1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu học tập kinh tế học quốc tế

221 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Học Tập Kinh Tế Học Quốc Tế
Tác giả TS. Phạm Minh Anh, TS. Nguyễn Thị Ngọc Loan
Trường học Học viện ngân hàng
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Tài liệu học tập
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 221
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môn khoa học này cung cấp những kiến thức cơ bản trong phân tích lý thuyết và chính sách thương mại của quốc gia, quá trình vận động và ảnh hưởng của sự di chuyển các yếu tố sản xuất, ch

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA KINH TẾ - BỘ MÔN KINH TẾ HỌC

TS Phạm Minh Anh; TS Nguyễn Thị Ngọc Loan

(Đồng chủ biên)

TÀI LIỆU HỌC TẬP KINH TẾ HỌC QUỐC TẾ

NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG

Hà Nội – 2021

Thành viên: TS Đỗ Thu Hằng

TS Phạm Thu Hằng Ths Đào Đình Minh Tham gia tái bản: TS Cấn Thị Thu Hương

TS Bùi Duy Hưng

TS Trần Thị Thanh Huyền Ths Bùi Hồng Trang

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 7

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH TẾ HỌC QUỐC TẾ 9

1.1 Các chủ đề nghiên cứu của Kinh tế học quốc tế 9

1.2 Nền kinh tế thế giới và sự cần thiết quan hệ kinh tế quốc tế 13

1.2.1 Khái niệm nền kinh tế thế giới 13

1.2.2 Các vấn đề về quy mô - Mô hình lực hấp dẫn 14

1.2.3 Những trở ngại đối với hoạt động thương mại quốc tế 15

1.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu môn Kinh tế học quốc tế 17

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 17

1.3.2 Nội dung nghiên cứu 17

1.3.3 Phương pháp nghiên cứu 17

Chương 2: NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ QUY LUẬT LỢI THẾ TƯƠNG ĐỐI 18

2.1 Quan điểm Trọng thương về thương mại 18

2.1.1 Hoàn cảnh ra đời 18

2.1.2 Những tư tưởng cơ bản của học thuyết Trọng thương 19

2.1.3 Đánh giá thuyết Trọng thương 19

2.2 Thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối Adam Smith (1723 - 1790) 20

2.2.1 Quan điểm của Adam Smith về thương mại quốc tế 21

2.2.2 Nội dung lý thuyết lợi thế tuyệt đối 21

2.2.3 Đánh giá thuyết lợi thế tuyệt đối 22

2.3 Thương mại dựa trên lợi thế tương đối của David Ricardo 23

2.3.1 Quan điểm David Ricardo về thương mại quốc tế 23

2.3.2 Những giả định của mô hình David Ricardo 23

2.3.3 Quy luật lợi thế so sánh 24

2.3.4 Ví dụ minh họa về lợi thế tương đối 24

2.3.5 Đánh giá lý thuyết lợi thế tương đối của David Ricardo 25

2.4 Lý thuyết Chi phí cơ hội của Gottfried Von Haberler 25

2.4.1 Lợi thế so sánh dưới góc độ chi phí cơ hội của Gottfried Von Haberler 26

2.4.2 Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) với chi phí cơ hội không đổi 26

2.4.3 Phân tích lợi ích thương mại trong trường hợp chi phí cơ hội không đổi 28

2.4.4 Đánh giá lý thuyết chi phí cơ hội của Gottfried Von Haberler 30

Chương 3: LÝ THUYẾT CHUẨN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 34

3.1 Đường giới hạn khả năng sản xuất với chi phí cơ hội ngày càng tăng 34

3.1.1 Chi phí cơ hội ngày càng tăng 34

3.1.2 Minh họa bằng đồ thị chi phí cơ hội ngày càng tăng 34

3.2 Đường bàng quan xã hội 35

3.3 Cân bằng tổng thể trong nền kinh tế đóng 36

Trang 3

3.4 Đường cong chào hàng và cân bằng quốc tế 38

3.4.1 Giá cả sản phẩm so sánh cân bằng - trường hợp phân tích cục bộ 38

3.4.2 Đường cong chào hàng 39

3.4.3 Giá cả sản phẩm so sánh cân bằng - trường hợp phân tích tổng quát 40

3.5 Sự khác nhau trong sở thích là cơ sở của thương mại 41

Chương 4: KHẢ NĂNG CUNG ỨNG CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT VÀ MÔ HÌNH THƯƠNG MẠI HECKSCHER-OHLIN 43

4.1 Những giả thuyết của mô hình thương mại Heckscher-Ohlin 43

4.2 Một số khái niệm cơ bản của mô hình thương mại Hescher-Ohlin 44

4.2.1 Sản phẩm tập trung 44

4.2.2 Yếu tố dư thừa ở quốc gia 44

4.3 Những định lý cơ bản về mô hình thương mại Heckscher-Ohlin 45

4.3.1 Định lý Rybczynski 45

4.3.2 Định lý Heckscher-Ohlin 45

4.3.3 Định lý Stoper-Samuelson 47

4.3.4 Định lý cân bằng giá cả các yếu tố sản xuất 48

Chương 5: MÔ HÌNH CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT CHUYÊN BIỆT VÀ PHÂN PHỐI THU NHẬP 52

5.1 Mô hình các yếu tố sản xuất chuyên biệt 52

5.1.1 Các giả định của mô hình 53

5.1.2 Khả năng sản xuất 53

5.1.3 Giá cả, tiền lương và phân bổ lao động 56

5.1.4 Giá cả sánh và phân phối thu nhập 60

5.2 Thương mại quốc tế trong mô hình yếu tố sản xuất chuyên biệt 61

5.3 Phân bổ thu nhập và lợi ích thương mại 63

5.4 Kinh tế chính trị của thương mại 64

Chương 6: LỢI THẾ THEO QUY MÔ BÊN NGOÀI VÀ ĐỊA ĐIỂM SẢN XUẤT QUỐC TẾ 70

6.1 Lợi thế theo quy mô và thương mại quốc tế: Tổng quan 70

6.2 Lợi thế theo quy mô và cấu trúc thị trường 72

6.3 Lợi thế theo quy mô bên ngoài 73

6.3.1 Nhà cung ứng chuyên môn hóa 73

6.3.2 Thị trường lao động tập trung 73

6.3.3 Hiệu ứng lan tỏa kiến thức (Knowledge Spillovers) 74

6.3.4 Lợi thế theo quy mô bên ngoài và cân bằng thị trường 75

6.4 Lợi thế theo quy mô bên ngoài và thương mại quốc tế 75

6.4.1 Lợi thế theo quy mô bên ngoài, sản lượng và giá cả 76

6.4.2 Lợi thế theo quy mô bên ngoài và mô thức thương mại 77

6.4.3 Thương mại và các phúc lợi từ lợi thế theo quy mô bên ngoài 79

6.4.4 Hiệu suất tăng dần động (Dynamic Increasing Returns) 81

Trang 4

6.5 Thương mại liên khu vực và địa lý kinh tế 82

Chương 7: QUYẾT ĐỊNH CỦA HÃNG TRONG NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU 88

7.1 Lý thuyết về cạnh tranh không hoàn hảo 88

7.1.1 Thị trường độc quyền: Góc nhìn tổng thể 89

7.1.2 Cạnh tranh độc quyền 91

7.2 Cạnh tranh độc quyền và thương mại 97

7.2.1 Các tác động của sự gia tăng quy mô thị trường 97

7.2.2 Lợi ích từ thị trường hội nhập: Ví dụ từ những con số 99

7.2.3 Tầm quan trọng của thương mại nội ngành 102

7.3 Phản ứng của doanh nghiệp trước thương mại quốc tế: kẻ thắng, người thua và hoạt động của ngành 104

7.3.1 Khác biệt về hiệu quả hoạt động giữa các nhà sản xuất 105

7.3.2 Các tác động của gia tăng quy mô thị trường 106

7.4 Chi phí thương mại và các quyết định xuất khẩu 108

7.5 Phá giá 111

7.6 Các công ty đa quốc gia và thuê bên ngoài 111

7.6.1 Quyết định của doanh nghiệp liên quan đến đầu tư trực tiếp 115

7.6.2 Thuê bên ngoài - OUTSOURCING 117

7.6.3 Những hậu quả của các công ty đa quốc gia và thuê ngoài 119

Chương 8: CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI 125

8.1 Lý thuyết về thuế quan 125

8.1.1 Khái niệm và phân loại thuế quan 125

8.1.2 Phân tích cân bằng cục bộ về thuế quan đến quốc gia nhỏ 126

8.1.3 Phân tích cân bằng tổng thể của thuế quan: trường hợp quốc gia nhỏ 128

8.1.4 Phân tích tác động của thuế quan đối với quốc gia lớn 130

8.1.5 Thuế quan và phúc lợi thế giới 131

8.1.6 Bảo hộ thực sự 132

8.2 Hàng rào phi thuế quan 133

8.2.1 Hạn ngạch nhập khẩu (Giấy phép quota) 133

8.2.2 Giới hạn xuất khẩu tự nguyện 136

8.2.3 Các hàng rào phi thuế quan khác 137

8.3 Thúc đẩy xuất khẩu 138

8.3.1 Trợ cấp xuất khẩu 138

8.3.2 Bán phá giá 139

Chương 9: LIÊN KẾT KINH TẾ QUỐC TẾ 146

9.1 Những vấn đề chung về liên kết kinh tế quốc tế 146

9.1.1 Khái niệm về liên kết kinh tế quốc tế 146

9.1.2 Các hình thức liên kết kinh tế quốc tế 146

9.2 Bản chất của liên kết kinh tế quốc tế 147

Trang 5

9.3 Lý thuyết về liên minh thuế quan 147

9.3.1 Liên minh thuế quan dẫn đến tạo lập mậu dịch 147

9.3.2 Liên minh thuế quan dẫn đến chuyển hướng mậu dịch 148

9.4 Điều kiện để gia tăng phúc lợi của liên minh thuế quan 150

9.5 Tác động của liên minh thuế quan tới các nước thành viên khác và phần còn lại của thế giới 150

9.6 Một số liên kết kinh tế quốc tế tiêu biểu (EU, ASEAN, NAFTA) 151

9.6.1 Liên minh Châu Âu (EU) 151

9.6.2 ASEAN và khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) 154

9.6.3 Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) 157

Chương 10: SỰ DI CHUYỂN QUỐC TẾ CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT 163

10.1 Sự di chuyển nguồn vốn quốc tế 163

10.1.1 Đầu tư gián tiếp 163

10.1.2 Đầu tư trực tiếp 164

10.1.3 Nguyên nhân di chuyển nguồn vốn quốc tế 167

10.1.4 Tác động phúc lợi của nguồn vốn quốc tế 168

10.1.5 Các công ty đa quốc gia: 170

10.2 Di chuyển lao động quốc tế 171

10.2.1 Nguyên nhân di chuyển lao động quốc tế 171

10.2.2 Tác động phúc lợi của di chuyển lao động quốc tế 172

10.2.3 Các ảnh hưởng khác của di chuyển lao động 174

Chương 11: CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ 178

11.1 Khái niệm cán cân thanh toán quốc tế 178

11.2 Những nguyên tắc kế toán trong cán cân thanh toán 179

11.2.1 Nguyên tắc ghi nợ - ghi có 179

11.2.2 Nguyên tắc bút toán kép 180

11.3 Nội dung cán cân thanh toán quốc tế 182

11.4 Cán cân thanh toán bộ phận và cán cân thanh toán 183

11.4.1 Mất cân bằng cán cân thanh toán 183

11.4.2 Các cán cân cơ bản trong cán cân thanh toán 184

11.5 Ý nghĩa vĩ mô của cán cân thanh toán 185

11.5.1 Ý nghĩa cán cân vãng lai 185

11.5.2 Ý nghĩa cán cân tổng thể 186

11.6 Cán cân thanh toán của việt nam 186

11.6.1 Các số liệu thống kê trong cán cân thanh toán của Việt Nam 186

11.6.2 Phân tích cán cân thanh toán của Việt Nam 188

Chương 12: THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 192

12.1 Khái niệm, đặc điểm và chức năng của thị trường ngoại hối 192

12.1.1 Khái niệm thị trường ngoại hối 192

12.1.2 Đặc điểm của thị trường ngoại hối 192

Trang 6

12.1.3 Chức năng của thị trường ngoại hối 193

12.2 Thành viên tham gia thị trường ngoại hối 194

12.3 Các loại giao dịch trên thị trường ngoại hối 195

12.3.1 Giao ngay và kỳ hạn 195

12.3.2 Giao dịch hoán đổi ngoại tệ 197

12.3.3 Giao dịch tương lai và quyền chọn 197

12.4 Khái niệm tỷ giá hối đoái 197

12.5 Chế độ tỷ giá hối đoái 199

12.5.1 Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi 199

12.5.2 Chế độ tỷ giá hối đoái cố định 200

12.6 Tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn 201

12.7 Tỷ giá hối đoái trong dài hạn 202

12.7.1 Quy luật một giá 202

12.7.2 Thuyết ngang giá sức mua (Purchasing Power Parity-PPP) 203

12.8 Phương pháp tiếp cận tiền tệ về tỷ giá 205

Chương 13: CHÍNH SÁCH VĨ MÔ TRONG NỀN KINH TẾ MỞ 210

13.1 Chính sách kinh tế vĩ mô 210

13.2 Mô hình Mundel-Fleming 211

13.2.1 Thị trường hàng hóa nội địa 211

13.2.2 Thị trường tiền tệ 212

13.2.3 Thị trường hối đoái 213

13.2.4 Mô hình IS-LM-BP (Mô hình Mundel-Fleming) 215

13.3 Chính sách kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở với luồng vốn không tự do di chuyển 215

13.3.1 Chính sách tài khóa với chế độ tỷ giá cố định 215

13.3.2 Chính sách tiền tệ với chế độ tỷ giá hối đoái cố định 217

13.3.3 Chính sách tài khóa với chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi 218

13.3.4 Chính sách tiền tệ với chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi 219

13.4 Chính sách kinh tế vĩ mô trong điều kiện vốn luân chuyển hoàn hảo 219

13.4.1 Chính sách tài khóa với chế độ tỷ giá hối đoái cố định 219

13.4.2 Chính sách tiền tệ với chế độ tỷ giá hối đoái cố định 220

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thế giới với xu hướng quốc tế hoá ngày càng phát triển mạnh mẽ Chính xu hướng quốc tế hoá làm cho nền kinh tế thế giới ngày càng trở

nên thống nhất; sự tác động và phụ thuộc giữa các quốc gia cũng ngày càng tăng lên Mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của nền kinh tế thế giới Trong bối cảnh hiện nay việc nghiên cứu kinh tế quốc tế là rất cần thiết

