Ở một số nước thị trường đã phát triển đa dạng cả về chủ thể tham gia, quy mô thị trường, cơ chế quản trị giám sát…Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ đã làm thay đổi cấu trúc
Trang 11
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
-
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ NĂM 2020
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH HÀNG HÓA: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ
KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
MÃ SỐ: DTHV.02/2020
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS Nguyễn Thị Thanh Tân
HÀ NỘI – 2021
Trang 2NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
-
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ NĂM 2020
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH HÀNG HÓA: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ
MÃ SỐ: DTHV.02/2020
Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Thanh Tân
Thành viên tham gia: ThS Trần Việt An
ThS Nguyễn Đức Dũng
CN Đinh Thanh Hải
HÀ NỘI – 2021
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
đề tài
Giảng viên bộ môn Đầu tư Quốc tế, Khoa Kinh doanh Quốc tế
tài
Phó chủ nhiệm bộ môn Đầu
tư Quốc tế, Khoa Kinh doanh Quốc tế
Quốc tế, Khoa Kinh doanh Quốc tế
Quốc tế, Khoa Kinh doanh Quốc tế
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH HÀNG HÓA 6
1.1 Tổng quan về thị trường phái sinh hàng hóa 6
1.1.1 Khái niệm phái sinh hàng hóa và thị trường phái sinh hàng hóa 6
1.1.2 Phân loại thị trường phái sinh hàng hóa 7
1.1.3 Vai trò của thị trường phái sinh hàng hóa 10
1.2 Lịch sử ra đời và phát triển thị trường phái sinh hàng hóa 13
1.2.1 Lịch sử ra đời thị trường phái sinh hàng hóa 13
1.2.2 Quá trình phát triển thị trường phái sinh hàng hóa 14
1.3 Tổ chức thị trường phái sinh hàng hóa và khung pháp lý liên quan 17
1.3.1 Các chủ thể tham gia thị trường 17
1.3.2 Cơ chế quản lý giám sát thị trường 23
1.3.3 Khung pháp lý cho thị trường phái sinh hàng hóa 25
1.4 Phát triển thị trường phái sinh hàng hóa 27
1.4.1 Quan niệm về phát triển trị trường phái sinh hàng hóa 27
1.4.2 Các biện pháp nhằm phát triển thị trường phái sinh hàng hóa 27
1.4.3 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển của thị trường phái sinh hàng hóa 29
CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH HÀNG HÓA VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 31
2.1 Xu thế hoạt động thị trường phái sinh hàng hóa trên thế giới 31
2.1.1 Xu thế gia tăng sử dụng phái sinh hàng hóa 31
2.1.2 Xu thế tăng trưởng của các sàn giao dịch hàng hóa châu Á 34
2.1.3 Xu hướng giao dịch các nhóm hàng hóa chính 38
2.2 Kinh nghiệm của các nước trong xây dựng và phát triển thị trường phái sinh hàng hóa và bài học cho Việt Nam 42
2.2.1 Thị trường phái sinh hàng hóa tại Mỹ 43
2.2.2 Thị trường phái sinh hàng hóa tại Ấn Độ 48
2.2.3 Thị trường phái sinh hàng hóa tại Trung Quốc 53
2.2.4 Thị trường phái sinh hàng hóa tại Brazil 58
2.3 Một số bài học kinh nghiệp dành cho Việt Nam 63
2.3.1 Thu hút và bảo vệ nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân 63
2.3.2 Lựa chọn và phát triển các sản phẩm mới 63
Trang 62.3.3 Đảm bảo tính công bằng, hiệu quả và minh bạch của thị trường 64
2.3.4 Tăng cường các biện pháp giảm thiểu rủi ro hệ thống 64
2.3.5 Xây dựng chính sách ổn định về các lĩnh vực liên quan 65
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH HÀNG HÓA TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG……… 66
3.1 Thực trạng thị trường phái sinh hàng hóa tại Việt Nam… 66
3.1.1 Lịch sử phát triển thị trường hàng hóa phái sinh tại Việt Nam 66
3.1.2 Những quy định pháp lý về thị trường phái sinh hàng hóa ở Việt Nam hiện nay 73
3.2 Đánh giá về thị trường phái sinh hàng hóa Việt Nam hiện nay 76
3.2.1 Thành tự đạt được 76
3.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân 77
3.3 Một số khuyến nghị chính sách nhằm phát triển thị trường phái sinh hàng hóa tại Việt Nam 78
3.3.1 Sớm có các quy định pháp lý riêng điều chỉnh cho thị trường phái sinh nói chung, và phái sinh hàng hóa nói riêng 79
3.3.2 Chính sách đảm bảo tính minh bạch của thị trường và bảo vệ nhà đầu tư 80
3.3.3 Chính sách quản trị rủi ro chặt chẽ 81
3.3.4 Linh hoạt trong cơ chế và chính sách quản lý, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của thị trường 82
3.3.5 Đẩy mạnh thu hút và đa dạng hóa các nhà đầu tư tham gia thị trường 83
3.3.6 Xây dựng các chính sách ổn định về các thị trường liên quan 83
3.3.7 Xây dựng và nâng cao vai trò của các tổ chức trung gian 84
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1 Top 3 sản phẩm được giao dịch nhiều nhất trên 3 SGD hàng hóa
Bảng 2.2 Top 3 sản phẩm được giao dịch nhiều nhất trên 3 SGD hàng hóa
lớn nhất thế giới về khối lượng giao dịch nhóm hàng kim loại không phải
kim loại quý năm 2019
40
Bảng 2.3 Top 3 sản phẩm được giao dịch nhiều nhất trên 3 SGD hàng hóa
Bảng 2.4 Top 3 sản phẩm được giao dịch nhiều nhất trên 3 SGD hàng hóa
Bảng 2.5 Khối lượng và giá trị giao dịch hợp đồng tương lai hàng hoá chính
Bảng 2.10 Khối lượng và giá trị giao dịch hợp đồng tương lai hàng hoá
Bảng 3.2 Một số văn bản pháp lý điều chỉnh thị trường phái sinh hàng hóa
Hình 1.1 Tổng giá trị ẩn (notional amount) của giao dịch phái sinh hàng hóa
Hình 1.2 Tổng giá trị thị trường (gross market value) của giao dịch phái
Hình 2.1 Khối lượng giao dịch trung bình năm chia theo ngành hàng giai
Hình 2.2 Số lượng hợp đồng mở theo ngành hàng giai đoạn 2009 - 2019
Hình 2.6 Top 20 SGD hàng hóa có số hợp đồng mở tại cuối năm 2019 lớn
Trang 8Hình 2.9 Tỷ lệ vòng quay của top 5 SGD hàng hóa có khối lượng giao dịch
Hình 2.10 Khối lượng và giá trị giao dịch hợp đồng tương lai hàng hoá
Hình 2.12 Số lượng hợp đồng và khối lượng giao dịch thị trường tương lai
Hình 3.1 Khối lượng và giá trị cà phê được giao dịch trên BCEC từ
Q2/2011 đến hết năm 2012 (bao gồm cả hợp đồng giao ngay và hợp đồng kỳ hạn)
69
Hình 3.2 Khối lượng và giá trị cà phê Robusta được giao dịch trên BCEC
Hình 3.3 So sánh khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch của VNX và
Hình 3.4 So sánh tổng khối lượng giao dịch của BCEC năm 2011, VNX
Hình 3.5 Tỷ trọng khối lượng giao dịch phái sinh hàng hóa của MXV so với
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
tương lai
năm kép
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với các nước có nền kinh tế phát triển, thị trường phái sinh hàng hóa không phải
là một khái niệm mới và xa lạ với các chủ thể tham gia nền kinh tế Ở một số nước thị trường đã phát triển đa dạng cả về chủ thể tham gia, quy mô thị trường, cơ chế quản trị giám sát…Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ đã làm thay đổi cấu trúc thị trường phái sinh hàng hóa cả ở quy mô quốc gia và quốc tế, như: giá cả dao động mạnh đòi hỏi sự tham gia của hoạt động phòng ngừa rủi ro, sự tham gia đa dạng của các chủ thể là nhà kinh doanh cá nhân, thay đổi về cung - cầu những hàng hóa vốn được coi là yếu tố sản xuất cơ bản (dầu thô)…Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi một cơ chế quản trị mới, một sự thay đổi mới cho hoạt động của thị trường phái sinh hàng hóa quốc tế Tại Việt Nam, thị trường phái sinh hàng hóa vẫn chỉ đang ở giai đoạn manh nha phát triển Mặc dù chính phủ đã ban hành Nghị định số 158/2006/NĐ-CP về thiết lập thị trường phái sinh hàng hóa tập trung từ cuối năm 2006 nhằm phát triển thị trường phái sinh hàng hóa tại Việt Nam nhưng cho đến nay, hoạt động của thị trường này vẫn chưa có gì đáng kể Có nhiều trung tâm và sở giao dịch hàng hóa đã lần lượt ra đời nhưng đều buộc phải ngừng hoạt động chỉ sau một thời gian ngắn bởi lượng giao dịch quá hạn chế Thực tế hiện nay cho thấy hàng nông sản và nông dân Việt Nam vẫn luôn ở phía bị ép trước đối thủ là các chủ thể tham gia thị trường quốc tế có kinh nghiệm, có thông tin Với xu hướng hội nhập kinh tế sâu rộng như hiện nay, giá cả hàng hóa luôn
có xu hướng biến động khôn lường do nhiều yếu tố tác động, nên việc xây dựng và phát triển thị trường phái sinh hàng hóa cho Việt Nam là yêu cầu hết sức cần thiết nhằm đảm bảo tính kết nối, lưu thông với thị trường quốc tế, giúp cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực không bị lệch giá quá xa so với thị trường thế giới, đồng thời tăng chất lượng cạnh tranh, tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp, nhà sản xuất trong nước, qua đó cải thiện
vị thế của mình trong thương mại quốc tế Hơn nữa, đây cũng được xem là kênh đầu tư mới nhiều tiềm năng nếu biết triển khai đúng cách
Tuy nhiên, hiện nay thị trường phái sinh hàng hóa tại Việt Nam vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ các nhà nghiên cứu, vẫn chưa có nghiên cứu nào về việc xây dựng và phát triển thị trường phái sinh hàng hóa Việt Nam nói chung Vì vậy, nhóm
tác giả đã lựa chọn đề tài “Phát triển thị trường phái sinh hàng hóa: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài trong và ngoài nước
Trên thế giới, loại hình phái sinh hàng hóa ra đời trước rất lâu so với các loại hình tài chính phái sinh khác, từ khi con người bắt đầu trao đổi hàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên, cho đến khoảng những năm 1730, với sự hỗ trợ của chính phủ Nhật thời kỳ đó,
Trang 11thị trường giao dịch lúa gạo Dojima được thành lập đánh dấu sự khởi đầu chính thức của việc giao dịch phái sinh hàng hóa Tuy được coi là thị trường phái sinh hàng hóa đầu tiên nhưng thị trường giao dịch lúa gạo Dojima không tạo ra sức lan tỏa, phát triển
ra các nước lân cận Chỉ đến những năm 1970, khi Mỹ thiết lập nền tảng giao dịch quyền chọn cổ phiếu thông qua sự đột phá lý thuyết định giá quyền chọn (do Fischer Black và Myron Scholes đưa ra năm 1973) cùng sự ra đời của hệ thống máy tính, giúp Mỹ tạo làn sóng sử dụng phái sinh hàng hóa một cách rộng rãi đầu tiên trên thế giới thị trường phái sinh hàng hóa mới được lan rộng, phát triển nhanh chóng ở khắp các bang Mỹ và ra toàn thế giới Vai trò quan trọng cũng như những điều kiện cần có để phát triển thị trường phái sinh hàng hóa đã được rất nhiều các học giả nghiên cứu chỉ rõ (ví dụ như: Adammer
và Bohl, 2015; Sahoo và Kumar, 2009; Lokare, 2007; Haq và Chandrasekhara Rao, 2004;…)
Trong những năm gần đây, lợi ích từ sử dụng các công cụ phái sinh, chẳng hạn như giảm thiểu và chuyển giao rủi ro một cách hiệu quả, đã trở nên ngày càng quan trọng Theo thống kê của Hiệp hội Phái sinh và Hoán đổi Quốc tế (International Swaps and Derivatives Association) năm 2003 thì 92% trong số 500 tập đoàn lớn nhất thế giới quản lý rủi ro biến động giá bằng cách sử dụng hợp đồng phái sinh háng hóa Điều này
đã giúp thị trường phái sinh hàng hóa có bước phát triển nhanh chóng, chiếm vị trí quan trọng trong thị trường tài chính Và các nhà khoa học cũng trở nên đặc biệt quan tâm đến các quá trình diễn ra trong thị trường phái sinh toàn cầu
Cuốn sách của Neil Schofield (2007) cung cấp một tài liệu tham khảo đầy đủ và
