2%)

Giai đoạn từ 1975- 1985 : cùng cả nước xây dựng xã hội chủ nghĩa Miền Namhoàn toàn giải phóng, sự kiện trọng đại này đã đánh dấu một bước ngoặt mới trêncon đường phát triển của nhóm doanh nghiệp, toàn bộ cán công nhân viên đã hoà

Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế

Trang 10

mình vào niềm vui chung của toàn dân tộc Đất nước thống nhất đã đem lại những

cơ hội, cùng những thách thức mới

Giai đoạn từ 1986- 1993 : Chặng đường khó khăn

Các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam phải đương đầu với những khó khăn thửthách trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nềnkinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết vĩ mô của nhànước, doanh nghiệp cơ khí đã gặp rất nhiều khó khăn do quá trình đổi mới chậm,sản phẩm máy công cụ chất lượng kém, giá cao, thị trường tiêu thụ sản phẩm giảm.Nhà nước phải bù lỗ, năng suất lao động thấp khoảng 30% lao động phải nghỉ dokhông có việc làm

Giai đoạn từ 1994 đến nay : vững bước đi lên

Năm 1994 là năm đầu tiên kể từ khi chuyển sang cơ chế thị trường nhóm doanhnghiệp đã hoàn thành kế hoạch, sản xuất kinh doanh có lãi Cũng từ đây với sự giúp

đỡ của nhà nước, sự cố gắng của ban lãnh đạo, lòng quyết tâm của đôi ngũ cán bộcông nhân viên đã đưa doanh nghiệp cơ khí đi lên ngày càng vững mạnh

Từ đó các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam đã đặt ra mục tiêu cho những năm tới

là phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm sản xuất kinh doanh từ 20%- 50% vàtiền lương tăng 15% - 30% Ưu tiên phát triển một số chuyên ngành và sản phẩm

cơ khí trọng điểm sau đây để đáp ứng về cơ bản nhu cầu của nền kinh tế quốc dân:

- Cơ khí đóng tàu thủy,

- Thiết bị kỹ thuật điện - điện tử,

- Cơ khí ôtô - cơ khí giao thông vận tải

Nhìn chung, ngành cơ khí của ta hiện nay còn yếu Cho đến nay, chủ yếu do

DNNN sản xuất, phần lớn cung cấp những sản phẩm có chất lượng thấp và giáthành cao (vì công nghệ lạc hậu, quản lý kém…) nên chỉ tiêu thụ được trong nội bộcác DNNN Một bộ phận khác là các hộ kinh doanh cá thể (phần lớn sản xuất nhữngsản phẩm cơ khí cấp thấp) đang gặp khó khăn về vốn và công nghệ Hầu hết cácngành công nghiệp gần như chỉ mới phát triển ở khu vực hạ nguồn (lĩnh vực giacông công đoạn cuối của sản phẩm) Khu vực thượng nguồn bao gồm các ngành sản

Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế

Trang 11

xuất nguyên phụ liệu, linh kiện, phụ tùng còn kém phát triển Hiện tượng này có thểthấy rõ trong một số ngành cơ khí tiêu biểu sau:

Lắp ráp: Chúng ta có một số công ty và doanh nghiệp có công nghệ và đang sảnxuất phụ tùng lắp ráp Tuy nhiên, rất ít doanh nghiệp trong nước có khả năng đápứng được yêu cầu (đặc biệt là cho các nhà lắp ráp nước ngoài) do chất lượng kém,

độ chính xác thấp, không đảm bảo tiêu chuẩn của đối tác Theo thống kê của BộCông thương, hiện nay có trên 230 doanh nghiệp đang sản xuất linh kiện, phụ tùngcung cấp cho các doanh nghiệp lắp ráp xe máy, trong đó có hơn 80 doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài với số vốn đạt trên 260 triệu USD, nhưng so sánh thì chấtlượng kém hơn nhiều so với của Nhật , Thái Lan, Đài Loan Ngoài ra hệ thống phânphối phụ tùng, chủng loại sản phẩm và dịch vụ sau bán hàng của các doanh nghiệpnày cũng còn nhiều hạn chế