Kinh tế học quốc tế kết hợp các sự kiện của thế giới với các phân tích kinh tế Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, thương mại quốc tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài, cho vay qua biên giới, đầu tư vào giấy tờ có giá quốc tế tăng trưởng nhanh hơn sản xuất thế giới Thông tin, số liệu, và các tin đồn được phổ biến và lan truyền khắp trên thế giới một cách nhanh chóng thông qua internet và các phương tiện truyền thông điện tử toàn cầu khác Khi nền thế giới trở nên hợp nhất hơn, các quốc gia trở nên phụ thuộc hơn, các sự kiện và những thay đổi chính sách ở một quốc gia có tác động đến nhiều quốc gia khác Các công ty thực hiện các quyết định sản xuất và phát triển sản xuất dựa trên các thị trường toàn cầu

Mục đích của cuốn sách này là cung cấp các kiến thức thực tế về nền kinh tế thế giới hiện nay và các phân tích để giúp người học có khả năng hiểu được sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu và đánh giá được các đề xuất về thay đổi chính sách kinh tế Trong cuốn sách này, chúng tôi biên soạn chủ yếu dựa trên cuốn sách Kinh tế quốc tế của Paul R Krugman phiên bản 11 Kết cấu

và nội dung cuốn sách đã được Hội đồng khoa học Học viện Ngân hàng công nhận theo Quyết định số 46/QĐ-QLKH-HVNH ngày 24/9/2014

Kinh tế học quốc tế (International Economics) là một môn khoa học nghiên cứu những vấn đề phân phối và sử dụng tài nguyên giữa các nền kinh tế, giữa các quốc gia thông qua con đường mậu dịch, nhằm đạt được sự cân đối cung cầu về hàng hoá, dịch vụ, tiền tệ trong phạm

vi mỗi nước và trên tổng thể nền kinh tế toàn cầu.nghiên cứu mối quan hệ kinh tế giữa các nước, các nền kinh tế và các khu vực kinh tế trên thế giới Xét về quá trình hình thành, Kinh

tế quốc tế được bắt đầu từ Kinh tế học, là một bộ phận của Kinh tế học Nhưng với sự phát triển của nhiều mặt, Kinh tế quốc tế được tách ra như một môn khoa học độc lập

Kinh tế học quốc tế trang bị những kiến thức cơ bản để học viên có thể hiểu được những gì đang xảy ra trên bình diện nền kinh tế thế giới và ảnh hưởng của nó đến từng quốc gia Môn khoa học này cung cấp những kiến thức cơ bản trong phân tích lý thuyết và chính sách thương mại của quốc gia, quá trình vận động và ảnh hưởng của sự di chuyển các yếu tố sản xuất, chuyển đổi tiền tệ và chính sách tài chính, thanh toán của các quốc gia, từ đó giúp học viên có cách tiếp cận cụ thể và toàn diện về hoạt động kinh tế quốc tế trên bình diện quốc gia cũng như thế giới Đây là những cơ sở quan trọng cho việc hoạch định chính sách kinh tế đối ngoại của quốc gia Nội dung của môn Kinh tế học quốc tế cũng là tài liệu tham khảo đối

Trang 8

với cán bộ quản lý nói chung và cán bộ hoạch định, quản lý chính sách kinh tế đối ngoại cũng như giới doanh nghiệp nói riêng Với mục tiêu trên, tổ bộ môn Kinh tế quốc tế - Bộ môn Kinh

tế học – Khoa Kinh tế - Học viện ngân hàng đã biên soạn cuốn “Tài liệu học tập môn Kinh tế học quốc tế” dành cho sinh viên và học viên học tập và tham khảo Trong quá trình biên soạn

không tránh khỏi những khiếm khuyết, chúng tôi rất mong nhận được thêm những ý kiến đóng góp để tài liệu được hoàn chỉnh hơn

Cuốn sách được hoàn thành với sự tham gia của tập thể nhóm tác giả như sau:

Chủ biên: TS Phạm Minh Anh - TS Nguyễn Thị Ngọc Loan

Thành viên trong quyết định của Hội đồng nghiệm thu: TS Đỗ Thu Hằng; TS Phạm

Thu Hằng; Ths Đào Đình Minh;

Thành viên tham gia chỉnh sửa, bổ sung, tái bản: TS Bùi Duy Hưng; TS Cấn Thị

Thu Hương; TS Trần Thị Thanh Huyền; Ths Bùi Hồng Trang

Trang 9

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH TẾ HỌC QUỐC TẾ

Về mặt lịch sử, việc nghiên cứu thương mại quốc tế và tài chính quốc tế được coi là khởi đầu của kinh tế học Bài luận về “Cán cân thương mại” của nhà triết học Scotlen David Hume xuất bản năm 1758, lần đầu tiên đã giải thích cặn kẽ mô hình kinh tế Gần 20 năm sau, Adam Smith xuất bản cuốn “Sự giàu có của các quốc gia” Và kế đó là những cuộc tranh luận

về chính sách thương mại của các nhà kinh tế học Anh đầu thế kỷ 19 Những đóng góp đó đã giúp hình thành nên môn kinh tế học dựa trên mô hình như ngày nay

Ngày nay việc nghiên cứu kinh tế quốc tế ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Từ đầu thế kỷ 21, các quốc gia ngày càng quan hệ chặt chẽ với nhau thông qua việc giao thương hàng hóa, dịch vụ, các luồng tiền, đầu tư giữa các nước Nền kinh tế toàn cầu được tạo nên từ các mối liên kết này có đặc trưng quan trọng là luôn biến động, buộc các nhà hoạch định chính sách và các nhà lãnh dạo doanh nghiệp phải quan tâm chú ý đến những vận hội kinh tế thay đổi nhanh chóng trên khắp thế giới

Cuốn sách này sẽ trình bày những khái niệm cơ bản và phương pháp của kinh tế học quốc tế và minh họa bằng các ứng dụng trong thực tế Cuốn sách chủ yếu viết về những tư tưởng kinh tế tuy đã cũ nhưng vẫn còn giá trị đến ngày nay như các lý thuyết thương mại từ thế kỷ 19 của David Ricardo Thêm nữa, cuốn tài liệu cũng đưa ra các phân tích cập nhật nhất Trong thập kỷ vừa qua, nền kinh tế toàn cầu đã trải qua nhiều thách thức mới, từ việc phản đối toàn cầu hóa tới hàng loạt các cuộc khủng hoảng tài chính chưa từng thấy Cuốn sách cũng đưa ra những phương pháp tiếp cận mới đối với những vấn đề cũ, vừa truyền tải những

tư tưởng mới, vừa nhấn mạnh tính hữu ích của các tư tưởng cũ

1.1 Các chủ đề nghiên cứu của Kinh tế học quốc tế

Kinh tế học quốc tế nghiên cứu những chủ đề phát sinh từ những vấn đề riêng biệt của

sự tương tác kinh tế giữa các quốc gia có chủ quyền Có 7 chủ đề được nhắc lại nhiều lần trong suốt nghiên cứu kinh tế quốc tế: (1) lợi ích thu được từ thương mại, (2) mô thức thương mại, (3) chủ nghĩa bảo hộ, (4) cán cân thanh toán, (5) xác định tỷ giá hối đoái, (6) hợp tác chính sách quốc tế, (7) thị trường vốn quốc tế

(1) Lợi ích thương mại

Mọi người đều biết rằng hầu hết các trao đổi quốc tế mang lại lợi ích cho các quốc gia,

ví dụ như trong trường hợp một quốc gia không có khả năng sản xuất một hàng hóa nào đó, qua thương mại sẽ được đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng hàng hóa khkoong phải sản xuất tại nước mình Tuy nhiên, nhiều người hoài nghi về lợi ích của việc trao đổi hàng hóa, một quốc gia vẫn có thể sản xuất đáp ứng nhu cầu của mình Việc một quốc gia mua hàng hóa của mình sản xuất sẽ tạo việc làm cho chính nền kinh tế đó Chẳng phải người Việt Nam nên tiêu dùng hàng hóa Việt Nam bất cứ khi nào có thể, để tạo thêm công ăn việc làm cho thị trường trong nước! Thế nhưng tất cả các quốc gia lại không thể sản xuất tất cả các hàng hóa trong khi nhu cầu tiêu dùng thì vô hạn

Trang 10

Vấn đề quan trọng và cốt lõi nhất của kinh tế quốc tế chính là lợi ích thương mại - các quốc gia khi trao đổi có mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia không? Câu trả lời là: thương mại mang lại lợi ích nhiều hơn ta tưởng Tuy nhiên, nhiều người có những quan niệm sai lầm về thương mại như: nếu có sự chênh lệch lớn giữa các nước về năng suất lao động hay tiền công thì thương mại sẽ không có lợi; những nước có trình độ công nghệ thấp lo sợ hàng hóa của họ không có khả năng cạnh tranh và những nước có trình độ công nghệ cao và mức lương cao lo sợ mức sống của họ sẽ bị giảm khi tham gia vào thương mại hay hội nhập

Mô hình đầu tiên lý giải về nguyên nhân của thương mại đã chứng minh rằng hai quốc gia có thể trao đổi cùng có lợi ngay cả khi một quốc gia có hiệu quả hơn quốc gia kia trong việc sản xuất tất cả các hàng hóa, khi người sản xuất ở quốc gia kém hiệu quả hơn có thể cạnh tranh chỉ bằng cách trả lương thấp hơn (Chương 3) Chúng ta cũng thấy rằng các quốc gia được lợi khi xuất khẩu những hàng hóa tập trung nguồn lực mà nó dư thừa và nhập khẩu hàng hóa tập trung nguồn lực mà nó khan hiếm (Chương 5) Thương mại quốc tế cũng cho phép các quốc gia đi vào chuyên môn hóa sản xuất một số ít hàng hóa làm cho các quốc gia có hiệu quả cao hơn do lợi thế nhờ quy mô lớn

Lợi ích thương mại không chỉ giới hạn trong việc trao đổi hàng hóa hữu hình mà còn ở các dạng trao đổi khác như: di cư quốc tế, vay và cho vay quốc tế, các tài sản rủi ro (cổ phiếu, trái phiếu) Những hình thức thương mại vô hình này cũng mang lại lợi ích thực sự như trao đổi hàng hóa hữu hình

Nhìn chung các quốc gia đều có lợi từ thương mại quốc tế, tuy nhiên thương mại quốc

tế có thể làm tổn hại đến một số nhóm đặc biệt ở mỗi nước bởi thương mại quốc tế tác động mạnh đến phân phối thu nhập của các nhóm Kinh tế học quốc tế từ lâu đã rất quan tâm đến vấn đề phân phối thu nhập trong các lý thuyết về thương mại Họ đã chỉ ra rằng: thương mại

sẽ làm tổn hại cho người chủ sở hữu nguồn lực chuyên biệt trong hàng hóa cạnh tranh với hàng nhập khẩu Thương mại quốc tế có thể làm thay đổi thu nhập của người lao động và chủ

tư bản

Lợi ích thương mại không chỉ được quan tâm về mặt lý thuyết mà còn là vấn đề tranh cãi trong việc xây dựng các chính sách trong thực tế Nhiều nhà bình luận cho rằng thương mại quốc tế, đặc biệt là do sự tăng nhanh của hàng xuất khẩu tại các nước có giá nhân công rẻ

đã làm tiền lương thực tế của những lao động không có tay nghề ở các nước phát triển giảm Giải quyết vấn đề này là một nhiệm vụ quan trọng của các nhà kinh tế học quốc tế

(2) Mô thức thương mại

Để có thể phân tích được những tác động của thương mại quốc tế và đưa ra những đề xuất thay đổi trong chính sách hướng vào thương mại của chính phủ, các nhà kinh tế học cần phải biết các lý thuyết của họ có giải thích được thực tế thương mại quốc tế hay không Do đó việc tập trung vào giải thích mô thức thương mại (ai bán cái gì cho ai) là mối quan tâm chính của kinh tế học quốc tế

Một số mô thức thương mại có thể dễ hiểu như mô thức dựa vào khí hậu, nguồn lực

Ví dụ Brazin xuất khẩu cà phê, các nước Trung Đông xuất khẩu dầu mỏ Tuy nhiêu, trong thực tế nhiều mô thức thương mại khó nhận biết hơn

Trang 11

Đầu thế kỷ 19, Ricardo đưa ra lời giải thích về thương mại dưới dạng khác biệt về năng suất lao động quốc tế (được nghiên cứu trong Chương 3) Trong thế kỷ 20, một trong những lý thuyết có ảnh hưởng nhất và đồng thời gây tranh cãi nhất là lý thuyết thương mại Heckcher - Ohline, giải thích mô thức thương mại dựa trên sư tương tác giữa một mặt là cung tương đối về nguồn lực quốc gia (như vốn, lao động và đất) và mặt khác là việc sử dụng tương đối các yếu tố đó trong sản xuất các hàng hóa khác nhau (được nghiên cứu trong Chương 5) Gần đây một số nhà kinh tế học quốc tế đưa ra các lý thuyết, trong đó đưa ra giả thuyết một sự kết hợp ngẫu nhiên có thực trong mô thức thương mại quốc tế (được nghiên cứu trong Chương 7 và 8)

(3) Trao đổi bao nhiêu là đủ

Lợi ích thương mại là khái niệm quan trọng nhất trong các lý thuyết thương mại, tuy nhiên vấn đề trao đổi bao nhiêu là đủ lại là chủ đề quan trọng của chính sách được bàn luận nhiều trong kinh tế quốc tế

Trong thực tế từ thế kỷ 16, chính phủ các nước đã bắt đầu lo ngại về cạnh tranh quốc

tế đối với sự phát triển của các ngành công nghiệp trong nước Để có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế, chính phủ đã cố gắng bảo vệ các ngành công nghiệp của nước mình bằng cách hạn chế nhập khẩu và trợ cấp xuất khẩu Một sứ mệnh quan trọng nhất của kinh tế học quốc tế

là phải phân tích các chính sách bảo hộ này và thường là để phê phán chủ nghĩa bảo hộ và chứng minh lợi thế của thương mại tự do

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, với quan điểm thương mại không chỉ mang lại sự thịnh vượng mà còn là hòa bình, các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ, đã dỡ bỏ các hàng rào hạn chế thương mại quốc tế

Cuộc tranh luận về trao đổi bao nhiêu là đủ đã có những thay đổi lớn trong những năm