dễ tiếp cận cho bất kỳ ai làm việc hoặc nghiên cứu về thị trường hàng hóa và các vấn đề liên quan Mỗi chương tập trung vào cách các sản phẩm có thể được sử dụng dọc theo chuỗi cung ứng vật lý và tìm cách xác định các rủi ro thị trường chính và cách chúng có thể được phòng ngừa Cuốn sách sau đó đưa ra quan điểm về cách các ngân hàng cơ cấu phòng ngừa rủi ro tiếp xúc của chính họ và kiểm tra sự thu hút của các cấu trúc đầu tư OTC cho thị trường bán buôn
Có thể nói nông sản là mặt hàng cơ bản, nguồn gốc của thị trường phái sinh hàng hóa Haq và Chandrasekhara Rao (2004) chỉ ra rằng sự bất ổn định giá và sụt giá của các mặt hàng nông sản là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của thị trường phái sinh hàng hóa tại các nước đang phát triển Nguyên nhân của sự bất ổn định giá cả trong ngắn hạn và sự sụt giá trong dài hạn có thể là do ngày càng có nhiều mặt hàng thay thế chất lượng hơn, cộng với việc thiếu các kênh đầu tư, và chất lượng các mặt hàng nông sản chưa được tiêu chuẩn hóa
Với việc nghiên cứu tình huống tại 7 nước là Argentina, Brazil, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Nam Phi và Thái Lan, Euna Shim (2006) đã cung cấp những phân tích cụ thể
về những yếu tố được xem là quan trọng trong việc tạo ra thị trường phái sinh hàng hóa
Trang 12hiệu quả Trong đó, yếu tố thanh khoản là quan trọng nhất Bên cạnh đó cần có nền kinh
tế vĩ mô ổn định và thị trường hàng hóa nội địa đủ lớn cho các sản phẩm cơ bản của hợp đồng tương lai trước khi xây dựng sàn giao dịch phái sinh
Bên cạnh đó, thông qua mô hình VECM và các biến thời gian khác nhau, Adammer
và Bohl (2015) đã tìm hiểu quá trình định giá của hợp đồng tương lai nông sản được giao dịch hạn chế tại Sở giao dịch châu Âu ở Frankfurt Kết quả cho thấy, các ngưỡng trần khối lượng giao dịch ở mức thấp là cần thiết cho việc định giá hiệu quả
Trong khi đó, Lan Turner (2011) cho rằng chu kỳ thị trường giao dịch hàng hóa ảnh hưởng rất lớn trong khi một người có thể xác định cơ hội tốt nhất để mua các khoản đầu tư cụ thể Người ta phải nhận ra thời điểm tốt nhất để mua hàng hóa cụ thể, trong
đó chu kỳ có tác động ngược lại đến khả năng một cá nhân có thể xác định thời điểm tốt nhất để bán khoản đầu tư của họ Khi bạn có thể nhận ra các công ty phụ thuộc vào hàng hóa cụ thể để tạo ra lợi nhuận, họ cũng sẽ được tiếp xúc với những ảnh hưởng của tính thời vụ và thậm chí là tính chu kỳ
Ấn Độ là một trong những thị trường thu hút được nhiều sự quan tâm của các học giả Kolamkar (2003) đã cố gắng đưa ra sự tiến hóa và lịch sử về thị trường hàng hóa ở Ấn Độ Sự xuất hiện của hoa hồng thị trường kỳ hạn và những phát triển diễn ra trong thị trường hàng hóa và tự do hóa chính sách trong lĩnh vực hàng hóa vật chất và phái sinh Nghiên cứu cũng đề xuất sử dụng các hệ thống và thực tiễn hiện đại để tăng cường các công cụ phái sinh hàng hóa Tiếp sau đó, Ahuja (2006) đã cố gắng khám phá những tiến bộ mà Ấn Độ đã đạt được trong một thời gian ngắn từ năm 2002 tại các thị trường phái sinh và đồng thời đưa ra một số vấn đề phải được trả lời để tăng trưởng hơn nữa của thị trường phái sinh ở Ấn Độ Các công cụ phái sinh hàng hóa có tổ chức ở Ấn Độ bắt đầu sớm nhất là vào năm 1875, chỉ khoảng một thập kỷ sau khi bắt đầu xuất hiện ở Chicago Tuy nhiên, nhiều người lo ngại rằng các công cụ phái sinh thúc đẩy đầu cơ không cần thiết và gây bất lợi cho hoạt động lành mạnh của thị trường đối với các mặt hàng cơ bản Kết quả là, sau khi độc lập, giao dịch quyền chọn hàng hóa và thanh toán tiền mặt của hợp đồng tương lai đã bị cấm vào năm 1952 Hàng hóa vẫn im lìm trong khoảng bốn thập kỷ cho đến năm 2002, khi thị trường hàng hóa tương lai ở Ấn Độ được giới thiệu lại sau đó đã trải qua sự bùng nổ chưa từng thấy về mặt số lượng trao đổi hiện đại, số lượng hàng hóa được phép giao dịch phái sinh cũng như giá trị của giao dịch tương lai trong hàng hóa Lokare (2007) đã thực hiện nghiên cứu nhằm kiểm tra hiệu quả và hiệu suất của các công cụ phái sinh hàng hóa trong việc chỉ đạo quản lý rủi ro giá tại Ấn Độ Việc phòng ngừa rủi ro được chứng tỏ có hiệu quả trong một số sản phẩm được giao dịch với một số rủi ro đáng kể, trong khi một số lượng lớn các nhà đầu cơ cũng tìm thấy một sân chơi bình đẳng Ông đã nhấn mạnh rằng các thị trường hàng hóa ở Ấn Độ đang tiến triển với tốc độ chậm hơn Trong khi đó, Sahoo và Kumar (2009) đã
Trang 13kiểm tra hiệu quả và giá giao dịch trong tương lai đối với năm mặt hàng được lựa chọn hàng đầu là vàng, đồng, dầu thô, dầu đậu nành và chana (đậu xanh) trong thị trường hàng hóa tương lai ở Ấn Độ Giao dịch các công cụ phái sinh hàng hóa trên các nền tảng trao đổi là một công cụ để đạt được sự khám phá về giá, quản lý rủi ro giá tốt hơn, bên cạnh việc giúp nền kinh tế vĩ mô phân bổ nguồn lực tốt hơn Tác giả cho rằng thị trường hàng hóa tương lai có hiệu quả cho cả năm mặt hàng, mặc dù không thể hỗ trợ thị trường tương lai dẫn đến lạm phát cao hơn
Tại Việt Nam, thị trường phái sinh hàng hóa vẫn chỉ đang ở giai đoạn manh nha phát triển và vẫn chưa có nhiều nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này Nguyễn Thị Nhung (2017) đã nghiên cứu về thị trường giao dịch kỳ hạn cà phê và qua đó chỉ ra bốn nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng giao dịch còn hạn chế của mặt hàng thế mạnh này của Việt Nam, đó là: quy định pháp lý còn hạn chế; các sản phẩm giao dịch qua các SGD lúc bấy giờ chưa hiệu quả; chưa phát huy hết vai trò của các định chế tài chính và sự thiếu vắng trung tâm thanh toán bù trừ; và sự hạn chế của cơ sở hạ tầng Tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở giao dịch kỳ hạn cà phê, một phần rất nhỏ trong thị trường phái sinh hàng hóa nói chung Nghiên cứu của Đinh Xuân Cường và cộng sự (2020) rộng hơn, nghiên cứu về việc phát triển thị trường cho ngành hàng nông sản chiến lược của Việt Nam
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về thị trường phái sinh hàng hóa, cách thức tổ chức thị trường, khung pháp lý cần thiết cũng như các hàng hóa được giao dịch
- Tìm hiểu kinh nghiệm của các nước trên thế giới xây dựng và hội nhập thị trường quốc gia với thị trường quốc tế Qua đó rút ra bài học cho Việt nam
- Đề xuất khuyến nghị cho Việt nam để phát triển thị trường phái sinh hàng hóa
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Phát triển thị trường phái sinh hàng hóa
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2000-2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp định tính để triển khai nghiên cứu, cụ thể: thu thập thông
Trang 14tin từ các nguồn khác nhau (như các trang báo điện tử, các báo cáo thường niên, các bài báo quốc tế …) để tìm hiểu và chỉ ra những cơ sở lý luận về thị trường phái sinh hàng hóa, những thực trạng của việc xây dựng và phát triển thị trường phái sinh hàng hóa ở một số quốc gia cũng như tại Việt Nam Sau đó sẽ sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh và đối chiếu để rút ra các bài học kinh nghiệm, đề xuất các khuyến nghị chính sách cho Việt Nam
6 Kết cấu đề tài
Ngoài các phần Lời mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo thì đề tài được kết cấu gồm 3 phần chính như sau:
Chương 1: Khái quát về thị trường phái sinh hàng hóa
Chương 2: Kinh nghiệm các nước về xây dựng và phát triển thị trường phái
sinh hàng hóa và bài học cho Việt Nam Chương 3: Thực trạng thị trường phái sinh hàng hóa tại Việt Nam và một số
khuyến nghị nhằm xây dựng và phát triển thị trường
Trang 15CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH HÀNG HÓA
1.1.1 Khái niệm phái sinh hàng hóa và thị trường phái sinh hàng hóa
Trên thế giới, phái sinh hàng hóa đã ra đời từ rất lâu, trước hơn hẳn so với các loại hình tài chính phái sinh khác, từ khi con người bắt đầu trao đổi hàng hóa và dịch vụ Để
có thể hiểu được về khái niệm thị trường phái sinh hàng hóa, trước hết, chúng ta cần hiểu rõ hàng hóa là gì, phái sinh hay các sản phẩm phái sinh là gì, cũng như khái niệm
về phái sinh hàng hóa
Hàng hóa (commodity) trong phạm vi nghiên cứu được hiểu là các loại hàng hóa
cơ bản, được sử dụng trong thương mại, có thể thay thế cho các hàng hóa cùng loại Hàng hóa ở đây thường được sử dụng làm nguyên vật liệu đầu vào, phục vụ cho quá trình sản xuất hàng hóa, dịch vụ khác Chất lượng của các hàng hóa này có thể không hoàn toàn giống nhau nhưng về cơ bản là đồng nhất giữa các nhà sản xuất (Investopedia, 2021) Để làm rõ hơn, cần phân biệt giữa hàng hóa (commodity) và sản phẩm (product) Trong khi hàng hóa có thể là các loại nguyên liệu đầu vào, thì sản phẩm là các thành phẩm (các sản phẩm hoàn chỉnh, sản phẩm cuối) để cung cấp cho người tiêu dùng Các sản phẩm thông dụng trong cuộc sống thường thấy như quần áo, thiết bị , do nhiều nhà sản xuất khác nhau đưa ra thị trường, trong đó chất lượng, mẫu mã rất đa dạng và có sự khác biệt rõ ràng (về tính năng, chất liệu, ) Tuy nhiên, các loại hàng hóa ở đây, cho dù được cung cấp bởi nhà sản xuất nào, thì cũng có rất ít sự khác biệt giữa các hàng hóa cùng loại Lấy ví dụ về thị trường dầu mỏ, cho dù công ty nào cung cấp, thì các thùng dầu Brent Biển Bắc cơ bản là như nhau Trong đó, một số loại hàng hóa điển hình và xuất hiện lâu đời nhất có thể kể tới như: vàng, dầu thô, khí tự nhiên, gạo, cà phê, Hàng hóa có thể được chia làm 2 nhóm chính là: hàng hóa “cứng” và hàng hóa
“mềm” Hàng hóa “cứng” thường là các tài nguyên thiên nhiên được khai tác từ các mỏ khoáng sản (vàng, bạc, dầu, ), còn hàng hóa “mềm” là các hàng hóa được nuôi, trồng thay vì khai thác từ thiên nhiên, bao gồm vật nuôi và các loại nông sản khác (như gạo, ngô, bò, lợn, ) Hàng hóa là tài sản vật chất trái ngược với tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu,… Trong khi định giá tài sản tài chính thường dựa trên giá trị chiết khấu của dòng tiền trong tương lai dự kiến thu được từ tài sản, thì việc định giá hàng hóa lại được dựa trên dự báo giảm giá về giá tương lai của tài sản vật chất dựa trên các yếu tố đó là cung và cầu của tài sản vật lý
Phái sinh (derivatives), theo cách hiểu chung nhất, là một khoản đầu tư có giá trị phụ thuộc vào giá trị của một (hay một nhóm) tài sản cơ bản Các tài sản cơ bản ở đây
có thể là: tài sản vật chất như hàng hóa (nguyên vật liệu, ngũ cốc và hạt có dầu, kim loại,
Trang 16năng lượng…); tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản, các khoản vay; hay các chỉ số (index) như: tỷ giá, lãi suất, giá tiêu dùng, chứng khoán,… Như vậy, phái sinh hàng hóa được hiểu là công cụ phái sinh dựa trên tài sản cơ bản là các loại hàng hóa (tài sản vật chất) Nói cách khác công cụ phái sinh hàng hóa là các dạng hợp đồng trong đó các bên thỏa thuận về trách nhiệm và nghĩa vụ mua, bán hàng hóa vào một thời điểm cụ thể trong tương lai với điều kiện và mức giá cụ thể Các công cụ phái sinh hàng hóa thường được sử dụng bởi các nhà sản xuất hàng hóa và người tiêu dùng để phòng ngừa các thay đổi giá trong tương lai của các mặt hàng cơ bản Các hàng hóa cơ bản thường được giao dịch phái sinh được chia làm bốn nhóm chính gồm: kim loại quý (precious metals), kim loại không phải kim loại quý (non-precious metals, hay còn gọi