Đúc nhựa: Có khoảng 200 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đúc nhựanhưng chủ yếu là sản xuất hàng tiêu dùng thông thường Trong ngành công nghiệpđiện hiện nay có rất ít doanh nghiệp có khả năng sản xuất các linh kiện nhựa đúcdùng trong sản phẩm công nghiệp, chúng ta vẫn phải sử dụng sản phẩm chế tạo từnước ngoài để sản xuất thiết bị gia dụng và văn phòng

Việc tiếp cận thị trường, nhất là thị trường ngoài nước còn hạn chế Công nghệsản xuất của phần lớn số doanh nghiệp lạc hậu dẫn đến chất lượng và năng suấtthấp, dịch vụ chưa cao Do vốn hạn hẹp, nhiều doanh nghiệp khó có điều kiện trang

bị công nghệ mới đầu tư chiều sâu hoặc đầu tư mới Nhiều doanh nghiệp chưa ápdụng rộng rãi công nghệ thông tin trong sản xuất và quản lý Việc xúc tiến thươngmại, mở văn phòng giao dịch ở nước ngoài còn quá ít vì phần lớn các tổ chứcthương mại người Việt ở nước ngoài đều không đủ khả năng nắm bắt công nghiệpsản xuất cơ khí nên ít tác dụng cho việc cung cáp thông tin đến các doanh nghiệptrong nước (ngoại trừ 1 số làm việc cung cấp thiết bị Second-hand cho thị trường cơkhí nội địa) Một trong những khó khăn lớn là thị trường của cơ khí Việt Nam sátnách với tiềm năng cơ khí của Trung Quốc tạo sản phẩm với giá rẻ đã làm chao đảokhông biết bao nhiêu doanh nghiệp cơ khí Việt Nam trong sản xuất kinh doanh

2 Thực trạng trong QTCL của doanh nghiệp cơ khí ở Việt Nam.

Trang 12

Cùng với sự đổi mới kỹ thuật và công nghệ các nhà sản xuất cũng như nhà quản

lý thấy được vai trò của quản lý chất lượng trong nền kinh tế Họ đã tìm cách tổchức việc quản trị chất lượng theo đúng hướng thông qua những việc cụ thể

+ Tìm hiểu thị trường - tìm hiểu nhu cầu thay đổi nhận thức về khách hàng vàngười cung ứng Các kế hoạch và người cung ứng cũng là những bộ phận quantrọng của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

+ Định ra những chính sách để điều hành QLCL tìm ra phương thức thích hợp đểQTCL như TQM, ISO, HACCP, 5S và số lượng các doanh nghiệp được cấp chứngchỉ ISO 9000, GMP, HACCP ngày càng tăng đặc biệt những năm gần đây: Ta có sốliệu như sau:

Năm Số lượng doanh nghiệp áp dụng HTCL

Việc nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp có khí Việt Nam đa phầnđược thông qua việc chú trọng đến đổi mới công nghệ Các doanh nghiệp đã xácđịnh trong hệ thống nâng cao chất lượng sản phẩm sau khi nắm bắt được nhu cầu thị

Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế

Ngày đăng: 06/12/2023, 17:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Một số trang Web: http://vneconomy.vn; http://www.tcvn.gov.vn;http://www.nqa.com … Link
1. Giáo trình Quản trị chất lượng – ĐH Kinh tế Quốc dân Khác
2. Giáo trình Quản trị kinh doanh – ĐH Kinh tế Quốc dân Khác
4. Các tài liệu đề án – tiểu luận – luận văn về chất lượng thực phẩm Khác
5. Một số văn bản nói về luật trong quản lý chất lượng. Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w