1990 khi một số hiệp định tự do lớn được ký kết như NAFTA (1993), ASEAN (1996)… rồi

sự ra đời của WTO (1994) Tuy nhiên, cũng từ đó phong trào chính trị chống toàn cầu hóa phát triển mạnh, đỉnh cao là năm 1999, khi người biểu tình phá vỡ một cuộc hội nghị thượng đỉnh về thương mại ở Seatle Phong trào chống toàn cầu hóa đã buộc những người ủng hộ tự

do thương mại tìm cách giải thích mới cho các quan điểm của họ

Do tầm quan trọng thực tế của vấn đề bảo hộ thương mại, các nhà kinh tế đã xây dựng một khung lý thuyết để phân tích tác động của các chính sách của chính phủ mà có ảnh hưởng đến thương mại quốc tế Khung phân tích này cho phép dự đoán được tác động của các chính sách thương mại, đồng thời phân tích được chi phí và lợi ích và xác định được các tiêu chí cho việc xác định khi nào sự can thiệp của chính phủ là tốt cho nền kinh tế (nghiên cứu trong Chương 9, 10 và sử dụng để tranh luận một số vấn đề chính sách trong hai chương tiếp theo)

Các phân tích kinh tế này chỉ ra ai được lợi và ai bị thiệt từ các chính sách của chính phủ như thuế quan và trợ cấp xuất khẩu Tuy nhiên việc xác định chính sách thương mại cần lưu ý: xung đột lợi ích bên trong các quốc gia thường quan trọng hơn xung đột lợi ích giữa các quốc gia Chương 4-5 chỉ ra thương mại tác động mạnh đến việc phân phối thu nhập ở các quốc gia Chương 10 chỉ ra sức mạnh tương đối của các nhóm lợi ích khác nhau trong nước là yếu tố quyết định dẫn tới chính sách thương mại quốc tế chứ không phải yếu tố lợi ích chung của quốc gia

Trang 12

(4) Cán cân thanh toán

Trong thực tế các nước luôn phải đối mặt với mất cân bằng cán cân thương mại Có quốc gia thặng dư thương mại và có những quốc gia thâm hụt thương mại Liệu thặng dư thương mại có phải là tốt và thâm hụt thương mại là không tốt không?

Việc đánh giá cán cân thanh toán của một quốc gia cần phải đặt trong bối cảnh kinh tế

để hiểu việc mất cân bằng đó nghĩa là gì Ví dụ trường hợp thặng dư cán cân thương mại của Hàn Quốc năm 1998 Do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, cán cân thương mại của

họ thặng dư và họ đã buộc phải chấp nhận thặng dư thương mại đó

Cũng giống như vấn đề chủ nghĩa bảo hộ, cán cân thanh toán là vấn đề trung tâm đối với nhiều quốc gia, đặc biệt những quốc gia gặp khó khăn về cán cân thanh toán trong nhiều năm

(5) Xác định tỷ giá hối đoái

Một sự khác biệt quan trọng giữa kinh tế quốc tế và các khu vực khác của nền kinh tế

là các quốc gia thường có đồng tiền riêng, giá trị các đồng tiền thường xuyên thay đổi, đôi khi rất mạnh theo thời gian

Việc nghiên cứu xác định tỷ giá hối đoái là phần tương đối mới của kinh tế học quốc

tế Trong phần lớn lịch sử kinh tế hiện đại, tỷ giá được chính phủ cố định hơn là thả nổi Trước Chiến tranh Thế giới thứ nhất giá trị của các đồng tiền lớn được cố định theo giá vàng

và sau Chiến tranh Thế giới thứ hai được cố định theo đồng USD Việc nghiên cứu hệ thống tiền tệ quốc tế mà tỷ giá hối đoái cố định vẫn luôn là chủ đề quan trọng (được đề cập trong chương 12)

Trong thời đại ngày nay một số tỷ giá hối đoái quan trọng nhất của thế giới biến động từng phút, và sự biến động tỷ giá hối đoái vẫn là trung tâm của những vấn đề kinh tế quốc tế

(6) Phối hợp các chính sách quốc tế

Nền kinh tế thế giới bao gồm các quốc gia độc lập, mỗi quốc gia tự do lựa chọn các chính sách kinh tế riêng của mình Tuy nhiên, trong một nền kinh tế thế giới liên kết với nhau, các chính sách kinh tế của một quốc gia thường tác động đến các quốc gia khác Ví dụ, khi ngân hàng Đức tăng lãi suất vào năm 1990 nhằm kiểm soát lạm phát do tác động của việc sát nhập Đông và Tây Đức, đã thúc đẩy suy thoái kinh tế ở phần còn lại của Tây Âu

Việc khác nhau trong mục tiêu giữa các nước thường dẫn đến xung đột về lợi ích Ngay cả khi các quốc gia có mục tiêu tương đồng, họ vẫn có thể chịu thiệt hại nếu thiếu sự phối hợp các chính sách với nhau Một vấn đề cơ bản trong kinh tế quốc tế là việc xác định rõ làm thế nào để đưa ra mức độ hài hòa có khả năng chấp nhận giữa thương mại quốc tế và các chính sách tiền tệ của các nước khác nhau khi không có chính phủ toàn cầu mà có thể ra lệnh cho các nước làm cái gì

Sự phối hợp các chính sách thương mại quốc tế đã được hình thành từ lâu Trong gần

7 thập kỷ, chính sách thương mại quốc tế được điều chỉnh bởi Hiệp định GATT và từ năm

1994 WTO ra đời đã giám sát việc thực hiện các quy tắc thương mại Tuy nhiên việc phối hợp các chính sách vĩ mô còn rất mới mẻ và không thường xuyên

Trang 13

Trong những năm gần đây, các nhà kinh tế đã xác định chính xác tất cả các tình huống yêu cầu phối hợp chính sách vĩ mô Trong thế giới thực, những cố gắng phối hợp vĩ mô quốc

tế ngày càng tăng lên

(7) Thị trường vốn quốc tế

Trong bất kỳ nền kinh tế phức tạp nào đều có một thị trường vốn mở rộng bao gồm một tập hợp các thỏa thuận mà theo đó các cá nhân và các hãng đổi tiền hôm nay lấy lời hứa trả trong tương lai Tầm quan trọng của thương mại quốc tế đang tăng lên từ những năm 1960

đã được hỗ trợ bởi một sự tăng trưởng trong thị trường vốn quốc tế, nó đã gắn kết các thị trường vốn của các quốc gia riêng lẻ Trong những năm 1970, các nước Trung Đông gửi thu nhập dầu mỏ của họ vào các ngân hàng ở London hay New York, và các ngân hàng này dùng tiền đó cho chính phủ và các tập đoàn ở châu Á và Mỹ Latin vay Trong những năm 1980, Nhật Bản đã chuyển đổi phần lớn tiền mà nó kiếm được từ bùng nổ xuất khẩu chuyển sang đầu tư vào Mỹ, bao gồm cả việc thành lập càng ngày càng nhiều các công ty con của các tập đoàn Nhật tại Mỹ Ngày nay Trung Quốc đang rót tiền kiếm được từ xuất khẩu vào một loạt tài sản nước ngoài, bao gồm cả đồng Đô la Mỹ mà chính phủ Trung Quốc nắm giữ như các tài sản dự trữ quốc tế

Thị trường vốn quốc tế có nhiều khác biệt so với thị trường vốn trong nước Chúng phải đối phó với các quy định đặc biệt mà nhiều quốc gia áp dụng đối với đầu tư nước ngoài, đôi khi chúng cũng đưa ra các cơ hội để lẩn tránh các quy định được đặt ra trong các thị trường nội địa Từ những năm 1960, các thị trường vốn quốc tế lớn đã nổi lên, đáng chú ý nhất là thị trường đồng Dollar Châu Âu, ở đó hàng tỷ Dollar được trao đổi hàng ngày mà không đụng chạm đến nước Mỹ

Thị trường vốn quốc tế cũng gắn với một số rủi ro đặc biệt Một rủi ro là biến động tiền tệ Nếu đồng Euro giảm so với Dollar, các nhà đầu tư Mỹ sở hữu trái phiếu Euro sẽ lỗ vốn Rủi ro khác là vỡ nợ quốc gia: một quốc gia đơn giản có thể từ chối trả các món nợ của

nó (hoặc không thể trả nợ), các chủ nợ không có một phương thức hiệu quả nào để đưa con nợ

ra tòa Liên kết tài chính quốc tế đã biến suy thoái trên thị trường nhà đất ở Mỹ thành khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2006

Tầm quan trọng ngày càng tăng của thị trường vốn quốc tế và những vấn đề mới của nó đòi hỏi sự quan tâm hơn trước Những vấn đề đặc biệt quan tâm phát sinh từ thị trường vốn quốc

tế là hoạt động của thị trường tài sản toàn cầu và nợ nước ngoài của các nước đang phát triển

1.2 Nền kinh tế thế giới và sự cần thiết quan hệ kinh tế quốc tế

1.2.1 Khái niệm nền kinh tế thế giới

Nền kinh tế thế giới là tổng thể các nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới có mối liên hệ hữu cơ và tác động qua lại lẫn nhau thông qua các quan hệ kinh tế quốc tế trên cơ sở phân công lao động quốc tế

Các bộ phận của nền kinh tế thế giới:

Bộ phận thứ nhất là Các chủ thể của nền kinh tế thế giới: Đây chính là những đại diện

cho nền kinh tế thế giới, chúng tác động qua lại lẫn nhau làm xuất hiện các quan hệ kinh tế quốc tế Các chủ thể bao gồm:

Trang 14

1 Các nền kinh tế quốc gia độc lập trên thế giới (có khoảng 200 quốc gia và vùng lãnh thổ) Đây là những chủ thể đầy đủ về mặt kinh tế, pháp lý, và chính trị Quan hệ giữa các chủ thể này thể hiện thông qua các hiệp định kinh tế, văn hoá, khoa học và công nghệ được

ký kết giữa các quốc gia (trên cơ sở song phương hoặc đa phương)

2 Các chủ thể ở cấp độ thấp hơn bình diện quốc gia: bao gồm các công ty, các xí nghiệp, hoặc các đơn vị kinh doanh Các chủ thể này tham gia vào các quan hệ kinh tế quốc tế thông qua các hợp đồng thương mại, đầu tư trong khuôn khổ các hiệp định được ký kết giữa các quốc gia

3 Các chủ thể ở cấp độ vượt ra ngoài khuôn khổ quốc gia: Đó là các thể chế quốc tế, các tổ chức quốc tế có địa vị pháp lý rộng hơn cấp độ quốc gia, như: Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN)

Bộ phận thứ hai là Các quan hệ kinh tế quốc tế: Đây là bộ phận cốt lõi của nền kinh tế

thế giới, chúng là kết quả của sự tác động qua lại giữa các chủ thể của nền kinh tế thế giới

Căn cứ vào khách thể quan hệ, các quan hệ kinh tế quốc tế bao gồm:

1 Quan hệ về hàng hoá và dịch vụ: Đó là sự di chuyển hàng hoá và dịch vụ giữa các nước

2 Quan hệ về tư bản: Đó là các di chuyển về vốn giữa các nước

3 Quan hệ về sức lao động: Đó là sự di chuyển về sức lao động giữa các nước

4 Quan hệ về tiền tệ: Đó là các quan hệ liên quan đến việc di chuyển các phương tiện thanh toán giữa các nước

5 Quan hệ về khoa học kỹ thuật và công nghệ: bao gồm các quan hệ hợp tác nghiên cứu triển khai, mua bán các công nghệ kỹ thuật giữa các nước

1.2.2 Các vấn đề về quy mô - Mô hình lực hấp dẫn

Ba trong số 15 đối tác thương mại chính của Mỹ là các quốc gia châu Âu: Đức, Anh

và Pháp Câu hỏi đặt ra là, tại sao Mỹ lại giao dịch với ba quốc gia châu Âu này nhiều hơn rất nhiều so với các quốc gia khác? Câu trả lời là bởi vì đó là ba nền kinh tế lớn nhất châu Âu Với mức giá trị GDP (tổng sản lượng quốc nội) cao nhất, được đo lường bằng tổng giá trị các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong một nền kinh tế, bằng chứng về mối quan hệ thực nghiệm vững chắc giữa quy mô của một nền kinh tế và sản lượng xuất nhập khẩu của nền kinh tế đó

Nhìn vào thương mại quốc tế như một tổng thể, các nhà kinh tế học đã tìm ra một công thức dự đoán kim ngạch thương mại giữa hai quốc gia bất kỳ tương đối chính xác:

T ij = A.(Y i Y j )/D ij (2.1)

Trong đó:

A là hằng số

T ij là giá trị thương mại giữa quốc gia i và quốc gia j

Yi là GDP của quốc gia i

Yj là GDP của quốc gia j

Dij là khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia

Theo đó với các yếu tố khác là cân bằng, giá trị thương mại giữa hai quốc gia sẽ tỷ lệ

Trang 15

thuận với GDP của các quốc gia này, và tỷ lệ nghịch với khoảng cách của hai quốc gia

Phương trình (2.1) được gọi là mô hình Lực hấp dẫn của thương mại thế giới Lý do

cho tên gọi này xuất phát từ Định luật hấp dẫn của Newton: cũng như lực hấp dẫn giữa hai vật thể bất kỳ tỷ lệ thuận với khối lượng của chúng và tỷ lệ nghịch với khoảng cách giữa chúng Theo lý thuyết này, thương mại giữa hai quốc gia tỷ lệ thuận với sản lượng GDP và tỷ lệ nghịch với khoảng cách giữa hai quốc gia ấy

Các nhà kinh tế học thường ước lượng mô hình Lực hấp dẫn tổng quát hơn theo công thức dưới đây:

T ij = A.(Y i a Y j b ) / D ij c (2.2)

Trong đó, (a, b và c) được lựa chọn để phù hợp với các dữ liệu thực tế Nếu a, b và c

đều đúng bằng 1, phương trình (2.2) chính là phương trình (2.1) Trên thực tế, các ước lượng thường cho thấy mô hình (2.1) là tương đối chính xác