là kim loại cơ bản – base metals), nông sản (agriculture) và năng lượng (energy) Các hợp đồng phái sinh hàng hóa có thể được phát hành và giao dịch mua bán trên thị trường tập trung (sàn giao dịch - SGD) hoặc phi tập trung (OTC), gọi chung là thị trường phái sinh hàng hóa Nói cách khác, thị trường phái sinh hàng hóa là nơi phát hành và trao đổi các hợp đồng phái sinh hàng hóa Trải qua quá trình phát triển, ngày nay, trên thế giới có gần 100 sàn giao dịch hàng hóa tập trung, thực hiện giao dịch gần 1.500 loại hàng hóa cơ bản thuộc bốn nhóm chính nêu trên Có thể kể tới một số sàn giao dịch lớn hiện nay tại Hoa Kỳ như New York Mercantile Exchange (NYMEX), Chicago Mercantile Exchange (CME), Intercontinental Exchange (ICE), hay tại châu
Âu là London Metal Exchange (LME), và châu Á là các sàn giao dịch của Trung quốc gồm Shanghai Futures Exchange (SHFE), Zhengzhou Commodity Exchange (ZCE), Dailian Commodity Exchange (DCE), và các sàn của Ấn Độ như Multi Commodity Exchange of India (MCX), Indian Commodity Exchange (ICEX)
1.1.2 Phân loại thị trường phái sinh hàng hóa
Có nhiều cách để phân loại các thị trường phái sinh hàng hóa tùy thuộc vào tiêu chí lựa chọn Trong đó, cách phân loại phổ biến nhất là dựa vào tính chất của các loại hợp đồng được giao dịch mà thị trường phái sinh được chia thành hai loại gồm thị trường tập trung (SGD) và thị trường phi tập trung (OTC) Thị trường phi tập trung OTC cung cấp và giao dịch các hợp đồng với những điều kiện không được chuẩn hóa, trong khi đó thị trường tập trung (hay các SGD) chỉ cung cấp và giao dịch các hợp đồng phái sinh chuẩn hóa
1.1.2.1 Thị trường phi tập trung OTC
Thị trường OTC ra đời với bản chất phi tập trung không có địa điểm gặp gỡ hoặc SGD Các giao dịch trên thị trường OTC cơ bản là giao dịch song phương Các điều khoản hợp đồng đều được "may đo" cho từng hợp đồng, bao gồm giao hàng, chất lượng,
số lượng, địa điểm, ngày tháng và giá cả, tất cả đều có thể thương lượng giữa hai bên
Trang 17Thị trường OTC được tự quản lý và bị giám sát vừa phải, và trước cuộc khủng hoảng tài chính 2008, các giao dịch tại thị trường này không được thanh toán bù trừ Giao dịch
có thể được thu xếp qua kênh điện thoại và các phương tiện liên lạc khác, giá cả không được báo cáo công khai Thị trường phi tập trung OTC cung cấp và giao dịch các hợp đồng với những điều kiện không được chuẩn hóa, bao gồm hợp đồng hoán đổi, và hợp đồng kỳ hạn Ngoài ra, hợp đồng tương lai (được chuẩn hóa) cũng có thể được giao dịch
trên thị trường OTC
Hợp đồng kỳ hạn – Forward Contract
Hợp đồng kỳ hạn là hình thức hợp đồng phái sinh dựa vào giá trị hàng hóa cơ bản (underlying asset), trong đó quy định trách nhiệm người mua và người bán phải thực hiện giao dịch hàng hóa, theo các điều khoản mà một giao dịch trong tương lai sẽ diễn
ra, cụ thể là các điều khoản về giá và ngày giao hàng Hợp đồng kỳ hạn có tính linh hoạt cao về số lượng và chất lượng của tài sản, cũng như các nội dung khác trong hợp đồng như địa điểm giao hàng, cách thức giao hàng Thông thường, các hợp đồng kỳ hạn là các hợp đồng mang tính “cá nhân hóa”, được xây dựng dựa trên nhu cầu của mỗi bên giao dịch Vì thế, các hợp đồng kỳ hạn thường khó chuyển đổi cho các đối tượng không tham gia ký kết hợp đồng từ đầu
Một trong những điều quan trọng nhất của hợp đồng kỳ hạn chính là trách nhiệm phải tuân thủ việc thực hiện hợp đồng của các bên, bất kể người tham gia phải chịu các khoản lãi hay thua lỗ ở mức nào Chính vì việc giá cả biến động thường xuyên, trong khi mức giá trên hợp đồng kỳ hạn được ký kết từ đầu, không thay đổi, sẽ dẫn tới những rủi ro tín dụng cho các bên tham gia hợp đồng Tuy nhiên, bằng việc xác định từ trước mức giá, các bên tham gia hợp đồng có thể xác định được mức doanh thu, chi phí kỳ vọng trước mỗi giao dịch mua bán Để thị trường hoạt động hiệu quả, đòi hỏi sự tuân thủ của các bên cũng như cơ chế quản lý đối với loại hợp đồng này Do đó các hợp đồng
kỳ hạn chỉ được giao dịch trên thị trường OTC, và kết thúc bởi việc giao hàng thực Như vậy có thể nói rằng bản chất của các hợp đồng xuất nhập khẩu là các hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng hoán đổi – Swap Contract
Dựa vào các tài sản hàng hóa cơ sở, các bên tham gia hợp đồng hoán đổi có thể thỏa thuận về việc trao đổi dòng tiền tương ứng với giá trị hàng hóa đó Trong hợp đồng hoán đổi sẽ gồm hai phần khác nhau Phần thứ nhất là phần dòng tiền cố định, được quy định rõ trong hợp đồng Phần thứ hai là phần dòng tiền thả nổi, gắn với sự thay đổi giá
cả thị trường của hàng hóa cơ sở, hoặc dựa trên các chỉ số hàng hóa theo thỏa thuận của các bên Chính vì vậy, hợp đồng hoán đổi chỉ giao dịch trên thị trường OTC chứ không được giao dịch trên các SGD tập trung Thông thường, chỉ có các tổ chức tài chính lớn
Trang 18sử dụng hình thức hợp đồng hoán đổi vì tính chất đặc thù, cũng như khối lượng lớn của từng hợp đồng
1.1.2.2 Thị trường giao dịch tập trung
Trái ngược với thị trường phi tập trung OTC, thị trường tập trung (hay các SGD)
là nơi tổ chức giao dịch một cách tập trung nên yêu cầu phải có địa điểm gặp gỡ hay SGD cụ thể Các giao dịch phái sinh trên thị trường tập trung có tính chất là giao dịch
đa phương Các điều khoản hợp đồng đều được chuẩn hóa, bao gồm giao hàng, chất lượng, số lượng, địa điểm, ngày tháng và giá cả, tất cả đều buộc phải tuân theo các tiêu chuẩn cụ thể, các mẫu sẵn có do sàn đưa ra chứ không thể thay đổi theo thương lượng giữa các bên Chính vì vậy các hợp đồng này dễ dàng được mua đi bán lại nhiều lần Thị trường tập trung thường phải chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan chức năng, hoạt động tuân theo các quy định, nguồn luật điều chỉnh khắt khe nhằm đảm bảo thị trường có tính minh bạch cao
Thị trường tập trung chỉ cung cấp và giao dịch các hợp đồng phái sinh đã được
chuẩn hóa, bao gồm hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn
Hợp đồng tương lai – Future Contract
Hợp đồng tương lai có nhiều đặc điểm tương tự hợp đồng kỳ hạn nhưng mang tính tiêu chuẩn, tuân thủ các điều kiện rõ ràng và cố định hơn Vì vậy hợp đồng tương lai còn được gọi là hợp đồng kỳ hạn chuẩn hóa Hợp đồng tương lai cũng là những giao dịch mua và bán hàng hóa, dịch vụ trong tương lai nhưng dễ điều chỉnh kỳ hạn và được mua bán trên các sàn giao dịch có tổ chức Các điều khoản trong hợp đồng tương lai được xây dựng một cách có tiêu chuẩn, không dựa trên nhu cầu từng đối tượng khách hàng, không mang tính cá nhân giữa bên mua và bên bán Các hợp đồng này được thực hiện thông qua các sở giao dịch, và các bên có thể tùy chọn thời điểm chấm dứt hợp đồng Trong khi đó, hợp đồng kỳ hạn, vốn chỉ được mua bán thông qua thị trường OTC, sẽ bắt buộc chỉ có thế chấm dứt hợp đồng khi đến hạn Ngoài ra, cách giải quyết tín dụng cũng là sự khác biệt giữa hợp đồng tương lai so với hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng quyền chọn – Option Contract
Các hợp đồng tương lai tuy có thể giúp doanh nghiệp tránh việc bất lợi do sự giảm giá, thì cũng khiến họ không thu được lợi nhuận khi giá tăng Do vậy, hợp đồng quyền chọn là một giải pháp cho phép bên nắm giữ có quyền mua hoặc bán một khối lượng hàng hóa cơ sở nhất định với mức giá xác định vào thời điểm đã định trước Có hai loại quyền chọn là: quyền chọn mua và quyền chọn bán Tuy có các đặc điểm như hợp đồng tương lai, như việc giá cả giao dịch và thời gian thực hiện hợp đồng trong tương lai được xác định ngay từ đầu, nhưng hợp đồng quyền chọn có điểm khác biệt về nghĩa vụ thực hiện hợp đồng Các hợp đồng này cho phép người mua hợp đồng quyền chọn (mua hoặc
Trang 19bán) có quyền có hoặc không thực hiện (hủy) hợp đồng, trong khi với hợp đồng tương lai thì người mua phải có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng khi đến hạn dù lãi hay lỗ Trong khi đó, người bán hợp đồng quyền chọn (mua hoặc bán) có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện hợp đồng nếu người mua hợp đồng muốn thực hiện hợp đồng đó Đổi lại, người bán hợp đồng được thu một khoản phí trả trước, do bên người mua trả
Các doanh nghiệp có thể sử dụng hợp đồng quyền chọn để chống lại rủi ro trong các tình huống bất lợi nhưng đồng thời tận dụng lợi ích từ việc tăng giá của hàng hóa Bằng cách trả trước một khoản phí (premium), họ được phép giới hạn khoản lỗ thông qua hợp đồng từ trước, và có được lợi nhuận cao hơn nhờ quyền không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng đã ký kết Có nghĩa rằng, lợi nhuận từ hợp đồng quyền chọn là không giới hạn trong khi khoản lỗ tối đa là xác định trước Với các điều khoản được chuẩn hóa, hợp đồng quyền chọn cũng được giao dịch chính thức trên các SGD tập trung
1.1.3 Vai trò của thị trường phái sinh hàng hóa
Thị trường phái sinh hàng hóa phát triển như ngày nay là nhờ vai trò quan trọng của hợp đồng phái sinh trong việc thúc đẩy quy mô và chất lượng trong hoạt động giao dịch hàng hóa Một số vai trò nổi bật của phái sinh hàng hóa có thể kể tới như: công cụ quản trị rủi ro, công cụ xác định giá cả, công cụ đầu tư Ngược lại, các hợp đồng phái sinh hàng hóa sẽ chỉ phát huy tốt chức năng của nó khi có sự phát triển nhất định của thị trường phái sinh hàng hóa Bên cạnh đó, thị trường phái sinh cũng là nhân tố giúp các giao dịch hiệu quả và tiết kiệm chi phí hơn Từ đó, các khoản đầu tư cũng trở nên hiệu quả hơn Đồng thời, thông qua thị trường phái sinh hàng hóa, doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà sản xuất, và Chính phủ cũng có thể nắm bắt các thông tin về xu hướng giá cả, xu hướng nhu cầu hàng hóa để từ đó đưa ra những chiến lược kinh doanh và chính sách điều tiết hợp lý trên thị trường hàng hóa cơ bản Có thể thấy rằng vai trò của thị trường phái sinh hàng hóa bao gồm:
1.1.3.1 Giúp doanh nghiệp quản trị rủi ro
Quản trị rủi ro là quá trình định hình, phân tích và xác định được mức độ rủi ro kỳ vọng, mức độ rủi ro thực tế và điều chỉnh, tác động rủi ro về mức độ kỳ vọng hoặc đã dự tính từ trước Đây là một trong những yếu tố mà các doanh nghiệp quan tâm nhất khi thực hiện hoạt động kinh doanh
Một trong những vai trò cơ bản và quan trọng nhất của phái sinh hàng hóa là giúp doanh nghiệp có thể kiểm soát được doanh thu, lợi nhuận dự kiến ngay từ lúc ký hợp đồng Vì tính chất trong hoạt động thương mại quốc tế là việc ký kết hợp đồng, giao hàng và thanh toán thường diễn ra vào các thời điểm khác nhau Do đó, trong khoảng thời gian từ lúc ký hợp đồng cho tới lúc giao hàng, thanh toán hoặc nhận thanh toán, giá
cả hàng hóa có thể đã thay đổi, khiến cho khoản doanh thu hoặc chi phí dự kiến cũng
Trang 20thay đổi theo Chưa kể đến những hợp đồng có điều khoản giá chưa xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng (quy định thời gian xác định giá sau) khiến doanh nghiệp phải chịu rủi ro biến động giá Xuất phát từ nhu cầu bảo vệ doanh nghiệp khỏi những rủi ro
về giá cả, nghiệp vụ Hedging (bảo hiểm) giá hàng hóa đã ra đời và được sử dụng rất phổ biến Hedging là loại nghiệp vụ nhằm loại bỏ rủi ro biến động giá bằng cách sử dụng các công cụ trên thị trường phái sinh, thông qua việc mua hoặc bán một hợp đồng đối nghịch, có giá trị tương đương với hợp đồng mà doanh nghiệp ký kết trên thị trường hàng hóa cơ bản Việc xác định được mức doanh thu, chi phí từ đầu giúp doanh nghiệp không còn phải quan tâm tới sự biến động giá cả, mà tập trung vào quản trị sản xuất hay quản trị các rủi ro khác trong hoạt động kinh doanh
Thị trường phái sinh hàng hóa ngày càng phát triển giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và sử dụng các công cụ phái sinh cho mục đích quản trị rủi ro biến động giá, phát huy mạnh mẽ vai trò của phái sinh hàng hóa Trước đây, khi thị trường phái sinh hàng hóa chưa phát triển, việc tiếp cận và sử dụng các công cụ quản trị rủi ro này rất khó khăn với các doanh nghiệp nên nó đã không phát huy hết được vai trò của mình Những năm gần đây, vai trò giảm thiểu và chuyển giao rủi ro một cách hiệu quả của các công cụ phái sinh đã trở nên ngày càng quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế
và thương mại toàn cầu phát triển, giao dịch trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia ngày càng nhiều Sahoo và Kumar (2009) chỉ ra rằng giao dịch các công cụ phái sinh hàng hóa trên các nền tảng trao đổi là một công cụ để đạt được sự khám phá về giá, quản lý rủi ro giá tốt hơn, bên cạnh việc giúp nền kinh tế vĩ mô phân bổ nguồn lực tốt hơn Nghiên cứu của Lokare (2007) về thị trường phái sinh Ấn Độ cũng đã đưa ra kết luận rằng việc phòng ngừa rủi ro có hiệu quả đáng kể trong một số sản phẩm được giao dịch, trong khi một số lượng lớn các nhà đầu cơ cũng tìm thấy một sân chơi bình đẳng
1.1.3.2 Giúp xác định giá cả thị trường của các loại hàng hóa
Giá cả của một loại hàng hóa thường được xác định bởi các lực lượng thị trường
là cung và cầu Các lực lượng này thường phụ thuộc bởi các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội của từng quốc gia, khu vực cũng như trên toàn cầu nói chung Các nguồn thông tin từ các yếu tố kể trên xảy ra và được truyền thông đưa tin liên tục, ở khắp mọi nơi Những sự thay đổi các thông tin có thể dẫn tới sự thay đổi về cung cầu từng loại hàng hóa cụ thể, do đó làm biến động mức giá hiện tại và tương lai của hàng hóa cơ bản, thứ mà các công cụ phái sinh dựa vào để định giá hợp đồng Ở chiều ngược lại, sự biến động giá cả trên thị trường hàng hóa tương lai cũng là một kênh tham khảo sự thay đổi cung cầu hàng hóa, góp phần xác định mức giá thực tế ở hiện tại của từng loại hàng hóa cơ bản.Bên mua và bên bán sẽ quyết định giá cả một phần dựa trên cơ sở giá thị trường hiện tại (giá giao ngay) của sản phẩm và một phần về giá để chiếm ưu thế trong tương lai Trong khi giá hiện tại được công khai, thì giá tương lai lại không hề rõ ràng và phải ước lượng
Trang 21Do đó thị trường phái sinh hàng hóa có thể cung cấp cho họ những hướng dẫn cần thiết
về giá tương lai của hàng hóa
Bên cạnh đó, giá cả trên các thị trường phái sinh hàng hóa thường phản ánh nhận thức, kỳ vọng của các nhà đầu tư, doanh nghiệp tham gia về tương lai Điều này cũng thường tác động đến giá cả của hàng hóa cơ bản, thay đổi theo chiều hướng và mức độ thay đổi tương tự sự kỳ vọng nói trên Chính vì tính cạnh tranh cao và cập nhật liên tục, phái sinh hàng hóa đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc xác định giá cả thị trường (Soumya Mukesh, 2021)
1.1.3.3 Giúp tăng thanh khoản trên thị trường hàng hóa cơ bản
Thị trường phái sinh hàng hóa có vai trò quan trọng trong việc làm tăng thanh khoản trên thị trường hàng hóa cơ bản Thông qua các cơ chế, chính sách thuận lợi cho việc dễ tiếp cận thị trường, giao dịch nhanh chóng với đa dạng hình thức và khối lượng trên mỗi hợp đồng, các doanh nghiệp, nhà đầu tư có thể tham gia giao dịch ở mức giá
cơ bản là tương ứng với giá trị thật của hàng hóa cơ bản Bên cạnh đó, với việc các hàng hóa được chuẩn hóa khi giao dịch trên thị trường tập trung sẽ giúp cho các doanh nghiệp
có nhu cầu mua bán thực (thực hiện giao nhận hàng) hàng hóa cơ sở sẽ dễ dàng tiếp cận
và thực hiện hoạt động mua bán mà không cần mất nhiều thời gian tìm kiếm đối tác cũng như phụ thuộc đối tác Điều này cũng giúp thúc đẩy hoạt động của thị trường hàng hóa cơ bản, hàng hóa được mua bán dễ dàng và nhanh chóng hơn Với lượng lớn số người tham gia trên các thị trường phái sinh, khối lượng giao dịch của thị trường phái sinh hàng hóa có mức độ tăng lên nhanh chóng qua từng thời kỳ cùng với tỷ lệ thực hiện giao nhận hàng hóa thực tăng lên, đồng nghĩa rằng mức độ thanh khoản của các loại hàng hóa càng trở nên cao hơn
1.1.3.4 Là một kênh đầu tư hiệu quả
Phái sinh hàng hóa cũng là công cụ, hợp đồng tài chính mà giá trị của nó dựa vào sự thay đổi giá trị của các tài sản cơ bản (chính là các loại hàng hóa được giao dịch), vì vậy nhiều nhà đầu tư có thể không có nhu cầu sử dụng một loại hàng hóa nhất định, nhưng vẫn tham gia vào thị trường phái sinh hàng hóa, với kỳ vọng thu được lợi nhuận dựa vào sự chênh lệch giữa giá trị hợp đồng phái sinh với sự thay đổi giá trị thực tế của hàng hóa đó Một trong những lợi thế mà thị trường phái sinh hàng hóa có thể đem lại nữa chính là sự linh hoạt Với sự đa dạng về loại hợp đồng, các mức giá trị, mức tỷ lệ
ký quỹ, số lượng mặt hàng có thể sử dụng hợp đồng, thì phái sinh hàng hóa không chỉ giúp các doanh nghiệp lớn hay các quỹ đầu tư tham gia, mà các nhà đầu tư nhỏ lẻ khác cũng có thể tham gia vào thị trường này
Trang 22Cùng với sự phát triển của thị trường phái sinh hàng hóa, ngày càng có nhiều nhà đầu tư cùng tham gia thị trường để tìm kiếm lợi nhuận, điều này ngược lại giúp cho thị trường tăng tính thanh khoản, trở nên hấp dẫn và lại càng phát triển mạnh mẽ hơn
1.1.3.5 Cung cấp thông tin cho doanh nghiệp và chính phủ để điều tiết cung cầu và phân bổ nguồn lực đối với tổng thể nền kinh tế
Thông qua sự biến động trên thị trường phái sinh hàng hóa, không chỉ các doanh nghiệp, nhà đầu tư mà các Chính phủ có thể đánh giá được xu hướng sản xuất và tiêu dùng hiện tại của các loại hàng hóa Đây cũng là cơ sở để các nhà nghiên cứu đưa ra khuyến nghị chính sách cho các Chính phủ, và từ đó có các chiến lược phát triển nền kinh tế và định hướng thị trường nội địa, các hoạt động xuất nhập khẩu tốt hơn
Đối với các doanh nghiệp, việc quan sát trên thị trường phái sinh hàng hóa có thể giúp từng nhà sản xuất đánh giá được nhu cầu và nguồn cung hàng hóa, từ đó có chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp, tránh lãng phí nguồn lực và tối ưu hóa được chi phí
và lợi nhuận
1.2.1 Lịch sử ra đời thị trường phái sinh hàng hóa
Mặc dù các hoạt động giao dịch phái sinh hàng hóa được coi là đã xuất hiện rất lâu trong lịch sử, nhưng phải tới năm 1730 mới xuất hiện SGD phái sinh hàng hóa đầu tiên được công nhận chính thức, đó là Dojima Rice Exchange tại Nhật Bản Vào thời kỳ Edo (1603-1867), lượng gạo do triều đình phong kiến lúc bấy giờ thu được dưới dạng một thuế chủ yếu được vận chuyển đến thành phố Osaka và cất trữ tại các Kurayashiki (là dạng nhà ở kết hợp nhà kho) Sau đó, thông qua đấu giá và phát hành các “phiếu gạo” (một dạng tiền tệ được do bằng gạo, có thể mua bán, chuyển đổi), chính quyền bán lượng gạo này cho các nhà môi giới gạo xung quanh khu vực Nakanoshima (thuộc thành phố Osaka ngày nay), người trả giá cao nhất sẽ sở hữu lượng gạo đó Các “phiếu gạo” này tiếp tục được đưa tới trung tâm thành phố Osaka để những người có nhu cầu có thể mua bán Tới năm 1730, chính quyền Mạc phủ Tokugawa đồng thời cho phép thành lập thị trường phiếu gạo giao ngay, cũng như thị trường phiếu gạo tương lai – nơi giao dịch phiếu gạo dựa trên các thỏa thuận ở hiện tại, nhưng các điều kiện như giá cả lại được quy định theo kỳ vọng trong tương lai Thị trường phiếu gạo tương lai đánh dấu sự ra đời của SGD phái sinh hàng hóa chính thức đầu tiên, với tên gọi là Dojima Rice Exchange (SGD gạo Dojima) Đây là hình thức sở giao dịch có hệ thống thành viên, chức năng bù trừ thanh toán tương tự như các SGD phát sinh hàng hóa trên thế giới ngày nay Giá gạo tại Dojima Rice Exchange được hình thành và hoàn thiện nhờ hệ thống nhân viên đưa tin và cờ hiệu (tín hiệu bằng cờ) trải dài hàng trăm cây số khắp các thành phố trên toàn quốc Nhiều quy định, thông lệ giao dịch được sử dụng và phát triển từ
Trang 23Dojima Rice Exchange được áp dụng không chỉ cho hàng hóa mà còn cho các thị trường phái sinh tài chính, cổ phiếu sau này (Japan Exchange Group, 2021)
Bảng 1.1: Quá trình hình thành phát triển của Dojima Rice Exchange
nhân giàu có Yodoya (thành phố Osaka)
thuế gạo thông qua phát hành “Phiếu gạo”
thức tại Sở giao dịch gạo Dojima (Dojima Rice Exchange)
do giá gạo tăng mạnh
1939
Sở giao dịch Osaka-Dojima Rice Exchange (tiền thân là Dojima Rice Exchange) bị giải thể dưới chính sách kiểm soát nền kinh
tế của Chính phủ
Nguồn: Japan Exchange Group, 2021
1.2.2 Quá trình phát triển thị trường phái sinh hàng hóa
Tuy là thị trường phái sinh hàng hóa đầu tiên nhưng thị trường giao dịch lúa gạo Dojima không tạo ra sức lan tỏa, phát triển ra các nước lân cận Chỉ đến những năm
1970, khi Mỹ thiết lập nền tảng giao dịch quyền chọn cổ phiếu thông qua sự đột phá lý thuyết định giá quyền chọn (do Fischer Black và Myron Scholes đưa ra năm 1973) cùng sự ra đời của hệ thống máy tính, giúp Mỹ tạo làn sóng sử dụng phái sinh hàng hóa một cách rộng rãi đầu tiên trên thế giới thị trường phái sinh hàng hóa mới được lan rộng, phát triển nhanh chóng ở khắp các bang Mỹ và ra toàn thế giới Thập kỷ 1970 là thời kỳ bùng nổ của các thị trường hợp đồng tương lai Nhiều SGD được thành lập, cũng như xuất hiện nhiều sản phẩm phái sinh mới Sàn Chicago Mercantile Exchange (CME) bắt đầu phân phối các giao dịch tương lai bằng các đồng ngoại tệ, không còn chỉ giới hạn bằng đồng USD Trong khi đó, sàn New York Mercantile Exchange (NYMEX) thậm chí còn đưa ra nhiều sản phẩm tài chính dưới dạng hợp đồng tương lai, kể cả Trái phiếu kho bạc dài hạn (U.S T-bonds), tiền đề cho sự xuất hiện của hợp đồng tương lai đối với chỉ số thị trường chứng khoán
Năm 1848 đánh dấu mốc quan trọng cho thị trường phái sinh hàng hóa thế giới nói chung và nước Mỹ nói riêng với sự thành lập của SGD Chicago Board of Trade (CBOT) sau một thời gian dài kể từ những hoạt động trao đổi hàng hóa đầu tiên Sự ra đời của