Vậy tại sao mô hình Lực hấp dẫn lại có hiệu quả? Nói chung, những nền kinh tế lớn có

xu hướng chi tiêu một lượng lớn để nhập khẩu bởi vì họ có thu nhập cao Họ cũng có xu hướng thu hút sự chi tiêu của các quốc gia khác bởi họ sản xuất đa dạng các sản phẩm Vậy nên, nếu mọi yếu tố khác là cân bằng thì thương mại giữa hai quốc gia bất kỳ còn lớn hơn quy

mô kinh tế của từng quốc gia riêng rẽ Sẽ thế nào nếu những yếu tố khác không cân bằng? Như đã chỉ ra rằng, trên thực tế các quốc gia chi tiêu thu nhập nhiều hoặc chủ yếu tại chính quốc gia ấy Cả Mỹ và EU đều chiếm khoảng 25% GDP toàn cầu nhưng mỗi bên chỉ thu hút khoảng 2% chi tiêu của bên còn lại

1.2.3 Những trở ngại đối với hoạt động thương mại quốc tế

Hình 1.1 bổ sung thêm hai quốc gia là Canada và Mexico Như chúng ta có thể thấy, hai nước láng giềng này có kim ngạch giao thương với Mỹ lớn hơn rất nhiều lần so với các nền kinh tế châu Âu có cùng quy mô

Mỹ chủ yếu giao thương với các quốc gia láng giềng hơn là với các quốc gia khác có quy mô tương đương ở châu Âu.Vậy tại sao Mỹ lại thực hiện giao dịch phần lớn với các quốc gia Bắc Mỹ láng giềng thay vì với các nước bạn hàng châu Âu? Lý do chủ yếu ở đây đơn giản bởi vì Canada và Mexico có vị trị địa lý gần Mỹ hơn rất nhiều so với các nước đối tác kia

Nguồn: Bộ Thương mại Hoa Kỳ, Ủy ban châu Âu

Hình 1.1 Quy mô các nền kinh tế và giá trị thương mại với Hoa Kỳ

Mexico Canada

% GDP của EU Các QG Châu Âu

% thương mại

của Mỹ với EU

Trang 16

Tất cả những ước lượng của mô hình Lực hấp dẫn cho thấy tác động mạnh mẽ mang tính tiêu cực của khoảng cách tới thương mại quốc tế; những ước lượng điển hình chỉ ra rằng khoảng cách giữa hai quốc gia cứ tăng lên 1% sẽ làm giảm từ 0,7% tới 1% trong thương mại giữa hai nước này Sự giảm đi này phản ánh chí phí tăng lên trong vận tải hàng hóa và dịch vụ

Các nhà kinh tế học cũng cho rằng các yếu tố ít hữu hình đóng một vai trò quan trọng: Thương mại sẽ diễn ra sôi nổi giữa các quốc gia có liên hệ mật thiết với nhau, mà mối liên hệ này sẽ có xu hướng giảm đi khi khoảng cách giữa hai quốc gia ngày càng lớn Ví dụ, sẽ hoàn toàn đơn giản nếu một đại diện kinh doanh ở Mỹ muốn có một chuyến công tác ngắn ngày tới Toronto (Canada), nhưng sẽ phải đắn đo rất nhiều nếu người đại diện này muốn tới Paris (Pháp) Hoặc là, trừ khi trụ sở công ty được đặt tại miền Tây duyên hải Hoa Kỳ, nếu không cũng sẽ cần có sự cân nhắc khi muốn công tác tại Tokyo (Nhật Bản)

Hơn nữa, Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) bao gồm 3 nước thành viên:

Mỹ, Canada và Mexico đảm bảo rằng hầu hết các hàng hóa vận chuyển giữa ba quốc gia này không phải là đối tượng chịu thuế hay bất cứ rào cản thương mại quốc tế nào Trong chương này, các nhà kinh tế học sử dụng mô hình Lực hấp dẫn là cách để đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tới thương mại quốc tế trong thực tế: Nếu một hiệp định thương mại có hiệu lực, nó có thể kéo theo sự tăng lên mạnh mẽ trong thương mại giữa các thành viên, con

số này còn có thể lớn hơn con số được dự đoán trên cơ sở GDP của các thành viên và khoảng cách giữa họ

BẢNG 1.1 Giao thương với British Columbia theo tỷ lệ % GDP, 1996

Các tỉnh của

Canada

Giao thương tính theo tỷ

lệ %GDP

Giao thương tính theo tỷ

lệ %GDP

Các tiểu bang của Hoa Kỳ

có cùng khoảng cách tới British Columbia

Nguồn:Howard J Wall,“Gravity Model Specification and the Effects of the

U.S.-Canadian Border”, Tài liệu nghiên cứu của Ngân hàng dự trữ liên

bang St Louis 2000 - 024A, 2000

Cần lưu ý là mặc dù các hiệp định thương mại thường xóa bỏ tất cả các rào cản chính đối với thương mại giữa các quốc gia nhưng nó hiếm khi loại bỏ được tác động của đường biên giới Ngay cả khi hầu hết các hàng hóa và dịch vụ được vận chuyển qua biên giới quốc gia mà không phải trả bất cứ một khoản thuế nào cũng như đối mặt ít hơn với các giới hạn pháp lý, thì giao dịch thương mại giữa các vùng miền trong cùng một quốc gia vẫn lớn hơn nhiều so với giữa các vùng miền thuộc các quốc gia khác nhau Trường hợp đường biên Mỹ - Canada là một ví dụ điển hình Cả hai quốc gia đều là thành viên của một hiệp định thương mại tự do (thậm chí đã có một hiệp định thương mại tự do Canada - Hoa Kỳ trước khi có NAFTA), hầu hết người Canada nói tiếng Anh, công dân của hai nước được tự do di chuyển qua biên giới chỉ với các thủ tục tối thiểu

Trang 17

Tuy nhiên, dữ liệu về thương mại của từng tỉnh của Canada với nhau và với các tiểu bang của Mỹ cho thấy, với các yếu tố khác là cân bằng, có nhiều các giao dịch thương mại giữa các tỉnh với nhau hơn là giữa các tỉnh với các tiểu bang ở Mỹ Bảng 1.1 biểu diễn mức

độ của sự khác biệt Nó chỉ ra tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của British Columbia, một tỉnh của Canada, nằm phía bắc của tiểu bang Washington, với các tỉnh khác của Canada và với các tiểu bang của Mỹ, được đo lường bằng tỷ lệ % trên GDP của mỗi tỉnh hoặc mỗi tiểu bang Ngoại trừ giao thương với tỉnh New Brunswick, một tỉnh nằm rất xa ở phía đông của Canada thì thương mại nội địa của Canada giảm dần theo khoảng cách Trong trường hợp này, giao dịch thương mại của British Columbia với các tỉnh khác của Canada lớn hơn rất nhiều so với các tiểu bang khác của Hoa Kỳ có tương đồng về khoảng cách

Các nhà kinh tế học sử dụng các dữ liệu như trong bảng 1.1, cùng với các ước lượng

về hiệu ứng của khoảng cách trong mô hình Lực hấp dẫn, để tính toán rằng biên giới Canada - Hoa Kỳ, mặc dù là một trong những đường biên mở cửa nhất trên thế giới vẫn có nhiều ảnh hưởng mang tính ngăn chặn như những quốc gia cách xa nhau tới hàng nghìn kilomet

1.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu môn Kinh tế học quốc tế

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Kinh tế học là quá trình nghiên cứu việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm như thế nào

để sản xuất ra các hàng hoá có giá trị và phân phối chúng cho các đối tượng khác nhau

Kinh tế học quốc tế nghiên cứu sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các nền kinh tế riêng biệt

trong quá trình khai thác các nguồn tài nguyên khan hiếm để thoả mãn nhu cầu của con người

Trong khi kinh tế học tập trung nghiên cứu những vấn đề của nền kinh tế đóng, kinh

tế học quốc tế nghiên cứu những vấn đề của hai hay nhiều nền kinh tế Nó xem xét những

vấn đề kinh tế chung nhưng đặt trong bối cảnh quốc tế

1.3.2 Nội dung nghiên cứu: Kinh tế học quốc tế được chia thành hai phần chính: thương mại quốc tế và tài chính quốc tế

1.3.3 Phương pháp nghiên cứu

Kinh tế học quốc tế sử dụng các phương pháp nghiên cứu của kinh tế học vi mô và vĩ

mô như:

 Phương pháp Trừu tượng hoá

 Phương pháp Mô hình hoá

 Phương pháp cân bằng tổng quát

 Phương pháp giả định những nhân tố khác không thay đổi

Thương mại quốc tế là lý thuyết cân bằng tĩnh dài hạn mà trong đó các quá trình điều chỉnh ngắn hạn được coi như đã hoàn thành, đồng tiền được coi như đóng vai trò hình thức Phương pháp nghiên cứu của lý thuyết thương mại quốc tế về cơ bản mang đặc tính của kinh

tế vi mô

Lý thuyết tài chính quốc tế tập trung vào các khía cạnh tiền tệ của các quan hệ tiền tệ quốc tế Phương pháp nghiên cứu của nó chủ yếu mang đặc tính của kinh tế vĩ mô, nó giải quyết những vấn đề cụ thể, những vấn đề ngắn hạn của sự mất cân bằng cán cân thanh toán và

sự điều chỉnh

Trang 18

Chương 2 NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ QUY LUẬT LỢI THẾ TƯƠNG ĐỐI

Trong chương này, chúng ta sẽ tìm hiểu sự phát triển của các lý thuyết thương mại quốc tế từ thế kỷ 15 đến những năm đầu của thế kỷ 20 – được gọi là các lý thuyết thương mại

cổ điển Sự nghiên cứu cả một quá trình như vậy cho thấy sự phát triển mang tính hệ thống của các học thuyết thương mại quốc tế từ đơn giản đến phức tạp, từ lý luận đến thực tiễn Từ

đó đưa ra được những so sánh đánh giá cũng như việc nghiên cứu khả năng vận dụng mỗi học thuyết vào hoạt động thương mại quốc tế trong thực tiễn

Sự ra đời các tư tưởng, lý thuyết thương mại quốc tế nhằm phân tích ba vấn đề cơ bản trong hoạt động thương mại quốc tế, bao gồm: nguồn gốc thương mại quốc tế; mô hình thương mại quốc tế và lợi ích thương mại quốc tế Cụ thế, trong lý thuyết thương mại cổ điển, chúng ta sẽ giải quyết ba vấn đề trên thông qua nghiên cứu các lý thuyết:

 Chủ nghĩa Trọng thương

 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

 Lý thuyết lợi thế tương đối của David Ricardo

 Lý thuyết chi phí cơ hội của Gottfried Von Harberler

2.1 Quan điểm Trọng thương về thương mại

2.1.1 Hoàn cảnh ra đời

Chủ nghĩa Trọng thương xuất hiện và phát triển ở Châu Âu; phát triển mạnh mẽ nhất ở Anh, Pháp từ giữa thế kỷ 15, 16, thời kỳ hoàng kim là vào thế kỷ 17 và tan rã vào cuối thế kỷ 18

Chủ nghĩa Trọng thương ra đời trong bối cảnh phương thức sản xuất phong kiến tan

rã, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời Chính vì vậy, chủ nghĩa trọng thương được coi là hệ thống kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản, là một lý thuyết làm nền tảng cho các tư duy kinh tế từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18 Sự xuất hiện của chủ nghĩa trọng thương dựa trên những tiền đề kinh tế - xã hội sau:

Đến cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16, mậu dịch đã bắt đầu phát triển do 3 nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Con người đã bắt đầu sản xuất ra một số những sản phẩm cao cấp như: đồng hồ, kính hiển vi,… giúp người ta quan sát và thực nghiệm được chính xác hơn, nâng tầm hiểu biết của con người, giúp họ nhận thức một cách đầy đủ thế giới vật chất khách quan xung quanh ta

Con người đã khám phá ra những vùng đất mới, tạo điều kiện mở rộng giao lưu giữa các khu vực (tìm ra Tân thế giới, chinh phục Mexico mở rộng giao thương với Châu Mỹ, giao thương cho Bồ Đào Nha với Ấn Độ và các nước Nam Á bằng đường biển nhờ cuộc hành trình của Vasco Da Gama ) hình thành thị trường ngày càng được mở rộng Bên cạnh đó, các phát kiến địa lý vĩ đại đã tạo điều kiện cho sự hình thành các tuyến đường vận tải thương mại, phát triển hoạt động ngoại thương bằng đường biển

Sự gia tăng dân số tạo nên thị trường lao động, thị trường tiêu thụ hàng hoá, làm tăng doanh lợi của nhà sản xuất và các thương gia Đồng thời vào thời kỳ này, vai trò của các thương nhân được đặc biệt đề cao và dần chiếm vị trí chủ chốt trong xã hội bởi lẽ tầng lớp

Trang 19

thương nhân tư sản đóng góp phần lớn nguồn tài chính trong việc củng cố quyền lực cho chế

độ trung ương

Trong bối cảnh như vậy, một nhóm người (bao gồm các thương gia, nhân viên ngân hàng, nhân viên hải quan ) đã viết những bài tiểu luận những cuốn sách nhỏ về thương mại quốc tế Những tác phẩm đó đã biện hộ cho một trường phái kinh tế mới đề cao vai trò của ngoại thương đối với sự phát triển kinh tế được gọi là chủ nghĩa Trọng thương

2.1.2 Những tư tưởng cơ bản của học thuyết Trọng thương

Ở đây chủ nghĩa Trọng thương là một cương lĩnh, hệ thống các quan điểm, tư tưởng, đường lối kinh tế của giai cấp tư sản trong thời kỳ tích luỹ ban đầu của chủ nghĩa tư bản Đây thực chất là những tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn của giai cấp tư sản trong việc tìm ra nguồn gốc của của cải và cách thức làm giàu Trong hoạt động thương mại quốc tế, trường phái này đã thể hiện những quan điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, mỗi quốc gia muốn đạt được sự thịnh vượng (sự giàu có, của cải) trong

phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ (thể hiện bằng vàng, bạc, đá quý) tích luỹ trong nền kinh tế Quốc gia nào có càng nhiều vàng, bạc, đá quý thì quốc gia đó càng giàu có

Các nhà Trọng thương cho rằng “Thà quốc gia có nhiều vàng bạc hơn là nhiều là thương gia và hàng hoá” hay “Chúng ta sống nhờ vàng bạc hơn là nhờ buôn bán nguyên liệu”

Thứ hai, chủ nghĩa Trọng thương cho rằng ngoại thương là con đường mang lại sự

thịnh vượng cho quốc gia Họ cho rằng, chỉ có ngoại thương mới là nguồn gốc thực sự của của cải, vì nó làm tăng thêm khối lượng tiền vàng

Thứ ba, theo chủ nghĩa Trọng thương, thương mại quốc tế là một trò chơi có tổng số

bằng không Lợi ích thương mại mà quốc gia này thu được chính là sự hy sinh, mất mát của các quốc gia khác

Trong ngoại thương, một quốc gia muốn tích luỹ được nhiều tiền, nhiều kim loại quý thì phải thực hiện xuất siêu, phải đạt được thặng dư thương mại, nhất là với các nước thuộc địa Từ đó, chủ nghĩa Trọng thương chủ trương áp dụng các chính sách độc quyền thương mại với các nước thuộc địa và mua rẻ bán đắt, ngăn cản các nước thuộc địa sản xuất, chỉ được xuất khẩu nguyên liệu thô với giả rẻ và nhập khẩu các sản phẩm tiêu dùng cuối cùng từ chính quốc với giá cả cao hơn gấp nhiều lần Do vậy, lợi nhuận trong thương mại là kết quả của việc trao đổi không ngang giá, là sự lường gạt Thương mại không xuất phát từ trao đổi ngang giá, đôi bên cùng có lợi mà chỉ lo bảo vệ cho lợi ích quốc gia mình

Thứ tư, theo tư tưởng đó, những người theo chủ nghĩa Trọng thương cho rằng chính

phủ nên can thiệp vào các hoạt động kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại thương nhằm gia tăng số của cải của mỗi nước Cụ thể các chính phủ phải tạo điều kiện và trợ giúp cho mọi hoạt động xuất khẩu, đồng thời hạn chế nhập khẩu thông qua các công cụ điều chỉnh buôn bán

2.1.3 Đánh giá thuyết Trọng thương

*) Tư tưởng tiến bộ của thuyết Trọng thương:

Chủ nghĩa Trọng thương đã nhận thức được tầm quan trọng của thương mại quốc tế, khác với trào lưu tư tưởng phong kiến lúc bấy giờ, đề cao nền kinh tế tự cung tự cấp Thương mại quốc tế là nguồn quan trọng mang về quý kim cho đất nước, là nguồn lực để phát triển

Trang 20

kinh tế cho mỗi quốc gia

Nhận thức đúng vai trò can thiệp của Nhà nước vào kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại thương thông qua luật pháp và chính sách kinh tế Nhà nước với tư cách là chủ thể điều chỉnh quan hệ buôn bán của một nước với nước khác Đây là những quan điểm, tư tưởng hợp lý vẫn còn có giá trị hiện nay

*) Sai lầm của thuyết Trọng thương:

Bên cạnh những ưu điểm, trường phái Trọng thương cũng đã không tránh khỏi những khiếm khuyết, hạn chế Lý luận về thương mại quốc tế còn đơn giản, ít tính chất lý luận, thường được nêu dưới hình thức lời khuyên thực tiễn về chính sách kinh tế, lập luận mang tính kinh nghiệm, chưa cho phép giải thích được bản chất của thương mại quốc tế

Quan niệm không đúng cho rằng đo lường sự giàu có của một quốc gia bởi số lượng vàng bạc tích luỹ trong nền kinh tế, trong khi thực tế chúng không thể được sử dụng trong kể

cả trong sản xuất lẫn tiêu dùng Họ đánh đồng của cải tích luỹ được với tiềm lực thực tế của nền kinh tế Ngược lại, ngày nay sự giàu có của một quốc gia được đo lường bởi khả năng của quốc gia về nguồn lực con người, tài nguyên có thể cung cấp cho sản xuất và dịch vụ Nguồn lực này càng phong phú, sử dụng càng có hiệu quả thì dòng chảy hàng hoá và dịch vụ thoả mãn con người càng dồi dào, tiêu chuẩn sống của quốc gia càng cao

Từ nhận thức chưa đúng trên, Chủ nghĩa Trọng thương còn chưa đúng về nguồn gốc

sự giàu có của quốc gia - ngoại thương là nguồn gốc mang lại sự giàu có cho mỗi quốc gia

Họ cho rằng, một quốc gia để trở nên giàu có phải xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu Thặng dư xuất khẩu được thu hồi trở lại bằng tiền tệ thực là vàng, bạc Do đó, chủ nghĩa Trọng thương

đã bỏ qua khái niệm hiệu quả sản xuất đạt được nhờ chuyên môn hoá Thay cho việc sản xuất hàng hoá theo quan điểm hiệu quả - chi phí, họ nhấn mạnh đến khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu tuyệt đối

Quan niệm chưa đúng về thương mại quốc tế Họ cho rằng, nguyên tắc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia là trao đổi không ngang giá, là mua rẻ bán đắt, sự lừa gạt lẫn nhau Chính vì vậy, thương mại quốc tế là trò chơi có tổng số bằng không, lợi ích có được từ ngoại thương của quốc gia này là lấy từ phần thiệt hại của quốc gia kia Đây là quan niệm hoàn toàn không chính xác Vì thế người ta còn gọi các học giả Trọng thương là “những nhà kinh tế dân tộc chủ nghĩa”

Chủ nghĩa Trọng thương rất đề cao vai trò của Nhà nước, chưa biết đến và không thừa nhận sự hoạt động của các quy luật kinh tế khách quan Các đại biểu của chủ nghĩa Trọng thương đều đòi hỏi Nhà nước phải có các biện pháp can thiệp sâu vào nền kinh tế nhằm bảo

vệ tối đa thị trường nội địa, tránh sự xâm nhập, cạnh tranh của hàng hoá nước ngoài Điều này

sẽ dẫn đến nền kinh tế trong nước hoạt động trì trệ, kém hiệu quả

2.2 Thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối Adam Smith (1723 - 1790)

Adam Smith sinh ngày 5/6/1723 trong một gia đình làm nghề hải quan ở một làng nhỏ

sứ Scotland Vào năm 1776, ông xuất bản tác phẩm nổi tiếng: “Bàn về bản chất và nguồn gốc của cải của các dân tộc” Phương pháp luận của A.Smith dựa trên quan điểm tự do, thể hiện

trong tư tưởng “trật tự tự nhiên”, cho rằng một xã hội hợp với trật tự tự nhiên là một xã hội tự

Trang 21

do cạnh tranh, giao lưu trao đổi hàng hoá tự do Trong xã hội đó, “bàn tay vô hình” hướng dẫn những tác động qua lại phức tạp giữa các chủ thể kinh tế “Bàn tay vô hình” đó chính là sự hoạt động của các quy luật kinh tế khách quan, tác động không phụ thuộc vào ý chí của con người

2.2.1 Quan điểm của Adam Smith về thương mại quốc tế

Trong tác phẩm “Bàn về bản chất và nguồn gốc của cải của các dân tộc”, Adam

Smith đã phê phán những quan điểm của chủ nghĩa Trọng thương và nêu lên những quan điểm mới của mình về thương mại quốc tế Cụ thể là:

Nguồn gốc sự giàu có của mỗi quốc gia không phải do ngoại thương đem lại mà là do nền sản xuất trong nước (sản xuất công nghiệp) Ông cho rằng, thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng sự giàu có của mỗi quốc gia, nhưng nguồn gốc của sự giàu

có đó là ở nền sản xuất Vì vậy, một quốc gia khi trao đổi mua bán hàng hoá với nước ngoài

phải dựa trên hiệu quả sản xuất

Theo quan điểm của Adam Smith, các quốc gia đều có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế Khác với chủ nghĩa Trọng thương cho rằng trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia dựa trên nguyên tác trao đổi không ngang giá

Nếu một quốc gia không thu được gì, hoặc bị lỗ, họ sẽ từ chối và không tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế

Cơ sở để các quốc gia trao đổi thương mại quốc tế với nhau và cùng có lợi theo Adam Smith là dựa trên lợi thế tuyệt đối Ông cho rằng “điều rõ ràng đối với mỗi người chủ gia đình rằng không bao giờ cố làm ở nhà cái gì mà đắt hơn là đi mua nó” Theo khía cạnh này một quốc gia cũng như một cá nhân, không nên cố gắng sản xuất tất cả hàng hoá cho mình, mà nên tập trung sản xuất hàng hoá mình có sở trường nhất, đem trao đổi một phần sản phẩm đó lấy sản phẩm khác cần dùng Nếu như nước ngoài có thể cung cấp hàng hoá với giá rẻ hơn chúng ta tự làm, tốt nhất là mua của họ và hãy cung cấp cho thế giới những hàng hóa mà chúng ta có lợi thế

2.2.2 Nội dung lý thuyết lợi thế tuyệt đối

Theo Adam Smith, một quốc gia khi trao đổi mua bán hàng hoá với nước ngoài phải dựa trên hiệu quả sản xuất (tức đạt lợi thế tuyệt đối) Lợi thế tuyệt đối ở đây chính là chi phí sản xuất thấp hơn (nhưng chỉ có chi phí lao động mà thôi), nghĩa là năng suất lao động cao hơn Vì vậy, toàn bộ lý thuyết thương mại theo quan điểm của Adam Smith là dựa trên giả

định: Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất

Thương mại giữa hai quốc gia được dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối Điều này có nghĩa

là: “Một quốc gia có thể hiệu quả hơn trong sản xuất một số hàng hoá này nhưng lại kém hiệu quả hơn trong sản xuất một số hàng hoá khác Cả hai quốc gia có thể đều có lợi từ th- ương mại nếu mỗi quốc gia chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu những hàng hoá có hiệu quả hơn quốc gia khác”

Lợi thế tuyệt đối có thể minh họa bằng ví dụ sau:

Giả sử thế giới có hai quốc gia (Quốc gia 1 và Quốc gia 2) và mỗi quốc gia sản xuất hai sản phẩm (X và Y) với giả thiết lao động là yếu tố đầu vào duy nhất

Trang 22

Bảng 2.1 Lợi thế tuyệt đối

Năng suất lao động (sản phẩm/đơn vị lao động) Quốc gia 1 Quốc gia 2

nhưng kém hiệu quả hơn trong sản xuất X so với Quốc gia 1

Lúc này, mô hình thương mại sẽ là: Quốc gia 1 chuyên môn hóa sản xuất X sau đó xuất khẩu X sang Quốc gia 2 và nhập khẩu Y của Quốc gia 2 Ngược lại, Quốc gia 2 chuyên môn hóa sản xuất Y sau đó xuất khẩu Y sang Quốc gia 1 và nhập khẩu X của Quốc gia 1

Một vấn đề cần quan tâm ở đây là tỷ lệ trao đổi quốc tế giữa X và Y sẽ nằm trong một khung giới hạn nào? Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, ở Quốc gia 1, tỷ lệ trao đổi nội địa là 6X

= 4Y; Quốc gia 2, tỷ lệ trao đổi nội địa là 1X = 5Y vì cùng bằng chi phí cho một đơn vị lao động Mặt khác, Quốc gia 1 chỉ chấp nhận đổi X lấy Y khi 6X đổi được nhiều hơn 4Y và Quốc gia 2 chỉ chấp nhận đổi Y lấy X khi 5Y đổi được nhiều hơn 1X Do vậy, tỷ lệ trao đổi

quốc tế là: 4/6 < Tỉ lệ trao đổi quốc tế (X/Y) <5/1

Bằng cách này, cả hai quốc gia đều có lợi từ thương mại

2.2.3 Đánh giá thuyết lợi thế tuyệt đối

*) Tư tưởng tiến bộ của lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith:

Chứng minh được cả hai quốc gia đều có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế: Trong khi các nhà Trọng thương tin rằng một quốc gia chỉ có lợi trên sự thiệt hại của quốc gia khác và ủng hộ chính sách bảo hộ Adam Smith đã chỉ ra một cách nghiêm chỉnh rằng tất cả các quốc gia đều có được lợi ích từ thương mại và ủng hộ nền thương mại tự do không có sự can thiệp của chính phủ Với thương mại tự do, nguồn lực của thế giới được sử dụng có hiệu quả hơn (nhờ vào chuyên môn hoá những sản phẩm có lợi thế) mang lại lợi ích nhiều hơn cho tất cả các nước tham gia Mọi sự can thiệp vào luồng tự do thương mại cản trở quá trình phân chia có hiệu quả các nguồn lực trên thế giới và phủ nhận cơ hội để hưởng những lợi ích tiềm năng từ thương mại của cộng đồng thế giới

Trong lý thuyết lợi thế tuyệt đối đã thấy được tính ưu việt của chuyên môn hoá là tiết kiệm lao động và tăng được sản lượng hàng hoá của thế giới: trở lại mô hình trên chúng ta thấy Quốc gia 1 có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất hàng hoá X; Quốc gia 2 có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất hàng hoá Y Nếu mỗi quốc gia tiến hành chuyên môn hoá trong việc sản xuất một mặt hàng mà họ có lợi thế tuyệt đối, sau đó trao đổi thì cả hai quốc gia cùng

có lợi Trong quá trình này, các nguồn lực sản xuất của cả thế giới sẽ được sử dụng một cách hiệu quả nhất, sản lượng của cả hai hàng hoá đều tăng, do đó tổng sản phẩm của thế giới sẽ gia tăng Sự tăng lên về sản lượng của hai hàng hoá này dẫn đến sự tăng lên các sản phẩm của toàn thế giới, đó là nhờ vào sự chuyên môn hoá và được phân bố giữa hai quốc gia theo tỷ lệ trao đổi thông qua thương mại quốc tế

Trang 23

*) Những hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith:

- Không giải thích được hiện tượng chỗ đứng trong phân công lao động quốc tế và thương mại quốc tế sẽ xảy ra như thế nào đối với những nước không có lợi thế tuyệt đối nào

- Coi lao động là yếu tố sản xuất duy nhất tạo ra giá trị, là đồng nhất và được sử dụng với tỉ lệ như nhau trong tất cả các loại hàng hoá

- Tính khái quát của lý thuyết lợi thế tuyệt đối chưa cao, dựa vào lý thuyết này chúng

ta không thể giải thích mọi hiện tượng thương mại quốc tế Lý thuyết này không thể giải thích được trong trường hợp một nước được coi là "tốt nhất" tức là quốc gia đó có lợi thế tuyệt đối

để sản xuất tất cả các sản phẩm hoặc một nước được coi là "kém nhất" tức là quốc gia đó không có một sản phẩm nào có lợi thế tuyệt đối để sản xuất trong nước Trong những trường hợp đó, liệu các quốc gia có còn giao thương được với nhau nữa không và lợi ích mậu dịch sẽ nằm ở chổ nào? hay lại áp dụng chính sách bế quan tỏa cảng? Vấn đề này được giải quyết bởi nhà Kinh tế học David Ricardo qua học thuyết về lợi thế so sánh phân tích một cách thực tế

cơ sở và thặng dư từ thương mại

2.3 Thương mại dựa trên lợi thế tương đối của David Ricardo

So với Chủ nghĩa Trọng thương, lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith đã có một bước tiến dài, khẳng định thương mại quốc tế không phải là một trò chơi có tổng bằng không, mà là trò chơi làm lợi cho tất cả các bên Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy, trong nhiều trường hợp, khi so sánh chi phí sản xuất để tìm ra lợi thế tuyệt đối, một nước lại thấy mình có lợi thế về tất cả các mặt hàng so với nước khác nhưng vẫn tham gia vào thương mại quốc tế