Trang 24CBOT không phải là ngẫu nhiên, chỉ sau khi hệ thống đường sắt và điện báo cơ bản được hoàn thiện trên khắp các bang của nước Mỹ, đặc biệt là kết nối giữa bờ Tây (tiếp giáp Thái Bình Dương) và bờ Đông (tiếp giáp Đại Tây Dương), thì trung tâm giao dịch nông sản Chicago mới được kết nối với các nhà đầu tư ở nhiều thành phố khác ở bờ Đông như New York, Ngô là loại hàng hóa đầu tiên được giao dịch dưới dạng các công cụ phái sinh Cùng sự phát triển của thị trường, lúa mì và đậu nành cũng được giao dịch trên thị trường này, và sau đó là hàng loạt các nông sản thiết yếu khác, làm tăng quy mô và sự đa dạng chủng loại tại SGD hàng hóa CBOT Còn tại Châu Âu, các hoạt động giao dịch phái sinh thực tế đã từng xuất hiện tại Vương Quốc Anh từ rất lâu, nhưng mãi tới năm 1877 thì SGD chính thức đầu tiên là London Metals and Market Exchange mới được thành lập
Một trong những hàng hóa đầu tiên sử dụng công cụ phái sinh chính là thị trường bông Các hợp đồng kỳ hạn bông bắt đầu được giao dịch tại New York từ những năm
1850, dẫn tới sự hình thành và phát triển của New York Cotton Exchange (NYCE) vào năm 1870 Ở giai đoạn đầu hình thành thị trường giao dịch phái sinh hàng hóa, công cụ chủ yếu là các hợp đồng kỳ hạn với các thỏa thuận song phương trên thị trường phi tập trung OTC, và qua thời gian phát triển về sau mới hình thành thị trường giao dịch tập trung (các SGD) cung cấp các hợp đồng tương lai chuẩn hóa Các giao dịch phái sinh hàng hóa trên thị trường OTC đã từng rất tích cực Tuy nhiên, trái ngược với sự tăng trưởng ổn định của việc giao dịch phái sinh hàng hóa trên các SGD sau này, giao dịch phái sinh hàng hóa trên OTC đã giảm đáng kể kể từ giữa năm 2008 (xem hình 1.2) khi bùng nổ của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tiết lộ các vấn đề nghiêm trọng trong giao dịch phái sinh trên thị trường OTC không minh bạch, và không được quản lý này
Do đó, sau cuộc khủng hoảng đã có những cải cách về quy định buộc những hợp đồng phái sinh hàng hóa trên thị trường OTC cũng được tiêu chuẩn hóa hơn và quản lý chặt chẽ hơn, hầu như tất cả các giao dịch phái sinh hàng hóa OTC đều được thực hiện theo các điều khoản pháp lý tiêu chuẩn Giao dịch được tiêu chuẩn hóa hiệu quả thông qua các mẫu sản phẩm và tiêu chuẩn thực hành thị trường cho phần lớn các lĩnh vực phi kinh
tế Bên cạnh đó, xu hướng sử dụng trung tâm thanh toán bù trừ trong các hợp đồng phái sinh trên OTC cũng ngày càng tăng lên Với những giao dịch không sử dụng trung tâm thanh toán bù trừ thì sẽ áp dụng các tài sản thế chấp song phương để đảm bảo khả năng thanh toán Các thông tin trước và sau giao dịch cũng được cung cấp khá đầy đủ và minh bạch bởi các đại lý thị trường (trung gian giao dịch) Tất cả những điều này giúp cho thị trường OTC trở nên minh bạch và an toàn hơn
Trang 25Hình 1.1: Tổng giá trị ẩn (notional amount) của giao dịch phái sinh hàng hóa trên
thị trường OTC (giai đoạn 1998-2019)
Nguồn: Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS)
Hình 1.2: Tổng giá trị thị trường (gross market value) của giao dịch phái sinh
hàng hóa trên thị trường OTC (giai đoạn 1998-2019)
Nguồn: Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS)
Qua thời gian, hình thức hợp đồng tương lai ngày càng phổ biến đối với các loại hàng hóa khác như ca cao, cam, đường Sự bùng bổ của ngành chăn nuôi công nghiệp cũng đã hình thành nên các hợp đồng tương lai đối với mặt hàng gia súc như thịt bò, thịt lợn, Các thị trường hàng hóa cũng đã cung cấp sản phẩm phái sinh đối với các loại khoáng sản, chính là nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất công nghiệp,
Trang 26như vàng, bạc, đồng Platinum (bạch kim) và palladium cũng được đưa vào danh mục giao dịch sau khi Mỹ từ bỏ việc gắn đồng USD với chế độ bản vị vàng
Ngoài thị trường phái sinh hàng hóa tại các nước phát triển, thị trường phái sinh hàng hóa ở các nước mới nổi cũng đã định hình và phát triển chuyên sâu Sở giao dịch vàng và hàng hóa Dubai đã bắt đầu đi vào hoạt động ở Trung Đông từ năm 2005 Riêng Ấn Độ thành lập các SGD phái sinh hàng hóa từ những năm 2003 và đến nay còn 3 sàn tầm cỡ quốc gia đó là: MCX (Trao đổi hàng hóa qua nhiều kênh); NMCE (trao đổi hàng hóa nhiêu kênh mang tính quôc gia) và NCDEX (Hàng hóa nội địa và giao dịch phải sinh) Trung Quốc cũng hình thành 2 SGD phái sinh vào năm 2005 là: SHFE (Sở giao dịch hợp đồng tương lai Thượng hải) và CFFEX (Sở giao dịch hợp đồng tương lai tài chính Trung Quốc) Tuy đã có sự phát triển nhất định nhưng tại các thị trường phái sinh các nước mới nổi này cũng chưa có các sản phẩm phái sinh đa dạng như ở các nước phát triển Đối với các nước đang và kém phát triển thì thị trường phái sinh hàng hóa chưa
có định hình hoặc chỉ mới ở giai đoạn manh nha phát triển
Theo thống kê của FIA (Futures Industry Association – một tổ chức thương mại hàng đầu thế giới về phái sinh hàng hóa), từ năm 2000, các SGD phái sinh hàng hóa tập trung đã có sự mở rộng đáng kể và đạt mức hơn 6,33 tỷ hợp đồng được giao dịch vào năm 2019, tăng hơn gấp đôi so với con số 3,03 tỷ hợp đồng năm 2012 Trong đó thị trường Châu Á Thái Bình Dương luôn chiếm tỷ trọng trên 50% suốt giai đoạn 2012-
2019 Bên cạnh đó, mặc dù các sàn tập trung giao dịch chủ yếu chỉ hai loại hợp đồng là tương lai và quyền chọn nhưng cũng có sự khác biệt rõ rệt về xu hướng giao dịch giữa hai loại hợp đồng này, cụ thể: khối lượng hợp đồng tương lai luôn chiếm hơn 90% (năm
2019 là 95,4%) trong khi khối lượng quyền chọn chỉ chiếm một phần rất nhỏ Điều này thể hiện rõ chức năng chính của công cụ phái sinh hàng hóa là nhằm bảo hiểm rủi ro biến động giá, thay vì đầu cơ
Ngày nay, tuy đã có rất nhiều SGD trên toàn cầu, nhưng Hoa Kỳ vẫn đang là trung tâm của hoạt động giao dịch phái sinh hàng hóa, cung cấp đa dạng các sản phẩm hàng hóa (riêng sàn NYMEX cung cấp 576 loại sản phẩm, chiếm 39% tổng số loại sản phẩm hàng hóa phái sinh toàn cầu, cao gấp 5 lần sàn đứng thứ 2 là Nasdaq NFX cũng thuộc Mỹ với 118 loại sản phẩm) Tuy nhiên, xét về mặt khối lượng giao dịch, thì Trung Quốc lại là thị trường dẫn đầu thế giới
1.3.1 Các chủ thể tham gia thị trường
Không chỉ riêng thị trường hàng hóa nói chung, để thị trường phái sinh hàng hóa
có thể phát triển được như ngày nay, đòi hỏi không chỉ là sự đa dạng hàng hóa hay sự phát triển về công nghệ, mà còn tùy thuộc vào số lượng và chất lượng của các chủ thể
Trang 27tham gia thị trường Đối với thị trường phái sinh hàng hóa, các chủ thể chính tham gia
có thể chia làm bốn nhóm cụ thể sau: nhóm các nhà đầu tư, kinh doanh; nhóm các đại
lý kinh doanh, nhà môi giới; sở giao dịch và các trung tâm thanh toán bù trừ (nhóm đơn
vị vận hành sàn giao dịch); và nhóm cơ quan quản lý thị trường Việc nhận biết các chủ thể khác nhau giúp thị trường phân biệt được động cơ tham gia và xu hướng giao dịch, cũng như những đóng góp cho thị trường của các đối tượng đó
1.3.1.1 Các nhà đầu tư, kinh doanh
Trong thị trường phái sinh hàng hóa, dựa vào động cơ tham gia thị trường thì các nhà đầu tư và kinh doanh thường được chia ra làm bốn nhóm chính, bao gồm: Nhà phòng ngừa rủi ro; Nhà đầu cơ; Nhà đầu tư chênh lệch giá; Nhà giao dịch ký quỹ
Nhà phòng ngừa rủi ro (Hedgers)
Mục tiêu chính của các nhà phòng ngừa rủi ro chính là giảm thiểu rủi ro xuất hiện từ sự biến động giá cả hàng hóa Thông qua các công cụ phái sinh, các nhà phòng ngừa rủi ro có thể thực hiện được hoạt động bảo hiểm cho khoản doanh thu/chi phí, từ đó giúp bù đắp khoản chi phí tăng thêm do sự biến động giá cả của các hàng hóa cơ bản Từ động cơ này có thể thấy rằng các nhà phòng ngừa rủi ro chính là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa Đó có thể là một công ty khai thác khoáng sản như sắt, đồng, và xuất khẩu đi nước ngoài, hay một doanh nghiệp đầu tư vào nhà máy lọc dầu, cần nhập khẩu dầu thô từ các mỏ dầu trên toàn cầu Thông thường, nhu cầu chủ yếu của đối tượng này là tránh phát sinh các khoản chi phí ngoài dự tính, để tập trung nguồn lực và thời gian vào hoạt động chính của họ là sản xuất thành phẩm và kinh doanh
Nhà đầu cơ (Speculators)
Mặc dù thị trường phái sinh hàng hóa ra đời nhằm giúp cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu phòng tránh các rủi ro biến động giá hàng hóa trên thị trường giao ngay, bảo đảm được doanh thu, lợi nhuận kỳ vọng, và họ là những chủ thể có sự liên quan chặt chẽ tới việc sử dụng hàng hóa cơ bản Tuy nhiên, ngày nay lượng lớn chủ thể tham gia thị trường lại đến từ các nhà đầu cơ Hoạt động đầu cơ trên thị trường phái sinh hàng hóa là hành động mua bất kỳ một sản phẩm, công cụ phái sinh nào trên thị trường và suy đoán, kỳ vọng vào sự tăng giá đáng kể trong một giai đoạn nhất định (CFI, 2021) Hoạt động đầu cơ diễn ra rất phổ biến là nhờ vào mức lợi nhuận hấp dẫn có thể mang lại cho người tham gia trong tương lai, đặc biệt có thể chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn Chính vì lẽ đó, đây cũng là nhóm chủ thể phải chịu nhiều rủi ro khi tham gia thị trường phái sinh hàng hóa, bởi tính biến động liên tục của thị trường này Trong khi các nhà phòng ngừa rủi ro lựa chọn phái sinh hàng hóa để bảo toàn lợi nhuận, thì các nhà đầu cơ tham gia nhằm tìm kiếm lợi nhuận tối đa, đi kèm với mức rủi ro tương ứng
Trang 28Tuy mục tiêu tham gia thị trường của hoạt động đầu cơ là tìm kiếm lợi nhuận, điều
đó không có nghĩa rằng các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu không tham gia vào hoạt động này Nhiều công ty nhờ lợi thế có hiểu biết đối với một số loại hàng hóa nhất định, có nhiều nguồn thông tin, thêm vào đó là có lượng vốn nhất định cho hoạt động đầu tư tài chính, cũng có thể vừa tham gia thị trường dưới góc độ phòng ngừa rủi
ro, vừa ở góc độ là nhà đầu cơ Bên cạnh đó, nhờ sự đa dạng sản phẩm và quy mô hợp đồng ở nhiều mức khác nhau, cũng như cơ chế giao dịch theo tỷ lệ ký quỹ cho phép các nhà đầu cơ cá nhân nhỏ lẻ cũng có thể dễ dàng tham gia thị trường Tuy mỗi nhà đầu cơ
cá nhân chỉ giao dịch với khối lượng thường là không lớn, nhưng đối tượng này lại có
số lượng rất đông, qua đó cũng trở thành một lực lượng đáng kể trong thị trường phái sinh hàng hóa, tạo nên tính thanh khoản cho thị trường Ngoài ra, các tổ chức tài chính như ngân hàng, quỹ đầu tư cũng tham gia thị trường với mục tiêu gia tăng lợi nhuận
Có thể nói vai trò của nhà đầu cơ trên thị trường phái sinh hàng hóa là vô cùng quan trọng giúp tăng tính thanh khoản của thị trường này
Nhà kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrageurs)
Một chủ thể kinh doanh khác trong thị trường phái sinh hàng hóa là nhà kinh doanh chênh lệch giá Mục tiêu của chủ thể này cũng nhằm tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường Nếu không phân biệt kĩ thì có thể dẫn tới sự nhầm lẫn giữa nhà đầu cơ và nhà kinh doanh chênh lệch giá Nếu như nhà đầu cơ phải bỏ vốn và chịu rủi ro trong quá trình nắm giữ