Lý thuyết của A Smith không thể giải thích được tại sao các nước trong trường hợp này vẫn trao đổi với nhau và cùng có lợi Lý thuyết lợi thế so sánh của D Ricardo sẽ cung cấp câu trả lời cho vấn đề này

2.3.1 Quan điểm David Ricardo về thương mại quốc tế

Quan điểm của David Ricardo về thương mại quốc tế được ông thể hiện trong cuốn

sách “Những nguyên tắc kinh tế chính trị và thuế” được xuất bản vào năm 1817 Trong tác

phẩm này, ông không chỉ phát triển học thuyết của Adam Smith, mà còn chỉ ra những mâu thuẫn của nó Theo ông, cơ sở của các quốc gia giao thương với nhau là Lợi thế tương đối hay còn gọi là Lợi thế so sánh

Quan điểm của D.Ricardo về thương mại quốc tế: “Hai quốc gia trao đổi thương mại với nhau thì cả hai đều có lợi kể cả trường hợp cả hai sản phẩm của quốc gia này đều kém hiệu quả hơn quốc gia kia”

2.3.2 Những giả định của mô hình David Ricardo

Để xây dựng quy luật lợi thế so sánh của mình, D Ricardo đã đưa ra một số giả thuyết làm đơn giản hoá mô hình trao đổi thương mại Các giả định đó là:

 Thế giới chỉ có hai quốc gia và chỉ sản xuất hai hàng hóa

 Thương mại tự do hoàn toàn giữa hai quốc gia

 Chi phí sản xuất không đổi

 Chi phí vận tải bằng không

 Lao động được tự do di chuyển trong nước, nhưng không được phép di chuyển giữa các nước

Trang 24

 Thừa nhận lý thuyết giá trị lao động

2.3.3 Quy luật lợi thế so sánh

Nội dung của quy luật Lợi thế so sánh: “Các quốc gia sẽ đều có lợi từ thương mại nếu thực hiện chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu sản phẩm có lợi thế tương đối và nhập khẩu sản phẩm không có lợi thế tương đối”

Vậy lợi thế so sánh được xác định như thế nào?

Cơ sở để xác định lợi thế so sánh: dựa trên năng suất lao động tương đối hoặc chi phí sản xuất tương đối của hàng hoá trước khi có thương mại quốc tế

Năng suất lao động tương đối (hoặc chi phí sản xuất tương đối) của một hàng hoá (X)

là năng suất lao động (hoặc chi phí sản xuất) của hàng hoá đó được được tính theo năng suất lao động (hoặc chi phí sản xuất) của hàng hoá khác (Y) Theo đó, một quốc gia sẽ có lợi thế

so sánh trong sản xuất một loại hàng hoá mà có năng suất lao động tương đối cao hơn đồng nghĩa với chi phí sản xuất tương đối thấp hơn so với quốc gia khác

2.3.4 Ví dụ minh họa về lợi thế tương đối

Để hiểu rõ hơn, chúng ta hãy xem xét ví dụ sau: Giả sử năng suất lao động 2 sản phẩm X,Y của 2 quốc gia trong bảng 2.1 đã thay đổi như sau:

Bảng 2.2 Lợi thế tương đối

Năng suất lao động (sản phẩm/đơn vị lao động) Quốc gia 1 Quốc gia 2

1 có năng suất lao động lớn hơn gấp 6 lần Quốc gia 2 trong việc sản xuất X và gấp 2 lần trong

sản xuất Y Do đó, Quốc gia 1 có lợi thế so sánh trong sản xuất X

Tương tự, Quốc gia 2 có năng suất lao động về sản xuất X bằng 1/6 của Quốc gia 1 và

năng suất lao động về sản xuất Y bằng 1/2 Quốc gia 1 Do đó, Quốc gia 2 có lợi thế tương đối

về sản xuất Y

Tóm lại, Quốc gia 1 có cả lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong việc sản xuất X Quốc gia 2 tuy không có lợi thế tuyệt đối về sản xuất sản phẩm nào, nhưng vẫn có lợi thế so sánh trong việc sản xuất Y Theo quy luật lợi thế so sánh, cả hai quốc gia sẽ có lợi từ thương mại quốc tế nếu Quốc gia 1 chuyên môn hóa sản xuất X và xuất khẩu một phần để đổi lấy Y được sản xuất tại Quốc gia 2 (cùng lúc đó, Quốc gia 2 sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu Y)

Lợi ích từ thương mại

Trước khi có thương mại, thị trường nội địa Quốc gia 1 sẽ trao đổi 6X lấy 4Y còn thị trường nội địa Quốc gia 2 sẽ trao đổi 1X lấy 2Y Và Quốc gia 1 sẽ không tham gia vào thương mại quốc tế nếu nó trao đổi 6X lấy ít hơn 4Y, Tương tự Quốc gia 2 cũng sẽ không tham gia vào thương mại quốc tế nếu nó trao đổi 2X được ít hơn 1Y

Do đó, tỷ lệ trao đổi quốc tế sẽ là: 1/2 < tỉ lệ trao đổi quốc tế (X/Y) < 6/4

Trang 25

Bằng cách này, cả hai quốc gia đều có lợi từ thương mại

Như vậy, những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn

có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác Như vậy lợi thế so sánh là cơ sở để các nước buôn bán với nhau và là

cơ sở để thực hiện phân công lao động quốc tế

2.3.5 Đánh giá lý thuyết lợi thế tương đối của David Ricardo

*) Tư tưởng tiến bộ về lý thuyết lợi thế tương đối của David Ricardo:

Lý thuyết lợi thế tương đối của D Ricardo được coi là cơ bản, đặt cơ sở nền tảng cho thương mại quốc tế Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn

có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế bởi vì thương mại quốc tế không yêu cầu sự khác nhau về lợi thế tuyệt đối Thương mại quốc tế có thể xảy ra khi có lợi thế so sánh Lợi thế so sánh tồn tại bất cứ khi nào mà tương quan về lao động cho mỗi sản phẩm khác nhau giữa hai hàng hóa Do đó, lý thuyết lợi thế tương đối của David Ricardo mang tính khái quát hơn, khẳng định cơ sở thương mại quốc tế là sự khác biệt về lợi thế so sánh

*) Tư tưởng sai lầm về lý thuyết lợi thế tương đối của David Ricardo:

David Ricardo khi nghiên cứu quy luật về lợi thế tương đối đã vận dụng lý thuyết giá trị lao động Do vậy, lý thuyết này đúng nhưng chưa sát với thực tế, cụ thể:

Trong chi phí sản xuất mới chỉ tính đến có một yếu tố sản xuất duy nhất, đó là lao động Còn các yếu tố khác như vốn, kỹ thuật, đất đai và trình độ của người lao động thì không

đề cập đến Do đó không tìm ra nguyên nhân sự khác nhau về năng suất lao động ở các nước

Coi lao động là đồng nhất, tức chỉ có một loại lao động Song trên thực tế lao động không phải là đồng nhất: những ngành nghề sản xuất khác nhau sẽ có cơ cấu lao động khác nhau với mức lương, năng suất lao động và trình độ tay nghề khác nhau

Hạn chế tiếp theo của lý thuyết này là tồn tại một trường hợp ngoại lệ, nó xảy ra khi cả hai hàng hoá của một quốc gia bị bất lợi thế tuyệt đối (kém hiệu quả hơn) so với quốc gia kia với cùng một tỷ lệ

2.4 Lý thuyết Chi phí cơ hội của Gottfried Von Haberler

Gottfried Von Haberler (1900 - 1995), là một nhà kinh tế, nhà nghiên cứu, nhà giáo dục nổi tiếng người Hoa Kỳ gốc Áo Những tác phẩm nổi tiếng của ông chủ yếu trong lĩnh vực

thương mại quốc tế, đặc biệt là tác phẩm Lý thuyết về thương mại quốc tế (1937), được xem là

một tác phẩm kinh điển Thông qua tác phẩm của mình, ông đã chỉ ra những hạn chế của lý thuyết lợi thế so sánh khi phụ thuộc vào giả thiết hạn chế của lý thuyết giá trị lao động Ông cho rằng để tạo ra hàng hóa, bên cạnh lao động còn có rất nhiều yếu tố sản xuất khác như vốn, đất đai, công nghệ Và bản thân lao động là không đồng nhất, nó có sự khác biệt rất lớn do được đào tạo, kinh nghiệm, trình độ chuyên môn rồi sau đó mới là năng suất lao động Do đó, lý thuyết lợi thế tương đối của David Ricardo (1817) lại chỉ dựa vào năng suất lao động để giải thích là thiếu tính logic và không phù hợp với thực tế Chính vì vậy, Ông chứng minh rằng:

Trang 26

không nên giải thích lợi thế so sánh dựa trên lý thuyết giá trị lao động mà nên giải thích dựa trên

lý thuyết về chi phí cơ hội

2.4.1 Lợi thế so sánh dưới góc độ chi phí cơ hội của Gottfried Von Haberler

Năm 1936, Haberler đã giải thích lợi thế so sánh dựa trên lý thuyết chi phí cơ hội Theo

lý thuyết chi phí cơ hội, chi phí cơ hội của một hàng hoá (X) là số lượng hàng hoá khác (Y) mà nền kinh tế buộc phải từ bỏ để dành tài nguyên cho việc sản xuất thêm một đơn vị hàng hoá đó (X) Như vậy, trong khái niệm chi phí cơ hội không phụ thuộc vào giả thiết lao động là yếu tố

sản xuất duy nhất và lao động là đồng nhất Kết quả là, quốc gia nào có chi phí cơ hội thấp trong việc sản xuất một loại hàng hoá nào đó thì quốc gia đó có lợi thế so sánh trong việc sản xuất hàng hoá đó và không có lợi thế so sánh trong việc sản xuất sản phẩm thứ hai

Bảng 2.3 Thương mại dưới góc độ chi phí cơ hội

Năng suất lao động (sản phẩm/đơn vị lao động) Quốc gia 1 Quốc gia 2

2.4.2 Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) với chi phí cơ hội không đổi

Khái niệm đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF)

Đường giới hạn khả năng sản xuất của một quốc gia biểu thị các kết hợp hàng hoá lớn nhất mà nền kinh tế đó có thể sản xuất được với các nguồn lực (các yếu tố sản xuất) và trình

độ kỹ thuật sẵn có

Khái niệm chi phí cơ hội không đổi

Chi phí cơ hội không đổi của một hàng hoá (X) là số lượng không đổi của hàng hoá khác (Y) buộc phải từ bỏ để dành tài nguyên cho việc sản xuất thêm một đơn vị hàng hoá đó (X)

Chi phí cơ hội có thể được biểu diễn bằng đường giới hạn khả năng sản xuất Trong

trường hợp chi phí cơ hội không đổi, đường giới hạn khả năng sản xuất là một đường thẳng chỉ ra sự kết hợp thay thế nhau của 2 hàng hoá mà quốc gia có thể sản xuất khi sử dụng toàn

bộ nguồn lực của mình

Trang 27

Bảng 2.4 Khả năng sản xuất hai hàng hoá X và Y ở Quốc gia 1 và Quốc gia 2

ở quốc gia 1 bằng 2/3 đơn vị Y và chi phí cơ hội này luôn luôn là một hằng số Tương tự như vậy, quốc gia 2 có thể tăng X bằng cách bớt đi sản xuất Y và muốn có đủ nguồn lực để sản xuất tăng thêm 10X thì buộc phải từ bỏ 20Y Như vậy, chi phí cơ hội của X ở quốc gia 2 bằng 2 đơn

vị Y và chi phí cơ hội này luôn luôn là một hằng số

Hình 2.1 PPF của Quốc gia 1 và Quốc gia 2

Lưu ý rằng cả hai đường PPF đều là đường thẳng Đây là đặc điểm quan trọng của mô hình cổ điển và phụ thuộc vào hai giả thiết (1) chỉ có một yếu tố sản xuất và (2) năng suất lao động không đổi bất kể qui mô hoạt động của các ngành sản xuất

Những điểm nằm bên trong đường giới hạn khả năng sản xuất là những điểm mà nền sản xuất có thể đạt tới, nhưng với hiệu quả thấp, bởi vì chưa sử dụng hết các nguồn lực sẵn

có Do vậy, chúng ta gọi là những điểm sản xuất kém hiệu quả Mặt khác, những điểm nằm bên ngoài đường giới hạn khả năng sản xuất là những điểm nền sản xuất không thể nào đạt được với nguồn lực và công nghệ là hiện có

Độ dốc của đường giới hạn khả năng sản xuất của quốc gia 1 (đó là, 120/180 = 2/3) thể hiện chi phí cơ hội của X tính theo Y của quốc gia 1 Tương tự, độ dốc của PPF của quốc gia 2 (đó là, 120/60=2) thể hiện chi phí cơ hội của X tính theo Y của quốc gia 2 Trong khi chi phí cơ hội là không đổi tại mỗi quốc gia thì nó lại khác nhau giữa các quốc gia và chính điều này làm cơ sở để hình thành thương mại

Trang 28

2.4.3 Phân tích lợi ích thương mại trong trường hợp chi phí cơ hội không đổi

Khi thương mại chưa xảy ra, Quốc gia 1 và Quốc gia 2 ở trạng thái tự cung tự cấp; trong nước sản xuất bao nhiêu sẽ đáp ứng tiêu dùng bấy nhiêu Cho nên, trong điều kiện tự cung tự cấp, giới hạn khả năng sản xuất cũng chính là giới hạn tiêu dùng của quốc gia Giả sử, Quốc gia 1 sản xuất và tiêu dùng ở điểm ở E (90X; 60Y) thuộc đường PPF Tương tự Quốc gia 2 chọn phương án sản xuất và tiêu dùng ở E’(40X; 40Y)

Hình 2.2 Lợi ích thương mại quốc tế

Khi thương mại tự do xảy ra, do có lợi thế so sánh sản phẩm X nên Quốc gia 1 sẽ chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm X tại B (180X; 0Y) còn Quốc gia 2 có lợi thế so sánh sản phẩm Y nên sẽ chuyên môn hoá sản xuất tại C(0X; 120Y)

Khung tỷ lệ trao đổi trong trường hợp này là 2/3< X/Y < 2, giả sử tỷ lệ trao đổi trên thị trường giữa hai sản phẩm này là X/Y = 1 Căn cứ vào nhu cầu tiêu dùng trong nước, Quốc gia 1

và Quốc gia 2 chấp nhận khối lượng trao đổi là 70X lấy 70Y cho nhau Khi đó, điểm tiêu dùng sau thương mại của Quốc gia 1 là F(110X; 70Y) còn Quốc gia 2 là F’(70X; 50Y)

So sánh điểm E với F và E’ với F’ ta thấy tiêu dùng của hai quốc gia đều tăng lên và vượt ra ngoài giới hạn khả năng sản xuất Cụ thể, so với tự cung tự cấp Quốc gia 1 có lợi 20X

và 10Y còn Quốc gia 2 có lợi 30X và 10Y Đó là biểu hiện lợi ích do thương mại quốc tế mang lại mà nguyên nhân sâu xa là do mỗi quốc gia đã chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm

mà quốc gia mình có lợi thế so sánh

Việc chuyên môn hóa vào mặt hàng có chi phí cơ hội thấp, đã giúp các nước sử dụng tài nguyên, nguồn lực phát triển hiệu quả hơn Nếu không có thương mại, Quốc gia 1 sản xuất được 90X và 60Y còn Quốc gia 2 sản xuất được 40X và 40Y, tổng cộng là 130X và 100Y Khi có thương mại, các quốc gia sẽ chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm mà mình có lợi thế, Quốc gia 1 sản xuất được 180X và 0Y còn Quốc gia 2 sản xuất 0X và 120Y, tổng cộng là 180X và 120Y Như vậy, nhờ chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm có lợi thế so sánh mà sản lượng đã gia tăng 50X và 20Y làm gia tăng tiêu dùng ở mỗi quốc gia Đây cũng chính là lợi ích từ thương mại quốc tế

0 40 60 70 X

F’

Trang 29

Lợi ích thương mại quốc tế của từng quốc gia cũng như việc phân chia lợi ích thưong mại giữa hai quốc gia được thể hiện rõ nét hơn trong hình 2.3:

Trong hình 2.3, thể hiện hai đường PPF của quốc gia 1 (đường AB) và quốc gia 2 (đường CD)

Hình 2.3 Tổng lợi ích từ thương mại quốc tế

Trước khi có thương mại, các quốc gia chỉ có thể tiêu dùng cái mà nó có khả năng sản xuất Do đó, trước khi có thương mại, cả hai quốc gia sẽ tiêu dùng dọc theo đường giới hạn khả năng sản xuất của mỗi nước Cụ thể, Quốc gia 1 sẽ tiêu dùng các kết hợp hàng hoá X và

Y nằm dọc đường AB, còn Quốc gia 2 sẽ tiêu dùng các kết hợp hàng hoá nằm dọc đường CD

Sau khi có thương mại, các quốc gia sẽ tiến hành chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá mình có lợi thế so sánh Cụ thể, Quốc gia 1 chuyên môn hoá hoàn toàn hàng hoá X cho nên điểm chuyên môn hoá sản xuất là điểm B(180X;0Y), còn Quốc gia 2 chuyên môn hoá hoàn toàn hàng hoá Y cho nên điểm chuyên môn hoá sản xuất là điểm C(0X;120Y)

Như vậy, chuyên môn hoá quốc tế theo lợi thế so sánh làm tăng khả năng tiêu dùng của cả hai quốc gia bằng diện tích AMDC Diện tích đó có nguồn gốc từ lợi ích của thương mại Khi sự khác nhau giữa độ dốc của hai đường giới hạn khả năng sản xuất lớn, thì diện tích

đó và lợi tích từ thương mại cũng lớn Trong trường hợp cân bằng lợi thế, trong đó hai đường PPF có độ dốc bằng nhau, thì diện tích đó thu nhỏ đến không và lợi ích từ thương mại cũng không còn Điều này xác nhận cho kết luận của chúng ta là trong trường hợp cân bằng lợi thế không còn cơ sở cho thương mại

Lợi ích từ thương mại được phân bổ cho Quốc gia 1 và Quốc gia 2 như thế nào?

Điều đó phụ thuộc vào giá cả trao đổi cân bằng Ở đây lưu ý rằng khi giá cả trao đổi nằm trong khoảng tỷ lệ giá của hai nước, thì cả hai nước đều có lợi Ví dụ, giả sử rằng 1X đổi được 1Y, thể hiện bằng đường giá cả trao đổi CN Độ dốc của GN cho biết giá cả trao đổi giả định (bằng 1) Quốc gia 1 có thể xuất khẩu sang Quốc gia 2 lượng 70X đổi lấy 70Y Sự trao đổi đó tạo khả năng cho cả hai nước tiêu dùng tại điểm F (trùng với F’), nó nằm ngoài cả hai đường giới hạn khả năng sản xuất của hai nước

Đường giá cả trao đổi CN chia lợi ích từ thương mại ra làm hai phần: phần MNC thuộc về Quốc gia 1 và phần NDC thuộc về Quốc gia 2 Ta có thể thấy rằng khi đường giá cả

Trang 30

trao đổi gần đường giới hạn khả năng sản xuất của một quốc gia thì lợi ích từ thương mại của quốc gia đó sẽ ít Trong trường hợp đường giá cả trao đổi trùng với đường giới hạn khả năng sản xuất, giả sử của Quốc gia 1, thì lợi ích của Quốc gia 1 không có và toàn bộ lợi ích thuộc

về Quốc gia 2

2.4.4 Đánh giá lý thuyết chi phí cơ hội của Gottfried Von Haberler

*) Tư tưởng tiến bộ lý thuyết chi phí cơ hội của Gottfried Von Haberler:

Lý thuyết này đã giải quyết được bất hợp lý trong lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo

là dựa trên giả thiết lao động là yếu tố duy nhất tạo ra giá trị Haberler đã giải thích thương mại quốc tế dựa trên lợi thế so sánh bằng chi phí cơ hội rõ ràng là đơn giản và dễ hiểu hơn, đồng thời đã xem xét các yếu tố chi phí sản xuất toàn diện hơn David Ricardo và Adam Smith

*) Tư tưởng sai lầm lý thuyết chi phí cơ hội của Gottfried Von Haberler:

Lý thuyết chi phí cơ hội không hợp lý ở chỗ: nó đưa ra giả định chi phí cơ hội là không đổi mà trên thực tế chi phí cơ hội để sản xuất ra một loại hàng hoá luôn có xu hướng tăng Cũng do nghiên cứu chi phí cơ hội không đổi dẫn đến yêu cầu chuyên môn hoá sản xuất

là hoàn toàn cũng không phù hợp với thực tế

Cũng như các lý thuyết cổ điển khác, lý thuyết chi phí cơ hội không đề cập đến nhu cầu tiêu dùng, chỉ chú ý đến khả năng cung ứng hàng hoá trong nền kinh tế, nên không đưa ra được chính xác cơ sở xác định giá cả

Trang 31

Tóm tắt chương

1 Trong chương này, chúng ta đã nghiên cứu sự phát triển của lý thuyết thương mại quốc tế từ thế kỷ XV đến những năm đầu của thế kỷ XX Sự nghiên cứu mang tính quá trình như vậy cho phép chúng ta đề cập một cách tổng hợp các quan điểm và các lý thuyết của thương mại quốc tế từ đơn giản đến phức tạp, từ lý luận đến gần với thực tế, giúp người đọc hiểu một cách hệ thống

2 Bắt đầu là quan điểm của chủ nghĩa Trọng thương với quan điểm hết sức quan trọng

là xác định đúng vai trò của ngoại thương đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Tuy nhiên, theo trường phái này, thương mại quốc tế là một trò chơi có tổng lợi ích bằng không; lợi ích có được từ quốc gia này lấy từ phần thiệt hại của quốc gia kia

3 Do vậy, Adam Smith đã đưa ra học thuyết lợi thế tuyệt đối và bác bỏ những quan điểm sai lầm trên và chứng minh thương mại quốc tế là trò chơi có tổng lợi ích dương, mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia và trao đổi dựa trên nguyên tắc ngang giá Nhưng học thuyết của Adam Smith cũng không tránh khỏi những sai lầm - đó là giải thích cơ sở dẫn đến

sự giao thương khi mỗi quốc gia có ít nhất một sản phẩm đạt lợi thế tuyệt đối

4 Đến với lý thuyết lợi thế tương đối mà David Ricardo đưa ra thừa nhận những quan điểm đúng đắn và sửa chữa được hạn chế của Adam Smith, ông khẳng định cơ sở dẫn đến sự giao thương giữa các quốc gia là lợi thế tương đối chứ không phải lợi thế tuyệt đối

5 Cuối cùng là lý thuyết chi phí cơ hội của Gottfried Haberler thừa nhận và giải thích lợi thế tương đối bằng lý thuyết chi phi cơ hội chứ không phải dựa vào chi phí lao động tương đối thấp được xem là thành tựu quan trọng nhất của các học thuyết thương mại cổ điển về thương mại quốc tế

6 Sự phát triển của quy luật lợi thế so sánh có thể được xem là một trong những thành tựu quan trọng nhất của các trường phái kinh tế cổ điển về thương mại quốc tế Điều mà học thuyết này đưa ra đó là mọi quốc gia trên thế giới đều có thể thu lợi từ việc chuyên môn hóa quá trình sản xuất và tự do thương mại Quy luật lợi thế so sánh đã bác bỏ rất nhiều quan điểm sai lầm, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy tiến trình giao thương diễn ra giữa các quốc gia

Trang 32

Các thuật ngữ cơ bản

Đường giới hạn khả năng sản xuất Production possibility

frontier

Chuyên môn hóa hoàn toàn Complete Specialization

Lý thuyết giá trị lao động The labor theory of value

Trang 33

Câu hỏi ôn tập

Câu 1: Hãy phân tích những quan điểm tích cực, quan điểm tiêu cực của trường phái

Trọng thương vê thương mại quốc tế? Theo em, những quan điểm của trường phái Trọng thương còn có ý nghĩa áp dụng trong giai đoạn hiện nay hay không?

Câu 2: Phân tích những quan điểm tiến bộ của Adam Smith về thương mại quốc tế so

với trường phái Trọng thương? Theo em, “Bàn tay vô hình” của Adam Smith cho Chính phủ ngụ ý điều gì?

Câu 3: Trình bày quy luật lợi thế tuyệt đối của Adam Smith? Cho ví dụ minh hoạ? Câu 4: Trình bày quy luật lợi thế tương đối của David Ricardo? Tại sao nói lợi thế

tương đối chính là nguồn gốc của thương mại quốc tế?

Câu 5: Trình bày những tiền đề cơ bản ra đời lý thuyết chi phí cơ hội? Phân tích cơ

sở, lợi ích từ thương mại với chi phí cơ hội không đổi?

Trang 34

Chương 3

LÝ THUYẾT CHUẨN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Với lý thuyết chi phí cơ hội của Haberler, ông đã cố gắng giải thích lợi thế so sánh khi hai quốc gia trao đổi thương mại với nhau Tuy nhiên, ông mới chỉ dừng lại trong trường hợp chi phí cơ hội là không đổi, dẫn đến quá trình chuyên môn hóa hoàn toàn, điều này không phù hợp với thực tế là nguồn tài nguyên luôn khan hiếm Trên thực tế, luôn phải hy sinh ngày càng nhiều hơn sản phẩm khác để dành tài nguyên khi sản xuất tăngthêm một đơn vị sản phẩm đó Do vậy, trong phần này sẽ mở rộng mô hình mậu dịch đơn giản ở phần trước cho phù hợp thực tế hơn bằng cách nghiên cứu thông qua quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng

Hơn nữa, trong chương này mở rộng mô hình mậu dịch có tính đến cầu với khái niệm đường cong chào hàng để từ đó nghiên cứu cơ sở xác định giá cả sản phẩm so sánh cân bằng quốc tế

3.1 Đường giới hạn khả năng sản xuất với chi phí cơ hội ngày càng tăng

3.1.1 Chi phí cơ hội ngày càng tăng

Chi phí cơ hội ngày càng tăng là việc một quốc gia phải hy sinh ngày càng nhiều hơn một sản phẩm này để dành tài nguyên cho việc sản xuất tăng thêm một đơn vị sản phẩm khác

Tại sao chi phí cơ hội lại tăng?