và chờ đợi cơ hội từ các tài sản phái sinh, thì nhà kinh doanh chênh lệch giá luôn đặt mình trong trạng thái an toàn và đảm bảo được lợi nhuận Khác biệt ở đây là do nhà kinh doanh chênh lệch giá khi quan sát thấy có sự chênh lệch giá của cùng loại hàng hóa trên các thị trường khác nhau sẽ đồng thời giao dịch trên các thị trường này: mua vào một lượng hàng hóa với giá thấp ở thị trường này và bán ra lượng hàng hóa tương đương trên một thị trường khác với giá cao hơn Sau khi trừ đi các chi phí, nhà đầu tư chênh lệch giá chắc chắn nhận được một khoản lợi nhuận cố định Rủi ro của hình thức kinh doanh này chủ yếu xuất phát từ các chi phí phát sinh khi tiến hành các giao dịch, còn nhà đầu tư không phải chịu rủi ro do sự biến động giá của hàng hóa đó Mặc dù thị trường phái sinh hàng hóa đã hình thành từ lâu tại các quốc gia phát triển, nhưng vẫn còn sơ khai tại nhiều quốc gia khác, là các nước đang phát triển hoặc chưa phát triển Chính vì sự không hoàn hảo và thiếu liên thông của các thị trường dẫn tới sự khác biệt
về giá cả của cùng một loại hàng hóa trên các thị trường khác nhau tạo cơ hội cho các nhà kinh doanh chênh lệch giá
Các nhà đầu tư phải luôn thận trọng khi tiến hành kinh doanh theo hình thức này bởi biên lợi nhuận của hoạt động kinh doanh chênh lệch giá sẽ ngày càng giảm do lợi thế về thông tin ngày càng bị thu hẹp dưới ảnh hưởng của nền công nghệ thông tin phát
Trang 29triển Điều này làm cho hoạt động kinh doanh chênh lệch giá đòi hỏi nhiều nguồn lực hơn để tìm kiếm, so sánh các thị trường, qua đó phát hiện các cơ hội Đây cũng là một yếu tố để các nhà đầu tư cân nhắc việc theo đuổi chiến lược kinh doanh này
Nhà giao dịch ký quỹ (Margin traders)
Ký quỹ là tài sản đảm bảo được gửi bởi nhà đầu tư vào một công cụ tài chính nào
đó (trong thị trường phái sinh hàng hóa, các công cụ phái sinh làm một phần của công cụ tài chính nói trên) Khoản ký quỹ này được gửi cho đối tác chịu trách nhiệm quản lý
và trung gian giao dịch hàng hóa cho các nhà đầu tư, nhằm bù đắp các khoản rủi ro tín dụng liên quan tới các khoản đầu tư (CFI, 2021) Nói cách khác, có những nhóm nhà đầu tư tham gia thị trường không chỉ bằng nguồn vốn của mình, mà còn dựa vào mức tín dụng do các trung gian tài chính cung cấp để giao dịch phái sinh hàng hóa
Các nhà giao dịch ký quỹ thường chịu rủi ro cao hơn so với nhà đầu tư thông thường do nguồn vốn đầu tư của họ thường đến từ khoản vay tín dụng, và nếu sử dụng đòn bẩy tài chính, họ có thể thu được khoản lợi nhuận rất lớn từ nguồn vốn rất nhỏ ban đầu Nhưng ngược lại, khoản lỗ tiềm tàng gấp nhiều lần vốn đầu tư cũng là một yếu tố
để cân nhắc đối với nhà đầu tư
1.3.1.2 Các đại lý kinh doanh, nhà môi giới
Các SGD hàng hóa thường sẽ không trực tiếp cung cấp dịch vụ tới khách hàng mà cần thông qua các đại lý kinh doanh, các nhà môi giới của sàn nhằm tạo ra môi trường giao dịch lành mạnh, đảm bảo lợi ích giao dịch giữa các bên liên quan Đồng thời, hạn chế rủi ro về giá cả thị trường cho các nhà đầu tư, khách hàng Các đại lý kinh doanh và nhà môi giới đóng vai trò là các cầu nối, trung gian tài chính giữa nhà đầu tư với thị trường, cung cấp nền tảng công nghệ, cơ sở vật chất để việc giao dịch được diễn ra thuận lợi và dễ dàng, bên cạnh đó cũng cung cấp các dịch vụ tư vấn phù hợp đến từng đối tượng nhà đầu tư khác nhau, góp phần tích cực cho sự phát triển của thị trường Mặt khác, thông qua các đại lý kinh doanh, nhà mỗi giới giúp cho việc quản lý tài khoản của các nhà đầu tư đảm bảo khả năng tài chính cho các giao dịch, tránh các rủi ro tài chính
do đặc thù giao dịch dựa trên đòn bẩy tài chính của thị trường phái sinh hàng hóa Ngoài
ra, các đại lý kinh doanh còn có thể tự giao dịch kinh doanh cho chính mình, tương tự như vai trò của các công ty chứng khoán trong thị trường chứng khoán
Như vậy, khi có nhu cầu, các nhà đầu tư sẽ không giao dịch trực tiếp làm việc với Sở giao dịch hàng hóa, mà sẽ phải đăng ký mở tài khoản với các đơn vị giao dịch, sau
đó nộp tiền vào tài khoản để thực hiện đầu tư theo tỷ lệ quy định Tại các đơn vị giao dịch này, nhà đầu tư có thể dựa vào các thông tin, chỉ số được thông báo công khai để giao dịch, hoặc thông qua các nhân viên môi giới để được tư vấn và đặt lệnh Sở giao dịch đóng vai trò trung tâm quản lý chung toàn bộ hoạt động mua bán và giá cả hàng
Trang 30hóa, nhưng hoạt động kinh doanh trực tiếp và chuyển nhượng quyền sở hữu lại do các đơn vị giao dịch thực hiện cho khách hàng
1.3.1.3 Sở giao dịch và Trung tâm thanh toán bù trừ
Với thị trường giao dịch tập trung thì một nhân tố không thể thiếu đó là đơn vị tổ chức, quản lý và điều hành thị trường giao dịch Bên cạnh đó, cũng cần có trung tâm thanh toán bù trừ nhằm đảm bảo cho việc thực thi nghĩa vụ hợp đồng diễn ra một cách minh bạch, rõ ràng, tránh các hiệu ứng rủi ro dây chuyền
Sở giao dịch hàng hóa là đơn vị tổ chức, quản lý, và điều hành thị trường giao dịch tập trung, thường hoạt động theo hình thức là một công ty cổ phần, được cấp phép và nằm dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước chủ quản (tại Việt Nam là Bộ Công thương)
Ở một số quốc gia, Ủy ban Nhà nước về hàng hóa sẽ đại diện cho Bộ Thương mại quản
lý các Sở giao dịch hàng hóa Sở giao dịch đưa ra các quy định về việc tổ chức mua bán các hợp đồng giao ngay và phái sinh như thời gian giao dịch, khối lượng, giá trị, tiêu chuẩn hàng hóa giao dịch, tỷ lệ ký quỹ,… Ngoài ra, Sở còn cung cấp dịch vụ kiểm định, giao nhận hàng hóa, là nơi kết nối các nhà đầu tư để thực hiện các giao dịch nội địa và quốc tế trong trường hợp các bên tham gia hợp đồng có nhu cầu giao hàng thực
Trung tâm thanh toán bù trừ (clearing house) là một tổ chức trung gian giữa bên mua và bên bán nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của các bên để giao dịch được hoàn thành Trung tâm thanh toán bù trừ "có trách nhiệm thiết lập tài khoản giao dịch, thanh toán bù trừ, thu giữ tiền kí quĩ, giao nhận các công cụ mua bán, và báo cáo dữ liệu giao dịch" (Investopedia, 2021) Trung tâm thanh toán đại diện cho người mua khi giao dịch với bên bán và đại diện người bán khi giao dịch với bên mua Ngoài việc giúp giảm chi phí giao dịch, trung tâm thanh toán bù trừ là đối tượng chịu rủi ro tín dụng đối với cả bên bán và bên mua nên sẽ luôn yêu cầu khoản tiền ký quỹ (gồm cả nộp lần đầu và nộp duy trì) Điều này giúp giảm thiểu rủi ro dây chuyền khi có một nhà đầu
tư gặp vấn đề về tài chính làm mất khả năng thanh toán trong phương thức giao dịch bù trừ song phương Mỗi SGD đều cần có một trung tâm thanh toán bù trừ riêng biệt, các thành viên của SGD khi tham gia đều phải nộp tiền giao dịch và ký quỹ theo yêu cầu để đảm bảo số dư trong tài khoản Quá trình bù trừ, ký quỹ được hạch toán hàng ngày giúp cho các nhà đầu tư giảm gánh nặng vốn, đồng thời cắt giảm rủi ro mất khả năng thanh toán Với sự hiện diện của trung tâm thanh toán bù trừ, người tham gia thị trường có thể được xếp hạng rủi ro tín dụng rất tốt với tư cách là một đối tác Vì vậy việc đánh giá tín dụng với mọi đối tác sẽ không còn cần thiết cho mỗi nhà đầu tư vì các giao dịch đã được đại diện bởi các trung tâm thanh toán bù trừ, là đối tượng thường được xếp hạng rất uy tín, cùng với sự đảm bảo của các khoản ký quỹ Với vai trò quan trọng là nền tảng giúp thị trường trở nên minh bạch và phát triển, trung tâm thanh toán bù trừ hiện được các
quốc gia coi trọng đầu tư phát triển cả về cơ sở hạ tầng và hệ thống pháp lý
Trang 311.3.1.4 Cơ quan quản lý thị trường
Cơ quan quản lý thị trường phái sinh hàng hóa trực tiếp và phổ biến nhất chính là Ủy ban giao dịch hàng hóa phái sinh Đây là một cơ quan độc lập, điều chỉnh cả hai thị trường: tập trung và phi tập trung Điều tiết thị trường và thúc đẩy sự cạnh tranh, tính hiệu quả của thị trường kỳ hạn, tương lai, cũng như "bảo vệ các nhà đầu tư" khỏi sự thao túng và các hành vi gian lận thương mại là những nhiệm vụ quan trọng của Ủy ban giao dịch hàng hóa phái sinh (CFTC, 2021) Nếu không có cơ quan quản lý cùng với các quy định như vậy, những cá nhân và tổ chức tham gia thị trường sẽ dễ dàng bị lừa đảo bởi những thành phần gian lận Điều này làm cho thị trường vốn trở nên thiếu hiệu quả trong việc phân bổ các nguồn lực tài chính cho hoạt động sản xuất và các hoạt động kinh tế
có hiệu quả khác, gây thiệt hại cho các nhà đầu tư, và cả xã hội
Tại Ủy ban giao dịch hàng hóa phái sinh, có nhiều bộ phận chức năng giúp việc, nhằm hoàn thành các nhiệm vụ đối với thị trường phái sinh Một số bộ phận quan trọng,
có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động mua bán trên thị trường có thể kể tới dưới đây:
Bộ phận Bù trừ và Rủi ro: Bộ phận này giám sát các tổ chức thanh toán bù trừ phái
sinh và những người tham gia thị trường khác trong quá trình thanh toán bù trừ Người tham gia bao gồm các nhà giao dịch hợp đồng tương lai, các đại lý hoán đổi, những người tham gia hoán đổi chính và các nhà giao dịch lớn
Bộ phận Thực thi: Đây là bộ phận điều tra và truy tố các hành vi vi phạm quy định
về việc mua bán hàng hóa và các quy định khác của Ủy ban Các vi phạm phổ biến bao gồm gian lận, thao túng và các hành vi lạm dụng khác liên quan đến việc hoán đổi hàng hóa, gây tổn hại đến tính toàn vẹn của thị trường, cũng như những người tham gia thị trường
Bộ phận Giám sát thị trường: Bộ phận này thúc đẩy các thị trường mở, minh bạch,
công bằng, cạnh tranh và an toàn thông qua giám sát các nền tảng phái sinh và dữ liệu hoán đổi Ngoài ra, bộ phận giám sát thị trường xem xét kiểm tra các nền tảng giao dịch hiện có, các cơ sở thực hiện hoán đổi, kho dữ liệu hoán đổi và hội đồng thương mại nước ngoài để đảm bảo chúng tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi hiện hành và các yêu cầu quy định khác, bao gồm các biện pháp bảo vệ hệ thống
Bộ phận tham gia thị trường: Bộ phận tham gia thị trường chủ yếu giám sát các
trung gian thị trường phái sinh, bao gồm nhà điều hành nhóm hàng hóa, cố vấn giao dịch hàng hóa, người bán hợp đồng tương lai, nhà môi giới, đại lý ngoại hối bán lẻ, đại lý hoán đổi và những người tham gia hoán đổi chính, cũng như các tổ chức tự quản được chỉ định
Trang 321.3.2 Cơ chế quản lý giám sát thị trường
Do quy mô giao dịch trên thị tường phái sinh hàng hóa ngày càng lớn và mở rộng
đã khiến sự thay đổi các loại giá cả hàng hóa trở lên khó đoán định và khó kiểm soát hơn Ngay cả đối với Chính phủ nhiều nước phát triển, việc thiết lập một khuôn khổ pháp lý, giám sát chặt chẽ hoạt động này cũng còn gặp phải rất nhiều vấn đề, trong đó các mục tiêu về kỹ thuật giám sát hiệu quả rất được quan tâm (Tai Terada và Tokiko Shimizu, 2007) Kinh nghiệm từ lịch sử phát triển các thị trường đã chỉ ra rằng, khi thị trường phái sinh hàng hóa phần lớn không được kiểm soát, chúng có thể bị thao túng thị trường, biến động dữ dội và sụp đổ Khi càng có nhiều chính sách, quy định được bãi
bỏ, chúng thúc đẩy các đổi mới sản phẩm rủi ro, làm giảm tính minh bạch và tạo ra đầu
cơ cực đoan ảnh hưởng xấu đến hệ thống kinh tế và tài chính
Để đánh giá về cơ chế quản lý, giám sát thị trường hiện nay đối với thị trường phái sinh hàng hóa, đầu tiên, phải tìm hiểu lý do tại sao lại cần phải giám sát hoạt động của thị trường này
1.3.2.1 Tầm quan trọng của việc giám sát thị trường phái sinh hàng hóa