Một quốc gia khi sản xuất ngày càng nhiều một sản phẩm này thì họ phải sử dụng

ngày càng nhiều tài nguyên hơn, do những tài nguyên đó ngày càng ít thích hợp để sản xuất

ra sản phẩm đó

Chi phí cơ hội tăng được biểu thị qua khái niệm Tỷ lệ chuyển đổi biên (MRT)

Chi phí cơ hội của lương thực tính theo vải, cũng được hiểu như tỷ lệ chuyển đổi biên (MRT) của lương thực tính theo vải, nó bằng với tỷ lệ giữa chi phí biên của lương thực và chi phí biên của vải tính bằng tiền (MCLT / MCV)

Tỷ lệ chuyển đổi biên của sản phẩm X(lương thực) cho sản phẩm Y(vải) được biểu thị bằng số lượng sản phẩm Y(vải) mà quốc gia này cần phải bỏ ra để sản xuất thêm 1 đơn vị sản phẩm X(lương thực), nó được đo bằng độ dốc của đường PPF tại điểm sản xuất và có trị tuyệt đối âm phản ánh sự đánh đổi giữa hai hàng hóa

3.1.2 Minh họa bằng đồ thị chi phí cơ hội ngày càng tăng

Đường PPF trong trường hợp chi phí cơ hội ngày càng tăng là một đường cong lõm nhìn từ gốc tọa độ (hình 3.1)

Khi tăng sản lượng lương thực, chi phí cơ hội của lương thực tính theo vải được xác định bằng độ dốc của đường giới hạn khả năng sản xuất tại điểm sản xuất hiện thời Thêm nữa, rõ ràng là khi nền kinh tế chuyển động từ E đến J, đường tiếp tuyến với đường giới hạn khả năng sản xuất ngày càng tăng dần độ dốc, hàm ý chi phí cơ hội tăng

Như vậy, một đường giới hạn khả năng sản xuất lõm hàm ý nói rằng cả hai ngành đều chịu chi phí cơ hội tăng Chi phí cơ hội của lương thực tính theo vải chỉ đơn thuần là nghịch đảo của chi phí cơ hội của vải tính theo lương thực

Trang 35

Hình 3.1 Đường PPF với Chi phí cơ hội ngày càng tăng

Khi nền kinh tế chuyển từ E đến J (có nghĩa là, sản lượng lương thực tăng lên trên sự giảm bớt của sảm phẩm vải), chi phí cơ hội của lương thực giảm (như đã thể hiện), và theo logic toán học, chi phí cơ hội của vải tăng

Điều kiện để sản xuất tối ưu là MRT LT/V =P LT /P V

3.2 Đường bàng quan xã hội

Trước hết, chúng ta xem xét lại một cách tóm tắt những tính chất của đường bàng quan

và khái niệm cân bằng tiêu dùng; tiếp theo, chúng ta thảo luận về khái niệm đường bàng quan

xã hội, để rút ra sở thích của một xã hội chứ không phải của người tiêu dùng cá nhân

Một đường bàng quan là quĩ tích của tất cả các tập hợp lựa chọn lương thực và vải mà làm cho người tiêu dùng có khả năng đạt được một mức thoả mãn nhất định hay lợi ích nhất

định (không đổi) Tập hợp tất cả các đường bàng quan tạo thành biểu đồ bàng quan Các đường bàng quan được minh họa trong hình (3.2)

Hình 3.2 Đường bàng quan xã hội và cân bằng tiêu dùng Tính chất của đường bàng quan:

1 Mỗi điểm trong các tập hợp hàng hoá chỉ có một đường bàng quan đi qua

Trang 36

4 Chúng thể hiện những mức thoả mãn hay lợi ích một cách rõ ràng, một chuyển động

từ đường bàng quan thấp lên đường bàng quan cao hơn (như từ đường 1 lên đường 2) hàm ý

người tiêu dùng được hưởng lợi ích cao hơn

5 Chúng lồi về gốc toạ độ

Tỷ lệ thay thế biên MRS (marginal rate of substitution) của lương thực cho vải thể hiện bằng số đơn vị vải mà người tiêu dùng có thể từ bỏ để tăng thêm một đơn vị lương thực

và vẫn có mức thoả mãn như cũ, nghĩa là tiếp tục tiêu dùng dọc theo đường bàng quan cũ Tỷ

lệ thay thế biên đó được minh họa bằng độ dốc của đường bàng quan tại một điểm tiêu dùng xác định Độ lồi của đường bàng quan hàm ý rằng tỷ lệ thay thế biên là giảm dần Nghĩa là, khi tiến hành thay thế hàng hoá này bằng hàng hoá khác, sự thay thế đó ngày càng trở lên khó khăn hơn

Mục tiêu của người tiêu dùng là đạt đến đường bàng quan cao nhất có thể, nghĩa là, đạt mức thoả mãn cao nhất dựa trên thu nhập bằng tiền cố định và giá cả hàng hoá cố định Điều đó được thực hiện tại điểm (E) nơi mà đường ngân sách (MN) tiếp xúc với đường bàng quan cao nhất (đường 2) trong hình 3.2 Tại điểm cân bằng tiêu dùng E, tỷ lệ thay thế biên của lương thực bằng vải (MRSLT/V) bằng giá cả so sánh của lương thực (PLT/PV)

Điều kiện để tiêu dùng tối ưu (tối đa hóa lợi ích) là: MRSLT/V = PLT/PV

Hai giả thiết làm đơn giản hoá

(1) Thị hiếu của một xã hội - chứ không phải sở thích của người tiêu dùng cá nhân -

có thể được tóm tắt một cách đơn giản bằng bản đồ bàng quan xã hội, mà nó tương tự như bản

đồ bàng quan của người tiêu dùng cá nhân

(2) Những hành vi xã hội là cố gắng đạt đến đường bàng quan cao nhất nếu có thể

3.3 Cân bằng tổng thể trong nền kinh tế đóng

Trong điều kiện không có thương mại, nền kinh tế hoạt động giống như một người tiêu dùng vĩ đại, đường ngân sách được thể hiện bằng đường giới hạn khả năng sản xuất và các sở thích của họ được thể hiện bằng đường cong bàng quan Cân bằng tổng thể xuất hiện tại điểm

mà ở đó đường giới hạn khả năng sản xuất tiếp xúc với đường bàng quan cao nhất có thể (hình 3.3)

Hình 3.3 Cân bằng tổng thể trong nền kinh tế đóng

Điều kiện tối ưu của nền kinh tế (thể hiện điều kiện cân bằng):

MRTLT/V = MRSLT/V = PLT/ PV

Độ dốc chung của đường giới hạn khả năng sản xuất UEV và đường bàng quan xã hội

1 tại điểm cân bằng tổng thể E thể hiện giá cả so sánh cân bằng của lương thực tính theo vải,

Trang 37

PLT/ PV Một điểm quan trọng của thương mại quốc tế là quyết định sản xuất tách khỏi quyết định tiêu dùng Không giống như một nền kinh tế đóng, một nền kinh tế mở sử dụng thương mại quốc tế để giải quyết nhanh chóng khó khăn giữa sản xuất và tiêu dùng Quyết định sản xuất hàng hoá gì là dựa trên hoạt động tối đa hoá lợi nhuận của các hãng; và quyết định tiêu dùng hàng hoá gì dựa trên hoạt động tối đa hoá lợi ích của người tiêu dùng Bất kỳ sự chênh lệch giữa sản xuất và tiêu dùng trong nước đều được giải quyết thông qua thương mại quốc tế

Lợi ích thương mại với chi phí cơ hội ngày càng tăng

Hình 3.4 Cân bằng tổng thể trong nền kinh tế nhỏ và mở

Trước khi có thương mại, Mỹ sản xuất và tiêu dùng tại điểm cân bằng nội địa A, với

PALT/V, điểm tiêu dùng A trước khi có thương mại thuộc đường bàng quan U1 Anh sản xuất

và tiêu dùng tại điểm cân bằng nội địa A’, với PA’LT/V, điểm tiêu dùng A’ trước khi có thương mại thuộc đường bàng quan U’1

Khi thương mại tự do, Mỹ có lợi thế trong sản xuất lương thực, Anh có lợi thế trong sản xuất vải vì PA

LT/V < PA’LT/V Mỹ sẽ thực hiện chuyên môn hóa sản xuất lương thực, Anh chuyên môn hóa sản xuất vải và hai quốc gia trao đổi với nhau Tuy nhiên, vì mỗi quốc gia chuyên môn hóa sản xuất mà họ có lợi thế so sánh nên họ phải gánh chịu một quy luật chi phí

cơ hội ngày càng tăng Ở Mỹ, điểm A sẽ di chuyển về bên phải dọc xuống dưới theo đường PPF hàm ý tăng sản xuất lương thực và giảm sản xuất vải Ở Anh, điểm A’ sẽ di chuyển về bên trái dọc lên trên theo đường PPF hàm ý tăng sản xuất vải và giảm sản xuất lương thực

Quá trình chuyên môn hóa cứ tiếp tục cho đến khi giá cả sản phẩm so sánh trở nên cân bằng nhau giữa hai quốc gia khi tự do thương mại tại mức giá trao đổi quốc tế PW

Trang 38

đường giá quốc tế PW

LT/V tại điểm tiêu dùng Tương tự, Anh sẽ xuất khẩu vải một lượng biểu thị đoạn B’H’ và nhập khẩu lương thực một lượng biểu thị đoạn H’E’, như vậy, điểm tiêu dùng sau thương mại của Anh sẽ đạt đến điểm E’ thuộc đường bàng quan U2’ tiếp xúc với đường giá quốc tế PW

LT/V tại điểm tiêu dùng

So sánh hai điểm tiêu dùng trước và sau khi có thương mại, cả hai quốc gia đều có hai điểm tiêu dùng sau thương mại thuộc đường bàng quan xa gốc tọa độ hơn nên có độ thỏa dụng lớn hơn Thương mại đem lại lợi ích cho cả hai quốc gia

3.4 Đường cong chào hàng và cân bằng quốc tế

Ở những phần trước, chúng ta mới chỉ dừng lại nghiên cứu giá cả sản phẩm so sánh

mà ở đó thương mại giữa các quốc gia thực hiện trên cơ sở tự do với phương pháp giả định Trong phần này, chúng ta sẽ đưa ra cơ sở lập luận chặt chẽ hơn về giá cả trao đổi quốc tế

3.4.1 Giá cả sản phẩm so sánh cân bằng - trường hợp phân tích cục bộ

Giá cả sản phẩm so sánh cân bằng (GCSPSSCB) được xác định trên hình 3.6

Hình 3.6 Giá cả sản phẩm so sánh cân bằng khi trao đổi

Hình 3.6 chỉ ra rằng, khi không có thương mại, quốc gia 1 sản xuất và tiêu dùng tại điểm A với mức giá cả so sánh cân bằng nội địa của sản phẩm X là P1 Trong khi đó, quốc gia

2 sản xuất và tiêu dùng tại điểm A’ với mức giá cả so sánh cân bằng nội địa của sản phẩm X

là P2

Khi tự do thương mại, giá cả so sánh của sản phẩm X sẽ nằm trong khoảng giá cả so sánh giữa hai quốc gia (giả định đều là hai quốc gia lớn) và giả sử tại mức giá PW Khi đó, quốc gia 1 sẽ xuất khẩu sản phẩm X và nhập khẩu sản phẩm Y Tại mức giá PW, quốc gia 1 xuất khẩu một lượng BE sản phẩm X sang quốc gia 2; quốc gia 2 sẽ nhập khẩu một lượng B’E’ sản phẩm X từ quốc gia 1

Điều lưu ý ở đây là, lượng xuất khẩu của quốc gia 1 chính là lượng nhập khẩu của quốc gia 2, tại đó xác định mức giá cả so sánh cân bằng khi trao đổi Như vậy, khi thương mại quốc tế xảy ra, đường cung xuất khẩu cắt đường cầu nhập khẩu xác định điểm cân bằng trên

Trang 39

thị trường quốc tế (điểm E trùng E’ là giao điểm của hai đường cung xuất khẩu và đường cầu nhập khẩu, tại đó xác định giá cả cân bằng quốc tế và lượng trao đổi cân bằng khi tự do thương mại

3.4.2 Đường cong chào hàng

Như chúng ta đã biết, một trong những hạn chế của Ricardo là khi giải thích quy luật

lợi thế so sánh, ông đã không chú ý đến cầu và đặc biệt là một trong hai quốc gia có thực sự muốn trao đổi hay không, tức là với một giá cả trao đổi quốc tế hay một tỷ lệ mậu dịch nào

đó, quốc gia 1 và quốc gia 2 có sẵn sàng xuất khẩu hay nhập khẩu không và số lượng xuất nhập khẩu là bao nhiêu? Để trả lời câu hỏi này, hãy tiếp cận một khái niệm mới trong kinh tế

học quốc tế - đó là đường cong chào hàng (hay còn được gọi là đường cong ngoại thương)

được phát minh từ hai nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh Marshall và Edgeworth

Vậy đường cong ngoại thương là gì?

Đường cong chào hàng (hay còn được gọi là đường cong ngoại thương - offer curves) là tập hợp các điểm thể hiện những số lượng các hàng hoá mà một quốc gia sẵn sàng trao đổi (xuất khẩu và nhập khẩu) ở những mức giá nhất định (tỷ lệ mậu dịch)

Đường cong chào hàng chỉ ra rằng bao nhiêu hàng hoá xuất khẩu mà một quốc gia sẵn sàng cung ứng để đổi lấy một số lượng hàng nhập khẩu nào đó theo giá cả quốc tế (hay tỷ lệ mậu dịch)

Đường cong chào hàng bao gồm cả số cung xuất khẩu và số cầu nhập khẩu, vì vậy nó đại diện cho cả thị hiếu tiêu dùng cũng như khả năng của người sản xuất

Đường cong chào hàng được xây dựng trên cơ sở đường PPF, biểu đồ bàng quan và các mức giá cả so sánh khác nhau

Trên cơ sở phân tích lợi ích thương mại trong trường hợp chi phí cơ hội ngày càng tăng, chúng ta sẽ xây dựng đường cong chào hàng của hai quốc gia (Mỹ và Anh) thể hiện trong hình 3.7

Với mức giá PA, từ điểm sản xuất A, Mỹ xuất khẩu lương thực một lượng AJ’ và nhập khẩu vải một lượng J’J, điểm tiêu dùng sau thương mại đạt đến điểm J thuộc đường bàng quan U1 Với mức giá PF, từ điểm sản xuất F, Mỹ xuất khẩu lương thực một lượng FH’ và nhập khẩu vải một lượng H’H, điểm tiêu dùng sau thương mại đạt đến điểm H thuộc đường bàng quan U2 Với mức giá PB, từ điểm sản xuất B, Mỹ xuất khẩu lương thực một lượng BM’

và nhập khẩu vải một lượng M’M, điểm tiêu dùng sau thương mại đạt đến điểm M thuộc đường bàng quan U3 Kết hợp ba điểm tiêu dùng sau thương mại, biểu thị trên thị trường quốc

tế, ta có đường cong chào hàng của Mỹ Điều này hoàn toàn có thể áp dụng tương tự cho trường hợp của nước Anh Khi đó ta có mô hình trao đổi quốc tế và cơ sở để xác định giá cả trao đổi quốc tế cân bằng trong trường hợp tổng quát

Trang 40

Hình 3.7 Xây dựng đường cong chào hàng của Mỹ 3.4.3 Giá cả sản phẩm so sánh cân bằng - trường hợp phân tích tổng quát

Cân bằng quốc tế xuất hiện khi giá cả trao đổi (terms of trade) là cân bằng Giá cả trao đổi quốc tế cân bằng được xác định bằng đường giá cả trao đổi đi qua giao điểm của hai đường cong chào hàng của hai nước (hình 3.8)

Hình 3.8 Cân bằng quốc tế

Tại mức giá đó cung của thế giới bằng cầu của thế giới ở mỗi thị trường Tức là người sản xuất bán số lượng mà họ muốn bán, và người tiêu dùng mua số lượng mà họ muốn mua Chúng ta có thể sử dụng đường cong chào hàng để xác định giá cân bằng quốc tế Cân bằng quốc tế xuất hiện tại điểm giao nhau của hai đường cong chào hàng Tại điểm giao nhau đó số lượng mong muốn xuất khẩu của quốc gia này đúng bằng số lượng mong muốn nhập khẩu

của quốc gia kia

Ngày đăng: 05/12/2023, 19:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w