Đối với các Chính phủ, việc đánh giá và đảm bảo các tình hình kinh tế vĩ mô theo mục tiêu đã đề ra là vô cùng quan trọng Việc giám sát thị trường hàng hóa là một trong những nhiệm vụ hàng đầu để có thể đạt được mục tiêu đó Để có thể đánh giá các nhân
tố ảnh hưởng tới nền kinh tế toàn cầu và của các quốc gia, cần phải đánh giá được thước
đo giá cả hàng hóa Thông qua giám sát thị trường hàng hóa, các Chính phủ có thể thấy được sự phát triển của thị trường, hiểu được bối cảnh và cơ chế biến động của giá cả Bên cạnh đó, sự hiện diện của các thị trường mới nổi trong nền kinh tế toàn cầu cùng với sự phát triển của thị trường phái sinh hàng hóa khiến cho các dự báo về tình hình kinh tế, thương mại, và về hành vi của các nhà đầu tư trở nên khó khăn hơn (Tai Terada và Tokiko Shimizu, 2007) Sự biến động của thị trường hàng hóa ngày nay đã
có tác động đáng kể hơn tới thị trường chứng khoán và thị trường hối đoái toàn cầu, tạo
ra các tác động lẫn nhau Điều này rõ ràng làm ảnh hưởng tới tất cả các quốc gia tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế Như vậy, góc nhìn về thị trường hàng hóa, không chỉ từ các quốc gia phát triển, mà các quốc gia đang phát triển cũng cần phải thay đổi
1.3.2.2 Cơ chế quản lý thị trường phái sinh hàng hóa
Từ góc độ chính sách và dựa vào kinh nghiệm trong lịch sử, Algieri và Bernardina (2018) đã đưa ra những cơ chế quản lý trong việc giám sát thị trường, nhằm đảm bảo sự công bằng cho người tham gia, tính hiệu quả của thị trường và sự nắm bắt chặt chẽ thông tin từ thị trường của Chính phủ
Cải cách hệ thống tài chính, hệ thống giao dịch hàng hóa toàn cầu Cải cách thông
qua xây dựng hệ thống luật và quy định rõ ràng để tránh những bất trắc, các vấn đề gây
Trang 33tranh cãi không thể giải quyết được Điều quan trọng là phải có cơ sở hạ tầng pháp lý lành mạnh, rõ ràng và phù hợp trên toàn thế giới cho các thị trường Cần thiết lập nhiều hơn sự liên kết giữa các hợp đồng tương lai được quản lý, hợp đồng trên thị trường OTC
và các thị trường hàng hóa liên quan; và cần khuyến khích sự hợp tác và hài hòa mang tầm quốc tế hơn (liên quan đến thông tin giao dịch, giới hạn vị thế, danh mục nhà đầu tư, ) giữa các SGD khác nhau (đặc biệt là ở EU-Hoa Kỳ) Việc các tiêu chuẩn, quy định quốc tế chung được xác định và hợp tác quốc tế được cải thiện sẽ là hai yếu tố quan trọng để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của thị trường toàn cầu Bởi lẽ, khi các quy tắc và hệ thống có sự khác nhau giữa các thị trường, sẽ có nguy cơ xảy ra chênh lệch giá và khủng hoảng
Tăng cường tính minh bạch toàn cầu trên thị trường hàng hóa phái sinh Để thực
hiện được tiêu chí này, các nghĩa vụ về việc phổ biến thông tin và báo cáo cần được tăng cường thêm Có nghĩa rằng, các cơ quan quản lý phải: cung cấp sự phân chia chính xác
về các nhóm nhà đầu tư tham gia vào thị trường; cung cấp công khai dữ liệu thị trường, dữ liệu giao dịch hàng ngày; triển khai hệ thống báo cáo sự tham gia giao dịch của các nhà đầu tư cụ thể, chi tiết hơn; và xác định được các biện pháp rõ ràng về hoạt động
“đầu cơ quá mức”
Theo dõi các thị trường phái sinh hàng hóa một cách cẩn thận, đặc biệt đối với các vị thế đầu cơ Để đảm bảo tính toàn vẹn của thị trường phái sinh, đòi hòi các Chính
phủ phải có khuôn khổ quản lý chặt chẽ Những nhà đầu tư có tính đầu cơ cao như các nhà quản lý quỹ, nhà đầu cơ lớn, nhà đầu tư chỉ số hàng hóa là đối tượng mà những người hoạch định chính sách cần chú ý tới, vì nhóm nhà đầu tư này có mục tiêu giảm thiểu rủi ro và tổn thất Trong trường hợp thị trường ít thuận lợi, các cơ quan quản lý có thể: thắt chặt, giới hạn vị thế đầu cơ ở mức an toàn; tăng thuế giao dịch; và yêu cầu mức
ký quỹ giao dịch cao hơn (higher margin) Tuy nhiên, các biện pháp này chỉ nên là tạm thời và không lâu dài, cụ thể là tăng cường thắt chặt trong giai đoạn thị trường phát triển nóng, “hỗn loạn”, và giảm bớt trong giai đoạn thị trường bình ổn Do đó, các chính sách cần có tính chu kỳ nhằm tránh các hoạt động gây rối loạn thị trường Việc giới hạn vị thế có thể được xác định sẵn theo từng xu hướng di chuyển của giá, theo các giai đoạn biến động hoặc tăng trưởng nóng của thị trường Thuế giao dịch cũng nên mang tính tạm thời và được thực hiện đồng bộ trên quy mô toàn cầu chứ không chỉ ở một vài quốc gia nào đó Một cách tiếp cận khác thông qua việc sử dụng hệ thống thuế, đó là tăng thuế suất đối với thu nhập từ vốn ngắn hạn và giảm thuế suất đối với thu nhập dài hạn Bên cạnh đó, các Ngân hàng Trung ương có thể đóng vai trò giám sát thị trường phái sinh hàng hóa và danh mục đầu tư của các tổ chức tài chính, trong đó, giá nông sản và năng lượng được coi là chỉ mục chính cho việc xác định mức lạm phát
Trang 34Thúc đẩy các hoạt động đầu tư có trách nhiệm với xã hội từ nhà đầu tư tổ chức
Các nhà đầu tư tổ chức, bao gồm ngân hàng đầu tư, quỹ đầu cơ, quỹ đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư quốc gia, quỹ hưu trí và các công ty kinh doanh nông nghiệp, nên dành nhiều sự quan tâm hơn đến trách nhiệm với xã hội, bao gồm cả những hoạt động liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp Đầu tư có trách nhiệm là cách tiếp cận nhằm điều chỉnh lợi ích lâu dài của chủ sở hữu tài sản và nhà quản lý đầu tư bằng cách kết hợp các mối quan tâm về môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp (ESG) vào các phân tích và quyết định đầu tư (Lydenberg S., 2013) Một loạt các sáng kiến thúc đẩy đầu tư nông nghiệp
có trách nhiệm đã xuất hiện sau cuộc khủng hoảng lương thực 2007-2008, chẳng hạn như Nguyên tắc về Trách nhiệm trong Đầu tư vào Nông nghiệp (PRAI) vào năm 2010
và Nguyên tắc về Trách nhiệm trong Đầu tư vào Nông nghiệp và Hệ thống Thực phẩm (PRIAFS) vào năm 2014 (Clapp J., 2017)
Tuy nhiên, việc đòi hỏi các nhà đầu tư tại thị trường phái sinh hàng hóa phải có trách nhiệm với xã hội thông qua kết quả đầu tư là điều vô cùng khó khăn Đầu tiên, rất khó để phân loại các nhà đầu tư trong thị trường này, bởi tính chất phức tạp, trừu tượng của thị trường Sự phức tạp của các công cụ phái sinh này bắt nguồn từ rất nhiều mối quan hệ chằng chịt giữa các nhà đầu tư khác nhau, gây khó khăn trong việc có thể quy một nhóm nhà đầu tư vào một xu hướng cụ thể nào đó Bên cạnh đó, ngay cả các nhà phân tích tài chính cũng rất khó khăn để theo dõi đầy đủ các hoạt động của nhà đầu tư trong các loại sản phẩm có liên quan tới nông nghiệp McNellis P.E (2009) đã chỉ ra rằng các quỹ phòng hộ không có nghĩa vụ công khai các khoản đầu tư của họ Thậm chí, nhóm nhà đầu tư này còn thực hiện việc đầu tư chéo lẫn nhau Sự phức tạp này khiến khả năng nhận diện đối tượng nào thúc đẩy việc đầu tư, đối tượng nào phải chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư là rất khó khăn Cho đến ngày nay cũng không có nhiều thông tin đáng tin cậy về hoạt động đầu tư này, chính vì thế, việc khuyến khích sự minh bạch của thị trường phái sinh hàng hóa là vô cùng quan trọng
1.3.3 Khung pháp lý cho thị trường phái sinh hàng hóa
Theo Muellerleile (2015), luật pháp và các quy định có vai trò vô cùng thiết yếu đối với sự phát triển của thị trường phái sinh hàng hóa Các quy định ban đầu chủ yếu nhằm điều phối hoạt động giao dịch nông sản, nhưng cũng là tiền đề quan trọng cho sự phát triển hệ thống pháp lý đối với thị trường phái sinh ngày nay, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu và kĩ thuật đầu tư, đầu cơ đã phát triển và phức tạp hơn rất nhiều
1.3.3.1 Luật pháp và vai trò của Chính phủ
Các quy định pháp lý có tác động đáng kể đến thị trường phái sinh, do vậy đòi hỏi
hệ thống pháp luật và các quy định cần phải thật rõ ràng và chặt chẽ đối với hoạt động của thị trường Tại nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, hoạt động của thị
Trang 35trường phái sinh hàng hóa được quản lý bởi các quy định cụ thể trong Bộ luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn chi tiết kèm theo Thông thường, Bộ Thương mại có trách nhiệm chính về quản lý nhà nước, có thể thông qua Ủy ban hàng hóa phái sinh để kiểm soát hoạt động của thị trường này Ngân hàng Trung ương tham gia với vai trò kiểm soát hoạt động thanh toán quốc tế cũng như quy định cách thức hoạt động của Trung tâm thanh toán, Trung tâm bù trừ, Trong khi đó Bộ Tài chính có vai trò hướng dẫn và thực thi các quy định về thuế, phí, lệ phí đối với các hoạt động giao dịch trên thị trường
1.3.3.2 Quy định về thuế
Có một vài quy định về thuế ảnh hưởng trực tiếp đến giao dịch hợp đồng phái sinh hàng hóa, được thiết kế để giải quyết các vấn đề về thuế bằng cách đánh thuế trên doanh thu thay vì trên thu nhập Ngoài ra, các cơ quan quản lý còn thu các khoản phí, chẳng hạn như các khoản chi phí giám sát và thực thi thị trường, cũng như các điều khoản giống như thuế thu nhập (Randall D., Stephany G., 2007)
Thuế giao dịch hoặc thuế ghi nợ là khoản phí theo tỷ lệ phần trăm giao dịch (mức 0,38% tại Brazil năm 2007), áp dụng cho tất cả các khoản tiền gửi và thanh toán qua ngân hàng, nhưng chỉ áp dụng cho các khoản thanh toán lãi hoặc lỗ trên các hợp đồng trao đổi, không áp dụng cho số tiền danh nghĩa Điều này có tác động đánh thuế các công cụ phái sinh OTC nhiều hơn, do đó chuyển khối lượng giao dịch lên các sàn giao dịch tập trung Ngoài ra, một số phí bảo hiểm quyền chọn bị đánh thuế giống như các công cụ thu nhập cố định
Trong khi đó, các quy định về thuế đối với giao dịch của nhà đầu tư cá nhân có thể
có các ưu đãi và ngoại lệ nhất định Tại Brazil, công dân nước này có thể giao dịch các công cụ phái sinh với người không cư trú và được miễn thuế thu nhập, với điều kiện các giao dịch này có mục đích phòng vệ cho các dòng tiền hoặc lãi suất ngoại tệ, ví dụ như các khoản tiền trong thanh toán quốc tế, thông qua hoạt động xuất nhập khẩu
1.3.3.3 Một số quy định khác
Ngoài ra, các quy định cụ thể cũng cần được sử dụng tại các thị trường giao dịch phái sinh Dưới đây là một số quy định nổi bật tại nhiều quốc gia trên thế giới:
Quy định về báo cáo giao dịch: Giao dịch trao đổi, cũng như giao dịch OTC, phải
được báo cáo đầy đủ cho Ngân hàng Trung ương hoặc Ủy ban giao dịch hàng hóa phái sinh để đảm bảo về mặt pháp lý Điều này giúp tăng khả năng giám sát và tăng tính minh bạch trên thị trường OTC cũng như thị trường tập trung Ngân hàng Trung ương hoặc Ủy ban giao dịch hàng hóa phái sinh và các sàn giao dịch có quyền được giám sát các giao dịch
Giới hạn giá: Ủy ban giao dịch hàng hóa phái sinh đặt ra các giới hạn về giá đối
với giao dịch hàng ngày Từ đó, Ủy ban thiết lập các quy tắc để kiểm soát hoạt động thị
Trang 36trường Điều này ngăn ngừa biến động giá, làm mất ổn định và giảm các trường hợp biến động giá quá mức
Giới hạn vị thế đầu cơ: Là quy tắc được thiết kế để giảm rủi ro hệ thống và ngăn
chặn sự thao túng thị trường bằng cách giới hạn thị phần của bất kỳ nhà đầu tư nào
Ủy ban giao dịch hàng hóa phái sinh có quyền chỉ định các tổ chức nhất định là
tổ chức tự quản lý, giao cho họ quyền thực hiện các chức năng quản lý nhất định Ví
dụ, Sở giao dịch Hàng hóa & Phái sinh có tư cách là một tổ chức tự quản lý Ngân hàng Trung ương quy định và kiểm soát các yêu cầu về vốn khi tham gia thị trường
Các hạn chế về quy định đối với các mục “tham chiếu” được sử dụng cho các hợp đồng phái sinh được xác định bởi Ủy ban giao dịch hàng hóa phái sinh Những điều
này áp dụng cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác và được Ngân hàng Trung ương hoặc Ủy ban giao dịch hàng hóa phái sinh
Quy định rằng các quỹ hưu trí chỉ sử dụng các hợp đồng phái sinh được tiêu chuẩn hóa Điều này cho phép sử dụng giá thị trường để xác minh khi báo cáo tình trạng lãi lỗ
trên các vị thế đầu tư Bên cạnh đó, quy định các quỹ hưu trí sử dụng các công cụ phái sinh với một đối tác trung tâm (do đó thúc đẩy việc sử dụng một công ty thanh toán bù trừ cho sàn giao dịch và các công cụ phái sinh OTC)
Như vậy, khung pháp lý đối với thị trường phái sinh hàng hóa có sự trình độ phát triển và quy định khác nhau giữa các quốc gia phát triển và chưa phát triển, cũng như khác biệt nhất định giữa các quốc gia phát triển với nhau Việc có thể học hỏi, ứng dụng các quy định của quốc gia khác là một yếu tố quan trọng để hoàn thiện khung pháp lý
về thị trường hàng hóa phái sinh tại Việt Nam
1.4.1 Quan niệm về phát triển thị trường phái sinh hàng hóa
Như giới thiệu ở trên, thị trường phái sinh hàng hóa là nơi diễn ra các giao dịch phái sinh về hàng hóa, trong đó người mua và người bán gặp nhau để ký kết các hợp đồng phái sinh Việc phát triển thị trường phái sinh hàng hóa là các biện pháp, hoạt động làm cho thị trường thay đổi, trong đó, các tiêu chí của thị trường trở nên khác đi so với trước, đạt đến một mức độ nhất định, mà ở đó, được coi là có sự khác biệt so với thị trường trước đây
1.4.2 Các biện pháp nhằm phát triển thị trường phái sinh hàng hóa
1.4.2.1 Hoàn thiện nền kinh tế vĩ mô và thể chế các Sở giao dịch hàng hóa
Một trong những yếu tố tiên quyết để có thể phát triển thị trường phái sinh hàng hóa là môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, cũng như hệ thống luật pháp, thể chế nói chung Việc xây dựng, thành lập các cơ quan trong hệ thống quản lý nhà nước về thị
Trang 37trường phái sinh là cần thiết, cũng như hoàn thiện các hệ thống pháp luật sẵn có Bên cạnh đó, cần đảm bảo nền kinh tê thị trường phù hợp, ổn định, phát triển đa dạng các ngành nghề Cải thiện khoa học công nghệ và hiệu quả trọng quản lý nhà nước cũng cần được quan tâm hơn
1.4.2.2 Bảo đảm khối lượng, chất lượng hàng hóa giao dịch
Để đánh giá sự phát triển của thị trường, không chỉ dựa vào so sánh với bản thân thị trường đó trong quá khứ mà còn đối với các thị trường khác trên quy mô toàn cầu Các Sở giao dịch hàng hóa cần liên tục tăng năng suất, chất lượng sản phẩm để thu hút nhà đầu tư Sau khi hoàn thiện và chiếm lĩnh được thị trường trong nước, các Sở giao dịch cần đặt mục tiêu và có các giải pháp để đưa hàng hóa ra thị trường thế giới Một yếu tố quan trọng nữa là phát triển thương hiệu cho các loại mặt hàng, cũng như đảm bảo thông tin thị trường thông suốt, giúp các nhà đầu tư tiếp cận nhanh chóng và đầy đủ
1.4.2.3 Bảo đảm kết nối thanh toán và sự tham gia của các tổ chức tài chính
Đảm bảo sự thông suốt trong thanh toán là điều quan trọng trong các giao dịch, đặc biệt tại các Sở giao dịch có khối lượng giao dịch thường xuyên với khối lượng lớn
Do vậy, cần đảm bảo các tổ chức tài chính cùng tham gia có hiệu quả và hợp tác với các Sở giao dịch nhằm tạo ra sự kết nối đầy đủ cho hoạt động thanh toán
1.4.2.4 Bảo đảm các hợp đồng giao dịch được hoàn tất
Mục tiêu cuối cùng của các đối tượng khi tham gia thị trường phái sinh hàng hóa
là ký kết và thực hiện thành công các hợp đồng Vai trò của thị trường vừa phải là trung gian cho việc kết nối người mua, người bán, cũng như xây dựng các loại hợp đồng tương thích với nhu cầu người tham gia, đáp ứng các kỳ vọng về các loại hợp đồng nói trên Thêm vào đó, việc thuận tiện giao dịch, tính thanh khoản cao, khả năng liên kết, liên thông các hợp đồng cũng là yếu tố giúp phát triển thị trường phái sinh hàng hóa Ngoài
ra, vai trò của Nhà nước là tuyên truyền, phổ biến về nhiệm vụ và đặc điểm của các thị trường, các kiến thức cần thiết khi mua bán phái sinh hàng hóa cho các nhà đầu tư nói chung
1.4.2.5 Cải thiện cơ sở hạ tầng, kỹ thuật
Ngày nay, sự phát triển của thị trường gắn liền với sự phát triển của khoa học công nghệ Với sự thay đổi chóng mặt của công nghệ, các nhà đầu tư có thể giao dịch được nhiều hơn, nhanh hơn, từ khắp nơi, bất cứ lúc nào và bằng nhiều phương pháp khác nhau, từ đơn giản tới phức tạp Nhiệm vụ của các thị trường phái sinh hàng hóa là luôn phải cập nhật, bổ sung và đổi mới cơ sở hạ tầng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhà đầu tư Đặc biệt, để có thể trở thành Sở giao dịch phái sinh hàng hóa chuẩn quốc
tế, các yếu tố về hệ thống giao thông vận tải, công nghệ thông tin, viễn thông cũng cần phải tương xứng để có thể phù hợp và thuận tiện cho quá trình giao dịch
Trang 381.4.2.6 Hoạt động thu hút nhà đầu tư lớn tham gia phát triển thị trường
Chất lượng của một Sở giao dịch phái sinh hàng hóa cũng phụ thuộc vào chất lượng các nhà đầu tư tham gia Các Chính phủ cần quan tâm hơn, tạo thuận lợi về thể chế, quy định để cho phép các nhà đầu tư chiến lược tham gia, liên kết, hợp tác đầu tư
để phát triển thị trường Ngoài ra, các nhà đầu tư lớn có thể đưa nguồn vốn lớn vào thị trường, cũng như thu hút các nhà đầu tư nhỏ khác tham gia theo
1.4.3 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển của thị trường phái sinh hàng hóa
Để có thể đánh giá được một thị trường phái sinh hàng hóa có phát triển qua thời gian hay không cũng như mức độ phát triển như thế nào, cần có các tiêu chí đánh giá sự phát triển này Một số tiêu chí để có thể đánh giá bao gồm: số thành viên tham gia, số lượng hàng hóa giao dịch, số lượng sản phẩm phái sinh, tiềm lực về cơ sở hạ tầng, doanh
số qua thời gian, rủi ro trên thị trường phái sinh…
1.4.3.1 Số thành viên tham gia
Sự phát triển của thị trường phái sinh hàng hóa được đánh giá thông qua nhiều tiêu chí, trong đó tiêu chí về số thành viên tham gia là một trong những chỉ tiêu chính Sàn giao dịch càng nổi tiếng, uy tín thì càng có nhiều người tham gia, từ nhà đầu tư cá nhân cho tới các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, nhà môi giới cũng như các tổ chức tài chính tham gia vận hành thị trường Tùy vào số lượng của từng đối tượng, có thể chia làm các giai đoạn phát triển khác nhau
1.4.3.2 Tiêu chí về các loại hàng hóa giao dịch
Các loại hàng hóa được giao dịch tại Sở giao dịch phải đảm bảo sự đa dạng nhất định, từ các loại hàng hóa cơ bản nhất cho tới các loại ít được giao dịch hơn Số lượng hàng hóa được giao dịch thể hiện mức độ phát triển của thị trường Các mặt hàng được giao dịch phải được sản xuất, khai thác liên tục, được tiêu chuẩn hóa, có thể dự trữ dài hạn, giá biến động theo thị trường, ít bị kiểm soát Đặc biệt trên thị trường giao ngay, lượng giao dịch phải đủ lớn
1.4.3.3 Tiêu chí về số lượng sản phẩm phái sinh
Để có thể giao dịch các loại hàng hóa trên thị trường, cần có các hợp đồng phái sinh hàng hóa Càng nhiều loại hợp đồng càng thể hiện mức độ phát triển của thị trường Các hợp đồng này phải thu hút được lượng lớn nhà đầu tư tham gia, có sự liên kết quốc
tế, có nghĩa rằng được chấp nhận, dễ dàng giao dịch trên quy mô toàn cầu mà không gặp rào cản đặc biệt nào Hơn thế nữa, đảm bảo không bị lũng đoạn thị trường bởi một nhóm nhà đầu tư nào
1.4.3.4 Tiêu chí về cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Các Sở giao dịch càng hiện đại, có nhiều công nghệ càng thể hiện sự phát triển, có khả năng thực hiện nhiều và đa dạng các loại hợp đồng cho khách hàng một cách tối ưu
Trang 39nhất Hệ thống thông tin của thị trường phải đảm bảo được thông tin thông suốt, cập nhật nhanh chóng cho khách hàng Hệ thống phân phối hàng hóa phải hiệu quả, rút ngắn công sức và thời gian giao hàng
1.4.3.5 Doanh số qua thời gian
Cùng với sự gia tăng của số người tham gia thị trường, doanh thu càng phải tăng lên khi thị trường phát triển Càng nhiều hợp đồng được ký kết, lượng doanh số trên các hợp đồng, cũng như thu nhập từ phí giao dịch càng tăng lên Các mức doanh số khác nhau qua các giai đoạn cho phép đánh giá mức độ phát triển của thị trường
1.4.3.6 Rủi ro trên thị trường phái sinh
Bất cứ hoạt động kinh doanh nào cũng đều có rủi ro Hoạt động đầu tư, đầu cơ trên thị trường phái sinh hàng hóa cũng tồn tại rất nhiều rủi ro, kể cả bản chất hoạt động này lẫn các yếu tố từ môi trường kinh doanh (các nhà đầu tư khác, thị trường, nội dung hợp đồng…) Các Sở giao dịch phái sinh có trình độ phát triển cao hơn thường có các quy định, biện pháp chặt chẽ giúp giảm thiểu rủi ro trong quá trình giao dịch và ký kết hợp đồng cho nhà đầu tư
Trang 40
CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH HÀNG HÓA VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
2.1 Xu thế hoạt động thị trường phái sinh hàng hóa trên thế giới
2.1.1 Xu thế gia tăng sử dụng phái sinh hàng hóa
Theo số liệu thống kê của FIA cho thấy xu hướng giao dịch phái sinh hàng hóa ngày càng gia tăng trong hơn một thập kỷ qua, cùng với việc gia tăng thị phần giao dịch của các thị trường châu Á Điều này có thể là do: (1) tăng trưởng kinh tế toàn cầu đã làm tăng nhu cầu phòng ngừa rủi ro cho các giao dịch hàng hóa; (2) việc tăng cường sử dụng các công cụ phái sinh hàng hóa trong hoạt động đầu tư theo danh mục để phòng ngừa rủi ro khi đầu tư vào các sản phẩm tài chính như cổ phiếu và trái phiếu hoặc cho các mục đích đầu tư thuần túy; và (3) sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc đã thúc đẩy hơn nữa hoạt động giao dịch hàng hóa toàn cầu và nhu cầu phòng ngừa rủi ro liên quan, và sự phát triển mạnh mẽ của các SGD hàng hóa Trung Quốc vốn có tầm quan
có thể dẫn đầu về số lượng sản phẩm hàng hóa được cung cấp, thì các SGD phái sinh hàng hóa ở Trung Quốc lại đảm nhận vai trò dẫn đầu về khối lượng giao dịch Hơn một nửa các thị trường phái sinh trên thế giới đều có cung cấp phái sinh hàng hóa trong bộ
được cung cấp chủ yếu thuộc 4 nhóm ngành hàng là: kim loại quý (precious metals), kim loại không phải kim loại quý (non-precious metals), nông sản (agriculture), và năng lượng (energy)
Hơn một thập kỷ qua, giao dịch phái sinh toàn cầu đã đạt mức tăng trưởng đáng
kể, ở mức CAGR (Compounded Annual Growth Rate - tốc độ tăng trưởng hàng năm kép) là 111% về khối lượng giao dịch (trading volume) và 105% số hợp đồng mở (open interest) Chỉ số CAGR cả về khối lượng giao dịch và số hợp đồng mở đều tăng hơn 100% cho từng nhóm hàng hóa giao dịch Về khối lượng giao dịch, nhóm hàng năng lượng trở thành nhóm hàng giao dịch chính trong bốn năm liên tiếp kể từ năm 2016, thay thế nhóm hàng nông sản vốn trước đây dẫn đầu về số lượng hợp đồng mở giai đoạn
2009 - 2019 (Hình 2.1 và 2.2)